Trong thời gian gần đây, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã rất quan tâm đến công tác này, ngày 08/02/2008 Bộ Chính trị đã ban hành Thông báo kết luận số 169-TB/TW về tổ chức
Trang 1TRẦN VĂN XUÂN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Vinh, 2016
Trang 2TRẦN VĂN XUÂN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VIẾT QUANG
Trang 3
giáo đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp Xin được bày tỏ lòng tri ân chân thành đến PGS.TS Trần Viết Quang - người trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Trường Đại học Sài Gòn, Phòng Đào tạo sau Đại học; Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Ban Tổ chức Huyện ủy, Phòng Nội vụ và các chi, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy Bù Gia Mập; đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã hết lòng tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy,
cô giáo, các đồng chí, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng !
Tác giả
Trần Văn Xuân
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG CHO CÁN BỘ
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 11 1.2 Tầm quan trọng của việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ
QUYẾT CỦA ĐẢNG CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC 36
2.1 Khái quát về đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình
2.2 Công tác học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước 51
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG CHO CÁN BỘ CẤP
3.1 Quan điểm về học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân
ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 86 năm qua đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Đảng lãnh đạo bằng quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách thể hiện trong cương lĩnh chính trị, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Trong thời gian gần đây, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã rất quan tâm đến công tác này, ngày 08/02/2008 Bộ Chính trị đã ban hành Thông báo kết luận
số 169-TB/TW về tổ chức triển khai nghiên cứu, quán triệt nghị quyết Hội
nghị Trung ương bảy và Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X,
trong đó nhấn mạnh nội dung “Đổi mới việc nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, kết luận và các nghị quyết của Bộ
Chính trị” và Kết luận số 49-KL/TW ngày 12/6/2009 “Về một số vấn đề đổi
mới cách ra nghị quyết, chỉ thị và quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng”
Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, cấp cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời cũng là nơi góp phần phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở gắn bó mật thiết với Nhân dân, là nơi trực tiếp nối liền Đảng với Nhân dân Vì vậy cán
bộ, đảng viên ở cơ sở phải nắm bắt sâu, kỹ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy các cấp tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương Thực tiễn
Trang 6cho thấy nghị quyết của Đảng dù đúng đắn, nhưng không thực sự thấm nhuần trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân thì nghị quyết đó cũng chỉ trên giấy tờ, không thể đi vào cuộc sống
Triển khai thực hiện Thông báo kết luận số 169-TB/TW ngày 08/02/2008; Kết luận số 49-KL/TW ngày 12/6/2009 Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trương ương khóa X và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn
đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, ngành Tuyên giáo từ Trung ương
đến các địa phương đã tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng
Thời gian gần đây cũng đã có một số bài viết, đề tài, luận văn cao học, công trình nghiên cứu liên quan đến việc nâng cao chất lượng học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng Trong tác
phẩm Đổi mới trong triển khai Nghị quyết của Đảng (2011), tác giả Việt Anh
đã tập trung phân tích về những thực trạng việc triển khai nghị quyết của Trung ương đến các đảng bộ và chi bộ cơ sở, đồng thời đề xuất một số giải
pháp đổi mới trong triển khai nghị quyết của Đảng Tác giả Lê Thế Đạt (2005) với tác phẩm Triển khai, quán triệt Nghị quyết thế nào cho có hiệu
quả, đã tập trung làm rõ về những đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp cách mạng
và yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền để đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp đó Là một người công tác ở ngành Tuyên giáo, tác giả Phương Hằng đã có cách đánh giá rất sâu sắc khi tìm hiểu vấn đề Đưa nghị quyết của
Đảng vào cuộc sống - công tác Tuyên giáo luôn đi trước một bước, tác giả
khẳng định rằng việc đưa nghị quyết vào cuộc sống là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhưng trước hết ngành Tuyên giáo phải giữ vai trò đi đầu, tiên
phong Đồng thời đã có những bài báo, sách tham khảo như: Cần đổi mới
cách nghĩ, cách làm trong triển khai nghị quyết của Đảng của Nguyễn Chí
Mỹ, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội
Trang 7Một số công trình nghiên cứu khoa học đã được in thành giáo trình dùng giảng dạy trong các trường chính trị đã nghiên cứu sâu về cơ sở phương pháp luận, những yêu cầu cơ bản cũng như quá trình ra nghị quyết và tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết
Đã có một số luận văn thạc sĩ liên quan đến đề tài này như: Hoàng
Ngọc Doanh, Chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng trong Đảng bộ
khối cơ quan kinh tế Trung ương giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Khoa học
Chính trị, Hà Nội, 2007; Lê Quang Sơn, Nâng cao chất lượng xây dựng và tổ
chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay,
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Hà Nội, 2010…
Các luận văn cũng đã trình bày tương đối hệ thống về cơ sở lý luận của việc ra nghị quyết, học tập nghị quyết của Đảng, cũng như tình hình thực tiễn các địa phương đó tác động đến việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết; đồng thời nêu lên những giải pháp nhằm đổi mới việc ra nghị quyết và
tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy được đề cập trong các công trình nghiên cứu
Gần đây, có một số luận văn thạc sĩ của các học viên cao học Đại học
Vinh khóa XVIII, XIX: Luận văn Nâng cao hiệu quả quán triệt các nghị
quyết của Đảng ở Đảng bộ Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay
(2012) của tác giả Nguyễn Thị Kim Thu, Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ,
và Luận văn Nâng cao chất lượng tuyên truyền phổ biến nghị quyết của đội
ngũ báo cáo viên tại Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay (2013) của
Đỗ Hoàng Trung, Quận ủy Cái Răng, Thành phố Cần Thơ Những luận văn này đã đi sâu đánh giá thực trạng tình hình quán triệt nghị quyết ở Đảng bộ Thành phố Cần Thơ, đồng thời đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc quán triệt nghị quyết cho tất cả các cấp (như Nguyễn Thị Kim Thu) hoặc cho riêng đội ngũ báo cáo viên (như Đỗ Hoàng Trung)
Trang 8Công trình khoa học, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của Phạm Văn Triều
Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng đối với cán bộ
cơ sở xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bình Phước trong giai đoạn hiện nay đã đi
sâu nghiên cứu về đề tài này một cách khá chi tiết
Những năm qua, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự hướng dẫn nghiệp vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Phước, ngành tuyên giáo trên địa bàn huyện Bù Gia Mập đã chủ động tham mưu cho cấp ủy các cấp từ huyện đến cơ sở quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới việc tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở trên địa bàn huyện nên đã đạt
