Theo tư tưởng của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào thi đua yêu nước đã góp phần giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, tích cực tham gia, hoàn thành xuất sắc nhiệm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CHU CHIẾN SƠN
NÔNG DÂN NGHỆ AN VỚI PHONG TRÀOTHI ĐUA YÊU NƯỚC TỪ NĂM 1948
ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN QUANG HỒNG
NGHỆ AN, 2016
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của đề tài 3
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục của đề tài 6
B NỘI DUNG 7
Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC 7
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội 7
1.2 Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của phong trào thi đua yêu nước 9
Chương 2 NÔNG DÂN NGHỆ AN VỚI PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC TỪ NĂM 1948 ĐẾN NĂM 1975 20
2.1 Khái quát đóng góp của nông dân Nghệ An trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào thi đua yêu nước 11/6/1948 20
2.2 Nông dân Nghệ An tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước từ năm 1948 đến năm 1954 27
2.3 Nông dân Nghệ An tham gia các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1954-1964 31
2.3.1 Thời kỳ từ năm 1954 đến 1960 31
2.3.2 Thời kỳ từ năm 1961 đến 1965 42
2.4 Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1965 đến năm 1975 50
2.4.1 Thời kỳ từ năm 1965 đến 1973 50
2.4.2 Thời kỳ từ năm 1973 đến 1975 68
Trang 3YÊU NƯỚC TỪ SAU ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 ĐẾN NĂM 2015 74
3.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng 74
3.2 Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước trong 10 năm sau ngày hòa bình thống nhất đất nước (1975 - 1985) 75
3.3 Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước từ năm 1986 đến năm 2015 87
3.3.1 Thời kỳ từ năm 1986 đến 1991 87
3.3.2 Thời kỳ từ năm 1991 đến 1995 92
3.3.3 Thời kỳ từ năm 1995 đến 2000 97
3.3.4 Thời kỳ từ năm 2000 đến 2015 99
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cách đây 68 năm, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Theo tư tưởng của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào thi đua yêu nước đã góp phần giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, tích cực tham gia, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng, để lại những dấu ấn sâu đậm, góp phần tô thắm truyền thống yêu nước, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam
Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các phong trào thi đua yêu nước trong cả nước nói chung, trong đó có phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An nói riêng luôn thể hiện vai trò rất quan trọng, là động lực góp phần to lớn làm nên thắng lợi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta
1.2 Hiện nay, trong bối cảnh đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, cùng với nông dân
cả nước, nông dân Nghệ An đang tích cực hăng hái tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước do Đảng và Nhà nước phát động, đã và đang gặt hái nhiều được nhiều kì tích hết sức quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc phấn đấu đưa Nghệ An trở thành một tỉnh khá trong cả nước như lời mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, với những đóng góp to lớn của nông dân Nghệ An trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ về vai trò, tác dụng của các phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An qua các thời kỳ lịch sử Từ đó, để tổng kết kinh nghiệm, đưa ra kiến nghị, giải pháp thích hợp nhằm thúc đẩy các phong trào thi đua
Trang 5yêu nước phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới
Vì vậy, với tư cách là học viên cao học, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, tôi muốn tìm hiều thêm những đóng góp của nông dân Nghệ An trong phong trào thi đua yêu nước từ năm 1948 đến năm 2015, với hi vọng có một cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về phong trào này Nghệ An Thông qua đó, để khơi dậy những tiềm năng, sức sáng tạo của người nông dân; đồng thời phát huy lòng yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thắng lợi Từ những lí do
nói trên, tôi quyết định chọn đề tài “Nông dân Nghệ An với phong trào thi
đua yêu nước” (Từ năm 1948 đến 2015) làm luận văn thạc sỹ sử học của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài về phong trào thi đua yêu nước là một vấn đề được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này ở nhiều khía cạnh và phạm vi, mức độ khác nhau, trong số đó phải kể đến các công trình nghiên cứu về chủ đề "Phong trào thi đua ái quốc”, như:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước”, Nhà Xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1984; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào
thi đua yêu nước” của tác giả Lê Quang Thiệu, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1994; “Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi
đua khen thưởng” của Tạp chí Thi đua khen thưởng và Cục Lưu trữ Văn
phòng Trung ương Đảng, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2008; “Thi
đua yêu nước - Trước kia và hiện nay” của Nguyễn Văn Tạo, Nhà xuất bản
Sự thật, Hà Nội, 1958; Trần Thương Hoàng - Luận án Tiến sĩ năm 2004; Thi đua ái quốc - Một nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) của tác giả Nguyễn Tố Uyên (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4/(229)/1998); Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước của
Trang 6tác giả Bùi Đình Phong (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 4/2008); Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước của tác giả Nguyễn Văn Nhật (tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6(386)/2008;
- "Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân thành phố Vinh",
Nguyễn Quang Hồng, Nhà Xuất bản Nghệ An, Vinh năm 2015
"Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân Nghệ An Nghệ An", Nhà xuất bản Nghệ An, Vinh năm 2015; "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An" tập
I, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm 1998; "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An" tập II, Nhà xuất bản Nghệ An năm 1999; "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An" tập III, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm 2008;
Nhìn chung, những tác phẩm, những công trình nghiên cứu phần lớn giới thiệu những bài nói, bài viết, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tài liệu của Đảng, Nhà nước về phong trào thi đua yêu nước từ ngày phát động, những công trình nghiên cứu này chưa đi sâu, tìm hiểu, nghiên cứu về bản thân lịch sử phát triển phong trào thi đua yêu nước cụ thể của từng vùng, từng địa phương cũng như thành tựu, kết quả của thi đua Lịch sử phong trào thi đua yêu nước chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, cụ thể và chưa thể hiện được quá trình hình thành, phát triển của phong trào cũng như chưa chứng minh được vai trò của thi đua yêu nước đối với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập
và xây dựng, phát triển đất nước của nhân dân ta Ở những mức độ nào đó, các tác phẩm, các công trình nghiên cứu trên đã gợi mở và đặt ra những vấn
đề về phong trào thi đua yêu nước, là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả có thể tiếp cận, nhìn nhận, đánh giá, tìm hiểu vấn đề trên những khía cạnh khác nhau một cách đầy đủ hơn
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Nông dân Nghệ An với phong trào thi đua yêu nước", từ năm
1948 đến 2015, tập trung đề cập đến bối cảnh dẫn đến việc chủ trương phát động phong trào thi đua yêu nước của Đảng và Chính phủ; những đóng góp to
Trang 7lớn của nông dân Nghệ An trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, cũng như trong thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu sự ra đời; quá trình phát triển, hình thức, nội dung, đặc điểm và kết quả của phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An trong những năm kháng chiến chống Pháp
và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay; tác dụng, ý nghĩa của phong trào thi đua yêu nước đối với cuộc kháng chiến và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về phong trào thi đua yêu nước từ khi phong trào được phát động đến thời điểm hiện nay (từ năm
1948 đến năm 2015)
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài nghiên cứu cần phải làm rõ yêu cầu cần thiết dẫn đến sự ra đời của phong trào thi đua, chủ trương của Đảng, Chính phủ về thi đua, tiến trình phát triển và kết quả, ý nghĩa phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An từ năm 1948 đến năm 2015
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi dựa vào những nguồn tài liệu
cơ bản sau:
- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước về phong trào thi đua yêu nước
và công tác thi đua khen thưởng như Văn kiện Đảng toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập và một số công trình nghiên cứu khác;
- Các tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước;
- Một số bài viết về thi đua yêu nước đăng trên các tạp chí: Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chí Thi đua yêu nước…Đặc biệt, những hồ sơ, tài liệu lưu trữ về phong trào thi đua yêu
Trang 8nước do các cơ quan Đảng, Chính phủ, Nhà nước, các bộ, ngành được ban hành ngay trong quá trình hình thành, phát triển của phong trào thi đua yêu nước qua các thời kỳ, hiện đang được bảo quản tại các Trung tâm Lưu trữ của tỉnh Đây là nguồn tài liệu quan trọng, hữu ích cung cấp phần lớn thông tin cho quá trình thực hiện đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu, bên cạnh
đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…cũng được sử dụng nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
5 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu về sự ra đời, phát triển của phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An từ năm 1948 đến năm 2015, đề tài nhằm nêu bật sự phát triển của phong trào thi đua của nông dân Nghệ An trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cũng như trong thời kỳ hội nhập phát triển của đất nước hiện nay Đồng thời cũng làm rõ được vai trò, ý nghĩa, tác dụng cũng như những đóng góp của nông dân Nghệ An trong phong trào thi đua yêu nước đối với quá trình phát triển của đất nước
- Đề tài là một tài liệu tham khảo về lịch sử phát triển của phong trào thi đua yêu nước của nông dân Nghệ An trong suốt chiều dài lịch sử từ năm
1948 đến 2015; nêu rõ được những đặc điểm tình hình thi đua yêu nước, những tấm gương điển hình tiêu biểu của nông dân Nghệ An với tinh thần yêu nước nồng nàn trong hai cuộc chiến tranh, cũng như trong thời kỳ xây dựng
và phát triển đất nước
- Đây là tài liệu quan trọng góp phần trong việc tuyên truyền, cổ vũ phong trào nông dân và Hội nông dân hưởng ứng thi đua sản xuất làm giàu cho chính mình và làm giàu cho quê hương; đồng thời làm cơ sở để nhân rộng
mô hình thi đua của nông dân Nghệ An trong tình hình mới
Trang 9Chương 3: Nông dân Nghệ An với các phong trào thi đua yêu nước từ
sau đại thắng mùa xuân 1975 đến năm 2015
Trang 10
B NỘI DUNG Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC 1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội
Nghệ An là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa với đường ranh giới 182km; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh với đường ranh giới 91 km; phía Tây giáp 3 tỉnh của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào: Bô li khăm xay, Hủa phăn, Xiêng Khoảng với 419 km đường biên giới; phía Đông trông ra biển Đông
Là một tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước với 1.648.997,1 ha.1 Địa hình đa dạng, phức tạp, nghiêng dốc bị chia cắt mạnh bởi các đồi núi và hệ thống sông suối Về tổng thể, địa hình có ba vùng sinh thái: miền núi, trung
du, đồng bằng ven biển rất thuận lợi để phát triển, sản xuất nông lâm thủy sản toàn diện và bố trí các loại hình nông nghiệp, nông thôn, đô thị đa dạng, phong phú Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, đới khí hậu gió mùa chí tuyến, á đới có mùa đông lạnh Tính chất khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị rõ rệt trên toàn lãnh thổ và theo các mùa, tạo điều kiện cho việc phát triển nông, lâm, thủy sản theo thế mạnh của từng vùng sinh thái và tạo thế liên hoàn trong tổ chức lãnh thổ kinh tế Tuy nhiên, khí hậu có nhiều hiện tượng thời tiết bất lợi như: bão, lụt, hạn hán, gió Phơn Tây Nam khô nóng, lũ ống lũ quét, xâm nhập mặn ảnh hưởng xấu tới năng suất cây trồng, vật nuôi và sinh hoạt của con người
Với mạng lưới mạng lưới sông ngòi dày đặc, toàn tỉnh có 6 con sông chảy ra biển bao gồm: sông Cả, sông Cấm, sông Bùng, sông Thái, sông Mơ (sông Đò Ông), sông Hoàng Mai Sông Cả là con sông lớn nhất Hệ thống sông ngòi có giá trị lớn đối với việc phát triển kinh tế nông lâm thủy sản Khi
1 Niên giám thống kê 2014, tháng 6 2015
Trang 11kết hợp với các hồ đập, kênh mương là nguồn cung cấp nước tưới đồng ruộng, tiêu úng về mùa mưa Diện tích mặt nước là điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản
Ngoài ra, đặc điểm của địa hình, sông ngòi và nguồn nước đã tạo cho Nghệ An lợi thế phát triển thủy lợi, thủy điện Trên các dòng sông có nhiều vị trí thuận lợi về địa hình địa chất, xây dựng được các hồ chứa nước lớn điều tiết nước phục vụ sản xuất, dân sinh, hạn chế lũ, phát điện
Các dòng sông hẹp và dốc, hạn chế khả năng điều hòa nguồn nước mặt trong các mùa phục vụ cho sản xuất nông, lâm, thủy sản Thủy chế không đều, phân bố theo vùng và theo mùa thường gây ra hạn hán, lũ lụt
Các điều kiện kinh tế - xã hội với nhiều thế mạnh, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển, phân bố cũng như hoạt động của ngành kinh tế nông lâm thủy sản Nghệ An
Xét về dân cư, lao động: Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số lớn thứ 4 trong cả nước với 3.037.440 người2
(sau Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Thanh Hóa) Phần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn với tỉ lệ chiếm 84,9% tổng dân số toàn tỉnh, trong khi đó tỉ lệ dân cư đô thị chiếm 15,1% Mật độ dân số đông 184 người/km2
(gấp 4 - 5 lần so với mật độ chuẩn), cao nhất ở Quỳnh Lưu 596 người/km2 và thấp nhất ở Tương Dương 26 người/km2 Với đặc điểm dân cư đông, kết hợp với phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động, đây là nguồn cung cấp lao động dồi dào phục vụ cho sự phát triển của ngành kinh tế nông lâm thủy sản
Hoạt động khoa học công nghệ: Hoạt động khoa học công nghệ đã hướng vào mục tiêu đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là các lĩnh vực nông, lâm, thủy sản Nhiều dự án chuyển giao công nghệ thực hiện hiệu quả như: phát triển lúa, ngô, lạc, cỏ, cam , phát triển đàn bò lai, bò sữa, tôm, cua, cá, du nhập các giống mới đưa vào sản xuất,
2
Niên giám thống kê 2014, tháng 6 2015
Trang 12chế biến nông lâm thủy sản
Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất được chú trọng, đã tạo ra những sản phẩm có chất lượng, nâng cao tính cạnh tranh trong
cơ chế thị trường: lạc nhân, chè khô, cà phê nhân, cao su mủ khô, sữa bò , góp phần phát triển các trang trại, hộ nông dân sản xuất hàng hóa, các vùng chuyên canh, vùng nguyên liệu cho chế biến nông lâm thủy sản xuất khẩu ra nhiều nước trong khu vực và thế giới
Tỉnh Nghệ An đã đưa ra nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Trong đó, nổi bật là
hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng nông thôn mới kết hợp xóa đói giảm nghèo; chuyển giao công nghệ đã tạo ra sự thay đổi tích cực ở nông thôn và thúc đẩy sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển nhanh, bền vững
Bên cạnh nhưng thuân lơi, điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn có những hạn chế nhất định như: Lực lượng lao động trình độ còn thấp Việc nâng cao tay nghề cho nông dân, ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh Lực lượng lao động chưa thực sự tiếp cận với cơ chế thị trường, tính công nghiệp hóa trong sản xuất chưa cao Thêm vào đó, sự chênh lệch mức sống của nhân dân tại các vùng miền còn khá lớn Đời sống đại đa
số đồng bào ở miền núi vùng sâu, vùng xa còn thấp so với vùng đồng bằng đô thị Số người thiếu việc làm và việc làm chưa ổn định còn nhiều, nhất là ở khu vực nông thôn Phát huy thuận lợi, hạn chế và khắc phục khó khăn của các yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hoạt động nông lâm thủy sản đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, ngày một vững vàng trên các chặng đường lịch sử
1.2 Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của phong trào thi đua yêu nước
Cách mạng tháng Tám thành công đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật ở nước ta hơn 80 năm, lật đổ chế độ quân
Trang 13chủ chuyên chế tồn tại gần một nghìn năm, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người độc lập, tự do, làm chủ bản thân, làm chủ vận mệnh dân tộc Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra
kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa
xã hội Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhân dân đã giành được quyền làm chủ và bước đầu hưởng những quyền lợi do chính quyền cách mạng mang lại Vì vậy, nhân dân rất phấn khởi, tin tưởng, gắn bó với chế độ mới, sẵn sàng đấu tranh bảo vệ nhà nước và những quyền làm chủ của mình Bên cạnh đó, với truyền thống anh dũng, cần cù, chịu khó, nhanh nhẹn, cũng là những yếu tố quan trọng để nhân dân Việt Nam cùng một lúc thực hiện những nhiệm vụ lớn lao của cách mạng Mặt khác, Cách mạng Việt Nam có Đảng dầy dạn kinh nghiệm, có lãnh tụ sáng suốt là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo trong điều kiện phong trào cách mạng quốc tế phát triển mạnh mẽ Đó là những thuận lợi cơ bản góp phần quan trọng cho việc cổ vũ độngviên nhân dân Việt Nam trong việc bảo
vệ chính quyền, từng bước giải quyết khó khăn Bên cạnh những thuận lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa mới ra đời đứng trước tình thế hết sức hiểm nghèo, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách tưởng chừng không vượt qua nổi
Về đối ngoại, với danh nghĩa vào giải giáp quân đội Nhật, quân đội
đồng minh đã lũ lượt kéo vào Việt Nam Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, ở Hà Nội
và hầu hết các tỉnh, có gần 20 vạn quân Tưởng, theo sau chúng là bọn tay chân từ các tổ chức phản động như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) tràn vào giải giáp quân Nhật nhưng lại âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền nhân dân và lập chính quyền tay sai Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quânAnh tạo điều kiện và giúp đỡ cho thực dân Pháp trở lại xâm lược
Trang 14Việt Nam Ngày 23/9/1945, quân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Nam Bộ, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai, lợi dụng tình hình đó, bọn phản động trong nước ngóc đầu dậy, chống phá cách mạng Không chỉ quân Pháp, trên cả nước còn 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp, trong khi chờ được giải giáp, một bộ phận quân Nhật theo lệnh quân Anh đã chống lại lực lượng
