Và như lịch sử đã minh chứng, tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu đã có tác dụng thổi bùng lên ngọn lửa căm thù quân giặc, thôi thúc nhân dân ta kiên trì đứng lên chống thực dân Pháp suố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LOAN
SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG CỨU
NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TP.HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LOAN
SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG CỨU
NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN TRỌNG VĂN
TP.HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Khoa Sau đại học trường Đại học Vinh, Khoa sau đại học trường Đại học Sài Gòn, thư viện Quốc gia TP Hồ Chí Minh Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Trọng Văn, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Khoa Lịch sử Trường Đại Vinh đã trang bị cho tôi những điều kiện để hoàn thành luận văn này Tôi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình giải quyết đề tài luận văn, chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn để Luận văn của tôi hoàn thiện hơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4.1 Mục đích nghiên cứu: 8
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 8
5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu 8
5.1 Nguồn tài liệu 8
5.2 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn: 9
7 Bố cục của luận văn 9
CHƯƠNG 1 : TỪ CHỦ TRƯƠNG BẠO ĐỘNG ĐẾN CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH 10
1.1 Điều kiện dẫn đến sự hình thành tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu 10
1.1.1 Gia đình và quê hương 10
1.1.2 Sự thất bại của phong trào chống Pháp ở cuối thế kỷ XIX 14
1.1.3 Cuộc khai thác lần thứ nhất của tư bản Pháp ở Việt Nam 17
1.1.4 Ảnh hưởng của phong trào cách mạng châu Á đối với Việt Nam 21
1.2 Chủ trương bạo động 26
1.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu 26
1.2.2 Quá trình phát triển của tư tưởng bạo động 29
1.2.3 Nội dung tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu 33
1.2.4 Ảnh hưởng của chủ trương bạo động trong phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX 35
1.3 Tư tưởng cải cách của Phan Bội Châu 40
Trang 51.3.1 Hoàn cảnh lịch sử và quyết định chuyển từ "cầu viện" sang "cầu
học” 40
1.3.2 Tư tưởng cải cách của Phan Bội Châu và ảnh hưởng của nó trong cuộc vận động duy tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX 43
CHƯƠNG 2 : VẤN ĐỀ QUÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ TRONG TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 46
2.1 Mục tiêu hoạt động của PBC trong thời kỳ Duy Tân hội 46
2.1.1 Bối cảnh ra đời và mục tiêu của Duy Tân hội 46
2.1.2 Duy Tân hội với mô hình Quân chủ lập hiến 47
2.2 Mô hình Cộng hòa dân quốc Việt Nam trong thời kỳ Việt Nam Quang Phục hội 63
2.2.1 Sự ra đời và mục đích hoạt động của Việt Nam Quang Phục hội 63
2.2.2 Mô hình “Cộng hòa dân quốc Việt Nam” 64
CHƯƠNG 3 : ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ 71
3.1- Đoàn kết, thống nhất dân tộc để chống thực dân Pháp, cứu nước 71
3.2 Đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa thực dân 78
CHƯƠNG 4 : THỰC CHẤT CHỦ TRƯƠNG “PHÁP - VIỆT ĐỀ HUỀ” VÀ VIỆC TÌM HIỂU CÁCH MẠNG VÔ SẢN CỦA PHAN BỘI CHÂU 84
4.1 Chủ trương “Pháp- Việt đề huề” của Phan Bội Châu 84
4.1.1 Hoàn cảnh 84
4.1.2 Thực chất tư tưởng Pháp- Việt đề huề chính kiến thư 85
4.2 Phan Bội Châu tìm hiểu tư tưởng Cách mạng tháng Mười Nga 90
4.2.1 Hoàn cảnh 90
4.2.2 Những nhận thức của Phan Bội Châu về cách mạng tháng Mười Nga 93
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu kỷ XX, bên cạnh sự hiện diện của tư tưởng Nho giáo, văn hoá dân tộc
mà nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập, tự cường được nuôi dưỡng suốt hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc; những chuyển biến về cơ cấu kinh tế - xã hội trong nước và trào lưu tư tưởng tư sản phương Tây qua Nhật Bản, Trung Quốc… tràn vào nước ta, tạo nên tiền đề mới cho cuộc vận động giải phóng dân tộc Trong giới sĩ phu yêu nước thức thời lúc bấy giờ xuất hiện hai xu hướng tư tưởng khác nhau trong vấn đề lựa chọn phương pháp đấu tranh
giành độc lập dân tộc Khuynh hướng thứ nhất do Phan Bội Châu lãnh đạo, chủ
trương bạo động vũ trang, đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc Song
tư tưởng của Phan Bội Châu cũng không dừng ở bạo động Ông và các đồng chí của mình cũng chủ trương tiến hành canh tân đất nước, phát triển theo con
đường dân chủ tư sản Khuynh hướng thứ hai do Phan Châu Trinh đại diện, chủ
trương canh tân đất nước bằng mở mang kinh tế, phát triển văn hoá giáo dục, nâng cao dân trí, dựa vào Pháp để xoá bỏ chế độ phong kiến, khi có thực lực thì giành độc lập dân tộc
Xu hướng bạo động vũ trang, đứng đầu là Phan Bội Châu, trên cơ sở xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi thực dân pháp, giành lại độc lập dân tộc đã khẳng định con đường đấu tranh bằng bạo động vũ trang là con đường tất yếu và duy nhất để giải phóng dân tộc Vì thế, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Phan Bội Châu đã toàn tâm, toàn ý thực hiện đường lối bạo động vũ trang với một quyết tâm cao Trong tư tưởng Phan Bội Châu, đường lối chiến lược cơ bản nhất là đánh đổ thực dân Pháp bằng bạo lực, giải phóng dân tộc, lấy cứu nước, cứu dân làm chủ nghĩa; hướng đến xây dựng một nước Việt Nam mới
Phan Bội Châu là một nhà yêu nước chân chính, là “bậc anh hùng, vị thiên
sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu người tôn sùng” [49, tr.72], một con người mang dấu ấn thời đại “là một hiện tượng xã hội tất yếu, tiêu điểm phản ánh một thời kỳ lịch sử dân tộc….cũng là một tiêu điểm phản ánh hiện tượng có
Trang 7tính thế giới đó trong lịch sử thế giới” [35, tr.269] Ông được coi là người có tư tưởng tiến bộ nhất trong số các trí thức Nho học, phân hoá từ giai cấp phong kiến, ý thức được trách nhiệm lịch sử, nỗ lực không ngừng để vươn lên cùng với thời đại, tìm đến một phương thức cách mạng mới, một con đường cứu nước mới vượt ra ngoài khuôn khổ ý thức hệ truyền thống
Hơn sáu thập kỉ qua, kể từ ngày Phan Bội Châu nói lời từ biệt quốc dân mãi mãi cuộc đời sóng gió vô cùng phức tạp của ông vẫn còn đòi hỏi phải chiêm nghiệm trở lại trên rất nhiều bình diện và cả sự đánh giá tổng thể
Xuất thân từ một nhà Nho, Phan Bội Châu đã dần vượt lên ý thức xã hội phong kiến vốn đã thấm sâu vào con người ông, tiếp thu tư tưởng tiến bộ dân chủ tư sản và với nhiệt huyết yêu nước cao độ làm dấy lên phong trào yêu nước theo khuynh hướng mới - khuynh hướng dân chủ tư sản Tuy nhiên phong trào cách mạng yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng cuối cùng cũng đã thất bại nhưng đã để lại trong kho tàng lí luận cách mạng Việt Nam rất nhiều bài học quí báu trên con đường giải phóng dân tộc
Và như lịch sử đã minh chứng, tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu đã có tác dụng thổi bùng lên ngọn lửa căm thù quân giặc, thôi thúc nhân dân ta kiên trì đứng lên chống thực dân Pháp suốt những thập kỷ đầu thế kỷ XX, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí cho cách mạng Việt Nam Tuy không đi đến thành công, nhưng tư tưởng của Phan Bội Châu trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX với những nhân tố tiến bộ cũng như hạn chế của nó đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, bởi đó là sự tích luỹ cần thiết, bước đệm quan trọng chuẩn bị cho bước nhảy vọt tất yếu trong tiến trình phát triển đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam về sau
Lênin đã chỉ ra rằng “Khi xét công lao lịch sử của các nhân vật lịch sử người ta không căn cứ vào chỗ họ không cống hiến được gì so với những đòi hỏi của thời đương đại, mà căn cứ vào chỗ họ đã cống hiến được gì mới so với các bậc tiền bối của họ” [91, tr.214-215] Thiết nghĩ, việc đi sâu nghiên cứu những chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu không chỉ giúp cho
Trang 8hậu thế có sự nhìn nhận, đánh giá sâu sắc hơn, toàn diện hơn những cống hiến của Phan Bội Châu đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, mà hơn thế,
từ việc soi một cách khách quan, khoa học tư tưởng Phan Bội Châu cả hai mặt thành công, cũng như hạn chế để hậu thế có những kinh nghiệm trong việc lựa chọn con đường cứu nước phù hợp với lịch sử dân tộc
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn vấn đề “Sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu” làm đề tài luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phan Bội Châu (1867-1940) là nhà yêu nước lớn tiêu biểu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam trong mấy chục năm đầu thế kỷ XX; đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn, nhà tư tưởng có vị trí quan trọng trong lịch sử cận đại Vì thế, nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Phan Bội Châu từ rất sớm đã thu hút sự quan tâm của giới sử học, văn học, triết học… trong và
ngoài nước Về mảng đề tài nghiên cứu “Sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu, mặc dù chưa có một công trình nghiên cứu chuyên
luận, nhưng lâu nay đã có nhiều tác phẩm, bài viết và công trình khoa học đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp Có thể chia thành những nhóm tư liệu sau:
Nhóm các công trình của các tác giả trong nước:
Ở miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, đã có khá nhiều công trình tìm
hiểu Phan Bội Châu với mong muốn ghi lại cuộc đời và phong trào cách mạng
do ông lãnh đạo Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm về Phan Bội Châu chỉ mới dừng lại ở truyện ký, hồi ký, tiểu sử hoặc giới thiệu tác phẩm của ông, rất ít công trình chuyên sâu với những phân tích có tính chất sử học, càng thiếu những chuyên luận về sự chuyển biến trong tư tưởng của Phan Bội Châu Bên cạnh đó phải ghi nhận một số công trình có tính chất nghiên cứu, có cái nhìn tương đối