được một số kết quả nhất định
Tuy nhiên, trên thực tế chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh hiện nay Trong quá trình kiểm điểm tự phê bình, phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”,
Huyện ủy Bù Gia Mập đã xác định: “trong Đảng bộ huyện, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống biểu hiện phổ biến ở nhiều cơ quan, tổ chức là cán bộ, đảng viên ngại học tập nghị quyết của Đảng, tham gia học không đầy đủ, thái độ học tập đối phó, không nghiêm túc” [25]
Công tác quán triệt, triển khai, học tập nghị quyết của Đảng ở cơ sở trong huyện chậm đổi mới, chất lượng chưa cao Hình thức học tập còn đơn điệu, chủ yếu theo một chiều truyền đạt từ báo cáo viên, rất ít trao đổi, gắn với tình hình thực tế của địa phương Sự kết hợp giữa luận giải trên hội trường của báo cáo viên với tự đọc, nghiên cứu tài liệu của người học còn hạn chế Nhiều chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng chưa thực sự thấm nhuần trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, thậm chí chưa đến được Nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 9Bù Gia Mập là huyện miền núi, biên giới, giáp huyện Ô Răng, Vương quốc Campuchia và giáp Tây Nguyên, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 35% dân số toàn huyện; trình độ học vấn cũng như trình độ lý luận chính trị của cán bộ cơ sở còn thấp, chưa đạt yêu cầu chuẩn, trong khi đó nghị quyết, chỉ thị của Đảng cô đọng, tính khái quát cao vì vậy khả năng tiếp thu nghị
quyết còn gặp nhiều khó khăn
Cho đến nay, trên địa bàn huyện chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về đề tài này để đưa ra một hệ thống giải pháp toàn diện, cụ thể, khả thi để đổi mới, nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng đối với cán bộ cơ sở một cách có hiệu quả
Từ thực trạng trên đã đặt ra yêu cầu cấp bách tìm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng đối với cán bộ ở cơ sở
trong huyện, do đó tác giả chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước” để làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học chính trị
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng học tập, quán triệt
nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở ở huyện Bù Gia Mập, đề xuất các quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của
Đảng cho cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn huyện, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống trên địa bàn huyện
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở ở huyện Bù Gia Mập
- Nghiên cứu thực trạng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán
bộ cấp cơ sở ở huyện Bù Gia Mập thông qua khảo sát, điều tra xã hội học
Trang 10- Đề xuất những quan điểm, giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở ở huyện
Bù Gia Mập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu việc học tập, quán triệt
các nghị quyết của Đảng khoá XI; nghị quyết của Tỉnh ủy Bình Phước các khoá IX, X; các nghị quyết của Huyện ủy Bù Gia Mập các khóa X, XI cho cán bộ cơ sở trên địa bàn huyện Bù Gia Mập
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu về nâng cao chất lượng học tập,
quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn huyện Bù Gia Mập qua khảo sát, điều tra xã hội học ở 08 đảng bộ cơ sở xã trên địa bàn huyện, bao gồm: đảng bộ xã Đức Hạnh, Phú Văn, Đặk Ơ, Đa Kia, Bình Thắng,
Bù Gia Mập, Phú Nghĩa và Phước Minh
- Về thời gian: Luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng từ năm 2010 (năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X, cũng là năm đầu sau khi huyện được thành lập) đến nay Các giải pháp áp dụng cho những năm
quán triệt nghị quyết của Đảng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình viết luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 11- Phương pháp khảo sát thực tế;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
6 Những đóng góp mới của đề tài
- Nếu nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện thực trạng và nguyên nhân, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm của việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn huyện thời gian qua thì sẽ
đề xuất được những giải pháp cụ thể, sát thực và khả thi nhằm nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn huyện Bù Gia Mập trong thời gian tới
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo
và tổ chức thực hiện việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, nhằm nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, đặc biệt là góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương
4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, góp phần
xây dựng Đảng bộ huyện Bù Gia Mập ngày càng trong sạch, vững mạnh
- Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho các đảng bộ huyện khác có điều kiện, hoàn cảnh gần giống như huyện Bù Gia Mập; đồng thời làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học lý luận chính trị trong hệ thống các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị, trường chính trị, các trường đại học, cao đẳng trong nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 12B NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm nghị quyết
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua và bằng cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị, quyết định là một trong những phương thức lãnh đạo chủ yếu của bất cứ một chính đảng nào trên thế giới hiện nay Tính đúng đắn, khoa học về quy luật và thực tiễn vận động xã hội trong lý luận của một chính đảng chính là yếu tố đầu tiên tạo nên tính thuyết phục của chính đảng đó đối với xã hội Do đó, việc đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách đúng có ý nghĩa quan trọng
về tính tiên phong, tính thuyết phục của đảng
Thực tiễn hơn 86 năm lãnh đạo đất nước, Đảng ta đã chỉ ra mọi thắng lợi của Đảng trước hết xuất phát từ sự thuyết phục về chính trị trong lãnh đạo được thông qua việc đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết một cách đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn
Là người tổ chức, giáo dục và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến cách thức đề ra chủ trương, chính sách lãnh đạo phù hợp với mỗi giai đoạn, thời kỳ cách mạng Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng nhiều cách gọi khác nhau về chủ trương, nghị quyết của Đảng như: “chính sách của đảng”, “chỉ thị”, “khẩu hiệu, mục đích và kế hoạch”,
“đường lối để lãnh đạo”, “khẩu hiệu chính trị” Trong nhiều bài nói, bài viết,
đặc biệt là tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người đã dành một dung lượng khá
dài để viết về cách thức ra “khẩu hiệu chính trị” Hồ Chí Minh nhiều lần
khẳng định vai trò của việc có được chính sách đúng, Người viết: “Có lý luận
Trang 13soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài
năng và lực lượng vô cùng tận của mình Đảng kết hợp lý luận với kinh
nghiệm và thực hành của cách mạng Việt Nam Trong mỗi giai đoạn cách
mạng, Đảng căn cứ vào tình hình trong nước và trên thế giới, đề ra những
khẩu hiệu, mục đích và kế hoạch đấu tranh Khẩu hiệu chính trị đúng, thì
toàn dân thấy rõ phương hướng, nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đoàn kết chặt chẽ