vũ trang của Nam Bộ, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam Bộ
Về đối nội, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, chưa được
củng cố, tiềm lực mọi mặt của đất nước còn non yếu: kinh tế đất nước hết sức nghèo nàn, lạc hậu, dưới chế độ thống trị của thực dân, phát xít càng trở nên tiêu điều, kiệt quệ lại bị chiến tranh tàn phá, chưa khôi phục lại được Thiên tai, hạn hán, lũ lụt liên tiếp xảy ra làm cho hơn một nửa diện tích ruộng đất không thể cày cấy, canh tác được Nhiều xí nghiệp công nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp Các cơ sở công nghiệp của ta chưa phục hồi được sản xuất, hàng hoá khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 hoành hành cướp đi sinh mệnh của hơn 2 triệu người, nạn đói mới lại tiếp tục đe dọa Ngân sách Nhà nước lúc này hầu như trống rỗng, kho bạc Nhà nước chỉ có hơn 1,2 triệu đồng Chính quyền cách mạng lại chưa quản lí được Ngân hàng Đông Dương Trong lúc đó, quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá, làm cho nền tài chính đất nước thêm rối loạn
Tàn dư của chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân số bị mù chữ, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè… rất phổ biến Những khó khăn đó đặt Việt Nam đứng trong tình thế như "ngàn cân treo sợi tóc", đặt ra một yêu cầu cấp bách trước mắt cho toàn Đảng, toàn dân là phải củng cố, phải bảo vệ nền độc lập tự do và chính quyền cách mạng vừa giành được từ sau Cách mạng tháng Tám Bằng sách lược tài tình, với chính sách ngoại giao khôn khéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng
Trang 15đã từng bước chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, đạt được nhiều thành tựu trong việc xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết những khó khăn của đất nước.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, nhân dân Việt Nam vô cùng phấn khởi, thi đua tăng gia sản xuất để cứu đói, làm thêm “giờ cứu quốc”, mở lớp Bình dân học vụ xóa nạn mù chữ, tuyên truyền, vận động đời sống mới… Sau hơn một năm, những khó khăn trước mắt về vấn đề tài chính, giặc đói, giặc dốt đã căn bản được giải quyết, Việt Nam từ chỗ phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù thì nay chỉ còn phải đối phó với một kẻ thù là thực dân Pháp Việt Nam muốn hòa bình để xây dựng và kiến thiết đất nước, Chính phủ Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện sách lược ngoại giao mềm mỏng để giải quyết mối quan hệ với Pháp, ký với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946 và bản Tạm ước ngày 14/9/1946, nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi Nhưng Việt Nam càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, chúng tìm mọi cách để phá hoại, xóa bỏ những nội dung đã ký kết, tăng cường các hành động khiêu khích và liên tiếp gây ra các cuộc xung đột với lực lượng vũ trang Việt Nam Trắng trợn hơn cả, ngày 18/12/1946, thực dân Pháp láo xược gửi tối hậu thư đòi Chính phủ Việt Namgiải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng Trước hành động xâm lược đó, nhân dân Việt Nam chỉ có một con đường là cầm vũ khí đứng lên kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do, bảo vệ những thành quả Cách mạng tháng Tám và thực hiện nhiệm vụ kiến quốc nhằm xây dựng chế độ mới
Ngày 18 và 19/12/1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Vạn Phúc (Hà Đông) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định phát động cuộc toàn quốc kháng chiến chống Pháp và đề ra những vấn
đề cơ bản về đường lối kháng chiến chống Pháp, ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch
Trang 16Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Cách mạng Việt Nam đặt ra những nhiệm vụ cơ bản cần phải giải quyết: kháng chiến và kiến quốc, kháng chiến để đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc; kiến quốc tức là xây dựng chế độ mới Với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bắt đầu, nhân dân Việt Nam thà hy sinh tất cả để bảo vệ độc lập dân tộc, đường lối kháng chiến được hình thành, đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng củng cố chính quyền và tiềm lực đất nước về mọi mặt Quân dân Việt Nam vừa chiến đấu nhằm tiêu hao và giam chân địch trong các đô thị, vừa tiến hành di chuyển các cơ quan, kho tàng, tổ chức cho nhân dân đi tản cư, đồng thời duy trì sản xuất, đảm bảo nhu cầu ăn mặc cho lực lượng vũ trang, từng bước xây dựng tiềm lực kinh tế cho kháng chiến và chú trọng xây dựng đời sống mới cho nhân dân…chuyển cả nước vào thời chiến và xây dựng thế trận kháng chiến lâu dài Giữa lúc chiến dịch Việt Bắc đang diễn ra quyết liệt và giành những thắng lợi bước đầu, để vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kháng chiến và nhiệm vụ kiến quốc, nhiều phong trào thi đua ở một số địa phương, đơn vị, hay ở các ngành đã diễn ra Ngày
10/11/1947, Bộ Tổng Chỉ huy ra Huấn lệnh Luyện quân lập công nhằm “gây
một phong trào ganh đua luyện tập và thi nhau giết giặc, trong bộ đội chính quy và trong các đội du kích” Huấn lệnh ra đời là yếu tố đầu tiên “nhen nhóm mầm thi đua” trong quân đội, khích lệ, động viên bộ đội, dân quân
luyện tập để nâng cao trình độ tác chiến, diệt đượcnhiều sinh lực địch Trên khắp các mặt trận, các chiến sĩ bộ đội, dân quân du kích thi đua luyện quân đội, lập chiến công Để cổ vũ, động viên bộ đội luyện quân lập công, các cơ quan, đoàn thể nhân dân khắp nơi đặt nhiều giải thưởng, ủng hộ lương thực Phong trào luyện quân lập công sổi nổi đã đưa đến thắng lợi trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, làm thay đổi cục diện chiến trường, kết thúc giai đoạn phòng ngự chuyển sang phản công, quân dân ta càng thêm phấn khởi,
Trang 17tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực tham gia kháng chiến
Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc là thắng lợi có quy mô lớn đầu tiên của quân dân Việt Nam, là sự thể hiện rõ nét bước đầu sức mạnh của tinh thần yêu nước của nhân dân, quyết tâm kháng chiến chống ngoại xâm, ra sức thi đua hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng, của kháng chiến
Xuất phát từ thực tiễn phong trào, nhận thấy sự cần thiết phải động viên, khích lệ tinh thần, khí thế thi đua, đồng thời thống nhất việc lãnh đạo, tổ chức phong trào thi đua và định hướng kịp thời phong trào thi đua cho tất cả các ngành, các giới trên cả nước, nắm bắt được nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu thiết thực của cuộc kháng chiến, theo sáng kiến đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27/3/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã
ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc trong cả nước, nhằm động viên tinh thần thi đua yêu nước, phát huy tinh thần sáng tạo, lòng nhiệt tình cách mạng trong mọi tầng lớp nhân dân, kêu gọi các tầng lớp nhân dân nỗ lực thi đua hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu ngày một phát triển của cuộc kháng chiến Chỉ thị đã đề cập đến các vấn đề như mục đích, phạm vi, kế hoạch, tổ chức thi đua… Nội dung thi đua được đề ra về ba mặt:
1 Phương pháp: tức là nghĩ cách làm sao cho hợp lý;
2 Tinh thần: phấn đấu tích cực, hăng hái, không sợ gian lao, khổ sở;
3 Kết quả: mọi hoạt động phải nhằm vào kết quả thực tế, kết quả phải tính về phẩm và lượng trong thời gian nhất định
Tiếp theo đó, ngày 01/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu
gọi Thi đua yêu nước: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí
quật cường chẳng kém ai Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng
ta phải đi mau Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai, già trẻ, toàn thể quốc dân ta vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất Như thế thì kháng chiến nhất định thắng lợi, Kiến quốc nhất định thành công”
Trang 18Ngày 11/6/1948, nhân dịp toàn quốc kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến (Ngày Nam bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 23/9/1945), một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, phát thanh rộng rãi đến toàn quân và toàn dân, một lần nữa kêu gọi nhân dân thi đua đóng góp sức mình cho kháng chiến, ra sức phục vụ kháng chiến:
Nội dung lời kêu gọi thi đua yêu nước:
“ Mục đích thi đua ái quốc là gì?
Diệt giặc đói khổ,
Diệt giặc dốt nát,
Diệt giặc ngoại xâm
Cách làm là dựa vào:
Lực lượng của dân
Tinh thần của dân, để gây:
Toàn dân kháng chiến
Toàn diện kháng chiến
Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta
Vừa kháng chiến
Vừa kiến quốc
Kết quả đầu tiên của thi đua ái quốc là:
Toàn dân đủ ăn đủ mặc
Trang 19Toàn dân sẽ biết đọc biết viết
Toàn bộ đội sẽ đầy đủ lương thực, khí giới, để giết giặc ngoại xâm
Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn
Thế là chúng ta thực hiện:
Dân tộc độc lập
Dân quyền tự do
Dân sinh hạnh phúc
Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra
Để đi đến kết quả tốt đẹp đó, tôi xin:
Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc; Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn;
Đồng bào công thương thi đua mở mang doanh nghiệp;
Đồng bào công nông thi đua sản xuất;
Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh;
Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc phụng sự nhân dân;
Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng
Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc Phong trào sôi nổi, thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng
Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chẳng những chúng ta có thể thắng lợi, mà chúng ta nhất định thắng lợi trong thi đua ái quốc
Hỡi toàn thể đồng bào!
Hỡi toàn thể chiến sĩ!