khách quan như: Phong trào đại Đông du của Phương Hựu (Nxb Nam Việt, Sài Gòn, 1949); Giảng luận về Phan Bội Châu của Lam Giang (Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1959); Luận đề về Phan Bội Châu của Kiêm Đạt (Nxb Khai trí, Sài Gòn, 1960); Sào Nam Phan Bội Châu -Con người và thi văn (1974) của Nguyễn Quang Tộ; Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phan Bội Châu do Lê Văn Hảo chủ biên
Trang 9(Nxb Trình bày, Sài Gòn, 1976) Các công trình trên dù còn nhiều hạn chế nhưng vẫn có thể cung cấp cho tác giả nhiều thông tin liên quan khi nghiên cứu
sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Ở miền Bắc, từ những năm 50 của thế kỷ XX, cùng với việc sưu tầm và giới thiệu hàng loạt tác phẩm của Phan Bội Châu mà khởi đầu là cuốn Phan Bội Châu niên biểu, do Phạm Trọng Điềm và Tôn Quang Phiệt dịch (Nxb Văn - Sử-
Địa, H, 1957), đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học Tiên phong trong mảng đề tài Phan Bội Châu phải kể đến hai công trình của tác
giả Tôn Quang Phiệt: Tìm hiểu Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh (Nxb Văn - Sử-Địa, H, 1956); Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam (Nxb Văn hoá, H, 1957) Đây là những tác phẩm được nhiều
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá là đầy đủ nhất về cuộc đời và sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu Ngoài những công trình độc lập, trong thập niên 50, đầu thập niên 60 của thế kỷ XX một số bộ lịch sử cận đại Việt
Nam cũng được xuất bản như: Lịch sử tám mươi năm chống Pháp của Trần Huy Liệu, (Nxb Văn Sử Địa, tập1, H, 1956); Lịch sử cận đại Việt Nam của các tác
giả Trần Văn Giàu - Đinh Xuân Lâm - Hoàng Văn Lân - Nguyễn Văn Sự - Đặng Huy Vận (Nxb Giáo Dục, H, 1961) Các tác phẩm trên, trong khi trình bày lịch
sử cận đại Việt Nam đã giành dung lượng khá lớn đề cập một cách hệ thống các giai đoạn hoạt động cùng những đóng góp của phan Bội Châu đối với phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX
Từ giữa những năm 1960 đến 1975, kế thừa thành quả của những người đi trước và trên cơ sở sưu tầm thêm được nhiều tư liệu mới, việc nghiên cứu Phan Bội Châu không chỉ dừng lại ở việc trình bày quá trình hoạt động cứu nước của ông theo trình tự thời gian mà đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện những đóng góp, hạn chế của Phan Bội Châu trên tất các lĩnh vực Nếu như Tôn Quang Phiệt
và Trần Huy Liệu được biết đến là những người đầu tiên nghiên cứu ở miền Bắc thì Chương Thâu là người kế tục nghiên cứu chuyên sâu về Phan Bội Châu Cũng trong giai đoạn này, Chương Thâu đã trở thành một chuyên gia về
Phan Bội Châu với một loạt bài nghiên cứu như Nguồn gốc chủ nghĩa yêu nước
Trang 10Phan Bội Châu (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 88, tháng 7-1966); Về cuốn Việt Nam nghĩa liệt truyện (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 151, năm 1973) và nhiều
bài khác
Ngoài ra, phải kể đến nhiều bài nghiên cứu của các tác giả khác: Đinh
Xuân Lâm: Nhân đọc một số tác phẩm góp phần đánh giá tư tưởng Phan Bội Châu (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 94, năm 1967); Đặng Huy Vận: Phan Bội Châu và cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo đầu thế kỷ XX (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 96, tháng 9-1967); Trần Huy Liệu: Phan Bội Châu tiêu biểu cho những cuộc vận động yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 105, năm 1967); Nguyễn Trường: Nhận thức của Phan Bội Châu về vai trò của quần chúng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 143, năm 1973)
Sau năm 1975, khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, việc nghiên cứu Phan Bội Châu vẫn được tiếp tục và đạt nhiều thành tựu mới Trên lĩnh vực tư
tưởng có các công trình: Phan Bội Châu - Tư tưởng chính trị - Tư tưởng triết học của Bùi Đăng Duy - Nguyễn Đức Sự - Chương Thâu, (Nxb Khoa học xã hội, H, 1967); Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám của Trần Văn Giàu (Nxb Khọc xã hội, tập 2, 1975) Đáng chú
ý có luận án phó tiến sĩ của Chương Thâu, sau được nhà xuất bản Nghệ An in
năm 1982, Phan Bội Châu- Con người và sự nghiệp cứu nước Tiếp thu những
thành quả nghiên cứu của những người đi trước, cùng với những tìm tòi khám phá mới, tác giả Chương Thâu đã trình bày một cách hệ thống, toàn diện bối cảnh thời đại, con người và sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu qua các thời
kỳ hoạt động cách mạng Luận án đã đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ nhiều quan điểm của Phan Bội Châu trên tất cả các lĩnh vực Nhưng do dung lượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả chưa có điều kiện trình bày một cách hệ thống quá trình hình thành và những nội dung tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Dù vậy, đây thực sự là những gởi mở, cơ sở quan trọng giúp cho tác giả luận văn trong việc nghiên cứu về sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Trang 11Từ những năm 90, nghiên cứu Phan Bội Châu có những bước tiến mới
Đầu tiên phải kể đến sự ra mắt của bộ sách Phan Bội Châu toàn tập, gồm 10 tập,
do Chương Thâu sưu tầm và biên soạn (Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế, 1990) Đây là công trình có giá trị khoa học, giúp cho các học giả trong và ngoài nước tiếp cận được một khối lượng tư liệu phong phú, tin cậy có hệ thống, trong đó có
nhiều tư liệu mới được phát hiện Bên cạnh đó phải kể đến các công trình: Phan Bội Châu- Con người và sự nghiệp, (Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 1997); Đinh Xuân Lâm, Lịch sử cận - hiện đại Việt Nam - một số vấn đề nghiên cứu, (Nxb Thế Giới, 1998); Lịch sử Việt Nam 1897-1918 của nhiều tác giả, (Nxb Khoa học
xã hội, H, Năm 2000, bộ sách Phan Bội Châu - Toàn tập (gồm 10 tập) được tái
bản, đánh dấu một chặng đường nghiên cứu Phan Bội Châu của soạn giả Chương Thâu và giới nghiên cứu So với lần xuất bản năm 1990, lần này có thêm trên 5000 trang bản thảo (kể cả phần nguyên văn chữ Hán), được sưu tầm, dịch chú, biên soạn bổ sung Trong đó nhiều tác phẩm giá trị vừa được phát hiện
như Việt Nam vong quốc thảm (tuồng mới), Hà Thành liệt sĩ truyện (truyện kí
lịch sử); kỷ yếu hội thảo khoa học 100 năm phong trào Đông du, do NXB Chính trị quốc gia in năm năm 2009
Các Văn kiện của Việt Nam Quang Phục hội (1912), Các văn kiện của Việt Nam Quốc Dân đảng (1924)… Trước một số văn bản có in thêm tiểu dẫn hoặc
một bài nghiên cứu, giới thiệu của Chương Thâu hoặc chuyên gia nghiên cứu sâu về tác phẩm đó Ngoài ra, năm 2004, Chương Thâu còn cho ra mắt cuốn
sách Nghiên cứu Phan Bội Châu, (Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004), tập hợp
một số công trình, bài nghiên cứu của tác giả Trong những năm gần đây, giới nghiên cứu khoa học xã hội tiếp tục nghiên cứu về Phan Bội Châu một cách toàn diện, với mong muốn đánh giá sâu sắc và khách quan hơn vị trí của Phan Bội Châu đối với tiến trình của lịch sử Việt Nam Tiêu biểu trong số đó là ấn phẩm
Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu (Nxb Nghệ An, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2005); Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châucủa Nguyễn Văn Hoà (Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006); Phan Bội Châu -
từ chủ trương bạo động đến xây dựng lực lượng vũ trang trong đấu tranh giải
Trang 12phóng dân tộc của Phan Ngọc Liên và Nguyễn Ngọc Cơ (Tạp chí Lịch sử quân
sự, số 9 - 2006) Các công trình trên dù không trực tiếp đề cập đến sự chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu, nhưng khi trình bày tư tưởng chính trị, tư tưởng triết học, quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang đã luận giải nhiều vấn đề về cơ sở hình thành phương pháp cách mạng, đường lối bạo động vũ trang, quan điểm “vọng ngoại” của Phan Bội Châu…góp phần định hướng cho tác giả khi nghiên cứu sự chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Nhóm công trình của tác giả nước ngoài:
Nghiên cứu về Phan Bội Châu ở nước ngoài được bắt đầu từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, nhưng chỉ ở mức độ sơ lược hoặc chỉ đề cập đến hoạt động cứu nước của ông trong mối quan hệ với các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX Phải đến năm 1969 mới xuất hiện chuyên luận đầu tiên về Phan Bội Châu của
Boudarel có tựa đề Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam thời đại ông, đã được
dịch và xuất bản tại Việt Nam năm 1997
Trong số các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài về Phan Bội
Châu, tác phẩm được xem là đầy đủ nhất, có tính tổng hợp là cuốn Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và châu Á- tư tưởng Phan Bội Châu về cách mạng và thế giới (gồm 2 tập) của học giả người Nhật Shiraishi
Masaya, (Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000) Tác phẩm đã trình bày khái quát bối cảnh lịch sử Việt Nam, thân thế Phan Bội Châu; phân tích chuyển biến tư tưởng
và nhận thức của Phan Bội Châu về con đường cứu nước qua các giai đoạn hoạt động…trong đó tác giả dành một số chuyên mục đề cập đến lập trường đấu tranh vũ trang, quan điểm về tập hợp lực lượng, tranh thủ ngoại viện của Phan
Bội Châu một cách hệ thống, khoa học … Ngoài ra còn có tác phẩm Việt Nam
và Nhật Bản giao lưu văn hoá, (Văn Nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) của
tác giả Vĩnh Sính Đây là những nguồn tài liệu quan trọng giúp cho tác giả thực hiện luận văn này
Tóm lại, mặc dù đã có nhiều công trình trong và ngoài nước viết về Phan
Bội Châu, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Vì
Trang 13thế, đề tài chúng tôi không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công