xung quanh Đảng, để đánh thắng kẻ thù của cách mạng” [42, tr.231-232] Thuật ngữ “nghị quyết” xuất hiện trong văn kiện Đảng chính thức lần đầu tiên vào năm 1904 trong Dự thảo Nghị quyết về những biện pháp nhằm khôi phục hòa bình trong Đảng, được thông qua tại Hội nghị Hội đồng Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga (tiền thân của Đảng Cộng sản Liên xô), họp từ ngày 15 đến ngày 17/01/1904, do V.I Lênin đề xướng Đại từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 1999 định nghĩa: "Nghị quyết là quyết định
đã được thông qua ở hội nghị, sau khi vấn đề đã được tập thể thảo luận Hội nghị thông qua nghị quyết Chấp hành nghị quyết” [52, tr.656]
Theo Quyết định số 31-QĐ/TW ngày 01/10/1997, của Bộ Chính trị, khóa VIII, ban hành quy định về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng đã nêu: "Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch các vấn đề cụ thể” [8] Theo quy định của Đảng, chỉ các cơ quan lãnh đạo của Đảng các cấp từ Trung ương đến cơ sở, các cơ quan lãnh đạo của tổ chức đảng được lập ra theo quy định của Điều lệ Đảng hoặc theo quyết định của Bộ Chính trị và các đảng đoàn, ban cán sự đảng các cấp mới có thẩm quyền ban hành nghị quyết
Nghị quyết là sự cụ thể hóa đường lối của Đảng thành những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội cho cả nước hay cho từng vấn đề cụ thể của một địa phương, cơ sở Nghị quyết phải được hình
Trang 14thành trên cơ sở khách quan khoa học Tùy theo từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị khác nhau mà có nghị quyết của cấp mình, nhưng mục đích cuối cùng là phải thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có hiệu quả cao nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới mà Đảng ta đề ra
Nghị quyết của tổ chức Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa thành viên trong tổ chức đảng tán thành Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình, đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội toàn quốc của Đảng, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến sai với nghị quyết của Đảng Tổ chức Đảng quyết định những vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên
Tổ chức Đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng, toàn Đảng phải chấp hành nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, bằng chủ trương, đường lối, nghị quyết do vậy, các nghị quyết được ban hành thể hiện ý chí của Đảng, ý chí và nguyện vọng của Nhân dân và là
cơ sở cho mọi quyết định, chủ trương của Nhà nước Mọi nghị quyết của Đảng đều tác động trực tiếp đến xã hội và đời sống Nhân dân
Trang 151.1.2 Học tập, quán triệt nghị quyết
Học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là công tác tổ chức học tập, nghiên cứu, tiếp thu và quán triệt các nghị quyết của Đảng từ Trung ương đến các cấp ủy địa phương, từ trong nội bộ Đảng ra các tầng lớp Nhân dân Tức
là, phổ biến, quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng nhằm chỉ đạo, hướng dẫn một nội dung công tác, một lĩnh vực nào đó để thông suốt
từ trên xuống dưới Đảng lãnh đạo toàn diện cách mạng Việt Nam bằng đường lối, thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc
là cơ quan cao nhất của Đảng, thường thì cứ nhiệm kỳ 5 năm tổ chức một lần
để thông qua nghị quyết về đường lối toàn diện phát triển đất nước cho nhiệm
kỳ 5 năm tới và tầm nhìn 10, 20, 30 năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng là
cơ quan cao nhất của Đảng giữa hai kỳ đại hội, có nhiệm vụ cụ thể hóa đường lối của Đảng trong từng lĩnh vực, bằng các nghị quyết chuyên đề, được thông qua trong các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Vì vậy, việc tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc những nội dung cơ bản nghị quyết của Đảng trong các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương trong các kỳ họp là việc làm đầu tiên và có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng đến kết quả của quá trình tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết Do tầm quan trọng của công tác tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết của Đảng, nên nó là trách nhiệm của tất cả các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở Mặt khác, trong quá trình triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, tổ chức đảng các cấp phải cụ thế hóa thành các nghị quyết chuyên đề, các chương trình hành động, hoặc các kế hoạch để thực hiện nhằm đưa nghị quyết vào cuộc sống
Thực tiễn cho thấy nghị quyết đúng nhưng không được thấm nhuần trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, thì nghị quyết ấy không đi vào cuộc
Trang 16sống, kém hiệu quả Vì vây, việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng có
tầm quan trọng đặc biệt
1.1.3 Cán bộ cấp cơ sở
- Quan niệm về cấp cơ sở
Vấn đề phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng và được quy định trong Hiến pháp - văn bản có tính pháp lý cao nhất Theo Hiến pháp bổ sung, sửa đổi năm 2013 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (gọi tắt là Hiến pháp năm 2013) và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương (2015), thì chính quyền địa phương được tổ chức thành 3 cấp: chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); chính quyền cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Chính quyền cấp xã là chính quyền gần dân nhất, được gọi là chính quyền cơ sở Mặc dù là cấp thấp nhất nhưng chính quyền cơ sở có vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính quyền địa phương và vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống chính trị ở cơ sở Hệ thống tổ chức Đảng được hình thành chủ yếu theo đơn vị hành chính, bao gồm có 4 cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh; cấp huyện; cấp xã, còn gọi là cấp cơ
sở đảng Theo quy định tại Điều 21, Điều lệ thông qua tại Đại hội XI của Đảng về thành lập các tổ chức cơ sở Đảng: "Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp uỷ cấp huyện)” [20, tr.35]
- Vị trí, vai trò của cấp cơ sở
Chính quyền cơ sở là cầu nối, là nơi giao lưu trực tiếp giữa Nhà nước
và Nhân dân, đồng thời cấp cơ sở là nơi biểu hiện tập trung nhất, rõ nhất những ưu việt hay hạn chế của chế độ xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ cấp xã là cấp gần dân nhất, là nơi trực tiếp tiếp xúc với Nhân dân, là nền
Trang 17tảng của hành chính, cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở ảnh hưởng trực tiếp đến
uy tín, lòng tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước
Chính quyền cơ sở là nơi thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đây là nơi trực tiếp thực thi, kiểm nghiệm và phản ánh tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thể chế, chính sách Do đó, chất lượng của hệ thống thể chế, chính sách phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở Chính quyền
cơ sở trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương Những vấn đề của địa phương mà chính quyền cơ sở có thẩm quyền giải quyết thì chính quyền cơ sở đại diện cho Nhân dân địa phương trực tiếp giải quyết
Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời cũng là nơi góp phần phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Sức mạnh của Đảng ở cơ sở là sự gắn bó mật thiết với Nhân dân; tổ chức Đảng là “sợi dây chuyền” trực tiếp nối liền Đảng
với Nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng” [42,
tr.242] và "Tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây chuyền
để liên hệ Đảng với quần chúng”, “Các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh Các chi ủy vững tức là chi bộ mạnh" [42, tr.243]