Trang 20Từ đây, phong trào thi đua ái quốc, còn được gọi là phong trào thi đua yêu nước, do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, phát động, tổ chức thực hiện
và sự phát triển của nó đã gắn liền với lịch sử và mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam Cũng vào tháng 6 năm 1948 tại "lán Chủ tịch" bên con suối nhỏ ở
ATK Định Hóa, cụ Hoàng Đạo Thúy, Cục trưởng Cục Quân huấn, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ làm Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương Bắt đầu từ đó lịch sử phong trào thi đua yêu nước viết nên những trang truyền thống vẻ vang trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng nước ta
Từ các chiến dịch, phong trào có tính chất thi đua (1945-1946) đến
phong trào thi đua (1947) rồi tiến lên phong trào thi đua yêu nước (năm 1948)
do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và phát động là những bước phát triển trong tư duy lí luận, là quá trình vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo lí luận Mác-Lênin về thi đua của Chủ tịch Hồ Chí Minh Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về thi đua, thi đua XHCN vào hoàn cảnh nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng Coi tổ chức thi đua là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, biến thành sức mạnh, động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội cũng như trong bảo vệ Tổ quốc
Theo tư tưởng của Người “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”, “công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua” Thi đua phải được tổ chức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và phải thực hiện thường xuyên, lâu dài, rộng khắp Người người thi đua, ngành ngành thi đua Thi đua không phải chỉ nhất thời, hay chỉ trong những dịp kỷ niệm Đảng, chính quyền, Đoàn thể các cấp phải tuyên truyền, giải thích, động viên cho mọi người tự nguyện, tự giác tham gia phong trào thi đua với kế hoạch, mục tiêu
cụ thể, rõ ràng; Đồng thời, phải có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, đánh giá,
sơ kết tổng kết phong trào thi đua Khéo léo đề ra được tên phong trào với những khẩu hiệu hành động, tuyên truyền sắc bén, sát đúng với tình hình,
Trang 21nguyện vọng, lợi ích của quần chúng nhân dân, phù hợp với yêu cầu thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ Cán bộ, Đảng viên phải tích cực vận động quần chúng, đi đầu làm gương cho mọi người Phát hiện điển hình, phổ biến những kinh nghiệm, nêu gương khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích trong phong trào thi đua
Phải kết hợp chặt chẽ thi đua với khen thưởng “Thi đua là gieo trồng,
khen thưởng là thu hoạch” Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ
động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục Cần nhanh chóng biểu dương những tấm gương “Người tốt, việc tốt” Khen thưởng bằng vật chất hoặc tinh thần nhằm động viên, khuyến khích phát triển
cái tốt để lấn át cái xấu, nhằm xây dựng con người mới Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước “Lãnh đạo phải cụ thể, kịp thời, thiết thực, có trọng
điểm và nắm điển hình” Chống bệnh quan liêu, hình thức, ngại khó khăn
trong tổ chức phong trào thi đua Lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam đã chứng minh Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo chặt chẽ, chỉ đạo sát sao việc tổ chức các phong trào thi đua ái quốc hào hùng, thiết thực, thường xuyên và rộng khắp; kịp thời động viên, khen thưởng trúng người, trúng việc Thi đua và khen thưởng thực sự là động lực đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác
Có thể nói rằng, Nghệ An là một miền đất rộng nông dân chiếm tỷ lệ
đông trong các làng xã Từ xa xưa nông dân Nghệ An vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Chính họ là những chủ thể văn hóa, đồng thời là những người sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần cho dân tộc
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nông dân là lực lượng cơ bản, nòng cốt để tham gia vào các phong trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 mà đỉnh cao là cách mạng Tháng Tám năm 1945 khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trong những ngày đầu sau cách mạng Tháng Tám năm
1945 và đặc biệt là những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân
Trang 22Pháp, nông dân Nghệ An không tiếc sức người, sức của hăng hái tham gia vào các phong trào chống thù trong, giặc ngoài, các phong trào tiêu thổ kháng chiến, đẩy mạnh sản xuất, làm tiền đề cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc
Trang 23Chương 2 NÔNG DÂN NGHỆ AN VỚI PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC
TỪ NĂM 1948 ĐẾN NĂM 1975
2.1 Khái quát đóng góp của nông dân Nghệ An trước khi Chủ tịch
Hồ Chí Minh phát động phong trào thi đua yêu nước 11/6/1948
Từ xa xưa trong lịch sử, cùng với nhân dân cả nước, nông dân Nghệ An
đã có nhiều đóng góp to lớn đối với lịch sử dân tộc và quê hương đất nước, một trong những đóng góp đó của nông dân Nghệ An là: Công cuộc khai khẩn đất đai lập nên làng xã
Nghệ An là một vùng đất cổ Từ thời đồ đá cũ cách đây hàng chục vạn năm đã phát hiện con người sinh sống ở hang Thẩm ồm (Quỳ Châu) Qua hệ thống các di chỉ khảo cổ học đã nghiên cứu cho thấy sự nối tiếp liên tục từ thời đại đồ đá đến thời đại đồ đồng, đồ sắt với đỉnh cao là di chỉ Làng Vạc thuộc văn hoá Đông Sơn, chứng tỏ Nghệ An là một trong những cái nôi của người Việt cổ và là cương vực lâu đời của đất nước
Trải qua quá trình phát triển, nông dân Nghệ An đã có đóng góp hết sức quan trọng trong việc khai khẩn đất đai và lập nên các làng xã đầu tiên trên đất Nghệ An Đó là một quá trình phát triển và biến đổi, làng xã cổ truyền Việt Nam hình thành từ cơ cấu công xã nông thôn chuyển hoá dần thành những đơn vị xã hội - hành chính cơ sở của chế độ phong kiến Dù thế nó vẫn bảo tồn ở mức độ khác nhau, tuỳ lúc và tuỳ nơi, vẫn còn những tàn dư của công xã nông thôn Còn việc hình thành, phát triển thêm các làng mới, xã mới thì từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, mạnh mẽ hơn nhiều, rộng khắp hơn nhiều Riêng dân số trong tỉnh, mặc dù trải qua 2 cuộc chiến thế mà bây giờ đã tăng gấp 4 lần so với trước Cách mạng tháng Tám, điều này chúng ta
đã rõ Không phải chỉ người Việt tăng gia dân số mà người Thái, người Mông, người Thổ, người Khơ Mú,… đều tăng gia dân số Có điều không chỉ làng nông nghiệp kiêm thủ công nghiệp, kiêm buôn bán,… mà nhiều làng đã thành
Trang 24thị tứ, thị trấn, hoặc ở trong thị xã, thành phố Người dân không còn là nông dân thuần tuý mà đã trở thành thị dân làm dịch vụ buôn bán, ăn uống, sửa chữa các loại cơ khí, sản xuất hàng hoá,…
Ngoài đóng góp trong việc khai phá đất đai lập nên các làng xã, thì nông dân Nghệ An còn góp phần không nhỏ trong công cuộc chống giặc ngoại xâm Trong lịch sử, Nghệ An đã từng là đất tiến của người Việt trong quá trình mở nước, là tiền đồn, lại có lúc là hậu phương, là căn cứ cho nhiều cuộc chiến tranh giữ nước Từ thế kỷ thứ VIII, trong đêm trường Bắc thuộc, nhân dân xứ Nghệ đã khởi nghĩa chống lại nhà Đường, xây thành Vạn An, lập nên triều đình, tôn Mai Thúc Loan làm Hoàng đế Thời nhà Lý (thế kỷ XI - XII), Nghệ An là phên dậu của nhà nước Đại Việt, nhờ có công chăm lo vỗ về của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang mà đất đai được khai phá, dân tình no
ấm, không chỉ ngăn chặn được giặc ngoài mà còn là điểm tựa quan trọng cho
sự hưng thịnh và phát triển của đất nước Thời nhà Trần (thế kỷ XIII - XIV),
xứ Nghệ là hậu cứ quan trọng, đóng góp nhiều sức người, sức của cho ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông ở phương Bắc và là tiền đồn ngăn chặn giặc phương Nam, mở mang bờ cõi Nghệ An là chiến địa của nhà Hồ và nhà Hậu Trần chống giặc Minh những năm đầu thế kỷ XV Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh của Lê Lợi(1418 - 1428), đất này đã trở thành chiến trường quyết định bước ngoặt dẫn đến thắng lợi của quân dân Đại Việt Dưới thời Nguyễn Huệ - Quang Trung, Nghệ An là chỗ dựa vững chắc nhất, cung cấp nhân tài vật lực cho ông tổ chức đánh thắng 29 vạn quân Thanh, đặt nền tảng cho công cuộc thống nhất đất nước Trong suốt hơn một trăm năm chống các thế lực xâm lược phương Tây, từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, người Nghệ An luôn luôn sát cánh với đồng bào cả nước và tiên phong chiến đấu vì nền độc lập dân tộc Rất nhiều người con ưu tú của Nghệ An đã trở thành những ngôi sao sáng trong công cuộc cứu nước vĩ đại đó như Phan Bội Châu, Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị
Trang 25Minh Khai…và tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới
Thiên nhiên khắc nghiệt, lịch sử lắm gian nan, thử thách đã tạo nên nhân cách con người xứ Nghệ cần cù và sáng tạo, kiên trung và nghĩa hiệp,
cầu thị và học giỏi Trên mảnh đất này “Thời nào cũng có danh nhân, vùng
nào cũng có nhiều bậc anh hùng tài cao chí lớn” 4
đã làm rạng danh quê hương đất nước Trải qua bao đời từ thời tiền sơ sử đến nay, người xứ Nghệ không chỉ có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình lịch sử dân tộc mà đã kiến tạo nên một vùng văn hoá đặc sắc
Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, Đảng đã kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Nghệ An nói riêng làm nên thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Trong phong trào cách mạng đó, nông dân Nghệ An ở các địa phương hưởng ứng cuộc đấu tranh do Đảng phát động một cách mạnh mẽ thông qua các phong trào đấu tranh cách mạng, khởi đầu là phong trào cách mạng 1930-
1931, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh ngày 12/9/1930 của 2 vạn nông dân Hưng Nguyên Với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đã làm cho chính quyền địch ở nông thôn tan rã tê liệt Tuy Đảng không chủ trương giành chính quyền, nhưng các chi bộ Đảng và các tổ chức Nông hội đỏ đứng trước nhiệm
vụ thực tế phải quản lý và điều hành mọi hoạt động của làng xã, dựa trên những hiểu biết sơ lược của chính quyền nước Nga tiếp thu được qua tài liệu huấn luyện và qua báo chí của Đảng Từ thực tế đó, lần đầu tiên ở Việt Nam
đã xuất hiện chính quyền của người lao động: Chính quyền Xô viết
Kết quả thắng lợi của phong trào nông dân- công nhân cũng như việc chính quyền Xô Viết làm được đã làm cho chính quyền thực dân, phong kiến
hoang mang đến cực độ Chúng cho rằng "loạn cộng sản" ở Nghệ Tĩnh đã đe
dọa đến an ninh một cách trầm trọng chưa từng có từ khi Pháp đặt chân lên đô
4 Bùi Dương Lịch: Nghệ An ký, sdd, trang 223
Trang 26hộ Chính vì vây, thực dân Pháp đã phối hợp với chính quyền phong kiến tay sai tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để tiến hành khủng bố trắng hòng dập tắt thành quả cách mạng, lập lại cái gọi là trật tự của người Pháp ở xứ này
Dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Trung Kỳ, trực tiếp là Ban Chấp hành Nông hội đỏ đã phát động nông dân, công nhân tiến hành đấu tranh chống lại các
âm mưu khủng bố trắng của địch, tạo điều kiện để thổi bùng lên cao trào cách mạng mới 1936-1939 mà trực tiếp là cách mang tháng Tám năm 1945 khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Cách mạng Tháng Tám thành công, để giải quyết những khó khăn của đất nước, ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị với Chính phủ
lâm thời phát động ngay chiến dịch tăng gia sản xuất để "diệt giặc đói", mở chiến dịch chống nạn mù chữ để "diệt giặc dốt", “mở chiến dịch giáo dục lại tinh thần dân chúng bằng cách thực hiện "cần, kiệm, liêm, chính” và sau đó tổ chức phong trào “tuần lễ vàng”, phong trào "Nam tiến" chi viện cho Nam Bộ
kháng chiến chống xâm lược Pháp Trong điều kiện lịch sử lúc đó, việc phát động toàn dân tham gia thực hiện các chiến dịch và phong trào này không chỉ nhanh chóng giải quyết được nạn đói, nạn dốt, tăng cường chi viện cho kháng chiến ở miền Nam mà còn nâng cao nhận thức chính trị và khẳng định trên thực tế quyền làm chủ thực sự của nhân dân đối với đất nước mới được độc lập Có thể xem đây là những phong trào có tính chất thi đua đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động đã góp phần to lớn vào việc tăng cường sức mạnh vật chất và tinh thần của dân tộc để bảo vệ thắng lợi thành quả của cách mạng Tháng Tám
Phát huy truyền thống “nhiễu điều phủ lấy giá gương” của dân tộc và
hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nông dân Nghệ An đã tích
cực hưởng ứng "Phong trào lạc quyên, cứu tế" ; phát huy tinh thần “nhường
cơm, sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”, tự nguyện thực hành tiết kiệm, xây dựng
“hũ gạo cứu đói” giúp đỡ các gia đình thiếu ăn Chỉ trong một thời gian
ngắn, tổng số gạo do nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh quyên góp được là
Trang 27476.562 kg, với số gạo này đã được cấp phát cho dân các vùng đói ở Nghi Lộc, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu Ngoài ra còn hỗ trợ cho các địa phương khác
Cùng với việc hưởng ứng "phong trào lạc quyên, cứu tế", nông dân
trong toàn tình còn tích cực tham gia phong trào khai hoang, phục hóa đẩy
mạnh " Tăng gia sản xuất" nhất là các loại rau, màu ngắn ngày Với khẩu hiệu “Tấc đất tấc vàng”, mỗi người dân Nghệ An hăng hái khai hoang, phục
hóa, mở rộng diện tích canh tác Đến tháng 6/1946, các huyện Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Nghi Lộc đã vỡ hoang được 700 mẫu Trung Bộ Để đẩy mạnh khai hoang phục hóa, phát triển sản xuất, thì công tác thủy lợi, tu bổ đê điều, sửa chữa hồ đập cũng được chú trọng quan tâm Triển khai thực hiện chủ trương của tỉnh, nhiều biện pháp được nhân dân ở các địa phương vận dụng, mang lại hiệu quả trong sản xuất Nhân dân Diễn Châu tiến hành xây dựng đập nước Xuân Dương, nhân dân Nghi Lộc tiến hành đắp đê ngăn mặn La Vân, nhân dân Quỳnh Lưu tiến hành đắp đê ngăn cát Nhân dân các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu nạo vét hệ thống nông giang Bắc Nghệ An, đưa nước sông Lam về tưới tiêu phục vụ sản xuất Nhờ vậy, nhiều vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của tỉnh được đảm bảo nước tưới tiêu thường xuyên
Đặc biệt, nhân dân Nghệ An còn tiến cải tạo, nạo vét và mở rộng kênh Nhà Lê đoạn qua khe Nước Lạnh (ranh giới Thanh - Nghệ), vào sông Hoàng Mai, theo sông Mai Giang - sông Mơ (sông Đò Ông) vào sông Giát, theo kênh Than vào sông Bùng, qua kênh Sắt, vào sông Cấm theo kênh Gai (Đa Cái) vào Bến Thủy ra sông Cả và đi tiếp vào đến Hà Tĩnh để phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng Hiện nay, bia dẫn tích lịch sử kênh Nhà Lê huyền thoại được đặt tại đoạn kênh nhà Lê qua xã nghi Yên huyện Nghi Lộc
Trong phong trào tăng gia sản xuất, nông dân còn tích cực tham gia và đóng vai trò chủ đạo trong các các trại tăng gia sản xuất, hội nông gia, các hợp tác xã chế tạo nông cụ và vật liệu xây dựng Tổ chức trại cày là hình thức
Trang 28khuyến nông rất hiệu quả, thu hút đông đảo nông dân tham gia khai hoang, phục hóa, tăng diện tích gieo trồng, tiêu biểu có trại cày Lê Mao ở Thanh Sơn
là một điển hình về tổ chức quản lý tập trung, đưa kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp
Để đảm bảo sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho nhân dân, nghề chăn nuôi, trước hết là chăn nuôi hộ gia đình được
chú ý Ty Canh nông và cơ quan Thú y tổ chức “Tuần lễ chăn nuôi” ở Diễn
Châu, thu hút 15.000 hộ nông dân tham gia Ở các huyện Yên Thành, Nghĩa Đàn có 7 trại chăn nuôi tư nhân với hơn 1.095 con bò Tổng số vật nuôi trong các hộ gia đình có khoảng 153.000 con trâu, bò; 240.000 con lợn, 129.120 con dê, ngựa và 18.000.000 con gà thịt
Cùng với sản xuất nông nghiệp, Nghệ An chú trọng tổ chức lại các ngành nghề thủ công truyền thống ở nông thôn, như: Dệt vải, mộc, rèn, làm giấy, nấu đường Ở các huyện dọc sông Lam như Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên , nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa phát triển một bước Đến cuối năm 1946, đầu năm 1947, toàn tỉnh thu hoạch được 1.845 tấn bông, 145 tấn kén, dệt được 6.160.000 thước vải khổ hẹp, 656 thước vải khổ rộng, 70.000 thước lụa Ở các huyện ven biển như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc nghề chế biến cá khô, mắm, ruốc khởi sắc
Nhờ những biện pháp chỉ đạo quyết liệt của chính quyền và Ty Canh nông, sự nỗ lực của các tầng lớp nhân dân, đến giữa năm 1946 nạn đói cơ bản được đẩy lùi Sản xuất nông nghiệp Nghệ An đạt được những kết quả đáng kể Toàn tỉnh dự trữ được 246 tấn lúa ở kho các huyện, 144 tấn lúa và 44 tấn gạo
ở kho các xã Nhân dân Nghệ An tin tưởng vào sự ưu việt của chế độ mới, nỗ lực xây dựng đời sống mới, góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng
Bước vào cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp xâm lược,
tháng 3 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào thực hành
“Đời sống mới” như “một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến
Trang 29quốc” trên tinh thần “người này thi đua với người khác, nhà này thi đua với nhà khác, làng này thi đua với làng khác” và yêu cầu “Các cơ quan, các bộ đội, các đoàn thể phải hăng hái thi đua nhau mà làm” Trong thời gian này,
Người cũng đề nghị “những người ái quốc và dân chủ không có đảng phái,
phải lấy công tác thực tế về việc cứu quốc và kiến quốc mà thi đua nhau”
Sau chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, trong các điện thư gửi đồng bào, chiến sĩ và Mặt trận Việt Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều kêu gọi tiến hành thi đua trong từng lĩnh vực cụ thể
Hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân kháng chiến của Đảng và Chính phủ, nông dân Nghệ An đã tiến hành chuyển từ nền kinh tế tàn tích thực dân, phong kiến sang nền kinh tế dân chủ, độc lập phục vụ nhu cầu kháng chiến và kiến quốc Đảng bộ, chính quyền đặt ra nhiệm vụ là xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân, có khả năng tự cung, tự cấp, từng bước cải thiện đời sống người dân, vừa đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc kháng chiến, vừa đấu tranh chống lại âm mưu và hành động phá hoại của địch
Trên tinh thần đó, nhiều khẩu hiệu được đề ra như “Tăng gia sản xuất”,
“Tấc đất tấc vàng” đã góp phần động viên người nông dân đẩy mạnh phong
trào khai hoang, phục hóa, dẫn thủy nhập điền Mỗi người dân đều tích cực khai khẩn đất hoang; cấy lúa chiêm, lúa mùa, trồng bông, trồng ngô, khoai sắn trên bãi sông, đồi vệ; đắp bờ giữ nước, tận dụng phân xanh, phân bùn, phân chuồng chăm bón cây trồng, chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà Ở các huyện Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn nông dân trong các làng, xã đều lập trại tăng gia sản xuất, trại chăn nuôi nhằm tự túc lương thực, thực phẩm tại chỗ Vì thế, trong suốt thời kỳ kháng chiến, trên địa bàn tỉnh không xảy ra nạn đói Ở đâu
có đất là ở đó có cái ăn Ở vùng biển sản xuất (đánh cá, chế biến thủy sản ) chuyển theo thời chiến Sản xuất trở nên một mặt trận giáp mặt kẻ thù trên
mặt biển Bám biển để sản xuất cũng là kháng chiến chống Pháp, (bồi dưỡng
sức dân, cung ứng tiền tuyến ) Đời sống ngư dân chỉ có dựa vào mặt biển, nghề biển, không có vùng “đất sống” nào khác Từ nhận thức đó biến thành
Trang 30quyết tâm bám làng, bám biển của mọi ngư dân Trong không khí cách mạng
và kháng chiến, các chủ thuyền cùng chấp nhận chân lý ấy và có cùng một hướng quyết tâm sản xuất, phục vụ chiến đấu
2.2 Nông dân Nghệ An tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước từ năm 1948 đến năm 1954
Trước những khó khăn phức tạp của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Đảng bộ, chính quyền đã kêu gọi mọi người dân tích đẩy mạnh và phát triển sản xuất nông nghiệp, từng bước cải thiện đời sống người dân; đồng thời
để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc kháng chiến, từng bước giải quyết vấn
đề ruộng đất cho nông dân
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và chính quyền, nông dân các địa
phương trong tỉnh đã tích cực “Tăng gia sản xuất”, đẩy mạnh phong trào khai
hoang, phục hóa, dẫn thủy nhập điền Mỗi người dân từ trẻ đến già đều tích cực tham gia sản xuất nông nghiệp, lập trại chăn nuôi nhằm tự túc lương thực, thực phẩm tại chỗ Vì thế, trong suốt thời kỳ kháng chiến, trên địa bàn tỉnh không xảy ra nạn đói Ở đâu có đất là ở đó có cái ăn Chỉ trong một thời gian ngắn từ năm 1947 đến năm 1948 toàn tỉnh đã khai hoang thêm được 4.000 mẫu ruộng góp phần đưa tổng sản lượng lương thực toàn tăng gấp đôi Gắn với phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp nông dân ở các địa phương Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên còn đẩy mạnh thi đua phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phục vụ đời sống như: dệt vải, làm đường, làm muối, làm nước mắm, làm xà phòng, thuộc da các khẩu hiệu thi đua: “Tập đoàn rảnh rải, dệt vải thêm công; Rảnh rang cày cấy, xeo giấy bình dân”, đã động viên khuyến khích nhiều gia đình bà con nông dân trong tỉnh tích cực hưởng ứng mở mang sản xuất Tính đến đầu năm 1949, toàn tỉnh có
69 khung dệt vải khổ rộng, 8.600 khung dệt thủ công gia đình, tập trung chủ yếu ở các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn và sản xuất được 48.114 xếp giấy các loại
Nổi lên trong các phong trào thi đua đó, phải kể đến là phong trào thi
Trang 31đua hưởng ứng cuộc vận động “Hiến điền”, để tăng gia sản xuất nuôi bộ đội
và dân quân Chỉ trong một thời gian ngắn, nông dân trong tỉnh đã hiến 11.232 mẫu ruộng đất, 140 con trâu bò, 17 tấn lúa và 16 triệu đồng Phong
trào góp quỹ “Tham gia kháng chiến” phát triển mạnh, điển hình có bà Đồ
Lưu ở xã Đại Đồng, huyện Thanh Chương góp 16.000 đồng, bà Vũ Thị Mai ở
xã Đồng Thành, huyện Yên Thành góp 13.000 đồng Ở các làng xã, gia đình nông dân đào thêm 1.950 giếng nước, làm 17.103 hố tiêu hợp vệ sinh Nhờ tích cực đẩy mạnh sản xuất thực hiện một bước chính sách nông thôn của Đảng và Chính phủ đã khuyến khích người nông dân tham gia sản xuất, khai hoang, tăng vụ góp phần làm cho kinh tế trong tỉnh tăng lên rõ rệt Nghệ An chẳng những tự túc được ăn, mặc, phát triển nhiều cơ sở tiểu thủ công nghiệp
mà còn tiếp tế khá nhiều thực phẩm, hàng hóa cho tiền tuyến và các tỉnh Bình
- Trị - Thiên
Những thành tích to lớn của nông dân Nghệ An, đã được vinh dự báo
cáo thành tích lên Chủ tịch Hồ Chí Minh và kính tặng Người chiếc áo lụa “từ
tơ tằm của quê nhà” nhân ngày sinh 19/5/1949 Vui mừng và ghi nhận những
thành tích đó, trong thư gửi đồng bào Nghệ An, Người viết: “Cảm ơn đồng
bào đã tặng tôi món quà quý báu trong dịp sinh nhật tôi - là thành tích thi đua
4 tháng đầu năm 1949 Sau đây tôi có mấy lời thân ái nhắn khuyên đồng bào:
“Thi đua phải bền bỉ, thiết thực, rộng khắp…
Phải phát triển và củng cố phong trào hợp tác xã và tập đoàn đổi công Những người phụ trách phải tháo vát và trong sạch Đời sống mới trong thôn quê phải phát triển hơn
Tỉnh ta đã có đà khá vững để tiến bộ mọi mặt Mong đồng bào thi đua
và giúp nhau thi đua làm cho Nghệ An thành một tỉnh kiểu mẫu trong công việc kháng chiến và kiến quốc” 5
Tại Đại hội thi đua yêu nước lần thứ nhất họp từ ngày 1 đến ngày
5
- Tài liệu lưu trữ của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An;
- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nghệ – Tĩnh: Bác Hồ với quê hương Nghệ – Tĩnh, Vinh, 1977, tr 38- 39
Trang 326/5/1952 ở chiến khu Việt Bắc có 150 chiến sĩ thi đua công, nông, binh và lao động trí óc toàn quốc về dự Đại hội đã tuyên dương 7 Anh hùng tiêu biểu và tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho 23 chiến sĩ xuất sắc Trong đó có các anh hùng, chiến sỹ thi đua tiêu biểu được tôn vinh như: Anh hùng Cù Chính Lan, chiến sĩ La Văn Cầu, nữ trung đội trưởng du kích Nguyễn Thị Chiên, chiến sĩ Ngô Gia Khảm, Hoàng Hanh (giáo dân thuộc xã Nam Lĩnh huyện Nam Đàn), Giáp Văn Khương, Quang Vinh Đây là Đại hội đánh dấu những thắng lợi của phong trào thi đua diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm Thành công của Đại hội đã động viên toàn dân, toàn quân ta hăng hái lập nhiều thành tích, tiến lên giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc
Từ sau Đại hội thi đua yêu nước, một phong trào thi đua tăng gia sản xuất diễn khắp mọi ngành, mọi vùng địa phương trong tỉnh, không chỉ ở đồng bằng mà còn phát triển cả ở miền núi, không chỉ ở đồng bào lương mà còn được đẩy mạnh trong vùng giáo dân Phong trào học tập kinh nghiệm Anh hùng Lao động Hoàng Hanh (Nam Đàn, Nghệ An), Chiến sĩ nông nghiệp Trịnh Xuân Bái (Thanh Hóa), trong sản xuất luân canh, gối vụ, chuyển
vụ, cải tiến kỹ thuật canh tác ngày càng sôi nổi
Nông dân các huyện đã khắc phục khó khăn, chống thiên tai, địch họa
để phát triển sản xuất Nhiều vùng, do đất cứng không cày nổi, bà con nông dân đã dùng cuốc xới hàng trăm mẫu ruộng để gieo trồng (Diễn Châu, Yên Thành, Anh Sơn, Hưng Nguyên) Những nơi có điều kiện, nhân dân đào mương tát nước chống hạn, có nơi phải tát đến chục bậc, ngày đêm tát chuyền hoặc gánh nước sông, ao, hồ, giếng tưới cho mạ và các loại cây trồng Trong năm 1952, toàn tỉnh đã đắp 290 con đập nhỏ, đào 70 con mương dẫn nước Phong trào làm nhà vệ sinh, lấy phân tiêu, phân bùn, phân lèn, ủ phân xanh phát triển rộng khắp Ở miền núi, những nơi cày bừa được, đồng bào dân tộc Thổ, Thái, Khơ Mú đã bỏ tập quán làm đất bằng cách cho trâu giẫm, chuyển sang cày bừa như đồng bào Kinh Chị em phụ nữ trước đó chỉ biết