bố về Phan Bội Châu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đi sâu nghiên cứu quá trình chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu chủ yếu những năm đầu của thế kỷ XX Tuy nhiên để hiểu đầy đủ sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu, chúng tôi tìm hiểu thêm những nhận thức mới của Phan Bội Châu đến năm 1925, khi ông viết Truyện Phạm Hồng Thái và cũng là năm ông bị bắt
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ sự chuyển biến của Phan Bội Châu từ chủ trương bạo động đến chủ trương cải cách
- Chỉ ra vấn đề quân chủ và dân chủ trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
- Làm rõ chủ trương đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế của Phan Bội Châu
- Chỉ ra những nhận thức mới của Phan Bội Châu từ 1918 đến 1925
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu và nguồn tư liệu như trên, luận văn có nhiệm vụ làm rõ:
- Tư tưởng bạo động và cải cách của Phan Bội Châu
- Vấn đề quân chủ và dân chủ trong tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu
- Vấn đề đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa thực dân
- Thực chất chủ trương Pháp -Việt đề huề trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu và những nhận thức mới của Phan Bội Châu khi tìm hiểu Cách mạng tháng Mười Nga
5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Trang 14- Các tác phẩm của Phan Bội Châu đã được in thành sách (Phan Bội Châu toàn tập, 10 tập)
- Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trên các tạp chí khoa
học, sách, các kỷ yếu Hội thảo khoa học về Phan Bội Châu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh và hệ thống hoá
- Ngoài ra, các phương pháp khác như đối chiếu, thống kê….cũng được vận dụng để giải quyết nội dung nghiên cứu của luận văn
6 Đóng góp của luận văn:
Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa, xử lý nguồn tư liệu một cách khoa học theo định hướng của đề tài, luận văn có những đóng góp sau:
- Xây dựng được hệ thống tài liệu mang tính chất chuyên đề, phục vụ cho đề tài tìm hiểu về tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
- Với cấu trúc mỗi chương là một vấn đề trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu nên luận văn có chiều sâu
- Luận văn giúp cho người đọc hiểu một cách toàn diện về tư tương cứu nước của Phan Bội Châu trong suốt 25 năm đầu của thế kỷ XX
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và phục vụ công tác giảng dạy cho những môn học có liên quan
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1 Từ chủ trương bạo động đến chủ trương cải cách
Chương 2 Vấn đề quân chủ và dân chủ trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Chương 3 Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế
Chương 4 Những nhận thức mới của Phan Bội Châu từ 1914 đến 1925
Trang 15CHƯƠNG 1
TỪ CHỦ TRƯƠNG BẠO ĐỘNG ĐẾN CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH 1.1 Điều kiện dẫn đến sự hình thành tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
1.1.1 Gia đình và quê hương
Phan Bội Châu, tên thật là Phan Văn San, sinh ngày 26-12-1867 tại quê
mẹ, thôn Sa Nam, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho “đời đời theo nghiệp đọc sách” Thân sinh của Phan Bội Châu là Phan Văn Phổ, sống bằng nghề dạy học
Mẹ của Phan Bội Châu là Nguyễn Thị Nhàn, có dòng dõi nho học, là người
rất nhân từ và bao dung Trong Phan Bội Châu niên biểu, cụ Phan viết: “Mẹ
tôi rất nhân từ ham làm ơn Trong nhà tuy rất nghèo đói, nhưng gặp khi thân bằng lân lý có việc gì cấp nạn, tuỳ lực sở cấp, một đồng tiền, một hạt gạo cũng chia sẻ cho nhau mới đành Khi tôi còn bé, mẹ tôi đã dỗ tôi nửa câu nói không câu suất Tôi hầu mẹ tôi 16 năm, tuyệt chẳng bao giờ nghe một tiếng mắng chửi, dẫu có ai ngang trái với mình, chỉ trả lời bằng một tiếng cười lạt
mà thôi” [11, tr 110]
Sinh ra trong một gia đình như vậy, nên tư tưởng Nho giáo đã sớm ăn sâu vào Phan bội Châu và trở thành một bộ phận rất quan trọng trong tư tưởng của ông
Quê hương của Phan Bội Châu là nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất vì độc lập, tự do của đất nước Tới thế kỷ XIX, sĩ phu nơi đây đã dũng cảm vạch trần các sai lầm của triều đình nhà Nguyễn Sau đó nổi lên
“Bình Tây sát tả” và tạo dựng phong trào Song Tuất (1874; 1886) Khi triều đình Huế đầu hàng giặc Pháp, phong trào đấu tranh chống Pháp ở đây diễn ra sôi nổi và rộng khắp Dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân
Ôn, huyện nào cũng tổ chức kháng chiến, lấy “quân thứ” đọ sức với kẻ thù dân tộc, dù gặp muôn vàn gian khó, hy sinh
Trang 16Truyền thống quê hương đã ngấm rất sâu vào tâm hồn, lý tưởng của Phan Bội Châu và tạo nên ở ông một tính cách xứ Nghệ rất đậm nét
Phan Bội Châu là người thông minh, có khả năng tiếp thu rất nhanh, nhạy Thủa bé ông đã nổi tiếng thần đồng, khiến cho thân sinh ông lấy làm ngạc nhiên sung sướng Phan Bội Châu đã kể lại rằng: “Lúc tôi lên sáu, cha tôi dắt tôi đến thục quán trao cho tôi sách chữ Hán, mới ba ngày đọc trầm hết quyển
Tam tự kinh, không sót một chữ Cha tôi lấy làm lạ, đem Luận Ngữ cho tôi
đọc, tập làm văn trẻ con với khiếu viết trầm những sách đã đọc, mỗi bài học phải viết mười tờ” [11,tr.111] Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, cùng với tư chất thông minh, ham hiểu biết, lại được những người thầy đầy nhiệt huyết như Đinh Văn Uyển, Nguyễn Thúc Kiều, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Thức Tự tận tình dìu dắt, dạy dỗ, nên ngay trong thời kỳ đi học, tiếng tăm hay chữ của Phan Bội Châu đã lừng lẫy
Tài năng và đức độ của Phan Bội Châu đã giúp cho ông biết chắt lọc, kế thừa những tinh hoa tư tưởng, văn hoá phương Đông và phương Tây để làm giàu cho trí tuệ mình cũng như năng lực thuyết phục, tập hợp đông đảo quần chúng đi theo con đường cứu nước của mình
Sinh ra trong cảnh nước mất, nhà tan như vậy, nên Phan Bội Châu sớm mang nặng lòng yêu nước, thương nòi Cụ đã nhận rõ trách nhiệm của người dân bị mất nước là phải sẵn sàng hy sinh, cống hiến cả cuộc đời mình cho sự tồn tại và cường thịnh của dân tộc “Năm tôi 17 tuổi, Pháp chiếm lấy Hà Nội
và các tỉnh Bắc Kì Đến năm tôi 19 tuổi vua Hàm Nghi nguyên niên, binh Pháp chiếm kinh thành Huế, vua Hàm Nghi phải chạy, cung điện bày ra cảnh hoang lương Tấn kịch vong quốc mở ra từ tháng 7 Hàm Nghi năm đầu trở đi vậy Ôi, trời nghiêng đất ngả, lúc này kẻ làm trai đội trời, đạp đất, ai lỡ dòm non sông bằng con mắt gỗ đá trở cho đành” [11,tr.118]
Trước cảnh bi thương đó, người có nghĩa khí như cụ Phan không thể nhắm mắt làm ngơ trước vận mệnh của dân tộc Ngay từ thuở nhỏ, cụ Phan đã có nhiều hành động thể hiện một ý chí khác thường Năm lên 9 tuổi (1876) được tận mắt chứng kiến phong trào của Văn thân Nghệ An, Hà Tĩnh khởi nghĩa
Trang 17lấy khẩu hiệu “Bình Tây” để triệu tập nhân dân kháng chiến chống Pháp Cụ Phan đã tụ tập các bạn nhỏ giả đùa làm quân Bình Tây và bị cha quở phạt rất nghiêm khắc
Năm 1882, khi thực dân Pháp kéo quân ra đánh Bắc Kì lần thứ hai, Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu đã tử tiết, nhân dân vô cùng phẫn nộ, nhiều nơi nghĩa quân nổi dậy rất rầm rộ Phan Bội Châu muốn bỏ nhà ra Bắc hưởng ứng các nghĩa đảng ở Bắc Kì nổi dậy đánh giặc, nhưng phần vì gia đình bận bịu, phần vì đường sá cách trở không thể làm theo ý muốn được Ông đã thức thâu đêm thảo một bài hịch mang tên “Bình Tây Thu Bắc”, tức là đánh Tây để lấy lại đất Bắc, rồi bí mật đem dán lên cây ngoài đường quan để cổ động dân chúng nổi dậy giết giặc Bài hịch chẳng được ai chú ý đến Không nản lòng, Phan Bội Châu ra sức trau dồi văn chương cử tử với hy vọng một ngày nào đó
sẽ làm nên sự nghiệp
Như vậy, tất cả những hành động thuở niên thiếu của cụ Phan xuất phát từ tấm lòng yêu nước, sôi nổi, nhiệt tình của ông đều bị thất bại và để lại cho cụ nhiều bài học kinh nghiệm đầu tiên trong cuộc đời hoạt động Cụ đã nhận ra rằng: Muốn làm được việc lớn phải lập danh theo thời và bồi dưỡng lực lượng
Sau đó vì hoàn cảnh gia đình, mẹ chết, cha ốm nặng, Phan Bội Châu phải tạm dừng các hoạt động cứu nước của mình để dùi mài kinh sử và chăm sóc cha già Trong khoảng thời gian dài (10 năm) đó Phan Bội Châu vẫn bí mật liên lạc với một số người có ý chí cứu nước diệt thù Trong đó ông đã được tiếp kiến các dư Đảng của Phan Đình Phùng, nhất là ông đã gặp được một người bạn tâm phúc là Đặng Thái Thân Sau này là người đồng chí đã giúp đỡ Phan Bội Châu rất nhiều
Lý trí và tình cảm đó của Phan Bội Châu vào những năm đầu thế kỷ XX, như được “phá cũi sổ lồng”, bùng cháy toả sáng, tiêu biểu cho ý chí nguyện vọng của cả một dân tộc Đây cũng là lúc Phan Bội Châu đi vào con đường hoạt động như một chính khách “Năm ba mươi tư tuổi, chính là năm Canh
Tý, vừa năm thứ hai niên hiệu Thành Thái (1900) tôi đậu đầu thi Hương Thế
Trang 18là tôi có được cái mặt nạ mà che lấp mắt đời Tháng chín năm ấy cha tôi vừa bảy tuần mà mệnh chung Gánh nặng ở gia đình mới nhẹ bổng ở trên hai vai Lúc đó mới là lúc tôi bắt tay vào những kế hoạch cách mạng”[11, tr.120] Cái bầu máu nóng, tình yêu nước nồng nàn đó như một ngọn lửa thiêu đốt tâm can cụ, chi phối mọi hành động mọi suy nghĩ của cụ ở mọi nơi, mọi lúc,
nó trào qua ngòi bút của cụ thành những dòng văn, những câu thơ khiến cho người đọc còn thấy “cái đỏ tàn của máu con đỗ quyên còn lâm ly trên mặt giấy” hay còn cho mọi người thấy “một bầu tâm huyết tưới ra khắp Hoành Tân, Băng Cốc,Thượng Hải, Yên Kinh ông về núi ngự sông Hương vùi xuống cửu nguyên còn đóng cục”[11, tr.76]
Lòng yêu nước của cụ Phan thể hiện ở nhiều màu sắc, góc cạnh khác nhau
Có khi nó được thể hiện qua một niềm tự hào, chính đáng đối với truyền thống đấu tranh oanh liệt của tổ tiên xưa kia:
“ Mà xem gương chuyện xưa kia
Để công hùng vũ si bì được đây