Văn kiện Đại hội X của Đảng khẳng định: “Với vị trí là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng rất quan trọng ” [16, tr.298] Tổ chức cơ sở Đảng là thành viên của hệ thống chính trị, nhưng là thành viên có vị trí, vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị ở cơ sở, đảm bảo cho mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng định hướng chính trị của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh
đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng,
Trang 18phát huy trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” [44, tr.23] Tổ chức cơ sở Đảng là nơi giáo dục, tổ chức động viên Nhân dân thực hiện có hiệu quả cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; là trung tâm đoàn kết, tập hợp, quy tụ mọi tầng lớp Nhân dân ở cơ sở thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở cơ sở
- Cán bộ cấp cơ sở
Trước khi có Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, cán bộ cơ sở là những người công tác tại hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn; họ chưa được coi là cán bộ, công chức trong biên chế Nhà nước, lương của họ không phải từ ngân sách Nhà nước mà do cấp xã trả Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của cấp cơ sở và đội ngũ cán bộ cơ sở, một yêu cầu khách quan đặt ra là đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn phải được xếp vào đội ngũ cán bộ, công chức trong biên chế Nhà nước Chính vì vậy, tại Khoản
3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp
vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [48] Theo đó, Khoản 2, 3, Điều 61, Luật này quy định cán
bộ, công chức cấp xã bao gồm:
“2 Cán bộ cấp xã có các chức danh sau đây:
a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
Trang 19d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
e) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
f) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
3 Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Quân sự;
g) Văn hóa - xã hội” [48]
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4, Nghị định số: 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ, số lượng cán bộ, công chức cấp
xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể như sau:
“a) Cấp xã loại 1: không quá 25 người;
b) Cấp xã loại 2: không quá 23 người;
c) Cấp xã loại 3: không quá 21 người”[13]
Cũng tại Nghị định này, Điều 13, Chương III quy định số lượng những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã:
“1 Cấp xã loại 1 được bố trí tối đa không quá 22 người;
2 Cấp xã loại 2 được bố trí tối đa không quá 20 người;
3 Cấp xã loại 3 được bố trí tối đa không quá 19 người” [13]
Trang 20Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế
độ phụ cấp Mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định với mức không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung, ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định chức danh những người hoạt động không chuyên trách; theo đó, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã bao gồm:
+ Phó trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); + Phó chỉ huy trưởng quân sự;
+ Cán bộ Kế hoạch - Giao thông - Thuỷ lợi - Nông, Lâm, Ngư nghiệp; + Cán bộ Lao động - Thương binh - Xã hội;
+ Cán bộ Dân số- Gia đình và Trẻ em;
+ Thủ quỹ - Văn thư - Lưu trữ;
+ Cán bộ phụ trách đài truyền thanh;
+ Cán bộ quản lý Nhà văn hoá
Ngoài ra, ở thôn, ấp, khu phố, còn có đông đảo cán bộ không chuyên trách Với quy định mới này địa vị pháp lý của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có sự thay đổi lớn Quyền hạn và trách nhiệm của họ được quy định chặt chẽ hơn, đồng thời yêu cầu đối với họ cũng cao hơn để đảm nhận trách nhiệm do Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó
Cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã trong đề tài này gọi chung là đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
Khái niệm cán bộ cấp xã: Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam trong
biên chế; được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, gồm những người được bầu giữ chức vụ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã; có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền và các tổ
Trang 21chức chính trị - xã hội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
xã, phường, thị trấn
Khái niệm công chức cấp xã: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam
trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, được tuyển dụng, giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Khái niệm cán bộ không chuyên trách cấp xã: Cán bộ không chuyên
trách ở cấp xã là những người không làm công việc thường xuyên, liên tục, không hưởng lương từ ngân sách của Nhà nước Những người này họ được hưởng phụ cấp hàng tháng do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định Để nâng cao hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị đội ngũ cán bộ cấp xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt mà còn cần phải
có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ
- Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều đánh giá rất cao vai trò của đội ngũ cán bộ Có đường lối đúng đắn nhưng thiếu đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực thì cách mạng cũng khó thành công Cán bộ
có vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng Từ kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người và từ chính quá trình truyền bá lý luận khoa học vào phong trào công nhân, C.Mác đã khẳng định: "Muốn thực hiện tư tưởng thì phải có con người sử dụng lực lượng thực tiễn" [35, tr.281] Song do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, chưa có một đảng vô sản nào giành được chính quyền nên C.Mác và Ăngghen chưa thể bàn cụ thể về cán bộ và công tác cán bộ trong điều kiện Đảng cầm quyền Nhưng hai ông đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ tuyên truyền, cổ động để truyền bá tư tưởng cộng sản; lãnh đạo, tổ chức
Trang 22các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản Trên cơ sở đó, kết hợp với phong trào công nhân để sáng lập ra chính đảng của giai cấp công nhân
V.I Lênin là người đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa C.Mác trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước Nga Trong tác phẩm
Những nhiệm vụ bức thiết của phong trào chúng ta, khi nói về vai trò của
người lãnh đạo phong trào cách mạng, Người đã chỉ rõ: "Trong lịch sử, chưa
hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh đạo chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào"; V.I Lênin còn nhấn mạnh: “Chúng ta phải đào tạo những người sẵn sàng hiến cho cách mạng, không phải chỉ những buổi tối rỗi việc của họ, mà tất cả cuộc đời của họ” [33, tr.473-474] Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: "cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; "Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [40, tr.506-510] Người chỉ rõ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [40, tr.506] Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) khẳng định: “Trong xây dựng Đảng, nhất là ở những bước ngoặt của lịch
sử, cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, có vai trò to lớn thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình cách mạng” [18, tr.22] Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dưng Đảng" [19]
Quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và qua thực tiễn cách mạng ở các nước, các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế đều chứng minh
và khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ
Trang 23Cán bộ cấp cơ sở là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ cán bộ, công chức nước ta Mọi hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở đều do cán