Trang 33cấy, gặt, nay đã đảm nhận được mọi khâu canh tác, kể cả việc cày bừa nặng nhọc, thay thế đàn ông đã đi bộ đội và dân công phục vụ tiền tuyến
Ngày 6/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ Người chỉ thị: Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà còn
cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với quốc tế Vì vậy, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải tập trung hoàn thành cho kỳ được
Với tinh thần “Tất cả cho Điện Biên Phủ”, nhân dân Nghệ An ra sức
tăng gia sản xuất, tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu cho tiền tuyến Chỉ trong thời gian ngắn, nông dân cả tỉnh nhập kho 1.460 tấn thóc phơi khô quạt sạch, bằng 50% chỉ tiêu giao nộp năm 1953
Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đỉnh cao là chiến dịch
Điện Biên Phủ, theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ruộng rẫy là
chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”, trong chiến thắng to lớn đó có phần đóng góp xứng đáng của
nông dân Nghệ An Nông dân Nghệ An đã vận dụng những kinh nghiệm lâu
đời của dân tộc “Nước, phân, cần, giống”;”Tốt giống tốt mạ, tốt mạ tốt lúa”;
“Lúa cấy tháng chạp đạp không đổ”; “Chiêm xanh nhà, mùa già đồng”;
“Lúa trỗ thanh minh rinh cả xã, lúa trỗ lập hạ buồn cả xóm thôn”, “Đói thì
ăn ngô ăn khoai/ Chớ thấy lúa trổ giêng hai mà mừng”; “Lúa trổ cốc vũ no
đủ mọi bề”; “Trồng lúa ba năm, chăn tằm ba lứa”
Từng vùng, từng địa phương hình thành những Lão nông tri điền Họ là những người tích tụ kinh nghiệm sản xuất, có tính tổng kết cao, nắm được quy luật diễn biến của tự nhiên, cụ thể hóa cách trồng trọt, chăm sóc, né tránh thiên tai Họ biết chắt lọc, loại bỏ những kinh nghiệm có tính cục bộ, nhất thời, rút kinh nghiệm từ vụ trước cho vụ sau Lão nông tri điền là những nông dân thiết tha yêu đồng ruộng, yêu cây trồng, say nghề nghiệp; vì vậy, họ trở thành những ngọn cờ làm ăn của từng vùng Ruộng, vườn của họ thực sự trở thành những điểm trình diễn kỹ thuật, những nơi thăm quan học tập cho nông dân trong vùng
Trang 34Trong phong trào “Toàn dân canh tác”, nông dân đã biết ý nghĩa của từ
“thâm canh”, biết dùng phân hữu cơ, phân xanh, phân bắc, nước giải, làm hố
xí hai ngăn; biết cày ải, cào cỏ cải tiến; chọn giống thích hợp với chân ruộng, đồng đất nhà mình, ngâm ủ giống ba sôi hai lạnh để tăng năng suất Nghệ An đã chọn lọc các giống ngô vàng mỡ, khoai từ khoai vạc, lúa: chiêm ba lá (cơm ba
lá, cá sông Giăng), dự hương, Nam Ninh, nếp rồng vàng (ở Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu); các giống cây ăn quả: chanh tứ mùa, cam Xã Đoài, bưởi đường, mít dai, trám Thanh Chương, hồng ngâm Nam Đàn Người nông dân biết chuyển hướng canh tác khi các công trình thủy lợi bị giặc Pháp ném bom phá hoại (đập Đô Lương, cống Mụ Bà, Nam Đàn, Bến Thủy ); biết phòng trừ dịch
gà, lợn bằng kinh nghiệm dân gian, sử dụng vác xin dịch tả trâu bò khô, ống tiêm chế bằng vỏ đạn của Nha chăn nuôi Bà con dân tộc Thái lấy nước tưới cho đồng ruộng bằng mương, phai, xe cọn, điển hình như Châu Tiến (Quỳ Châu) Kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc, nông dân cả nước nói chung và nông dân Nghệ An nói riêng lại hăng hái bắt tay vào giai đoạn mới hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng miền Bắc quá
độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu thuẫn vững chắc cho miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà Trong những thành tích của phong trào thi đua đó, chúng ta còn mãi ghi nhớ những tấm gương của Anh hùng Lao động Hoàng Hanh, các Chiến sĩ thi đua, Lão nông tri điền; công lao của một triệu nông dân, của các đồng chí Trưởng ty Canh nông: Trần Ngọc Cung (cao đẳng Canh nông Huế, quê ở tỉnh Quảng Trị); Hoàng Văn Liễn (quê xã Nghi Tân, huyện Nghi Lộc, nay là thị xã Cửa Lò), những con người bình dị, nhưng đã góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang cho dân tộc
2.3 Nông dân Nghệ An tham gia các phong trào thi đua yêu nước
từ năm 1954-1964
2.3.1 Thời kỳ từ năm 1954 đến 1960
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết Nước
ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Trước tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược phải đồng thời
Trang 35tiến hành: Xây dựng miền Bắc, đưa miền Bắc quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội
và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, nông dân khắp nơi trong tỉnh bắt tay vào khôi phục và phát triển kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất để tiến lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và không ít khó khăn
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nghệ An thực hiện “Tiêu thổ để kháng chiến”, nên nhiều công trình, nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành nông nghiệp phải tháo dỡ, triệt phá Mặt khác, do dồn sức người phục vụ chiến tranh, nên lực lượng lao động ở nông thôn mỏng, dẫn đến nhiều diện tích đất bỏ hoang; tài nguyên lâm nghiệp cũng bị tàn phá nặng nề Bên cạnh
đó, Nghệ An lại phải hứng chịu một trận lụt lớn diễn ra trên phạm vi toàn tỉnh (từ ngày 23 đến 26/9/1954) gây thiệt hại lớn về người và của Tiếp đó, đầu năm 1955, rét đậm dẫn đến mất mùa, đẩy giá gạo tăng đột biến từ 300 đồng lên 550 đồng/kg Hàng ngàn gia đình nông dân, ngư dân bị thiếu đói, rất nhiều người phải đi ăn xin Một số gia đình nông dân phải bán đi trâu bò, nông cụ sản xuất để mua gạo, mua khoai ăn chống chọi qua cơn đói Đến tháng 9/1956, 3 cơn bão liên tiếp đổ bộ vào Nghệ An, có 18.601 nhà bị tốc mái, xiêu
đổ, 14.988 mẫu lúa mùa bị ngập, 33 thuyền bè bị trôi gây thiệt hại nặng về người, tài sản, và mùa màng
Trong vùng có đồng bào theo đạo Thiên chúa tình hình diễn ra phức tạp Bọn phản động kích động quần chúng, tung tin lừa bịp "Chúa đã vào Nam", "Mỹ sẽ đánh chiếm miền Bắc", "Mỹ sẽ thả bom nguyên tử", để thực hiện âm mưu lôi kéo dụ dỗ giáo dân di cư vào Nam Ngày 22/5/1954, chúng
đã tập trung hàng ngàn giáo dân, ngư dân trên 50 chiếc thuyền đòi đi Nam ở
xã Hòa An (Quỳnh Lưu) Tháng 4/1955, chúng gây ra vụ bạo loạn ở xã Diễn Tiến (xã bãi ngang huyện Diễn Châu)
Trang 36Trước tình hình như vậy, Tỉnh ủy Nghệ An đã có những chủ trương: Đẩy mạnh Sản xuất cứu đói, hàn gắn thiệt hại do chiến tranh, khắc phục thiên tai gây ra, sửa chữa cầu cống, hệ thống nông giang, đê đập, khôi phục thuyền lưới và chống địch dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân vào Nam Đồng thời phát động phong trào toàn dân ra đồng vớt lúa, diệt sâu bọ, cấy dắm lại những đám ruộng bị ngập úng Thực hiện chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, nông dân các huyện Đô Lương, Thanh Chương, Yên Thành, Diễn Châu, Hưng Nguyên hăng hái tham gia sôi nổi Điển hình như ở Diễn Châu đã dùng 45 thuyền đánh cá chia làm 4 đội, cứu vớt được 267 tấn lúa cùng nhiều gia súc, gia cầm và các đồ vật khác Cùng với phong trào trên, Tỉnh còn phát động phong trào sản xuất tiết kiệm chống đói, mở rộng cuộc vận động đoàn kết giúp đỡ nhau sớm ổn định sinh hoạt và sản xuất, phát huy truyền thống tương thân tương ái, vượt qua cơn hoạn nạn Phong trào sản xuất, mở rộng diện tích cây trồng, trồng rau màu ngắn ngày để sớm cho thu hoạch phát triển mạnh Khắp nơi trong tỉnh, từ vùng đồng bằng đến miền núi cao, nông dân tích cực trồng rau màu để đưa màu xanh trở về với ruộng đồng Mỗi gia đình phấn đấu trồng 3 - 4 ụ khoai lang, 9-10 gốc bầu bí, giúp đỡ nhau về giống, vốn mua sắm vật tư nông nghiệp, nông cụ sản xuất Cuộc đấu tranh của nhân dân Nghệ An diễn ra vô cùng quyết liệt và phức tạp đã đem lại những thắng lợi bước đầu Vụ khoai đông 1954 và rau màu đông xuân 1954 - 1955 thắng lợi Nạn đói được khắc phục, nhân dân phấn khởi
Cũng trong thời gian này, với sự đóng góp của nông dân diện tích khai hoang phục hóa không ngừng được mở rộng để phục vụ sản xuất nông nghiệp Năm 1955, Nghệ An có 338.680 ha đất sản xuất, 1 năm sau tăng lên 366.475 ha Bên cạnh đó, các biện pháp cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh năng suất cung cấp phân bón, giống, nông cụ cho nông dân, làm phân xanh, nung vôi, sản xuất phân phốt phát, phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi cũng được chú trọng
Trang 37Về thủy lợi, trong thời gian này tập trung vào việc sửa chữa hàn gắn các công trình bị thực dân Pháp phá hoại và khắc phục hậu quả trận lụt lịch sử năm 1954 như: Bara Đô Lương, cống Nam Đàn, cống Bến Thủy … Với sự lãnh đạo chỉ đạo tập trung của Chính phủ và sự nỗ lực phấn đấu quyết liệt của toàn dân, trong đó nòng cốt là nông dân, chỉ trong một thời gian ngắn, Nghệ An đã hoàn thành việc hàn gắn các tuyến đê bị vỡ, sửa chữa phục hồi các công trình bị phá hoại như cống Mụ Bà, Vũng Bùn, cống Bảy Cửa, cống Nam Đàn, cống Bến Thủy Công việc hoàn thành, kịp thời phục vụ tưới cho
vụ sản xuất đông xuân đầu tiên sau chiến tranh 1954 - 1955 và sẵn sàng chống
lũ năm 1955
Trong khoảng thời gian từ tháng 11/1954 đến tháng 9/1955, các huyện vùng Diễn - Yên - Quỳnh đã huy động được 22.589 lao động để khơi thông 56km kênh chính, 22 tuyến kênh cấp II, 570km kênh tiêu với khối lượng xây dựng 475.286m3 đất đắp, nạo vét 80.837m3, sử dụng 2.211 tấn xi măng, 52 tấn sắt thép, 10,039m3 cát sỏi, 510 ngàn tấn than, sử dụng 8.800 kw/h điện
Đã dẫn được nước tưới cho 32.500 ha ruộng lúa của 3 huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu
Các huyện vùng Nam - Hưng - Nghi đã huy động được 81.216 ngày công, đào đắp 36.534m3 đất, đổ 3.506m3 bê tông, hoàn thành sửa chữa cống Nam Đàn vào ngày 21/01/1956 dẫn nước Sông Lam về tưới cho đồng ruộng 3 huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc Huyện Diễn Châu đã huy động gần 1.000 lao động sửa chữa đập Xuân Dương, đào đắp 4.000m3 đất, đến tháng 8/1956 thì hoàn thành, cấp nước tưới cho hơn 600 ha ruộng của các xã phía Nam huyện Diễn Châu Ngoài ra, trên toàn tỉnh cũng đã huy động được hàng triệu ngày công lên công trường đắp đê 42, đê Phượng Kỷ, đê biển ngăn mặn và sửa chữa các công trình thủy lợi nhỏ vùng trung du miền núi bị hư hỏng trong trận lũ lịch sử 1954
Phong trào làm tiểu thủy nông theo phương châm “ba chính”: “giữ nước là chính, thủy lợi nhỏ là chính, dân làm là chính", nông dân toàn tỉnh đã
Trang 38đào được 10.954 ao, giếng lớn nhỏ trữ nước, làm 5.256 mương phai nhỏ, 466 guồng nước đạp chân, sửa chữa và làm mới 1.293 xe cọn nước Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, phương châm thủy lợi này là phù hợp phát huy được nội lực toàn dân tham gia làm thủy lợi, không yêu cầu kỹ thuật cao, vật liệu là tre nứa
gỗ đá, công cụ là cuốc xẻng cầm tay và quyết tâm của người lao động
Nhờ vậy, 4 vụ sản xuất trong hai năm liên tiếp 1955 - 1956 được mùa liên tục cả về năng suất và diện tích cày cấy Đời sống nhân dân ổn định, củng
cố thêm lòng tin của người dân vào chế độ, chống lại âm mưu kẻ địch dụ dỗ dân di cư vào Nam và tiến hành cải cách ruộng đất trong 2 năm 1955 - 1956
Đi cùng với việc phục hồi sửa chữa các công trình đã có, từ năm 1953 đến 1955 nông dân còn làm thêm được một số công trình vừa và nhỏ như hồ Đình Dù (Diễn Châu), hồ Nghi Công (Nghi Lộc), hồ Thạch Tiền (Hưng Nguyên), hồ Hao Hao (Nam Đàn), hồ Khe Bung (Quỳnh Lưu) Các công trình mương, phai nhỏ lấy nước tưới ở miền núi cũng làm được nhiều, trong 2 năm
1956 - 1957: huyện Nghĩa Đàn làm được 1974 công trình, tưới được 1095 ha, huyện Quỳ Châu 422 công trình, tưới 448 ha, huyện Con Cuông 30 công trình, tưới 260 ha, huyện Tương Dương 355 công trình, tưới 190 ha
Song song với việc khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, nông dân Nghệ An còn tích cực tham gia thực hiện cải cách ruộng đất- một trong những nhiệm vụ quan trọng lúc bấy giờ Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị đề ra và Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về việc tiến hành cải cách ruộng đất Ở Nghệ An, nông dân các huyện Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Anh Sơn, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Nghĩa Đàn dưới sự chỉ đạo của Đoàn, Đội Cải cách ruộng đất đã giành lấy quyền làm chủ cho chính mình Kết quả, trong toàn tỉnh đã đem 105.287 mẫu ruộng, 10.113 con trâu bò, 16.430 nông cụ và gần 8.500 tấn lương thực chia cho 143.590 hộ nông dân, gồm 605.154 nhân khẩu Nông dân phấn khởi, hào hứng trong những ngày cắm thẻ nhận ruộng, phân chia quả thực Người nông dân từ chỗ không có mảnh đất cắm dùi, phải cày thuê cuốc
Trang 39mướn, nay trở thành người làm chủ ruộng đất, nắm trong tay tư liệu sản xuất Ước mơ từ bao đời của người nông dân - “Người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực
Công cuộc Cải cách ruộng đất hoàn thành đã xoá bỏ quyền chiếm hữu
tư nhân về ruộng đất của giai cấp địa chủ, xóa bỏ tàn dư của chế độ phong kiến, làm cho nông dân thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, thật sự được hưởng mọi quyền tự do, dân chủ, làm chủ nông thôn, làm chủ cuộc đời Nông dân một lòng tin vào đường lối của Đảng, xây dựng cuộc sống mới, chế độ mới
Từ trong phong trào cải cách ruộng đất đã xuất hiện nhiều nhân tố trên mặt trận sản xuất nông nghiệp như ông Hoàng Mỹ ở xã Diễn Phúc (Diễn Châu) trở thành Anh hùng Lao động trong phong trào sản xuất, trồng cây ở nông thôn
Bên cạnh những kết quả to lớn đó, trong khi tiến hành Cải cách ruộng đất, Nghệ An đã phạm phải nhiều sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo thực hiện, gây ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc Cải cách ruộng đất Với tinh thần tự phê bình và phê bình, với ý thức trách nhiệm cao trước toàn thể nhân dân, Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa sai lầm Tháng 9/1956, Ban chấp hành Trung ương Đảng mở Hội nghị lần thứ X (khóa II) và ra Nghị quyết về công tác sửa sai Cải cách ruộng đất Theo tinh thần Nghị quyết X của Trung ương, Tỉnh ủy Nghệ An đã chỉ đạo sửa sai một cách nghiêm túc, kiên quyết Đến cuối tháng 9/1957, công tác sửa sai Cải cách ruộng đất hoàn thành về cơ bản
Trong bối cảnh Nghệ An đang tiến hành sửa sai, tháng 6/1957, Bác đã
về thăm quê hương sau 50 năm xa cách Bác gặp gỡ nhân dân toàn tỉnh và
biểu dương những thành tích tỉnh nhà đã đạt được: “Trong nông nghiệp,
đồng bào ta đã khôi phục lại hệ thống nông giang phía Bắc và Nam”, 6“Tôi muốn nêu một công trạng của chị em phụ nữ tỉnh ta Đó là phong trào chăn nuôi gia súc”, “Có anh hùng nông nghiệp Hoàng Hanh, có các chiến sĩ Vi Văn
6
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t5, tr 673
Trang 40
Vấn, Nguyễn Sỹ Chấp, Kha Thị Bình, Phạm Đáo Chúng ta chẳng những đủ lương thực cung cấp cho nhân dân, bộ đội mà lại còn thừa gạo Đó là một thắng lợi lịch sử của nhân dân ta”.Với mong muốn để “tỉnh Nghệ An có truyền thống cách mạng” trở thành “một tỉnh gương mẫu”, Bác đã nêu ra những nhiệm vụ trước mắt cần phải giải quyết, và một trong những nhiệm vụ cần phải làm ngay ở Nghệ An là đoàn kết, làm tốt công tác sửa sai Cải cách ruộng đất
Những lời chỉ bảo ân cần của Bác chính là nguồn động viên vô cùng to lớn, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân tích cực đẩy mạnh sản xuất, góp phần vào thắng lợi của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế trong những năm 1958 - 1960
Quán triệt Nghị quyết của Quốc hội tháng 4/1958 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ IX năm 1959, trong 3 năm (1958 - 1960), ngành nông nghiệp đã có nhiều chủ trương đúng đắn, hợp lý, mang lại hiệu quả tốt Đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân việc cải tạo phải bằng hình thức hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ, bước đi phải từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, có tập dượt thí điểm, từ tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp tiến lên hợp tác xã bậc cao
Phong trào xây dựng tổ đổi công được duy trì, củng cố và phát triển rộng khắp toàn tỉnh Nếu như năm 1955, toàn tỉnh có 8.920 tổ đổi công, thì đến năm 1957 đã hình thành được 12.400 tổ đổi công và đến tháng 8/1958 phát triển lên 15.345 tổ đổi công Tổ đổi công theo hình thức tự nguyện đã giúp cho hàng chục ngàn hộ nông dân chung sức với nhau giải quyết các khó khăn trong sản xuất, giúp cho nông nghiệp và ngành nghề phát triển, tháo gỡ dần từng bước thiếu thốn trong đời sống hàng ngày Nhờ vậy, ruộng đất không
bị hoang hóa, năng suất tăng Phong trào xây dựng tổ đổi công ở huyện Yên Thành khá nhất tỉnh, đạt tỷ lệ gần 70% số hộ nông dân lao động vào tổ đổi công