Nọ thủ trước đá tàu mấy lớp Cõi trời Nam cỡ nghiệp mở mang Sông Đằng lớp sóng Trần vương Núi Nam rẽ sóng mở đường nhà Lê Quang Trung đế từ khi độc lập Khí anh hùng đầy lấp Lam Sơn”[5, tr.56]
Cũng có khi lòng yêu nước của cụ là một niềm tự hào gắn bó thiết tha với tổ quốc giàu đẹp, “đáng yêu thay, thật là tấc đất tấc vàng những thứ mà tiên vương, tiên nhân ta để lại cho con cháu thật là vô cùng phong phú”[4, tr.34]
Tư tưởng yêu nước của cụ Phan còn được xây dựng trên nền tảng của lí trí, của tình cảm, bày tỏ một lòng yêu nước nhiệt thành đi đôi với sự suy luận thấu đáo về các khái niệm “Quốc gia”, “Đất nước” Cụ xem quốc dân là chủ nhân của đất nước nên phải có trách nhiệm với đất nước
Như vậy, từ lòng yêu nước của cụ đã đề cao vai trò của đất nước và thức tỉnh mọi người và nhận ra rằng: Cứu nước cũng chính là cứu bản thân mình để từ
Trang 19đó làm động cơ thúc đẩy họ sẵn sàng hi sinh để cứu lấy dân tộc Vô hình trung, lòng yêu nước của cụ đã có tác dụng rất tích cực đối với sự phát triển của phong trào cách mạng giải phóng của nước ta những năm đầu thế kỉ XX Khi bàn về chủ nghĩa yêu nước của cụ Phan Bội Châu, Nguyễn Đức Sự đã nhận xét rằng:
Trong phong trào cách mạng thế kỉ XX nổi bật lên một cách rực rỡ ngọn cờ yêu nước của Phan Bội Châu Ngọn cờ đó tiêu biểu cho tinh thần cứu nước của nhân dân ta lúc đương thời Giờ đây mỗi khi nhắc lại chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu, chúng ta thấy rạo rực, hăng hái, thấy nhiệt tình cách mạng thêm sôi sục, nó vẫn còn sức mạnh động viên mỗi người chúng ta trong
sự nghiệp chống Mỹ cứu nước ngay cả những thành công hay thất bại, những quan điểm đúng, sai của nhà cách mạng Phan Bội Châu cũng để lại cho chúng
ta những bài học vô cùng quý giá
Như vậy, từ việc tìm hiểu về tiểu sử cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của Phan Bội Châu, ta có thể thấy rằng chính hoàn cảnh lịch sử lúc ông sinh ra, hoàn cảnh gia đình cũng là một nhân tố thúc đẩy Phan Bội Châu hình thành tư
tưởng yêu nước và lựa chọn con đường cứu nước của mình
1.1.2 Sự thất bại của phong trào chống Pháp ở cuối thế kỷ XIX
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng chính thức xâm lược Việt Nam Lúc đầu, triều đình Huế kiên quyết đấu tranh chống Pháp để bảo về độc lập chủ quyền của đất nước Đã có lúc chúng ta đã giành được thắng lợi, đẩy thực dân Pháp vào thế bị bao vây khốn đốn Nhưng rồi sau những thất bại ở các tỉnh miền Đông (Nam kỳ) tư tưởng chủ hòa trong triều đình Huế ngày càng chiếm ưu thế, khiến cho cuộc chiến của chúng ta từng bước bị thất bại Thực dân Pháp
đã chớp lấy thời cơ, chiếm lấy từng phần lãnh thổ Việt Nam Vớí hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862), hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874), hiệp ước Hácmăng (25/8/1883), hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884), triều đình đã đi từ từng bước đến hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp
Trái ngược với triều đình Huế, phong trào đấu tranh trong quần chúng nhân dân vẫn diễn ra rất mạnh mẽ và quyết liệt Cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ
Trang 20trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đứng đầu bùng nổ Phong trào lan rộng ra khắp các địa phương, kéo dài cho đến hết thế kỷ XIX, với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: khởi nghĩa
Ba Đình (1886-1887), khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892), khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887-1892), khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) Song phong trào Cần Vương cuối cùng đã tàn lụi với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1896)
Tóm lại, cuối thế kỷ XIX Việt Nam bước vào một thời kỳ xã hội mà vua là tượng gỗ, dân là thân trâu Mọi người dân bị tước hết quyền dân sinh, dân chủ tối thiểu Phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta đang lâm vào tình trạng bế tắc, khủng hoảng về một con đường cứu nước
Sự thất bại các phong trào này đã gây nên một không khí u ám báo trùm trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam Các sĩ phu văn thân ở thế hệ trước bị phân hóa ngày càng sâu sắc Một số đã hy sinh trong kháng chiến, trong một cuộc chiến không cân sức, không có lý tưởng vững vàng Một số khác bị bắt bớ, tù đày Một số công khai quay trở về công tác với địch… Thế nhưng, đến thời điểm này, do tình trạng phân hóa trong cơ cấu xã hội Việt Nam xuất phát từ những chủ trương duy trì chế độ phong kiến lỗi thời, lạc hậu gây nên hệ tư tưởng mới không có điều kiện nảy nở, truyền bá từ bên ngoài vào Trong điều kiện như vậy, cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân ta nửa cuối thế kỷ XIX vẫn không có con đường nào khác là hướng tới việc khôi phục lại chế độ cũ giống như mơ ước của Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết được thể hiện dưới dạng một bài học kêu gọi nhân dân: “Chuyển loạn làm trị, chuyển ngụy làm an, khôi phục lại bờ cõi” Người lãnh đạo tối cao cuối thế kỷ XIX, vẫn là sĩ phu văn thân yêu nước
Tuy vậy, giữa lúc này xuất hiện tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu, ông một lòng sắt son với sự nghiệp cứu nước, cứu dân, ngày đêm trăn trở với câu hỏi: Vì sao dân tộc ta mất nước? Làm thế nào và đi theo con đường nào để cứu được nước? Vì sao một dân tộc anh hùng từng đánh bại những thế lực ngoại bang hùng mạnh như Tống, Nguyên, Minh, Thanh giờ đây lại bị thực
Trang 21dân Pháp đô hộ? Vì sao một đất nước có bề dày lịch sử, truyền thống văn hoá,
có địa hình hiểm trở, giàu tài nguyên khoáng sản lại chịu cho người Pháp thống trị Đi tìm lời giải đáp, Phan Bội Châu cho rằng, nguyên nhân sâu xa là
do vua quan triều Nguyễn thủ cựu, chỉ lo bảo vệ quyền lợi của riêng mình, không lo củng cố quốc phòng, không chú trọng phát triển đất nước mọi mặt Đất nước bị suy yếu, tụt hậu chính là cơ hội cho bọn thực dân Pháp xâm lược:
“Nếu Việt Nam bây giờ biết chăm lo tu chỉnh về quân chính, mở rộng dân quyền, vua tôi trên dưới đều mạnh mẽ mưu trị nước, nghiên cứu sâu trí học của ngoại dương tẩy trừ khuôn khổ hủ lậu…nước có thể phấn chấn lên được Nhưng nước Việt Nam mơ màng đôi mắt ngủ, ể oải một thân bệnh, tôn quân quyền, ức dân quyền, trọng hủ văn, khinh võ sĩ ”[7, tr.178] Phan Bội Châu nhìn ra ưu thế của ta so với địch Đó là “địa thế Việt Nam hiểm yếu; nhân dân, binh lính Việt Nam dũng cảm, lanh lợi có thể chiến đấu, người Pháp muốn lấy được không phải dễ dàng”[7, tr.178] Nhưng do triều Nguyễn đã không phát huy được truyền thống toàn dân đánh giặc mà chủ yếu là dựa vào lực lượng quân đội với vũ khí trang bị lạc hậu Về chiến thuật, theo Phan Bội Châu, lúc quân Pháp tấn công, chúng ta “phải lấy khổ chiến để làm cái đất cầu hoà, phải giữ vững thành luỹ, phải có kế tiểu thổ, phải chiếm giữ những nơi hiểm yếu, mai phục nhiều chỗ, tìm nhiều cách quấy nhiễu kẻ địch, giằng
co lâu ngày cho địch phải khốn đốn, làm cho địch đem quân xa lạ ở ngoài vào đất ta, lâm vào thế không hoà không được… Đó mới là đắc sách”[12, tr.134] Ông đánh giá cao tinh thần yêu nước, dám đứng lên phát động nhân dân khởi nghĩa chống Pháp của Nguyễn Huân, Nguyễn Trung Trực, Trương Định
và cho rằng thất bại của họ một phần là do “quân giới không bằng Pháp” Trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử, khi nói về thất bại của phong trào Cần Vương, Phan Bội Châu cho rằng, đó là do chưa gặp thời, chưa có sự tập hợp sức mạnh của nhiều người để tạo thành một phong trào rộng lớn khắp cả nước; thiếu vũ khí chiến đấu, nên bị thực dân Pháp đàn áp Ông cho rằng “cái
ưu thế trong chiến đấu của người Pháp chẳng qua là khẩu súng; đao, côn, kiếm quyết không thể đối chọi với nó”[11, tr.215] Từ nhận định này, Phan
Trang 22Bội Châu đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm vũ khí hiện đại để đánh Pháp, tìm con đường cứu nước giải phóng cho dân tộc
1.1.3 Cuộc khai thác lần thứ nhất của tư bản Pháp ở Việt Nam
Sau khi căn bản dập tắt phong trào Cần vương, hoàn thành về căn bản công cuộc bình định quân sự, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa với cường độ ngày càng cao, qui mô ngày càng lớn trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và ba nước Đông Dương Gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa, chúng đẩy nhanh việc xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ cấu mọi mặt của một bộ máy cai trị thực dân trên lãnh thổ Việt Nam Có thể nói, ngay từ khi thành lập, chính quyền thuộc địa đã mang đậm nét là một chính quyền bạo lực, biểu hiện ở
thủ đoạn thâm độc “chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt”; ở sự tăng
cường lực lượng quân đội, sử dụng bộ máy chính quyền quân sự để quản lý lãnh thổ, xây dựng lực lượng cảnh sát đa năng nhằm ngăn chặn, trấn áp, dập tắt các phong trào yêu nước của nhân dân, bảo vệ lợi ích lâu dài của Pháp ở Việt Nam Cùng với việc đàn áp các phong trào yêu nước, bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ, chúng đặt ra ba chế độ chính trị khác nhau tương ứng với ba miền của đất nước là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, gây chia rẽ giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, giữa miền xuôi - miền ngược; giữa lương - giáo ; dụ dỗ những phần tử phong kiến đầu hàng để duy trì bộ máy quản lý cũ kỹ, lạc hậu ở các làng xã và
bộ máy vua quan phong kiến để làm công cụ bóc lột nhân dân ta
Song song với tổ chức hành chính, thực dân Pháp thiết lập bộ máy bạo lực khổng lồ với các lực lượng quân sự, cảnh sát, toà án và hệ thống nhà tù dày đặc nhằm ngăn chặn, dập tắt mọi sự phản kháng, hành động yêu nước của các tầng lớp nhân dân
Tháng 7- 1900, thực dân Pháp ra đạo luật tổ chức quân đội thuộc địa bao gồm vừa binh lính Pháp, vừa binh lính người các nước thuộc địa Hội đồng phòng thủ Đông Dương do Toàn quyền làm chủ tịch, có quyền huy động quân đội, lập các đạo quan binh, tuyển chọn binh lính và phân bố lực lượng Trực tiếp điều khiển quân đội ở Đông Dương là một viên tổng chỉ huy người Pháp Dưới