bộ cấp cơ sở thực hiện Do địa bàn hoạt động, tính chất công việc và nhiệm
vụ được giao nên người cán bộ cấp cơ sở phải thường xuyên tiếp xúc với Nhân dân để triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân địa phương Như vậy, cán bộ, công chức cấp cơ sở là mắt xích, là chất keo gắn kết Nhân dân với Đảng và Nhà nước Để thực hiện tốt các công việc của mình người cán bộ cấp cơ sở phải gương mẫu thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; có khả năng lĩnh hội và thẩm thấu chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước để tổ chức tuyên truyền, giải thích cho Nhân dân hiểu và thuyết phục Nhân dân làm theo hay thi hành một cách nghiêm túc Về khía cạnh này, có thể nói người cán bộ cấp cơ sở không chỉ là người quản lý địa bàn mà còn phải đóng vai trò như một tuyên truyền viên tích cực Do đó chất lượng hoạt động của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp cơ sở ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước khi đi vào cuộc sống
Thực tiễn cho thấy rằng đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng Nơi nào quan tâm đầy đủ và làm tốt công tác cán bộ, có đội ngũ cán bộ
cơ sở vững mạnh thì nơi ấy tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế, văn hoá phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, cán bộ được dân tin, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được triển khai có kết quả Ngược lại, ở đâu đội ngũ cán bộ cơ sở không được quan tâm, đội ngũ cán bộ không đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, có những biểu hiện về tham ô, tham nhũng, lãng phí, hách dịch, quan liêu, cửa quyền với dân thì ở đó tình hình sẽ gặp khó khăn, thậm chí còn bị kẻ xấu kích động, gây rối trở thành những
Trang 24“điểm nóng” phức tạp, kéo dài Trong tác phẩm Cán bộ tốt và cán bộ xoàng,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “nơi nào có cán bộ tốt, thì cả vùng đó hoạt động như một bộ máy Và cả vùng đó tỏ ra một bầu không khí hăng hái, vui
vẻ Nơi nào cán bộ xoàng, thì vùng đó, như đang ngủ say Trên giấy tờ thì cái
gì cũng có Nhưng sự thật, thì việc gì cũng uể oải, lúi xùi” [40, tr.376-377] Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ cơ sở tuỳ thuộc vào quá trình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tự rèn luyện một cách chủ động sáng tạo của từng cá nhân và các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể Quan điểm này được thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: “Dành kinh phí thoả đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, chú ý kiện toàn và tăng cường đội ngũ cán bộ cốt cán” [15, tr.527] Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định:
“Tăng cường cán bộ cho cơ sở Có chế độ chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn” [15, tr.135]
Do đó, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở thì trước hết phải nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực sự là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Khi đã có chính sách đúng, thì
sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [40, tr.520], dẫn theo [12]
Trang 251.2 Tầm quan trọng của việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở
1.2.1 Học tập, quán triệt nghị quyết là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng vị trí vai trò của công tác tư tưởng, lý luận Thực tiễn cách mạng nước ta hơn 86 năm qua từ khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh công tác lý luận, công tác tuyên truyền, cổ động là một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng
Đảng Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen,
viết cuối năm 1843, C.Mác đã khẳng định: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể
bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [34, tr.580], Khi xem xét công tác tư tưởng như một quá trình liên tục, V.I.Lênin khẳng định công tác
tư tưởng có ba hình thái: Công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác
cổ động (ba bộ phận) Ba hình thái đó tương ứng với các quá trình tư tưởng gồm: sản xuất ra hệ tư tưởng; phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng; cổ vũ, động viên quần chúng thực hiện
Công tác lý luận chính trị là một bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng Công tác lý luận gồm nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và giáo dục
lý luận chính trị Giáo dục lý luận chính trị là phổ biến, truyền bá những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Giáo dục lý luận gần gũi với công tác tuyên truyền, vì cùng nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, đường lối, chính sách Tuy nhiên, giáo dục lý luận chính trị thường gắn liền với hệ thống trường, lớp, trung tâm bồi dưỡng chính trị, có hệ thống tài liệu, giáo trình và hệ thống văn bằng, chứng chỉ
Trang 26Công tác tuyên truyền là hoạt động tiếp nối công tác lý luận, nhằm phổ biến, truyền bá các nguyên lý lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách vào quần chúng Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác giáo dục lý luận chính trị, công tác tuyên truyền nhằm giác ngộ lý tưởng cách mạng, nâng cao nhận thức chính trị, thống nhất ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân để thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng và thường xuyên quan tâm tới công
tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên Mở đầu tác phẩm Đường
cách mệnh, viết năm 1927 Người đã trích hai câu trong tác phẩm Làm gì của
Lênin [33, tr.30]: "Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm
nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong” [39, tr.342] Trong tác phẩm Sửa đổi
lối làm việc, viết năm 1947, Hồ Chí Minh viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam,
nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công tác thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [36, tr.233-234] và “phương pháp học tập
là lý luận liên hệ với thực tế” [45, tr.97] Tháng 5 năm 1966, tại lớp huấn
luyện đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức, Người nói: "Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng Vì vậy, các cô các chú phải chịu khó học tập lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời phải học tập văn hóa, kỹ thuật
và nghiệp vụ” Người còn nói: “…mỗi đảng viên phải tích cực học tập Phải thực hiện lời dạy của Lênin là học, học nữa, học mãi Học phải đi đôi với hành Học để hành càng ngày càng tốt hơn” [45, tr.94]; phải “coi việc học tập
lý luận chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình” [45, tr.97-98]
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) chỉ rõ: “Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí phải đóng vai trò quan trọng trong
Trang 27việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội” [14, tr.42]
Thực tế đã chỉ ra rằng, một khi công tác học tập, quán triệt nghị quyết được các cấp ủy đảng quan tâm tổ chức có hiệu quả; cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân thấm nhuần các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì phong trào cách mạng ở địa phương, đơn vị đó sẽ phát triển mạnh, nghị quyết của Đảng sớm trở thành hiện thực cuộc sống, đem lại hiệu quả thiết thực; ngược lại, nếu không quan tâm chỉ đạo học tập, quán triệt nghị quyết, hoặc chỉ thực hiện qua loa, chiếu lệ thì không thế tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm trong việc triển khai thực hiện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của công tác học tập, quán triệt nghị quyết ở xã, phường, thị trấn là đội ngũ cán bộ cấp cơ sở Công tác này nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong Nhân dân, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh, xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở vững vàng