Trang 23quyền Tổng chỉ huy có Tổng tham mưu trưởng và các viên chỉ huy bộ binh, hải quân, pháo binh
Lực lượng vũ trang của thực dân Pháp ở Đông Dương không ngừng được tăng cường về số lượng và trang bị, vũ khí Các binh chủng lần lượt được thành lập: Pháo binh (1899), kị binh (1900), công binh (1903), đội cầu, thông tin, vẽ bản đồ bổ sung thêm tướng tá, lấy binh lính bản xứ ngày một đông, tổ chức những đội quân dự bị (1898), tăng cường lính da đen Châu Phi (cuối 1900), lập phòng tuyến lính và dự trữ ở Hà Nội, Sài Gòn (1901)
Thực dân Pháp triệt để thực hiện chính sách“dùng người Việt trị ngươì Việt”, dùng binh lính thuộc địa để lấn chiếm thuộc địa và đàn áp các phong trào
yêu nước Từ năm 1904, chúng ra sắc lệnh bắt thanh niên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ
từ 22 tuổi đến 28 tuổi phải thuộc diện đi lính Thời hạn là 5 năm, hết hạn có thể xin ở lại Hạn tại ngũ tối đa là 20 năm Đồng thời ban bố sắc lệnh tổ chức lực lượng quân dự bị người bản xứ ở Đông Dương Ngoài quân đội chính qui, chúng còn tổ chức đội lính khố xanh chuyên để đàn áp các cuộc khởi nghĩa hoặc canh giữ các nhà tù, phục vụ ở các đạo quan binh Tại các phủ, huyện, châu còn có bọn lính cơ và lính lệ để trấn áp nhân dân Ở các làng xã có tuần phu, một lực lượng vũ trang, dưới quyền điều khiển của trưởng tuần và lý trưởng
Quân đội Pháp ở Đông Dương chia làm 2 bộ phận, quân chính qui và quân địa phương Quân chính qui có trách nhiệm tác chiến trên chiến trường Đông Dương và ngoài Đông Dương Lực lượng quân chính qui ở xứ này còn được điều động đi đàn áp cuộc nổi dậy ở xứ khác trong liên bang Đông Dương, đàn
áp nhân dân các nước thuộc địa khác của thực dân Pháp hoặc đi gây các cuộc chiến tranh xâm lược mới
Đi đôi với bộ máy quân sự là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với mạng lưới nhà tù dày đặc khắp Việt Nam Ở Nam Kỳ, sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông, thực dân Pháp đã lập nhiều toà án quân sự đặc biệt nhằm tàn sát những người Việt Nam yêu nước Tất cả những người Việt nam bị chúng qui là “phiến loạn” đều bị đưa ra toà án binh xét xử Ở Trung Kỳ, năm 1899, chúng lập ra các toà án
Trang 24hỗn hợp hàng tỉnh, dưới quyền chỉ đạo của công sứ Pháp và án sát Việt Nam để kết tội những người “phiến loạn”
Ở Bắc Kỳ, có hai loại toà án, toà án Tây và toà án Nam Các tỉnh đều có toà
án hỗn hợp dưới quyền chỉ đạo của công sứ Pháp và án sát Việt Nam Còn ở cấp
kỳ, từ năm 1896, thực dân Pháp lập ra Hội đồng đề hình Hà Nội để xét xử những người Việt nam yêu nước có hành động chống Pháp ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ Ở cấp phủ, huyện, châu, quyền hành chính và tư pháp đều nằm trong tay bọn tri phủ, tri huyện, tri châu Ở các làng xã, bọn kỳ hào hoành hành dường như không
có giới hạn Gắn liền với tổ chức toà án là cảnh sát, nhà tù, trại giam Tỉnh nào cũng có cảnh sát và từ huyện trở lên đều có nhà tù và trại giam
Trong 10 năm (1902 - 1912), toà án thực dân đã kết án 24.380 người, bị tù giam khổ sai, chung thân và tử hình Các nhà tù ở Hà Nội, Sơn La, Thái Nguyên, Lao Bảo, Sài Gòn, Côn Đảo…luôn chật ních tù nhân Riêng ở Côn Đảo, năm 1912 chúng đã giam tới 1.326 tù nhân Về chi phí, riêng ở Bắc Kỳ, năm 1909 tiền chi tiêu để “giữ gìn trật tự (hành chính, cảnh sát, sen đầm, khố xanh) gấp 4 lần khoản tiền chi cho giáo dục, y tế, nông nghiệp, công chính
Có thể nói, bộ máy chính quyền thực dân được thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến phản động Đó là
bộ máy chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự, dùng vũ lực để ngăn chặn, đàn áp mọi hành động yêu nước của nhân dân ta Bằng phương thức kết hợp chặt chẽ bạo lực công khai kết hợp với chính sách ngu dân thâm độc, thực dân Pháp đã dùng những thủ đoạn phản động nhất để vô hiệu hoá chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam, đặt mọi phong trào yêu nước vào tình cảnh “bất khả kháng” Tất cả các thủ lĩnh của phong trào “hợp pháp” đều bị tách khỏi quần chúng, đày đi an trí;
tất cả những người cầm đầu nghĩa quân nếu không bị giết hại tại trận cũng bị chúng chặt đầu bằng máy chém; tất cả nhân sĩ, trí thức nếu không chịu ra làm quan, phục vụ Nhà nước bảo hộ đều không còn đất dung thân
Chúng còn thực hiện chính sách ngu dân về giáo dục, đầu độc về văn hóa là một trong những biện pháp cai trị của thực dân Pháp Mục tiêu của chính sách này là hướng vào việc xác lập và duy trì vĩnh viễn ách thống trị
Trang 25của thực dân Vì vậy, tùy theo yêu cầu về chính trị mà ở từng giai đoạn cụ thể, thực dân Pháp đã cho thi hành những chính sách về giáo dục khác nhau Song song với chính sách giáo dục nô dịch, thực dân Pháp còn cho thi hành một số chính sách phản động về văn hóa nhằm phá hoại lòng tự hào dân tộc, reo rắc tư tưởng tự ti trong nhân dân, duy trì nếp sống hủ lậu của xã hội
cũ và truyền bá nếp sống tư sản phương Tây không kém phần hủ bại
Trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914), thực dân Pháp đã chú trọng đẩy mạnh đầu tư vào Đông Dương (từ năm 1896 đến năm 1914 đầu tư 514 triệu Phơrăng vàng dưới hình thức vốn nhà nước)
Ngoài việc vơ vét thóc gạo để xuất khẩu, bọn thực dân còn tăng cường việc tước đoạt ruộng đất lập đồn điền Khi nền nông nghiệp mang các yếu tố
tư bản chủ nghĩa xuất hiện thì tất yếu sẽ dẫn đến sự xuất hiện các cơ sở công nghiệp chế biến và sản xuất hàng hóa Các nhà máy xây xát, xay bột, nấu rượu nối tiếp nhau mọc lên Để có đủ lượng gạo xuất khẩu, thương nhân Pháp được chính quyền thực dân giúp đỡ đã sử dụng mọi hình thức ép nông dân phải bán rẻ cho chúng số lúa gạo ít ỏi của mình Nông dân do đó bị kiệt sức, không còn khả năng để cải tiến kĩ thuật canh tác
Tình hình trên đã dẫn đến hậu quả là nông nghiệp Việt Nam vẫn ở nguyên tình trạng độc canh, năng suất rất thấp mà lại phải đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cao, cho nên đời sống nhân dân, nhất là nông dân vô cùng bi đát Nền công nghiệp Việt Nam lúc này nằm trong tay nhà nước thực dân Hướng phát triển của nó đã được vạch sẵn là: “Chỉ giới hạn trong phạm vi sao cho nền công nghiệp đó không tổn hại đến công nghiệp chính quốc Nền công nghiệp chính quốc phải được nền công nghiệp thuộc địa bổ sung chứ không bị nền công nghiệp này phá hoại” [23, tr 58] Nói cách khác, công nghiệp thuộc địa được đẻ ra là để làm những cái mà công nghiệp Pháp không thể làm được, để cung cấp những sản phẩm đến những nơi mà sản phẩm công nghiệp Pháp không đến được Phần lớn hàng tiêu dùng phải nhập từ Pháp
Do đó, có thể nói rằng nền kinh tế Việt Nam đầu thế kỉ XX về cơ bản vẫn mang nặng tính tự cung tự cấp Các ngành thủ công còn rất cần thiết, nhưng
Trang 26hàng hóa nhập từ Pháp ngày càng nhiều cùng với chính sách độc quyền kinh
tế của nhà nước thực dân đã làm cho nhiều ngành thủ công dân gian gặp khó khăn Hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân hết sức khan hiếm
Pháp độc chiếm thị trường Đông Dương, nắm nguồn thuế, độc quyền thương mại, thuế quan, xuất nhập khẩu Hai thứ thuế trực thu và gián thu tăng mạnh Nhiều thứ thuế mới được đặt ra để nuôi sống một số lượng quan lại đông đúc, nhất là các quan chức Pháp lương cao, đồng thời góp tiền của để hoàn chỉnh cơ sở kĩ thuật cho cuộc khai thác thuộc địa đại quy mô của Pháp Tất cả các vấn đề trên đây đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam, làm cho xã hội bị lay động đến tận nền tảng của nó Từ một nước phong kiến tuy lạc hậu nhưng là một nước độc lập thống nhất, từ đây Việt Nam biến thành một nước bị đô hộ, chia cắt với một xã hội thuộc địa nửa phong kiến,
có đổi mới nhưng không thật sự tiến bộ và cởi mở, ngược lại ngày càng bị lệ thuộc vào đế quốc Pháp
Tình hình đó đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và tư bản Pháp xâm lược càng thêm sâu sắc Để giải quyết mâu thuẫn đó, đòi hỏi phải huy động sự đồng tâm hiệp lực của mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vùng lên dùng bạo lực đánh đổ ách thống trị thực dân Trước đòi hỏi đó, một số sĩ phu yêu nước tiến bộ, trong đó nổi bật nhất là Phan Bội Châu Ông đã nêu cao tinh thần yêu nước, kiên quyết chống xâm lăng, xứng đáng với truyền thống quật cường của dân tộc và đã đóng vai trò lãnh đạo phong trào yêu nước trong giai đoạn quá độ từ sau phong trào Cần vương thất bại cho đến khi xuất hiện phong trào cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo
1.1.4 Ảnh hưởng của phong trào cách mạng châu Á đối với Việt Nam
Sự thức tỉnh của Châu Á là khái niệm của Lênin đầu thế kỉ XX dùng để chỉ những trào lưu tư tưởng muốn thoát khỏi chế độ phong kiến để vươn tới nền văn minh mới ở Châu Âu Phong trào ấy bắt đầu ở Nga với xu hướng cải tổ nhằm thủ tiêu chế độ Nga Sa hoàng, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa ở Nga Sau đó trào lưu tư tưởng này xuất hiện ở Nhật Bản,Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam,… Khi nói tới sự thức tỉnh của Châu Á, người ta hay nói
Trang 27đến Trung Quốc, Nhật Bản, trong đó có sự xuất hiện của những cuốn sách, những tờ báo đề cập những vấn đề về kinh tế, chính trị, tư tưởng của phương Tây
Đến đầu thế kỷ XX, tức là sau hơn 30 năm Duy Tân đất nước, Nhật Bản không những giữ vững được độc lập mà còn vươn lên thành một cường quốc tư bản hùng mạnh Sau sự kiện đánh bại quân Nga Hoàng năm 1905, Nhật Bản càng có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nước ta Trong bối cảnh cách mạng Việt Nam đang khủng hoảng về đường lối, Nhật Bản có sức hút mạnh mẽ đối với các
sĩ phu tiến bộ đang khao khát tìm kiếm con đường cứu nước mới Nhiều người Việt Nam bấy giờ cho rằng muốn cứu nước thì phải cầu viện bên ngoài, muốn