về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến
thức năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với Nhân dân
1.2.2 Học tập, quán triệt nghị quyết góp phần quan trọng đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống
Là một đảng cầm quyền, Đảng ta trong suốt chặng đường lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo công cuộc đổi mới đã xây dựng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết để thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng
Trang 28đối với Nhà nước và toàn xã hội Ban hành nghị quyết đúng, tổ chức học tập, quán triệt và thực hiện nghị quyết có hiệu quả góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị Nhà nước đã chủ động hơn, năng động hơn, nêu cao trách nhiệm hơn trong quản lý đất nước và xã hội theo pháp luật Cơ quan quản lý Nhà nước trong sạch, vững mạnh hơn, hoạt động
có hiệu lực, hiệu quả hơn Đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết sẽ đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đảm bảo cho quá trình đổi mới đúng định hướng Do tầm quan trọng như vậy,
mà từ quan điểm lý luận đến thực tiễn công tác xây dựng đảng của Đảng ta trong những năm qua đã coi việc ra nghị quyết, tổ chức học tập, quán triệt và thực hiện nghị quyết là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến thành công của cách mạng
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là công việc mới, chưa
có trong tiền lệ Đảng ta đã xây dựng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh 1991) Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, Đảng đã bổ sung, hoàn thiện Cương lĩnh thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Cùng với việc hoàn thiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó tập trung đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Nghị quyết nói chung, đặc biệt là nghị quyết đại hội thường có nhiều điểm mới, thể hiện trình độ phát triển tư duy lý luận của Đảng ta trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Nghị quyết đại hội của Đảng luôn thể hiện những quan điểm xuyên suốt, những vấn đề cơ bản, căn cốt nhất của cách mạng Việt
Trang 29Nam, những nguyên tắc trong hoạt động của Đảng, đồng thời đặt ra những nhiệm vụ cụ thể, những vấn đề mới, cấp bách nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống
Để những vấn đề đó đến với quần chúng nhân dân, các cấp ủy Đảng phải phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, nhanh chóng chuyển tải những vấn đề đó đến với Nhân dân
Phát biểu tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh “Nghị quyết và các Văn kiện Đại hội đã có Điều quan trọng lúc này là đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, là tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết có hiệu quả Làm sao để khắc phục được tình trạng Nghị quyết thì đúng, thì hay nhưng chậm đi vào cuộc sống; thậm chí có trường hợp nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít” [50]
Công tác học tập, quán triệt nghị quyết giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nắm được các nội dung, quan điểm của Đảng, trên cơ sở đó xây dựng và triển khai chương trình hành động thực hiện các kết luận, nghị quyết tại đảng
bộ, địa phương, đơn vị một cách thiết thực, hiệu quả; vận dụng sáng tạo vào công tác, đời sống; từ đó thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương
Để nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, một điều không thể thiếu khi xây dựng nghị quyết là phải được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi để tập hợp nhiều
ý kiến từ thực tiễn của cuộc sống, làm tốt điều đó tức là chúng ta đã “đưa được cuộc sống vào Nghị quyết” Mặt khác khi triển khai thực hiện nghị quyết không nên xây dựng chương trình hành động cho “đủ bài”, đọc cho hay, nhưng lại chẳng được việc gì, mà cần tuyên truyền làm sao để mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân, người lao động phải hiểu được mình phải làm gì, làm như thế nào, biết được đơn vị tập trung đầu tư vào đâu để mỗi vị trí xác định rõ mình phải làm gì Có làm cụ thể, rõ trọng tâm như vậy, nghị quyết của Đảng mới sớm đi vào cuộc sống
Trang 30Xác định việc tuyên truyền đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống là yếu tố quan trọng trong quá trình tổ chức triển khai, bên cạnh các hình thức tuyên truyền miệng, trực quan và hệ thống đài truyền thanh thì việc tổ chức các buổi sinh hoạt cộng đồng dưới nhiều hình thức khác nhau cũng sẽ góp phần quan trọng để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Với những nội dung gần gũi, thiết thực, các buổi sinh hoạt cộng đồng sẽ giúp đông đảo Nhân dân hiểu rõ về các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá, chỉ tiêu được đề ra trong nghị quyết của Đảng và đặc biệt là các giải pháp để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống… Thông qua hình thức tuyên truyền này sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho Nhân dân, đồng thời tăng cường tính cố kết cộng đồng, củng cố quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng
Qua thực tế tình hình, để công tác tổ chức triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng ngày càng nâng cao chất lượng và hiệu quả, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, các cấp ủy, mà đứng đầu là Bí thư cấp ủy cần chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng một cách chặt chẽ, nghiêm túc; tránh tình trạng triển khai, quán triệt qua loa, hình thức và khoán trắng cho cơ quan Tuyên giáo như thời gian qua Khi triển khai học tập, quán triệt, báo cáo viên phải nghiên cứu thực tế, nắm thật chắc nội dung của nghị quyết và đối tượng người học để có phương pháp triển khai phù hợp với những vấn đề mà nghị quyết đề cập, chỉ rõ những vấn đề bức xúc phải làm ngay nhằm tạo bước chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên; khắc phục tình trạng báo cáo viên chỉ đọc tài liệu Các hội nghị triển khai, quán triệt phải dành thời gian thảo luận, nhằm đảm bảo khi ban hành kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết
sẽ gắn với thực tiễn tình hình của địa phương, đơn vị một cách sát hợp sẽ góp phần quan trọng đưa nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống
Cùng với sự đổi mới trong hoạch định đường lối, ở các cấp ủy địa
Trang 31phương, việc đổi mới ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết càng được hoàn thiện hơn “Có nghị quyết đúng, tổ chức học tập, quán triệt và thực hiện nghị quyết có hiệu quả, đã giúp huyện Bù Gia Mập phát huy được lợi thế, khai thác các tiềm năng và thế mạnh như đất đai, nguồn lực con người, truyền thống lịch sử, văn hóa của quê hương, đất nước đưa Bù Gia Mập phát triển mạnh mẽ sau 6 năm tái lập; kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch đúng định hướng Các công trình hạ tầng kỹ thuật được đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Văn hóa - xã hội có sự tiến bộ trên nhiều mặt Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng lên so với trước; công tác giảm nghèo đạt những kết quả tích cực
An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, ổn định Công tác vận động quần chúng và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể đạt được những kết quả nhất định Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được
mở rộng, góp phần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ huyện đến
cơ sở Công tác xây dựng Đảng được chú trọng trên cả 3 mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức” [31]
1.2.3 Học tập, quán triệt nghị quyết là kênh thông tin phản hồi quan trọng góp phần nâng cao chất lượng việc ban hành nghị quyết của Đảng
Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời cũng là nơi góp phần phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Sức mạnh của Đảng ở cơ sở là sự gắn bó mật thiết với Nhân dân; tổ chức Đảng là “sợi dây chuyền” trực tiếp nối liền Đảng với Nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng” [42, tr.242] và "Tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây chuyền
để liên hệ Đảng với quần chúng”, “Các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh Các chi ủy vững tức là chi bộ mạnh" [42, tr.243]
Trang 32Cán bộ cấp cơ sở là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ cán bộ, công chức nước ta Mọi hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở đều do cán
bộ cấp cơ sở thực hiện Do địa bàn hoạt động, tính chất công việc và nhiệm
vụ được giao nên người cán bộ cấp cơ sở phải thường xuyên tiếp xúc với Nhân dân để triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương Như vậy, cán bộ, công chức cấp cơ sở là mắt xích, là chất keo gắn kết Nhân dân với Đảng và Nhà nước Để thực hiện tốt các công việc của mình người cán bộ cấp cơ sở phải gương mẫu thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; có khả năng lĩnh hội và thẩm thấu chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước để tổ chức tuyên truyền, giải thích cho Nhân dân hiểu và thuyết phục Nhân dân làm theo hay thi hành một cách nghiêm túc Về khía cạnh này, có thể nói người cán bộ cấp cơ sở không chỉ là người quản lý địa bàn mà còn phải đóng vai trò như một tuyên truyền viên tích cực Do đó chất lượng hoạt động của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp cơ sở ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước khi đi vào cuộc sống
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”;
"Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [40, 510] Người chỉ rõ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [40, tr.506]
tr.506-Trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức Đảng, việc ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết là nội dung rất quan trọng Trong thời gian qua, việc chuẩn bị ban hành nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết ở nhiều nơi
Trang 33nhìn chung chưa thống nhất, chất lượng chưa cao, chưa phát huy được trí tuệ của cấp ủy, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, thì việc ban hành nghị quyết là một nội dung rất quan trọng Vì vậy, việc ban hành nghị quyết của Đảng phải đảm bảo đúng quy trình; có thông tin đầy đủ và vấn đề quan trọng là phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của cuộc sống Một trong những kênh để có thông tin quan trọng cho việc ban hành và nâng cao chất lượng nghị quyết ban hành, đó là thông qua học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng Thông qua hoạt động này thông tin từ các ý kiến đóng góp, từ các cuộc thảo luận và trao đổi trực tiếp là một nguồn thông tin quan trọng để các cấp ủy quyết định ban hành nghị quyết hoặc điều chỉnh việc ban hành nghị quyết Đối với các thông tin này, cần chú ý ghi chép lại, khai thác qua kết luận các cuộc họp Đối với các loại thông tin này cần chú ý, thông tin đóng góp có thể chỉ là thông tin một chiều, mang tính chủ quan nên cần tập hợp và đối chiếu thông tin với các nguồn thông tin khác
Để ban hành nghị quyết, việc thu thập và xử lý thông tin giúp nhận diện đúng bối cảnh tồn tại, các yếu tố tác động đến tổ chức, những vấn đề tổ chức cần đối mặt, nhận diện đúng đối tượng, điều kiện bảo đảm thực hiện của nghị quyết Trong các hoạt động này, quá trình thu thập và xử lý thông tin có liên
hệ mật thiết với nhau Thông tin thu thập thiếu sẽ không giúp nhận diện được bản chất, quy luật của vấn đề Thông tin thu thập đầy đủ nhưng thiếu kỹ năng
xử lý cũng sẽ làm giảm ý nghĩa của thông tin, không đem lại cơ sở khoa học vững chắc cho quá trình ban hành nghị quyết
Trên thực tế, việc ban hành nghị quyết của một số cấp ủy Đảng thường thiếu thông tin hữu ích nên cho dù cố gắng thu thập thông tin thì thông tin thu thập được có thể không phản ánh hết được bản chất của đối tượng, dẫn đến có
Trang 34thể nhận thức sai lệch về đối tượng Việc thiếu thông tin hữu ích dẫn đến quá trình xử lý thông tin khó tìm ra bản chất, ý nghĩa của thông tin
Trong thời gian qua, hầu hết các nghị quyết của Đảng được ban hành đến nay được thực tế khẳng định là đúng đắn, phù hợp và đi vào cuộc sống, góp phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh ở địa phương Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số nghị quyết vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên quá trình triển khai thực hiện chưa đạt hiệu quả như mong muốn Trong đó có nguyên nhân do một số cơ quan soạn thảo chuẩn bị dự thảo nghị quyết còn sơ sài, mang tính hình thức, chủ quan nên cũng có những nghị quyết ban hành cho có, không được thực hiện trong thực tiễn, hoặc hiệu quả mang lại không cao Để nghị quyết đảm bảo tính khả thi
và đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, đặc biệt phải đảm bảo đúng quy trình, từ khâu soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến, tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết…
Việc lựa chọn nội dung để ban hành nghị quyết phải trên cơ sở định hướng, chỉ đạo của cấp ủy cấp trên, quy hoạch chiến lược tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và xuất phát từ yêu cầu thực tế, giải quyết nhiệm vụ cụ thể về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương; vấn đề phải thực sự cần thiết, cấp bách, đáp ứng được nguyện vọng của Nhân dân và yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống, công tác quản lý xã hội… Đặc biệt, phải làm rõ mục đích của việc ban hành nghị quyết, đối tượng và mức độ tác động đến các đối tượng, các nguồn lực, khả năng của địa phương bảo đảm nghị quyết được thực thi
Trước khi xây dựng dự thảo nghị quyết, các cơ quan chủ trì việc soạn thảo phải thực hiện theo đúng quy trình; tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng; thu thập thông tin; tổ chức lấy ý kiến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết; mục tiêu đề ra phải sát với thực tế và có tính khả thi cao; phù
Trang 35hợp với khả năng ngân sách của địa phương Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy phải chú trọng làm tốt việc khảo sát, tùy từng nghị quyết mà tham vấn ý kiến rộng rãi của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với những nội dung thuộc về
cơ chế, chính sách thì nghị quyết khi ban hành mới phù hợp với thực tiễn và
có tính khả thi cao Chính vì lẽ đó mà bí thư cấp ủy trực tiếp triển khai học tập, quán triệt nghị quyết sẽ là điều kiện thuận lợi để thấy được những vấn đề bất cập trong những nghị quyết đã ban hành, cũng như những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn từ những ý kiến phản hồi của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, đó là những thông tin quý báu nhằm nâng cao chất lượng nghị quyết ban hành lần sau
Kết luận chương 1
Công tác tư tưởng nói chung, công tác học tập, quán triệt, triển khai nghị quyết nói riêng đã tham gia và tác động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; nó không chỉ là nguồn lực của xã hội mà còn là yếu tố tạo nên các thành tựu kinh tế - xã hội một khi công tác học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết được các cấp ủy đảng cơ sở quan tâm tổ chức có hiệu quả; cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thấm nhuần các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; ngược lại, nếu không quan tâm chỉ đạo thực hiện, hoặc thực hiện qua loa, đại khái thì không thể tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm trong việc triển khai thực hiện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn Đối tượng chịu
sự tác động trực tiếp của công tác học tập, quán triệt nghị quyết ở xã, phường, thị trấn là đội ngũ cán bộ ở cơ sở Lý luận và thực tiễn đã khẳng định cán bộ
cơ sở có vai trò rất quan trọng Đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và
Trang 36Nhà nước có được thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không quyết định
là ở cán bộ cấp cơ sở Hệ thống chính trị ở cơ sở mạnh hay yếu phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
Chính vì vậy, làm tốt công tác học tập, quán triệt các nghị quyết của Đảng cho cán bộ cấp cơ sở đang là vấn đề thu hút sự quan tâm không chỉ của các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể mà còn có sự quan tâm theo dõi của các tầng lớp Nhân dân, có như vậy mới đưa nghị quyết của Đảng
vào thực tiễn cuộc sống
Trang 37Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG CHO CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1 Khái quát về đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
2.1.1 Khái quát về huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
2.1.1.1 Vị trí, địa lý, đơn vị hành chính cấp xã
Bù Gia Mập là một huyện thuộc tỉnh Bình Phước, được thành lập vào ngày 11 tháng 8 năm 2009 theo Nghị quyết số 35-NQ/CP của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/11/2009, trên cơ sở phần còn lại của huyện Phước Long cũ, sau khi thành lập thị xã Phước Long Thực hiện Nghị quyết số 931/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bù Gia Mập để thành lập huyện mới Phú Riềng, tỉnh Bình Phước và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/8/2015
Như vậy, chỉ trong vòng 6 năm đã có 02 lần điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bù Gia Mập để thành lập huyện mới Bù Gia Mập là huyện miền núi, biên giới, đa dân tộc và đa tôn giáo; nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bình Phước; có chiều dài đường biên giới trên 60 km giáp với Campuchia; ranh giới của huyện phía Đông giáp huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông và huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; phía Tây giáp huyện huyện Bù Đốp; phía Nam giáp huyện Phú Riềng và thị xã Phước Long; phía Bắc giáp huyện Ô Răng, tỉnh Mundunkiri, Vương quốc Campuchia
Sau khi chia tách, huyện Bù Gia Mập có tổng diện tích tự nhiên 106.116 ha, dân số 78.888 người [31], trong đó đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 38chiếm 34,46%, với 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc S’tiêng là dân tộc bản địa đã sinh sống từ lâu đời trên mãnh đất này, các dân tộc thiểu số còn lại hầu hết là dân di cư từ các tỉnh thành trong cả nước về đây lập nghiệp Huyện Bù Gia Mập hiện có 08 đơn vị hành chính cấp xã, chưa có thị trấn; trong đó xã Phú Nghĩa là trung tâm hành chính của huyện
Dân số huyện Bù Gia Mập năm 2015
Sau hơn 6 năm tái lập, từ năm 2009 đến nay (năm 2016), Bù Gia Mập
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tiềm năng, thế mạnh của huyện được khai thác hiệu quả “Kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng khá Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng Kinh tế tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 12,12%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Tỷ trọng
Trang 39công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 9,31% lên 13,68% năm 2015, tỷ trọng thương mại, dịch vụ, du lịch tăng từ 10,5% lên 17,41% và tỷ trọng nông, lâm nghiệp giảm từ 80,19% còn 68,91%; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2015 đạt 34,9 triệu đồng, tăng gần 2,5 lần so với năm 2010” [31]
Công nghiệp và xây dựng tiếp tục phát triển, tuy chưa đạt được bước đột phá để đưa cơ cấu ngành công nghiệp, xây dựng đạt tỷ lệ trong cơ cấu giá trị tăng thêm nhưng đã đạt được tốc độ phát triển nhanh, “giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2011 – 2015 tăng 17,62% Trên địa bàn toàn huyện đã thu hút 105 doanh nghiệp và 1.120 cơ sở cá thể hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bình quân mỗi năm tăng 11,28%” [31] Đầu tư xây dựng tăng khá nhanh, góp phần từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội trên địa bàn Kết cấu hạ tầng nông thôn có bước phát triển rõ rệt, nhất là hệ thống hạ tầng đường giao thông nông thôn, cấp điện, trường học, trạm y tế, thủy lợi
Nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao Các đề án quy hoạch tiểu vùng sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng nông thôn mới đã và đang được triển khai khá hiệu quả Việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y đã góp phần đưa năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và sản xuất hàng hóa “Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 6,98%/năm” [31] Kinh tế nông thôn có bước chuyển biến tích cực, các dịch
vụ và ngành nghề nông thôn tiếp tục phát triển, đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông dân
Văn hóa - xã hội, khoa học và công nghệ có bước phát triển tích cực, các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận Nhân dân trên địa bàn tiếp tục được nâng cao “Giáo dục và đào
Trang 40tạo tiếp tục có bước phát triển mạnh về quy mô trường lớp, cơ sở vật chất được tăng cường đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân So với ngày đầu thành lập đã tăng 6 trường, 158 lớp Từ khi thành lập huyện chưa có trường nào đạt chuẩn quốc gia thì đến nay toàn huyện có 7 trường đạt chuẩn quốc gia” [31] Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đủ về số lượng và chất lượng được nâng lên Chất lượng học sinh ngày càng được cải thiện, tỷ lệ học sinh
bỏ học giảm dần qua các năm
Hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao được tổ chức với nhiều
hình thức, nội dung phong phú, đa dạng, làm tăng hiệu quả công tác giáo dục chính trị, phổ biến pháp luật, góp phần phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương đồng thời đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần cho Nhân dân Việc bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc được chú trọng Huyện đã xây dựng và triển khai thực hiện Đề án bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc S’tiêng trên địa bàn huyện giai đoạn 2013 – 2018 Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Nhân dân được đảm bảo
Công tác giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quan tâm, tập trung thực hiện Các hoạt động bảo trợ xã hội, chăm sóc người có công với nước, gia đình chính sách được thực hiện tốt
Công tác an ninh, quốc phòng, nội chính tiếp tục được tăng cường, củng cố Nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng khu vực phòng thủ của huyện đã được các cấp uỷ Đảng thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, ngày càng đi vào chiều sâu, có kết quả Công tác giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác, phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của kẻ xấu và các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn được chú trọng thực hiện thường xuyên An ninh biên giới tiếp tục được giữ vững, ổn định