tìm ngoại viện thì không gì bằng sang Nhật Bản - nước“đồng văn đồng chủng” đánh bại được “cường quốc da trắng” Phan Bội Châu đã chọn hướng Đông du
đi Nhật Bản để cầu viện, xem xét, học hỏi và hy vọng tìm thấy con đường cứu nước Phan Bội Châu viết: “Trận Nga - Nhật chiến tranh mà Nhật đại thắng thật
có chỗ hay cho chúng tôi rất lớn Trong óc chúng tôi đến đây có một thế giới mới lạ mở ra” Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu từ đó mà xuất phát
Trung Quốc, nước láng giềng có quan hệ chặt chẽ, gần gũi với Việt Nam
thời kỳ này cũng có những chuyển biến mạnh mẽ Để canh tân đất nước, chống lại nguy cơ xâm lược của các nước phương Tây, nhiều sĩ phu tiến bộ và tầng lớp trí thức tư sản dấy lên phong trào đòi triều đình phong kiến nhà Thanh phải thực hiện cải cách đất nước Sau sự kiện Mậu Tuất chính biến (1898), các tư tưởng đổi mới của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng… có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam; làn sóng tân văn, tân thư mang tư tưởng dân chủ tư sản và văn minh phương Tây thông qua sách báo Trung Quốc tràn vào Việt Nam, gây nên sự phân hóa tư tưởng trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các phong trào duy tân do các sĩ phu tiến bộ khởi xướng
Những Tân thư, Tân văn từ Trung Quốc, từ Nhật Bản bằng nhiều con
đường khác nhau vào Việt Nam đã góp phần một luồng sinh khí mới, một sự lên men mới về mặt tư tưởng đối với các sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ, trong đó có Phan Bội Châu Mở đầu cuộc vận động là chống lề thói phong kiến, vận động
Trang 28mở trường học, thư quán, báo quán để tuyên truyền tư tưởng mới, dân chủ tiến bộ; khuyến khích, chấn hưng nền kinh tế dân tộc Những biện pháp này đã động chạm đến quyền lợi của triều đình phong kiến Trung Hoa nhất là quyền lợi của phái Bảo thủ do Từ Hy Thái hậu cầm đầu Phái bảo thủ đã sử dụng quân đội, thậm chí liên kết với tư bản nước ngoài, sử dụng vũ lực để đàn áp phái cải cách Nhiều người trong phái cải cách đã bị bắt, tra tấn, tù đày Một số người chạy sang nước ta Họ đem theo tất cả tài liệu, tân thư tân văn vào Đến lượt mình, các nhà nho Việt Nam đón nhận rất hồ hởi, coi như món ăn tinh thần vô giá
Năm 1898, lần đầu tiên được tiếp xúc với Tân thư trong đó có tác phẩm Trung Đông chiến kỷ, Phổ Pháp chiến kỷ, Doanh hoàn chí lược cùng với bài Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu bắt đầu có những
rung động mới, những gợi mở đầy sức hấp dẫn về một chân trời xa lạ “làm cho
tư tưởng thế giới của tôi (Phan Bội Châu) bắt đầu nảy mầm” [11, tr.32]
Trung - Đông chiến kỷ, xuất bản năm 1896, của Lâm Lạc Tri (YoungAllen người Mỹ, chủ bút tờ Vạn quốc công báo) Chiến tranh Trung - Đông ở đây
chính là chiến tranh Trung Quốc– Nhật Bản (1894-1895) Nội dung cuốn sách ghi chép quá trình giao chiến và giao thiệp giữa nhà Thanh (Trung Quốc) với Nhật Bản, nhưng chủ ý của tác giả là vạch ra thực tế sự thất bại của Trung Quốc trước Nhật Bản, làm cho người Trung Quốc nhận thức được sự cần thiết của cải cách đất nước Nhật Bản tuy chỉ là một nước nhỏ, nhưng nhờ cuộc cải cách Minh Trị, đã trở nên mạnh mẽ, võ công hiển hách trong thiên hạ, đưa Nhật đứng vào hàng các cường quốc trên thế giới
Thiên hạ đại thế luận, là tác phẩm của Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895), trình
bày “đại thế’ của hoàn cầu, trong đó, tập trung phân tích thế lực của các đế quốc tại châu Á Tác phẩm chỉ ra rằng, ngày nay các nước phương Tây không còn phải điều binh khiển tướng từ “ngoài trùng dương bảy vạn dặm” như trước, mà
nó đã có nhiều căn cứ quân sự và cơ sở hậu cần trên những vùng đất châu Á mà
nó chiếm được Cho nên Trung Quốc và cả châu Á đều nằm trong tầm kiểm soát của các cường quốc Phương Tây Nguyễn Lộ Trạch nói nhiều đến tình hình
Trang 29nguy ngập của nhà Thanh (Trung Quốc) nhằm đánh tan ảo tưởng của những người thủ cựu vẫn còn hy vọng vào sự giúp đỡ của Trung Quốc thời đó
Ông thấy trước rằng, nước Nhật Bản duy tân sẽ trở thành một cường quốc hùng mạnh Trên cơ sở nhận định cục diện Trung Quốc và mâu thuẫn giữa các
đế quốc, ông tiên đoán rồi đây Pháp nhất định sẽ phục thù đối với Phổ và tranh giành thuộc địa với Anh Nên giữa Pháp và Anh, Phổ vẫn âm ỉ mâu thuẫn Tình hình kẻ thù như vậy, cho nên tuy ta sức lực kiệt quệ, tay chân bị khóa chặt, nhưng không phải là không có cơ hội vùng lên Ông khuyên triều đình không nên chán nản mà phải cố gắng khai thác mọi khả năng còn có thể được, nuôi chí phục thù
Tác phẩm giải thích sự sụp đổ của triều Nguyễn không phải là do sự xâm lược của giặc mạnh, mà sự sụp đổ đó cũng đã có nguy cơ từ rất sớm - ngay từ khi nhà Nguyễn còn hưng thịnh, nguy cơ từ thái độ tự cao, chuộng hư danh, bảo thủ không chịu đổi mới…Cuối bài luận, ông đưa ra nhận định, các nước phương Tây đi xâm chiếm, khai thác nước ngoài để làm giàu, nhưng cuối cùng sẽ có một tác động ngược lại là khiến cho nước ấy tiến bộ, cường thịnh lên lúc đó nước ấy
sẽ cạnh tranh trở lại với chính nước đã xâm chiếm mình Ông lấy gương Hoa
Kỳ, Nhật Bản và một số nước, trong đó có Thái Lan để dẫn chứng cho lập luận của mình Đối với nước ta, ông cũng hy vọng những người yêu nước nắm được qui luật ấy để dựng lại nước
Như vậy, những sách mà Phan Bội Châu tiếp xúc trong thời gian ở Huế lần thứ nhất (1889-1900) chủ yếu là các tác phẩm thời kỳ phong trào Dương vụ
Trung Quốc và các ghi chép về tình hình thế giới Trong Phan Bội Châu niên biểu, Phan Bội Châu kể lại: “Tôi xem những sách ấy mới hiểu sơ qua về tình
hình cạnh tranh thế giới và thảm trạng mất nước, nòi giống diệt vong, lòng tôi càng được kích thích thêm…Từ đấy tư tưởng tháo củi sổ lồng của tôi bắt đầu rung động Dù đứng vào hoàn cảnh uất ức chưa trổ ra được tôi vẫn sẵn sàng đợi chờ cơ hội” [3, tr.32]
Sau đó, Phan Bội Châu còn có cơ hội tiếp cận một số sách báo thời kỳ
phong trào biến pháp của Trung Quốc như Mậu Tuất chính biến, Trung Quốc
Trang 30hồn và tờ Tân dân tùng báo của Lương Khải Siêu Nội dung, ghi lại diễn biến
của cuộc chính biến Mậu Tuất (1898) và liệt truyện các liệt sĩ hy sinh trong quá trình chính biến; bàn về nguồn gốc sự yếu kém của Trung quốc; sự giống nhau
và khác nhau về chính thể giữa Trung Quốc và Châu Âu Về thời kỳ tiếp xúc với loại sách này, Phan Bội Châu chỉ viết chung chung là thời kỳ còn ở trong nước, trước khi xuất dương, có lẽ là vào khoảng năm 1903, khi Phan Bội Châu vào Huế lần thứ hai
Đánh giá về sự ảnh hưởng đó, Phan Bội Châu viết: “Nếu mà không có cuộc chánh biến nước Tàu, cùng cuộc Nga - Nhật chiến tranh (1904), sách mới Khương, Lương truyền sang, thì giấc mộng bát cổ của sĩ phu ta, e đến ngày nay cũng chưa nguôi” [11, tr.43]
Năm 1911, cuộc Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công Chính phủ Dân quốc lâm thời được thiết lập, ách thống trị của triều đình Mãn Thanh bị lật
đổ Sự kiện này có ý nghĩa tích cực, mạnh mẽ đối với giới sĩ phu Việt Nam trong quyết định đoạn tuyệt với giới quân chủ bảo hoàng để chuyển qua tư tưởng cộng hoà và là điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của Việt Nam Quang Phục hội năm 1912
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (1917) đều tác động đến mọi mặt xã hội, đời sống
tư tưởng Việt nam, tạo ra những điều kiện, thời cơ mới cho các tổ chức yêu nước hô hào dân chúng vùng lên đấu tranh chống thực dân Pháp Sau bao nhiêu thất bại liên tiếp trong nổ lực giành lại độc lập, từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Phan bội Châu lâm vào tình trạng bế tắc về mặt tư tưởng Cách mạng tháng Mười Nga đã đem lại cho Phan Bội Châu một luồng sinh khí mới và một niềm tin vào con đường giành độc lập cho dân tộc; tạo nên những chuyển biến mới trong tư tưởng của Phan Bội Châu Cùng thời gian này, dưới ảnh hưởng Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới bùng nổ mạnh mẽ tạo nên những chuyển biến trong tư tưởng Phan Bội Châu theo hướng ngày càng tiệm cận đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Tất cả những tình hình trên đây đã dội vào xã hội Việt Nam và đều có
Trang 31ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phát triển tư tưởng cứu nước Phan Bội Châu
Như vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa, các trào lưu, tư tưởng phương Tây qua sách báo mới có điều kiện xâm nhập, tác động đến các nước phương Đông trong đó có Việt Nam Đứng vững trên những giá trị tinh thần của dân tộc, Phan Bội Châu đã hướng ra ngoài để đón nhận nhưng giá trị tinh thần đó để tích hợp, để làm phong phú thêm vốn trí thức của mình Chính điều này đã góp phần tạo nên diện mạo mới trong tư tưởng, đường lối cứu nước của Phan Bội Châu so với một số sĩ phu đương thời tạo nên tiền đề và vận hội mới cho cuộc vận động giải phóng dân tộc Các học thuyết đó đã gợi mở cho Phan Bội Châu và các sĩ phu yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ những suy nghĩ tìm tòi con đường cứu nước mới Phan đã đón nhận những quan điểm, tư tưởng đó như là cơ sở lý luận mới để vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề mà lịch sử đặt ra
1.2 Chủ trương bạo động
1.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu
Theo truyền thống đánh giặc của dân tộc Việt Nam, để giữ vững nền độc lập dân tộc thì đấu tranh vũ trang là lẽ dĩ nhiên, có chăng chỉ là bàn luận về cách đánh thế nào cho phù hợp, hiệu quả Tiếp nối truyền thống quật cường của dân tộc, phát huy tinh thần chiến đấu của phong trào Cần vương, Phan Bội Châu khẳng định, muốn có độc lập dân tộc, có chủ quyền quốc gia thì phải dùng bạo lực để lật đổ ách thống trị thực dân Phan Bội Châu cho rằng, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa mà bất cứ một sự phản kháng nào dù là hoà bình cũng bị đàn
áp dã man, thì “không còn chỗ đất nào để gieo rắc tuyên truyền”, cũng như
“không thể ở trong tay người ta ràng buộc mà toan cất lời ca, tiếng nói, bàn chuyện ái quốc, ái chủng được Điều đó khác nào như ngồi trước mặt đạo tặc mà bàn cách khu trừ đạo tặc” [11, tr.52]
Vì thế, muốn giành lại độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác ngoài con đường bạo động vũ trang Cương lĩnh hành động của
tổ chức Duy Tân hội do Phan Bội Châu sáng lập khẳng định “Đánh giặc phục
Trang 32thù mà thủ đoạn là bạo động” [7, tr.31] Suốt từ đầu thế kỷ XX cho đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1918), Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đã dành hết tâm lực và kiên trì tuyên truyền, tổ chức, vận động cho chủ trương bạo động
Phan Bội Châu khẳng định, một nước được gọi là độc lập thì phải hội đủ
các yếu tố nhân dân, đất đai và chính quyền Và “Điều quan trọng của nước là
chủ quyền, điều quan trọng của chủ quyền là độc lập, tức là ở bên ngoài thì không bị người khác áp chế, bên trong thì nắm được quyền bính” [12, tr.60] Nay nhân dân, đất đai và chính quyền đều nằm trong tay thực dân Pháp, vì thế, giành lại độc lập, chủ quyền là nhiệm vụ số một, là nhiệm vụ lớn nhất không có
sự thoả hiệp, dung hoà giữa nhân dân mất nước với bọn thực dân xâm lược Theo Phan Bội Châu, chỉ vì săn đuổi quyền lợi kinh tế, thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn tàn bạo nhất nhằm vơ vét, bóc lột nhân dân Việt Nam; những trường học, báo chí…của họ mở ra cũng chẳng qua chỉ là công cụ phục vụ cho việc thống trị được dễ dàng mà thôi, còn trong thực tế thì hãm người Việt Nam vào tình trạng ngu muội, tiêu diệt những mầm móng phản kháng Bằng cách bóc trần đường lối cai trị tàn bạo, sự lừa bịp của thực dân Pháp, Phan Bội Châu cự tuyệt việc coi Pháp là người “bảo hộ”, người truyền bá “văn minh” mà thẳng tay vạch mặt chúng là giặc, là quân ăn cướp
Không những chỉ rõ kẻ thù chính của dân tộc, Phan Bội Châu còn lên án gay gắt bọn vua quan phong kiến chỉ vì quyền lợi cá nhân đã chấp nhận làm tay sai cho giặc, vô trách nhiệm trước cảnh đất nước bị xâm lược, nhân dân bị nô dịch, thống trị Phan Bội Châu cho rằng, để phá vỡ bộ máy bạo lực của thực dân Pháp, cần tiến hành bạo động vũ trang bằng sức mạnh của nhiều người; đồng thời tiến hành hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm thức tỉnh đồng bào Phan Bội Châu cực lực phản đối những người lấy con đường cải cách làm con đường duy nhất để cứu nước Ông cho rằng, nếu sự thống trị của thực dân Pháp còn được tiếp tục duy trì thì không những Việt Nam sẽ phải cam chịu thảm trạng
“mất nước”, mà ngay cả sự tồn tại của dân tộc rồi sớm muộn cũng sẽ bị xoá bỏ
Trang 33Cụ xác định rõ rằng: giành lại chủ quyền dân tộc là nhiệm vụ số một, nhiệm vụ lớn nhất không thể thỏa hiệp với kẻ cướp nước Giữa Việt Nam và Pháp không thể có Pháp - Việt nhất gia như bọn tay sai tuyên truyền Vì giữa nước thống trị và nước bị trị không thể thỏa hiệp, nó đã diệt ta để cướp nước,
để thống trị thì ta phải diệt nó để giành lại nước, để thủ tiêu sự cai trị Đó là thái độ cách mạng, dứt khoát là đúng đắn Điều này thì cụ hoàn toàn khác với những nhà cách mạng trước đó Đối với Phan Bội Châu: “Điều quan trọng nhất là chủ quyền, là độc lập, độc lập thực sự và đầy đủ chứ không phải thứ độc lập giả hiệu”[11, tr.204]
Chính vì lẽ đó, Phan Bội Châu đã giành hết tâm lực của mình vận động, tuyên truyền tổ chức bạo động giành lại chủ quyền dân tộc Trong Ngục Trung Thư ông viết: “Là một con người tay không miếng sắt, đất không có lấy một chỗ đứng chân, chẳng qua chỉ là một thằng tay không chân trắng, tài hèn sức yếu mà đòi vật lộn với hùm beo có nanh vuốt nhọn” và “đến nỗi này, tôi không thể nào không sang con đường bạo động Nếu bạo động thì may ra trông được có chỗ thành trong muôn một, huống gì tôi đã suy đi, tính lại, lúc này bỏ sự bạo động ra thì không có gì đáng làm nữa”[4, tr.35] Trong nhiều tác phẩm của mình, Phan Bội Châu bảo vệ và phát triển chủ trương bạo động Bạo động là dùng sắt và máu để tiêu diệt quân thù Không có bạo động thì không có cách nào giành lại độc lập Ông hăng hái hoạt động dù “thế cô, sức yếu, thời chưa tới, vẫn kiên quyết bạo động, dù chết, dù thất bại vẫn cứ làm”[4, tr.50] Thời thế thật khó khăn, dù cho trông vào “muôn một”, vẫn cố
hy vọng mà hành động- để bạo động Xu hướng bạo động của Phan Bội Châu
là nhằm “thức tỉnh hồn nước” bằng những vụ ám sát, diệt ác trừ gian, khủng
bố cá nhân cho giặc “mất vía” Trong lúc đề cao hành động cách mạng bạo lực, cụ đã kết hợp với công khai tuyên truyền xây dựng lực lượng cách mạng Bên cạnh đó, Phan Bội Châu còn vận dụng thuyết “cạnh tranh sinh tồn”, mạnh được yếu thua của học thuyết Đácuyn như một vũ khí để luận giải vấn đề dân tộc, để khẳng định quyết tâm sử dụng bạo động, đấu tranh không khoan nhượng với thực dân xâm lược Phan Bội Châu cho rằng, để bảo tồn giống nòi
Trang 34và nền độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam không còn con đường nào khác ngoài con đường dùng bạo lực lật đổ ách thống trị của Pháp; và trong cuộc đấu tranh này, theo qui luật “cạnh tranh sinh tồn”, thì ưu thắng, liệt bại; mình không tiêu diệt được đối phương thì đối phương sẽ tiêu diệt mình chứ nhất quyết không
có sự dung hoà, thoả hiệp Mặc dù học thuyết “cạnh tranh sinh tồn” không có cơ
sở khoa học để giúp Phan Bội Châu xác định đúng đắn đường lối cứu nước, cũng như chưa giúp ông nhận thấy đầy đủ bản chất chủ nghĩa đế quốc, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, vận dụng học thuyết này qua lăng kính của nhà yêu nước Phan Bội Châu lại có ý nghĩa tích cực, vì nó góp phần hâm nóng, duy trì ngọn lửa đấu tranh của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành lấy chủ quyền về tay mình
Có thể nói, đặt vấn đề sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ thực dân, giành độc lập dân tộc, Phan Bội Châu đã nhận thức đúng đắn bản chất của kẻ thù là dùng bạo lực để chiếm đoạt, cai trị nhân dân ta, thì việc sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại kẻ thù là con đường và phương pháp đúng đắn, tất yếu; phù hợp với nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đối kháng giữa nhân dân ta với thực dân Pháp Vì thế, quan điểm bạo động của Phan Bội Châu và các đồng chí của ông có tác dụng thổi bùng lên ngọn lửa căm thù quân giặc, thôi thúc nhân dân ta kiên trì đứng lên chống thực dân Pháp, lật đổ chế độ thực dân đem lại độc lập cho dân tộc
1.2.2 Quá trình phát triển của tư tưởng bạo động
Phan Bội Châu, tuổi trẻ đã tham gia nhiều hoạt động cứu nước như viết
hịch “Bình Tây thu Bắc ” (1882), lập đội “Thí sinh” gồm 60 người gọi là “Sỉ tử Cần vương đội” để ứng nghĩa (1885) … Sau nhiều nỗ lực nhưng không mang
lại kết quả, Phan Bội Châu chú tâm nghiên cứu “những sách binh thư của đời
Chiến Quốc như Tôn Tử thập tam thiên, Vũ Hầu tâm thư, cho đến sách Hổ trướng khu cơ, Binh gia bí quyết… để dự bị mô phỏng vào đấy mà thực hành sau
này”[7, tr.26], đồng thời, thu thập tài liệu về các cuộc khởi nghĩa theo phong trào Cần vương; mở rộng kết giao với những người đồng tâm, đồng chí; bí mật
Trang 35liên lạc với “những người cũ của đảng Cần vương” [7, tr.28] - lực lượng mà theo ông là sẽ dùng vào việc lớn nay mai
Thời kỳ đầu, Phan Bội Châu chưa nhận thức được một cuộc khởi nghĩa trong phạm vi cả nước mà chỉ đề cập đến lực lượng “anh hùng lục lâm và những người trong đảng Cần Vương còn sót lại để dựng cờ khởi nghĩa ở khoảng Nghệ Tĩnh” [8, tr.16] Thực hiện ý định đó, tháng 7-1901, Phan Bội Châu đã tập hợp được 20 người, trong đó có Phan Bá Ngọc (con Phan Đình Phùng), Vương Thúc Quí bạn học cùng làng, Trần Hải và Hà Văn Mỹ người huyện Nghi Xuân (HàTĩnh) là dư đảng Cần vương thân tín, đồng thời vận động cả lính khố xanh làm nội ứng quyết định đánh úp thành Nghệ An đúng ngày quốc khánh Pháp (14-7) Nhưng cơ mưu bại lộ, kế hoạch đánh thành của nghĩa quân không thực hiện được
Từ thất bại này, Phan Bội Châu và các cộng sự của ông nhận thấy, muốn đấu tranh bạo động thắng lợi thì không thể thủ hiểm ở một vùng theo phương thức hoạt động của phong trào Cần Vương và nghĩa quân Yên Thế được, mà phải xây dựng phong trào toàn quốc, trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam “đồng thời khởi nghĩa, để chia bớt sức mạnh của bên địch, mà vây cánh đồ đảng của chúng ta đông, như vậy hoạ chăng mới làm nên công việc” [8, tr.18] Thực hiện chủ trương này, Phan Bội Châu đã có chuyến đi từ Bắc vào Nam để gây dựng cơ
sở phong trào Kết quả của cuộc vận động đó, Phan Bội Châu cho biết: “khắp các tỉnh thành châu quận trọng yếu, chúng tôi đều ngấm ngầm sắp đặt vây cánh phe đảng đâu đó hẳn hoi, chỉ còn đợi thời cơ là khởi sự” [8, tr.26] Trong tư tưởng của Phan Bội Châu và các đồng chí của ông lúc bấy giờ, “thời cơ” khởi sự chính là khi đã có đủ ba điều: thu phục được lòng người, có số tiền lớn và sắp đặt mua sắm vũ khí cho đủ
Tháng 7 năm 1901, Phan Bội Châu tụ họp khách "lục lâm", các dư đảng
Cần Vương thân tín, vận động cả lính khố xanh quyết định làm một cuộc bạo động đánh úp thành Nghệ An đúng vào ngày quốc khánh Pháp (14-7) Nhưng vì bên địch phòng bị nghiêm ngặt, nội ứng không hành động được, nên công việc không thành
Trang 36Sau sự việc trên, người đồng chí của Phan là Ngư Hải Đặng Thái Thân đã
bàn góp với Phan những ý kiến xác đáng: "Xem kỹ lại thời thế chưa có chỗ nào
mình đáng thừa cơ làm việc lớn Bọn ta vội vã làm càn, chắc là không xong việc
gì được đâu Nhưng ta cũng phải làm sao để tỏ cho người Pháp biết rằng quốc dân ta chẳng phải toàn là hạng người quá hèn, vậy thì ta cứ mạo hiểm làm một phen cũng được, có điều là mong ước sao cho chúng ta cất tiếng lên trước rồi phải có người nói lời sau mới được Nhưng nếu ta chỉ khởi sự trong khoảng Nghệ Tĩnh mà thôi, tôi e như chuyện cái thai đứa nhỏ khó đẻ, ở trong bụng mẹ lọt ra chưa kịp khóc oa oa mấy tiếng thì đã chết non mất rồi Tôi trộm suy nghĩ
mà lo ngại giùm cho tiên sinh chỗ đó Theo ý tôi tưởng, trước hết ta nên vô Nam
ra Bắc, cần anh em hào kiệt ở hai nơi cùng làm việc với ta Đất Bắc Kỳ vốn nhiều nghĩa sĩ, từ Quảng Nam trở vô Nam Trung cũng không thiếu gì hạng người khẳng khái bi ca Ta lấy nghĩa liên kết với họ, rồi tất cả anh em ba nơi đồng thời khởi nghĩa, để chia bớt sức mạnh của bên địch, mà vây cánh đồ đảng của chúng ta đông, như vậy hoạ chăng mới làm nên công việc " [15, tr 19]
Năm 1902, Phan Bội châu bắt đầu cuộc hành trình khắp ngoài Bắc trong Nam nhằm tìm kiếm thêm những người có chí khí, có quyết tâm chống Pháp Đến Quảng Nam, Phan Bội Châu được Tiểu La Nguyễn Hàm (tên thật là Nguyễn Thành) một nhà hoạt động Cần vương nổi tiếng cung cấp nhiều ý kiến
bổ sung cho kế hoạch có sẵn của mình: "Thủa nay, ai muốn mưu toan đại sự, trước hết phải cần 3 điều này: một là thu phục lòng người; hai là góp số tiền lớn;
ba là, sắp đặt sắm quân khí cho đủ Hễ lòng người ta đã chịu tin phục thì số tiền lớn có thể góp được Có tiền thì vấn đề quân giới không khó giải quyết đâu Nhưng phải hiểu dân trí và tập quán của dân nước nhà, không thể nào bắt chước làm theo châu Âu cho được Bọn ta muốn có cách kêu gọi nhân dân cho dễ, nếu không mượn tiếng phò vua giúp chúa thì những nhà sang họ lớn kia, ai chịu phụ hoạ theo mình" [15, tr.20]
Năm 1903, Phan Bội Châu viết tác phẩm Lưu Cầu huyết lệ tân thư (sách
mới viết bằng máu và nước mắt về đảo Lưu Cầu) Sách nói rõ “thảm trạng thành tan nước mất, những nổi nhơ nhuốc đổi chúa làm tôi Lại nói đến dân trí phải
Trang 37gấp mở mang, dân khí phải gấp bồi dưỡng để làm nền tảng cho việc cứu quốc " [15, tr.24]
Qua Lưu Cầu huyết lệ tân thư chúng ta thấy, Phan Bội Châu không thích
chế độ quân chủ, nhưng khi nghe ý kiến Tiểu La Phan Bội Châu chấp thuận việc đặt Cường Để làm minh chủ của Duy tân hội Đó chỉ là một sách lược để đáp ứng một yêu cầu bức xúc cho cuộc vận động cách mạng, lúc đó là tập hợp lực lượng, thu phục nhân tâm
Năm 1904, sau quá trình vận động xây dựng phong trào ở Bắc, Trung, Nam, Phan Bội Châu và các đồng chí nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải thành lập một tổ chức thống nhất để xúc tiến hoạt động cứu nước Để “chuẩn bị những điều kiện tiến hành bạo động đại qui mô, khôi phục nền độc lập cho đất nước”[26, tr.131] Duy Tân hội đề ra ba nhiệm vụ trước mắt: 1) Phát triển thế lực hội về người cũng như về tài chính 2) Xúc tiến việc chuẩn bị bạo động và các công việc sau khi phát ra lệnh bạo động 3) Chuẩn bị xuất dương cầu viện, xác định phương châm và thủ đoạn xuất dương [7, tr 33]
Trước khi sang Nhật cầu viện, Phan Bội Châu và các đồng chí trong tổ chức Duy Tân hội đã hình dung một cuộc bạo động vũ trang trên phạm vi toàn
quốc theo phương thức “nội công ngoại kích”, nghĩa là vừa phát huy sức mạnh
trong nước, vừa kết hợp với lực lượng ngoại viện để giải phóng dân tộc Thế nhưng, ngay trong chuyến xuất dương đầu tiên sang Nhật (1905), kế hoạch cầu viện quân sự Nhật Bản đã bị phá sản Các chính khách Nhật Bản từ chối việc viện trợ quân sự và khuyên Phan trước hết phải chuẩn bị thực lực trong nước và nhẫn nại chờ đợi thời cơ thuận tiện Chính qua bài học thực tế và kinh nghiệm nước ngoài, phương thức vận động cách mạng, tiến hành “bạo động” của Phan Bội Châu càng được bổ sung, nâng cao
Nhìn chung, Phan Bội Châu đã tham gia nhiều hoạt động hưởng ứng phong
trào Cần Vương; tích cực tích luỹ kiến thức, tạo dựng thanh thế, tập hợp lực lượng, định ra đường lối cứu nước mới Phan Bội Châu dần dần thoát ly với hình thức tổ chức, phương thức hoạt động của phong trào Cần vương Hay nói
Trang 38cách khác, Phan Bội Châu bước đầu hình thành con đường cứu nước mới thể hiện ở việc vận động thành lập Duy tân hội, đề ra 3 kế hoạch khá toàn diện
1.2.3 Nội dung tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu
Thực hiện chủ trương là cách mạng bằng “bạo lực” để cứu nước, Phan Bội Châu tìm cách liên hệ với các văn thân sĩ phu yêu nước trong các phong trào đấu tranh chống Pháp Năm 1901 ông liên hệ với các nghĩa quân còn sót lại trong cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh và các lãnh tụ nghĩa quân Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước ở Thanh Hóa Năm 1902 ra Yên Thế (Bắc Giang), Hoàng Hoa Thám bị ốm nên chỉ gặp Cả Trọng, thống nhất nếu Trung
Kỳ khởi nghĩa, Yên Thế sẽ hướng ứng
Năm 1903 ông theo học trường Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế, viết cuốn:
“Lưu cầu huyết lệ tân thư” nhằm liên kết những người có thế lực trong triều đình ủng hộ chủ trương “bạo động” nhưng không thành Ngay cả những bậc sĩ phu nhiệt tình yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúy Cáp không tán thành “bạo động vũ trang”, mà chủ trương vận động cải cách Thế nhưng, Phan Bội Châu cũng liên kết và được sự ủng hộ của Nguyễn Hàm, Nguyễn Lang, Ấu Triệu Cuối năm 1903, ông tiếp tục vào Nam Kỳ vận động nhân dân Lục tỉnh giúp đỡ phối hợp “bạo động vũ trang”, đồng thời chú trọng “ vận động quân đội trù bị vũ trang thực hành bạo động” Những cuộc vận động tuyên truyền chủ trương “bạo động vũ trang” trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thơ văn Phan Bội Châu đã góp phần nâng cao lòng yêu nước, chí căm thù giặc, truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, lòng tin vào khả năng chiến đấu
và chiến thắng của dân tộc
Sau một quá trình vận động xây dựng phong trào ở Bắc, Trung, Nam, Phan Bội Châu nhận thấy cần có một tổ chức cách mạng mới và biện pháp đấu tranh mới là “bạo động” và chuẩn bị điều kiện để tiến hành bạo động đại quy
mô, khôi phục nền độc lập cho đất nước Phan Bội Châu đã chủ động liên kết
dư đảng Cần Vương, tập hợp lực lượng vũ trang cả nước làm một khối
Trong quá trình vận động cách mạng ở ngoài nước, có lúc Phan Bội Châu
đã chủ trương gây nên một tiếng vang để thức tỉnh hồn nước Nhưng kết quả
Trang 39chỉ giết được vài võ quan Pháp và tay sai của giặc Pháp Chủ trương lấy bạo động để kêu gọi hồn nước, để thức tỉnh quốc dân chỉ được Phan Bội Châu coi như thủ đoạn cần thiết nhất thời, mặt hoạt động chủ yếu lâu dài của Phan Bội Châu vẫn là chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc giành độc lập dân tộc
Về xây dựng lực lượng vũ trang, Phan Bội Châu quyết định thành lập đội
“Quang Phục quân ", gồm những người được tuyển mộ trong đồng bào miền
núi gần biên giới Việt -Trung Các học sinh Đông Du đã từng công tác lâu ở trong quân đội Trung Quốc như Hoàng Trọng Mậu, Đặng Xung Hồng, Nguyễn Hải Thần… nay được giữ những địa vị trọng yếu của Quang Phục quân Quang Phục quân cũng chia thành các "binh chủng" như bộ binh, pháo binh, có Bộ Tổng tư lệnh, Tổng Tham mưu….Quân lính được phiên chế thành Ngũ, Thập, Cai, Đội, Cơ, Vệ, Doanh, Trấn, Quận Vũ khí quân dụng, phần lớn mua của Trung quốc, Nhật Bản; ngoài ra hội còn bí mật lập một số "binh công xưởng "
để chế tạo thêm Quốc kỳ hình chữ nhật nền vàng 5 ngôi sao đỏ, quân kỳ nền
đỏ 5 sao trắng kiểu "ngũ tinh liên châu" (một chuỗi 5 ngôi sao)
Ở trong nước, Phan Bội Châu không lúc nào ngừng lấy việc giáo dục quân dân, thức tỉnh hồn nước làm động cơ thúc đẩy bạo động Phan Bội Châu tán thành đường lối của Ma-di-ni là: “giáo dục và bạo động phải tiến hành song song” Từ tác phẩm Song tuất lục đến Trùng Quang tâm sử, Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Việt Nam quốc sử khảo, Truyện Phạm Hồng Thái…Phan đều nhằm một mục đích duy nhất là lấy gương ái quốc, gương đấu tranh bạo lực mà giáo dục nhân dân nổi dậy chống ngoại xâm
Ở ngoài nước, Phan chú trọng đào tạo nhân tài, rèn luyện quân sự, sắm sửa võ khí để đón thời cơ Theo Phan thì khi nào trong nước, nhân dân đã thức tỉnh đứng lên, ngoài nước, nhân tài vật lực vũ khí đã chuẩn bị đầy đủ, lúc đó trong ngoài sẽ dốc toàn lực vào cuộc khởi nghĩa đánh đuổi thực dân, giải phóng
Tổ quốc Đó mới là mục tiêu cao nhất của chủ trương bạo động của Phan Bội Châu Chính vì vậy mà khi thành lập Đông Á đồng minh, lập Điền Quế Việt liên minh ở Nhật, khi lập Hội Chấn Hoa hưng Á ở Quảng đông, khi tụ tập những nhà ái quốc ở Xiêm… mục đích của Phan cũng chỉ là chuẩn bị cho cuộc
Trang 40vũ trang để giết giặc Ở đâu, lúc nào Phan cũng chăm lo sắm sửa vũ khí, chế tạo bom mìn, chờ thời cơ là nổi dậy
Cũng chính do lòng yêu nước và chí kiên trì vũ trang bạo động mà Phan
đã nhìn thấy được khả năng đấu tranh chống thực dân Pháp của cả toàn dân Phan tin rằng nhân dân ta: “ai cũng có lòng phục thù ái quốc” nên đã tha thiết kêu gọi: “phú hào, quan chức, gia tô, sĩ tịch, lính tập, côn đồ, nhi nữ, anh si” cũng đứng dậy giết giặc Sao cho:
“ Nghìn muôn ức triệu người chung góp
Xây dựng lên cơ nghiệp nước nhà”[7, tr 152]
Từ chủ nghĩa yêu nước và ý chí kiên trì vũ trang bạo động, Phan đã chủ trương đoàn kết mọi người giết giặc cứu nước
Trong lịch sử đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc, chưa lúc nào có được cuộc vận động quần chúng sâu rộng như vậy Song do nhãn quang chính trị còn hạn chế, Phan Bội châu chưa thấy được công nông là lực lượng chủ lực để tiến hành cuộc “bạo động vũ trang”, nhưng tư tưởng đoàn kết dân tộc của ông phần nào biểu thị được nguyện vọng đoàn kết giết giặc cứu nước của toàn dân
Có thể nói, ngay từ đầu, Phan Bội Châu đã xác định rõ đối tượng cách mạng là đánh đuổi giặc Pháp, giải phóng dân tộc, vì thế trong khi tìm con đường
và biện pháp cách mạng, Phan Bội Châu chỉ chăm chú vào mục đích lớn là, cứu dân tộc ra khỏi vòng nô lệ, xây dựng nước Việt Nam mới do dân làm chủ Tư tưởng đó đã trở thành ngọn cờ tập hợp, cổ vũ đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân và phong kiến Và trên cơ sở xác định đối tượng và mục tiêu cách mạng Việt Nam, nhiều quan điểm về tìm kiếm nguồn sức mạnh, về tổ chức, xây dựng lực lượng đánh giặc, về nhận thức vai trò của nhân dân được đặt ra
1.2.4 Ảnh hưởng của chủ trương bạo động trong phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX