Qua những lần tiếp xúc tại các bản người Thái ở huyện Quỳ Hợp, được tận mắt chứng kiến những sinh hoạt kinh tế, những ngôi nhà sàn, những sản phẩm dệt thổ cẩm bằng tay của đồng bào Thái,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG TRUNG THÔNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI HUYỆN QUỲ HỢP,
TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐẶNG NHƯ THƯỜNG
Nghệ An, 2016
Trang 2Để hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
TS Đặng Như Thường đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Nhân đây, tôi cũng chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo và những
người làm khoa học thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam trong khoa Lịch sử, khoa đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành
đề tài
Ngoài ra, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ của Ban Dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An, Cục Thống kê Nghệ An, Chi cục thống kê huyện Quỳ Hợp, Thư viện Trường Đại học Vinh, Thư viện tỉnh Nghệ An, Thư viện huyện Quỳ Hợp, các phòng ban thuộc Huyện uỷ, UBND huyện Quỳ Hợp; Đảng uỷ, UBND các xã Châu Hồng, Châu Thái, Châu Tiến, Bắc Sơn, Nam Sơn, Châu Thành, Châu Quang, Thị trấn Quỳ Hợp - huyện Quỳ Hợp
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các bậc cao niên của huyện, đặc biệt là gia đình ông Sầm Văn Bình, ông Lang Văn Viện, bà Vy Thị Đậu đã cung cấp thêm thông tin để cho tôi hoàn thành luận văn
Qua đây, tôi cũng muốn được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình, anh chị
em bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi hoàn thành đề tài
Đề tài này được hoàn thành trong phạm vi thời gian có hạn, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các anh em, bạn bè gần xa để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Hoàng Trung Thông
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: DÂN CƯ, TÊN GỌI VÀ LỊCH SỬ CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYÊN QUỲ HỢP 7
1.1 Vài nét về vùng đất Quỳ hợp 7
1.2 Lịch sử hình thành và cư dân huyện Quỳ Hợp 11
1.3 Tên gọi và lịch sử cư trú của người Thái ở huyện Quỳ Hợp 14
Chương 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA ĐỒNG BÀO NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN QUỲ HỢP 20
2.1 Một số nghề kinh tế truyền thống 20
2.1.1 Nông nghiệp 20
2.1.2 Các nghề thủ công truyền thống 29
2.1.3 Các nghề kinh tế khác 32
2.2 Nhà ở 36
2.2.1 Kiến trúc nhà ở 36
2.2.2 Các đồ dùng của gia đình 39
2.3 Trang phục 40
2.3.1 Các loại trang phục cơ bản 40
2.3.2 Hoa văn trên trang phục của dân tộc Thái ở Quỳ Hợp 43
2.4 Ẩm thực 44
2.4.1 Các món ăn 44
2.4.2 Thức chấm 49
Chương 3 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI THÁI Ở QUỲ HỢP 52
Trang 43.1.2 Cưới hỏi 54
3.1.3 Tang ma 63
3.1.4 Tục buộc vía, buộc chỉ cổ tay (hăng vắn) 69
3.2.Tín ngưỡng và lễ hội 72
3.2.1 Tín ngưỡng 72
3.2.3 Lễ hội 74
3.3 Văn học 82
3.3.1 Chữ viết 82
3.3.2 Văn học 83
3.4 Âm nhạc dân gian 95
3.4.1 Sinh hoạt âm nhạc trong lao động, tình yêu trai gái 95
3.4.2 Sinh hoạt âm nhạc trong lễ hội, cưới hỏi 96
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 5BCH : Ban chấp hành
VH - TT : Văn hoá - Thông tin
VH - TT & DL : Văn hoá - Thông tin và Du lịch
HĐND - UBND : Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
HTX : Hợp tác xã
BTV : Ban thường vụ
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
GDTX : Giáo dục thường xuyên
THCS DTNT : Trung học cơ sở Dân tộc nội trú NXB : Nhà xuất bản
LLLĐ : Lực lượng lao động
LĐ : Lao động
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một đất nước có nhiều dân tộc, người Kinh chiếm đa số và còn
53 dân tộc thiểu số anh em Trong số 54 dân tộc thì dân tộc Thái chỉ đứng sau dân tộc Kinh và Tày, chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư nước ta, Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Thái đã cùng các dân tộc anh em khác ra sức bảo vệ và xây dựng
tổ quốc của mình Trong thời đại ngày nay dân tộc Thái là lực lượng góp phần quan trọng trong việc củng cố, phát triển cộng đồng dân tộc, xây dựng phát và triển kinh
tế, văn hóa xã hội của đất nước
Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc, phải kể đến những đóng góp to lớn của đồng bào người Thái, không những thế mà họ còn sáng tạo ra những giá trị văn hóa riêng cần được bảo tồn và phát huy Do vậy, nghiên cứu về đời sống vật chất và tinh thần sẽ góp thêm hiểu biết về con người, văn hóa và lịch sử đồng bào người Thái
Trong thời điểm mới hiện nay, đồng bào Thái đang từng bước chuyển mình cùng dân tộc Qua những lần tiếp xúc tại các bản người Thái ở huyện Quỳ Hợp, được tận mắt chứng kiến những sinh hoạt kinh tế, những ngôi nhà sàn, những sản phẩm dệt thổ cẩm bằng tay của đồng bào Thái, được tham gia vào các hoạt động về đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cùng bà con người Thái nơi đây thì điều dễ nhận thấy được những giá trị truyền thống của người Thái vẫn được gìn giữ Những điệu múa lăm vông, điệu hát khắp, hát nhuôn, xuôi, những món ăn đặc sắc của người Thái , tất cả đều tái hiện bản sắc văn hóa của người Thái ở Quỳ Hợp
Đời sống vật chất và tinh thần là yếu tố cơ bản, có vai trò thiết yếu trong đời sống của con người Nghiên cứu về đời sống vật chất và tinh thần sẽ góp phần hiểu biết về con người, cộng đồng, văn hóa và lịch sử đồng bào người Thái Trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra những vấn đề nhạy cảm về hiện đại và truyền thống thì việc nghiên cứu về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của người Thái ở huyện Quỳ Hợp là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Nghiên cứu về dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp, chúng ta phải đặt nó trong mối liên hệ chung về lịch sử và quá trình phát triển cộng đồng người Thái ở miền Tây Nghệ An cũng như của cả nước Quỳ Hợp là một huyện miền núi thấp nằm ở
Trang 7phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, với tổng dân số tính đến 31 tháng 12 năm 2015 là 123.321 người, trong đó đồng bào dân tộc Thái có 50.225 người, chiếm 40.72% dân
số trong toàn huyện [ 57, 1]
Ngày 13/8/2001, Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An ra Quyết định số 2684 QĐ/UB về việc phê chuẩn Đề án thí điểm xây dựng, phát triển đời sống văn hóa cơ
sở huyện Quỳ Hợp Ngày 03/04/2002, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ( Nay là
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ra quết định số 752 QĐ-BVHTT về việc chỉ đạo xây dựng huyện điểm ở miền núi vùng dân tộc thiểu số
Vì vậy nghiên cứu về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ hợp, tỉnh Nghệ An có vai trò vô cùng quan trọng nhằm đánh giá đúng đắn những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc Thái giữa thời đại ngày nay, thấy rõ được cái hay, cái đúng đắn cần bảo lưu, kế thừa và những mặt tồn tại cần khắc phục Đây là việc làm hữu ích đối với đồng bào người Thái trên cả nước nói chung và đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An nói riêng
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An làm luận văn tốt
nghiệp Thạc sỹ Lịch sử của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử dân tộc Thái và những nét văn hóa truyền thống của người Thái trên phạm vi toàn quốc nói chung và ở huyện Quỳ Hợp (tỉnh Nghệ An) nói riêng là một đối tượng nghiên cứu đã và đang được các nhà khoa học trong cả nước quan tâm, chú ý.Các công trình viết về lĩnh vực này khá đa dạng, bao gồm: sách chuyên khảo, tạp chí, tài liệu địa chí văn hoá, tài liệu địa phương, luận văn… đều ít nhiều đề cập đến đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào người Thái
* Nghiên cứu về người Thái trên phạm cả nước và tỉnh Nghệ An
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước mà việc nghiên cứu về người Thái được tiến hành một cách sâu sắc, có hệ thống và toàn diện hơn Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách, tạp chí viết về người Thái nói chung và đời sống vật chất và tinh thần của người Thái nói riêng đã được công
bố Trong đó chúng ta có thể kể đến Người Thái của Chu Thái Sơn; Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Cầm Trọng chủ biên; Việt Nam phong tục của Phan Kế
Trang 8Bính; Tục cưới hỏi ở Việt Nam của Bùi Xuân Mỹ và Phạm Minh Thảo; Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên; Người Thái ở Tây Bắc do Cầm Trọng chủ biên; Mấy vấn đề cơ bản về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại người Thái Tây Bắc Việt Nam do Cầm Trọng chủ biên; Văn hoá bản làng truyền thống các dân tộc Thái, Mông, vùng Tây Bắc Việt Nam do Ngô Ngọc Thắng chủ
biên
Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến từng lĩnh vực cụ thể về đời
sống vật chất và tinh thần của người Thái, cụ thể như: Thiết chế bản mường truyền thống người Thái ở miền Tây Nghệ An của Vi Văn An; Cầu thang nhà sàn người Thái ở Điện Biên của Nguyễn Thị Thanh Nga chủ biên; Nghệ thuật trang phục Thái của Lê Ngọc Thắng; Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc; Địa danh Thái – Nghệ An của Quán Vi Miên
Mặt khác, khi nghiên cứu về các huyện miền núi của tỉnh Nghệ An có nhiều thành phần dân tộc khác nhau cùng cư trú, các học giả thông qua những ghi chép
của mình đã trình bày về địa lí, đất đai, con người Nghệ An Tiêu biểu như: Nghệ
An ký của Bùi Dương Lịch, Địa dư tỉnh Nghệ An của Đào Văn Hy là hai cuốn sách
khảo cứu và ghi chép về thiên nhiên và con người Nghệ An nói chung, đồng bào khu vực miền núi Nghệ An nói riêng
Ngoài ra còn có một số luận văn nghiên cứu về đời sống văn hóa vật chất và
tinh thần của đồng bào người Thái ở Nghệ An Tiêu biểu như: Đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Thái ở miền Tây Nghệ An của Nguyễn Thị Huyền, Cao học 14
- Đại học Vinh; Đời sống văn hóa vật chất của người Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) của Nguyễn Thị Nuôi, Cao học 15 - Đại học Vinh; Đời sống vật chất và tinh thần của người Thái ở huyện Tương Dương (Nghệ An) của Đậu Đức Truyền,
Cao học 19 - Đại học Vinh đã ít nhiều đề cập về trang phục, nhà ở, cơ cấu bản mường, kinh tế của người Thái
Tất cả những nguồn tư liệu về người Thái nói trên là vô cùng quan trọng và quý giá, ít nhiều đề cập về trang phục, nhà ở, cơ cấu bản mường, kinh tế của người Thái giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan khi nghiên cứu về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An
* Nghiên cứu về người Thái trên địa bàn huyện Quỳ Hợp
Trang 9Nghiên cứu về người Thái ở Quỳ Hợp nói riêng có khá nhiều công trình, cụ
thể như: Lịch sử Đảng bộ huyện Quỳ Hợp của Nhà xuất bản Nghệ An; Lịch sử huyện Quỳ Hợp của Nhà xuất bản Nghệ An; Địa chí huyện Quỳ Hợp của Ninh Viết Giao; Chữ Thái của La Quán Miên; Lễ “Oọc Tấu Phi” của người Thái ở bản Na Hiêng của Lương Dương Nga; Miền đất tạo Khủn Tinh của Vi Lâm Ngàn; Chữ Thái với việc bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái của Sầm Văn Bình; Tên bản mường và làng xã Nghệ An của Ninh Viết Giao; Mường Ham xưa và nay của Hoàng Nghĩa Cảnh; Khạ được làm Phò mã của Vi Hoa Tuy nhiên, chưa có một
tài liệu nào trình bày một cách hệ thống, chuyên sâu về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Thái ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An
Chính vì lẽ đó, đề tài: Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc Thái huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tuy chỉ nghiên cứu ở một phạm vi nhỏ, mang
tính địa phương nhưng từ kết quả của những đợt điền dã thực tế và việc xử lý các nguồn thông tin, tư liệu chúng tôi sẽ tái hiện một bức tranh khái quát nhất về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp (tỉnh Nghệ An), trong đó đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề cụ thể như: các ngành kinh tế truyền thống, nhà ở, trang phục, ẩm thực, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng của đồng bào Thái trên phạm vi địa bàn huyện và ảnh hưởng của những vấn đề đó đến đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của cư dân huyện Quỳ Hợp
3.2 Phạm vi ngiên cứu
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về đời sống vật chất và tinh thần
của đồng bào dân tộc Thái trên địa bàn huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về đời sống vật chất và tinh thần
của đồng bào dân tộc Thái ngay từ khi họ có mặt trên mảnh đất Quỳ Hợp để khai bản, lập mường cho đến ngày nay
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu:
Trang 10Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng tôi đã tham khảo các tài liệu sau:
* Nguồn tư liệu lưu trữ:
- Các Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Quỳ Hợp từ năm 1963 đến năm 2015; Đề án xây dựng huyện điểm văn hoá miền núi; Đề án quy hoạch xây dựng huyện Quỳ Hợp, quy hoạch phát triển Thị trấn Quỳ Hợp của UBND huyện
- Các số liệu phân tích, thống kê về người Thái của các Phòng, Ban, Ngành ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An
* Nguồn tư liệu quốc sử:
Các tài liệu lịch sử, địa lý dưới các triều đại phong kiến của các tác giả:
Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực; Việt sử thông giám cương mục khảo lược của Nguyễn Thông; Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch…
* Các tư liệu nghiên cứu về người Thái:
Chúng tôi tham khảo các tài liệu nghiên cứu lịch sử, chính trị, văn hoá như :
Địa chí huyện Quỳ Hợp của Ninh Viết Giao; Lịch sử huyện Quỳ Hợp của HĐND - UBND huyện Quỳ Hợp; Lịch sử Nghệ Tĩnh của Ban nghiên cứu Lịch sử Nghệ Tĩnh; Lịch sử Đảng bộ Nghệ An của BCH Đảng bộ tỉnh Nghệ An; Người Thái của Chu Thái Sơn; Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam của Cầm Trọng chủ biên; Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính; Tục cưới hỏi ở Việt Nam của Bùi Xuân Mỹ và Phạm Minh Thảo; Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái của Đặng Nghiêm Vạn
chủ biên
* Các nguồn tư liệu khác:
Đẻ hoàn thành luận văn tôi còn sử dụng nguồn tư liệu điền dã, quan sát, tìm hiểu, lời kể của một số bậc cao niên và các vị lãnh đạo huyện trong thời kỳ đầu mới thành lập
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, để hoàn thành những yêu cầu đề tài đặt ra chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp chính là: phương pháp sử học và phương pháp lôgic
Đồng thời chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như: đối chiếu, so sánh, thống kê, điền dã dân tộc học quan sát thực tế, phỏng vấn, ghi chép, ghi hình
Trang 11trong quá trình nghiên cứu, đi thực địa một số bản người Thái ở huyện Quỳ Hợp, gặp trực tiếp những nghệ nhân, các vị cao niên trao đổi, xác minh thông tin
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc Thái huyện Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tư liệu có ích giúp cho việc biên soạn, nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương ở các trường phổ thông trên địa bàn huyện Quỳ Hợp Luận văn còn góp phần xây dựng chính sách về kinh tế, an ninh - quốc phòng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân của nhân dân các huyện miền núi Nghệ An nói chung và huyện Quỳ Hợp nói riêng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu trong 3 chương:
Chương 1 Dân cư, tên gọi và lịch sử cư trú của người Thái ở huyện Quỳ Hợp
Chương 2 Đời sống văn hóa vật chất của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp
Chương 3 Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quỳ Hợp
Trang 12Chương 1: DÂN CƯ, TÊN GỌI VÀ LỊCH SỬ CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI
THÁI Ở HUYÊN QUỲ HỢP 1.1 Vài nét về vùng đất Quỳ hợp
Quỳ Hợp là huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, có tọa độ địa lý:
19010’ - 19029’ vĩ độ Bắc, 104056’ - 105021’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Quỳ Châu; Phía Nam giáp huyện Tân Kỳ, Con Cuông, Anh Sơn; Phía Đông giáp huyện Nghĩa Đàn; Phía Tây giáp huyện Con Cuông, Quỳ Châu
Diện tích đất tự nhiên của huyện là 987,970 km2 (Theo tài liệu năm 2014), đứng thứ 7 trong 20 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Nghệ An
Nhìn tổng thể, huyện có hình dạng gần với hình vuông Điểm cực Tây thuộc
xã Châu Cường, là giáp giới giữa 3 huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Con Cuông Điểm cực Đông thuộc xã Nghĩa Xuân Điểm cực Bắc thuộc xã Yên Hợp Điểm cực Nam thuộc xã Bắc Sơn So với huyện Quế Phong và Quỳ Châu, Quỳ Hợp ở vào vùng núi thấp Đây là một thung lũng nằm trong thềm lục địa cổ, ngày xưa có hoạt động của núi lửa nên địa hình Quỳ Hợp khá phức tạp Nơi đây có nhiều núi rừng hiểm trở, có nhiều lèn đá vôi cao sừng sững, kéo dài như Pù Huống và Pù Khạng, với những hang động, sông suối và thảm thực vật đa dạng, phong phú
* Về thổ nhưỡng, đất đai:
Theo các tài liệu điều tra thổ nhưỡng, ở huyện Quỳ Hợp có 7 nhóm đất, trong
đó chủ yếu là đất Phe-ra-lit vàng đỏ hoặc đỏ vàng Do địa hình phức tạp nên các loại đất nằm xen kẽ theo kiểu da báo, nên việc xác định chính xác diện tích của từng loại đất chỉ là tương đối Ngay cả với loại đất chủ yếu là Phe-ra-lit cũng có nhiều loại: Phe-ra lít đỏ vàng vùng đồi, Phe- ra lít đỏ vàng vùng núi thấp… Đặc điểm thổ nhưỡng kể trên cho phép Quỳ Hợp có thể phát triển nhiều loại cây công nghiệp dài ngày cho năng suất cao
Lòng đất Quỳ Hợp có nhiều khoáng sản quý như vàng, đá quý, thiếc… Quặng thiếc có hàm lượng cao, trữ lượng lớn Trong quặng thiếc còn có sắt, vônfram, ti tan Đá hoa cương trắng, vân rất đẹp, được ưa chuộng trên thị trường trong nước và nước ngoài Trữ lượng đá vôi có thể đáp ứng tốt nhu cầu vật liệu xây dựng Ngoài ra, Quỳ Hợp còn có suối nước khoáng ở bản Khạng (Yên Hợp) và nguồn diêm tiêu với trữ lượng khá dồi dào…
Trang 13Tất cả những nguồn tài nguyên trên là quà tặng vô giá từ thiên nhiên, tạo những điều kiện hết sức thuận lợi cho huyện Quỳ Hợp phát triển kinh tế, văn hóa Việc khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên kể trên sẽ là một nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của huyện Quỳ Hợp, đưa Quỳ Hợp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đúng như mục tiêu mà Đảng bộ huyện Quỳ Hợp đã đặt ra
* Về núi đồi, sông suối:
Trên địa bàn huyện Quỳ Hợp có rất nhiều ngọn núi, cả có tên lẫn không tên
Theo Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch: “Nghệ An mạch đi từ Mường Thanh, châu
Ninh Biên xứ Hưng Hóa vào xứ ta, rồi chia ra các ngả về xuôi Phía Bắc là phủ Quỳ Châu, ở giữa là hai phủ Trấn Ninh, Trà Lân; phía Nam là hai phủ Ngọc Ma, Lâm
An Cả ba mạch đất hai bên trái phải đều có sông kẹp lấy
Mạch từ phủ Quỳ Châu lại thì bên trái là sông Quyền ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa chảy ra Cửa Triều, bên phải là sông Lam ở Nghệ An chảy ra Cửa Hội Mạch từ hai phủ Trấn Ninh vàTrà Lân lại thì bên Trái là sông Lam, bên phải là sông Phố, hợp với sông La rồi đổ vào sông Lam Mạch từ hai phủ Ngọc Ma và Lâm
An lại thì bên trái có sông La, bên phải là sông Lỗ Cảng ở châu Bố Chính, chảy ra cửa sông Gianh (Linh Hải)
Mạch từ phủ Quỳ Châu lại thì trước tiên là 16 động Trung Sơn và 42 động Thúy Vân, tiếp đến là các xã Phác Lỗ, Lâm La, Thuần Hàm, Đường Khê, Nghĩa Hưng, Nhiêu Hợp và Tam Lễ, huyện Quỳnh Lưu; các xã Tiên Kỳ, Dương Hợp, Cự Lâm, Tri Lễ và Tri Chỉ thuộc huyện Đông Thành và xã Tào Giang thuộc huyện Nam Đường đều ở trong núi của mạch lớn.” [42; 67- 68]
Cao nhất và đồ sộ nhất trong hệ thống núi rừng trùng điệp ở Quỳ Hợp là dãy
Pù Khạng (cao 1058 mét, nằm ở các xã Châu Quang, Châu Lộc, Liên Hợp, Yên Hợp, Đồng Hợp…) và Pù Huống (cao 1477 mét, trải rộng ra trong một địa bàn giáp ranh 5 huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương, Con Cuông với 12 xã) Ba xã của Quỳ Hợp nằm trong địa bàn dãy Pù Huống là Châu Thành, Châu Cường và Châu Thái Pù Huống đã được Chính phủ phê duyệt là Khu bảo tồn thiên nhiên của quốc gia với tổng diện tích tự nhiên 50.075 ha
Trang 14Đứng ở Thị trấn Quỳ Hợp nhìn ra xung quanh sẽ thấy bao bọc xung quanh đều là rừng núi Núi đồi Quỳ Hợp với những hang động, sông suối; với thảm thực vật và nhiều loại động vật hoang dã, quý hiếm; với những di tích lịch sử, văn hóa đã tạo thành một số cảnh quan kỳ thú Nếu giữ gìn cẩn thận, từng bước xây dựng, tôn tạo và phát huy thì đó là những khu tham quan du lịch có giá trị Tiêu biểu như: khe Nước Lạnh, hồ Thung Mây ở Thị trấn Quỳ Hợp; thác Bản Bìa ở châu Lý; hang Quốc Phòng ở Châu Quang; Bãi Tập ở Đồng Hợp…
Ở Quỳ Hợp cũng có nhiều con sông, từ nhiều nguồn, nhiều nhánh khác nhau
đổ về 2 con sông lớn:
- Sông Con: Phát nguyên từ các dãy núi ở Quế Phong rồi chảy xuống Quỳ Châu Đoạn chảy qua địa bàn huyện Quỳ Hợp, từ xã Yên Hợp đến Nghĩa Xuân dài khoảng 15 km, rồi đổ về Nghĩa Đàn, còn gọi là sông Hiếu Đây là con đường thủy duy nhất của cả phủ Quỳ Châu cũ Vì sông chảy theo triền các dãy núi đá, lượng phù sa không được nhiều nên ở hai bên triền sông, trên địa bàn Quỳ Hợp không có những cánh đồng màu mỡ như hai bờ của các con sông khác
- Sông Dinh: 2/3 diện tích đất đai của Quỳ Hợp nằm ở lưu vực sông Dinh với trên dưới 40 con sông, con suối từ các ngả đổ vào như : sông Nậm Huống - phát nguyên từ Pù Huống, qua Châu Tiến, Châu Hồng, xuống Châu Cường, Châu Quang… rồi chảy về xuôi, đổ vào sông Dinh; sông Nậm Tôn (Nặm Tốn) phát nguyên từ Pù Khạng, qua Châu Quang, Thị trấn Quỳ Hợp rồi đổ vào Nậm Huống; sông Nậm Choọng phát nguyên từ Pù Huống, chảy qua các xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Châu Lý, Châu Đình rồi đổ nước vào sông Dinh thuộc địa bàn bản Điếm xã Châu Đình; Khe Đá phát nguyên từ Pù Khạng chảy vào sông Dinh ở địa bàn xã Thọ Hợp; Khe Riềng đổ vào sông Dinh ở địa bàn xã Nghĩa Xuân… Sông Dinh chảy về đến xã Nghĩa Xuân thì đổ nước vào sông Hiếu
Trước đây, sông Dinh cũng là một con đường thủy của huyện Quỳ Hợp Dân hai bên bờ sông Dinh thường dùng bè, thuyền ván, thuyền độc mộc để đi lại trên sông, đưa lâm sản xuống Nghĩa Đàn trao đổi và mua các nhu yếu phẩm như muối, vải và các đồ dùng trong gia đình Hiện nay, vào mùa mưa lũ, chỉ có thuyền đánh cá
là còn đi lại trên sông Dinh
Trang 15Cùng với các dòng sông là các con suối như: Huồi Vạc, Huồi Lức, Huồi Xao, Huồi Khiệt, Huồi Khạng, Huồi Xan… đã góp phần đưa nước tưới cho các cánh đồng trên địa bàn Quỳ Hợp
Các dãy núi lớn cùng với nhiều dãy núi nhỏ và hệ thống sông suối bao quanh
đã chia địa bàn huyện ra thành nhiều vùng có đặc điểm tự nhiên riêng biệt
* Về khí hậu:
Quỳ Hợp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng trên vùng cao thường có khí hậu nhiệt đới Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa đông rất rét và mùa hạ nóng nực Xen lẫn là mùa xuân và mùa thu, có khí hậu mát mẻ dễ chịu hơn Hàng năm thường có mưa nhiều, lượng mưa bình quân đo được là 1829,2 mm Nhiệt độ trung bình là 12,70 C
* Về giao thông:
Về đường bộ có quốc lộ 48, hình thành từ thời Pháp thuộc (1921), nối từ huyện Quế Phong về đến Yên Lý (Diễn Châu) Tỉnh lộ 532 từ Ngã ba Săng Lẻ đến
xã Châu Tiến Ngoài ra còn có nhiều tuyến đường nối liền các xã trong huyện
Về mặt tự nhiên, Quỳ Hợp được chia làm 2 vùng chính với các tiểu vùng, mỗi vùng, tiểu vùng có một thế mạnh riêng
Vùng cao gồm các xã: Châu Lộc, Châu Hồng, Châu Tiến, Châu Thành, Châu Thái, Châu Lý, Liên Hợp, Nam Sơn, Bắc Sơn, Châu Cường Vùng này có đến 90% đất đai là đồi núi với thế mạnh là phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc và trồng cây ăn quả
Vùng thấp gồm Thị trấn Quỳ Hợp và các xã còn lại, do sự hình thành địa lý
tự nhiên phức tạp nên cũng chia ra 2 vùng tiểu khí hậu với những đặc điểm riêng
- Tiểu vùng 1: gồm Châu Quang, Thọ Hợp Tiểu vùng này có mật độ dân số cao trong huyện, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa nước và các loại thực phẩm như rau, đậu…, có nhiều khả năng phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, ngành nghề đa dạng, phong phú Tiểu vùng này có khả năng phát triển kinh tế một cách cân đối, với việc xây dựng các cụm liên doanh kinh tế - văn hóa - du lịch
- Tiểu vùng 2: gồm các xã Tam Hợp, Hạ Sơn, Văn Lợi, Yên Hợp, Đồng Hợp, Châu Đình, Nghĩa Xuân, Minh Hợp Tiểu vùng này chủ yếu là đất bằng nên
có điều kiện trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây cho sản phẩm xuất
Trang 16khẩu có giá trị kinh tế cao Tiểu vùng này có điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các nông - lâm trường chuyên canh cũng như các khu chế biến nông - lâm sản phục
vụ xuất khẩu và tiêu dùng
Riêng Thị trấn Quỳ Hợp, tốc độ đô thị hóa diễn ra hết sức nhanh chóng Đây được xem là vùng phát triển năng động của huyện với cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - thương mại và dịch vụ đan xen
1.2 Lịch sử hình thành và cư dân huyện Quỳ Hợp
* Lịch sử hình thành huyện Quỳ Hợp
Huyện Quỳ Hợp trước đây vốn là vùng đất thuộc phủ Quỳ Châu cũ, sau Cách mạng tháng Tám (1945) gọi là huyện Quỳ Châu Bởi vậy, viết về huyện Quỳ Hợp, không thể không đề cập đến phủ Quỳ Châu cũ, bao gồm cả Nghĩa Đàn và Tân
Kỳ hiện nay với những vấn đề lịch sử, kinh tế, dân tộc, văn hóa gắn bó khăng khít với nhau
Trước 1963, Quỳ Hợp chủ yếu thuộc huyện Quỳ Châu và một phần của Nghĩa Đàn Địa bàn huyện Quỳ Hợp trước đây gọi là tổng Xân Ham (còn được gọi
là Thuận Hàm) Trong thời Nguyễn và thời thuộc Pháp, Quỳ Hợp gồm một số sách nằm ở tổng Thuần Hàm (Thuận Hàm) và một số sách nằm trong các tổng khác ở
Quỳ Châu và Nghĩa Đàn Theo Đồng Khánh ngự lãm dư địa chí lược thì tổng
Thuần Hàm thuộc huyện Nghĩa Đường có 6 sách, sau đổi thành 6 xã, đó là:
Sách Thuần Hàm, nay là xã Châu Cường,
Sách Tử La, nay là 2 xã Châu Quang và Châu Thái,
Sách Vĩnh Lộc, nay là xã Châu Đình,
Sách Trọng Hợp (Choòng Hạp), nay là xã Châu Lý,
Sách Thọ Vực, nay là xã Bắc Sơn, Nam Sơn,
Sách Diên Phi (Có thể là sách Tạo Thành, thuộc địa bàn xã Châu Thành ngày nay?)
Các sách nằm trong các tổng khác có Văn Giai, Thượng Sưu, Hạ Sưu
Năm Thành Thái thứ 19, tổng Thuần Hàm được chuyển từ huyện Nghĩa Đường sáp nhập vào phủ Quỳ Châu, lúc đó phủ Quỳ Châu có tất cả là 11 tổng
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám nổ ra và giành được thắng lợi Với thành công của Cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời Phủ Quỳ
Trang 17Châu được đổi thành huyện Quỳ Châu, bao gồm: Quế Phong, Quỳ Hợp và Quỳ Châu ngày nay; huyện Nghĩa Đàn bao gồm cả Tân Kỳ hiện nay Quỳ Châu là một trong số 12 huyện của tỉnh Nghệ An, bao gồm các xã: Hạnh Thiết, Hồng Chân, Tân Tiến, Tiêu Bính, Chủng Láng, Khủn Tinh, Kim Sơn, Căm Muôn, Thông Thụ Vùng đất Quỳ Hợp bây giờ thuộc vào 2 xã của huyện Quỳ Châu cũ là: Khủn Tinh và Chủng Láng
Đến năm 1961, theo Quyết định số 33/CP ngày 27/2/1961 của Hội đồng Chính phủ, chia 5 xã của huyện Quỳ Châu thành 21 xã Theo đó, xã Khủn Tinh được chia làm 6 xã mới là: Châu Quang, Châu Đình, Châu Thái, Châu Sơn, Châu Cường, Châu Lý; xã Chủng Láng chia thành 3 xã mới là Châu Bình, Châu Yên, Châu Lộc; xã Hồng Chân chia thành 4 xã mới là Châu Phong, Châu Hoàn, Châu Thành, Châu Hồng Địa bàn Quỳ Hợp bây giờ thuộc vào 10 xã của huyện Quỳ Châu
cũ, gồm toàn bộ 6 xã chia ra từ xã Khủn Tinh, 2 xã chia ra từ xã Chủng Láng, 2 xã chia ra từ xã Hồng Chân và 3 xã của huyện Nghĩa Đàn
Ngày 19/4/1963, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 53/CP phê chuẩn
về việc chia huyện Quỳ Châu cũ, thuộc tỉnh Nghệ An thành 3 huyện mới Huyện Quỳ Châu cũ được tách ra làm 3 huyện mới là Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tên gọi huyện Quỳ Hợp được khai sinh từ đó Quỳ hợp lúc đó có 13 xã: Châu Quang, Châu Thành, Châu Hồng, Châu Lộc, Châu Thái, Châu Sơn, Châu Cường, Châu Lý, Châu Yên, Đồng Hợp, Tam Hợp, Nghĩa Xuân, Nghĩa Sơn
Hiện tại, Quỳ Hợp gồm 21 xã và một thị trấn, cụ thể là: Châu Quang, Châu Thành, Châu Hồng, Châu Tiến, Châu Lộc, Châu Thái, Nam Sơn, Bắc Sơn, Châu Cường, Châu Lý, Đồng Hợp, Tam Hợp, Thọ Hợp, Yên Hợp, Nghĩa Xuân, Văn Lợi,
Hạ Sơn, Châu Đình, Châu Lộc, Liên Hợp và Thị Trấn Quỳ Hợp
* Dân cư và sự phân bố dân cư
Theo các nhà sử học, tại miền Tây Nghệ An, cách ngày nay khoảng 20 vạn năm đã có người vượn cư trú Bằng chứng là tại các di chỉ Thẩm Ồm bên suối bản Thắm, thuộc xã Châu Thuận huyện Quỳ Châu đã phát hiện được những hiện vật của
tổ tiên loài người
Trước khi tìm hiểu người Thái ở Quỳ Hợp phải tìm hiểu nguồn gốc cả cộng đồng cư dân này ở miền núi Nghệ An và khi tìm hiểu các mặt nói trên của đồng bào
Trang 18Thái phải đặt nó trong cả vùng Quỳ Châu cũ Có thể nói, cả phủ Quỳ Châu cũ là địa bàn sinh sống của người Thái
Theo một số nguồn tài liệu cho biết, miền núi Nghệ An là quê hương lâu đời của người Thái Điều này được chứng thực thông qua dấu vết của người vượn ở hang Thẩm Òm (Quỳ Châu), cách đây khoảng 20 vạn năm hay dấu vết ở Làng Vạc, xóm Đình, Cồn Kho, Mồ Vạn (Nghĩa Đàn), cách đây trên dưới một vạn rưỡi năm,
mà các nhà khảo cổ học gọi chung là Văn hóa Sơn Vi Tiếp đến là dấu vết Văn hóa Hòa Bình cách đây một vạn năm ở Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Con Cuông, Tương Dương
Phủ Quỳ Châu cũ gồm 3 huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong bây giờ vốn là một mường (Mường Quỳ) hay còn gọi là Mường Quỳ Chủ Lúc đầu có 9 mường, từ 9 mường ban đầu ấy phát triển mở rộng thêm Người Thái nơi đây cư trú lâu đời, sinh sôi nảy nở và cùng với người Thái nơi khác đến cư trú nên có thêm các mường mới ra đời
Người Thái ở Quỳ Hợp xưa trong quá trình tụ cư sinh sống đã lập ra 5 mường: Mường Ham (Châu Cường), Mường Nghình (Châu Hồng), Mường Hạt (Châu Tiến), Mường Choọng (Châu Lý), Mường Muồng hay Mường Môn (Châu Thành), trong đó Mường Ham được coi là gốc mường Theo Ninh Viết Giao: “Nếu như vào thế kỷ XIII, XIV ở vùng đường quốc lộ số 7, người Thái đã có mặt ở Con Cuông, Tương Dương và ở vùng quốc lộ 48, người Thái đã có mặt ở Quế Phong, Quỳ Châu hiện tại thì cùng thời gian đó bản mường người Thái đã rải gần khắp địa bàn Quỳ Hợp Bởi vì anh em dòng họ Lo Kăm cùng chuyển cư vào một thời điểm đến cư trú ở vùng Tây Bắc Nghệ An
Sang đầu thế kỷ XV, khi Lê Lợi kéo nghĩa quân Lam Sơn vào miền núi Nghệ
An thì tại Quỳ Hợp đã có cô gái bản Lè và các chàng trai ở bản Phày (xã Châu Quang hiện tại) đứng dưới cờ nghĩa
Từ thế kỷ XV trở về sau, người Thái ở Thanh Hóa (nhóm Man Thanh) và người Thái ở Quế Phong vẫn tiếp tục chuyển cư xuống Quỳ Hợp Họ chuyển cư đến kiếm đất sinh sống, tránh sự truy đuổi của giặc và nhiều lý do khác nữa Đến năm
1945, toàn bộ vùng cao ở Quỳ Hợp, trong các thung lũng, nơi có đất bằng cả sông suối đều có người Thái cư trú, sinh sống” [23; 261 - 262]
Trang 19Tuy nguồn gốc có khác nhau, nhưng mỗi dân tộc sống ở đây đều tự hào về
sự đóng góp của mình vào việc cải tạo thiên nhiên, xây dựng cuộc sống, tạo nên sự chuyển biến mọi mặt của huyện Quỳ Hợp Mối quan hệ cộng đồng dân tộc, tình đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc anh em ngày càng được thể hiện bền chặt, tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc cùng tồn tại và phát triển, tạo lập nên bản sắc văn hóa, vừa mang yếu tố chung của dân tộc Việt Nam, vừa mang đặc trưng riêng của từng dân tộc ở huyện Quỳ Hợp Tuy nhiên, huyện Quỳ Hợp ngày nay với các đơn vị hành chính có nhiều thay đổi và thành phần tộc người cũng không như trước đây, cùng với quá trình di cư thì hiện nay tổng dân số tính đến ngày 31/12/2015 là 123.321 người, trong đó đồng bào dân tộc Thái có 50.225 người, chiếm 40.72% dân số trong toàn huyện [52; 1]
Theo cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam và Sổ tay về các dân tộc Việt Nam cho biết: tổ tiên xa xưa của người Thái ở Trung Quốc vào Việt Nam cách đây trên
dưới 1.000 năm Đầu tiên cư trú ở Tây Bắc, đa số ở lại đó, một số tiếp tục di cư sang Lào rồi về miền Tây Nghệ An, một nhóm di cư hẳn vào Hòa Bình, Thanh Hóa rồi mới đến miền Tây Nghệ An [42; 19] Sau cuộc thiên di ấy, người Thái thuộc nhóm Tày Mường (hay còn gọi là Hàng Tổng hoặc Tày Chiềng) và Tày Thanh, Tày Mười, Tày Khăng, Tày Do đã định cư ở vùng Quỳ Hợp vào thế kỷ XIII, XIV [27; 256]
Mặt khác, người Kinh có mặt ở Quỳ Hợp cũng khá sớm và đã tiến hành giao lưu buôn bán với đồng bào các dân tộc Số lượng người Kinh tăng lên chủ yếu từ năm 1964 - 1965, khi Đảng và Nhà nước ta có chính sách di dân đồng bào miền xuôi lên miền núi phía Tây khai hoang phục hóa, phát triển kinh tế mới Họ sống tập trung ở vùng Thị trấn Châu Quang; xóm Hưng Nhân, Hưng Long thuộc xã Châu Thái; xóm 12/9; xóm Hợp Nhân của xã Châu Đình, đặc biêt là ở trung tâm một số
xã vùng thấp như: Minh Hợp, Nghĩa Xuân, Tam Hợp, Yên Hợp hoặc sống đan xen với đồng bào Thái trong các bản Các dân tộc cùng sinh sống, giao lưu hòa hợp, cùng nhau chung sức phát triển huyện Quỳ Hợp như ngày nay
1.3 Tên gọi và lịch sử cư trú của người Thái ở huyện Quỳ Hợp
Theo nhiều nguồn tư liệu, người Thái có mặt ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 1.000 năm Đợt thiên di lớn nhất vào Việt Nam là khoảng đầu thiên niên kỷ thứ II sau công nguyên; bắt đầu là nhóm Thái Trắng, tiếp theo là Thái Đen và các
Trang 20nhóm khác Khi vào Việt Nam, đầu tiên họ cư trú ở Tây Bắc, sinh sống ở Tây Bắc một thời gian, đa số họ ở lại, một nhóm qua Lào và vào Nghệ An, một nhóm qua Hòa Bình, Thanh Hóa rồi đến Nghệ An Nói thế không có nghĩa là không có các luồng thiên di tiếp theo và các nhóm dù qua Lào hay qua Hòa Bình, Thanh Hóa để vào nghệ An, có nhóm đi thẳng, có nhóm cư trú các nơi đó một thời gian rồi mới chuyển cư, có nhóm vẫn ở lại cho đến ngày nay [23; 255]
Nhìn vào sự phân bố cư dân người Thái ở miền núi Bắc Trung bộ chúng ta
dễ dàng nhận thấy cộng đồng người Thái sinh sống tại Nghệ An thành một vùng khá tập trung Vùng này có những yếu tố truyền thống vừa mang tính thống nhất của văn hóa Thái, vừa mang tính đặc thù địa phương do những tác động của điều kiện sống và quá trình giao tiếp văn hóa với văn hóa các cư dân kề cận Hầu hết các nghiên cứu của các nhà khảo cổ học nói chung và các nhà Thái học nói riêng thì người Thái ở huyện Quỳ Hợp cũng như người Thái miền Tây Nghệ An đều có nguồn gốc xa với người Thái ở Tây Bắc Việt Nam Họ vào đây khoảng thế kỷ XIV, điều này đã được
Đặng Nghiêm Vạn trong Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam
và Mạc Đường trong Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ khẳng định
- Về tên gọi: Người Thái thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á, dòng Tày - Thái ở Việt
Nam, từ “Thái” dùng để chỉ những người mang tộc danh Thái Người Thái còn có các tên gọi khác nhau như: Tày, Tày Khao (Thái Trắng), Tày Đăm (Thái Đen), Tày Mười, Tày (Man Thanh), Hàng Tổng (Hàng Phường), Pu (hay) Phu Thai… Đó chỉ
là những sắc thái khác nhau của các nhóm địa phương mà thôi [23; 204 - 205]
Người Thái ở Nghệ An nói chung, huyện Quỳ Hợp nói riêng, có 3 nhóm chủ yếu:
+ Nhóm Tày Mường: hay còn gọi là Tày Chiềng, Hàng Tổng chủ yếu là Thái
Trắng, là nhóm quan trọng nhất và cư trú sớm nhất so với các nhóm Thái khác ở miền núi Nghệ An Qua các tài liệu bằng tiếng Thái cho biết, nhóm Thái này đã lập bản tại vùng đường 7 rất sớm, vào khoảng thế kỷ XIII - XIV Bởi vì đầu thế kỷ XIV (1335), hoàng đế Trần Minh Tông đi đánh Ai Lao, khi đem quân đến biên thùy mặt Tây, “đạo thần tù trưởng là Cầm Quý (có bản dịch là Quý Cầm) đều tranh nhau đến triều yết” Tất cả những bằng chứng đó cho chúng ta thấy vào thế kỷ XV thì người Thái nhóm Tày Mường đã đến định cư tại miền núi Nghệ An khá đông, cư trú trên
Trang 21một địa bàn khá rộng Ở vùng Quỳ Châu, nhóm Tày Mường đến lập nghiệp đầu tiên
ở Mường Tôn (Mường chủ, sau gọi là Mường Nọc) thuộc huyện Quế Phong Ngoài
ra còn hai trung tâm nữa, một là Kim Tiến (Châu Bính và Châu Tiến) thuộc huyện Quỳ Châu, hai là vùng Khủn Tinh (Châu Quang, Châu Thái, Châu Lý, Châu Đình) thuộc huyện Quỳ Hợp Từ đó người Tày Chiềng lan sang cả vùng Con Cuông và hạ Tương Dương hiện tại tức là Mường Quạ (Môn Sơn, Lục Dã) và Mường Chỏn (Nga
My, Bình Chuẩn) [23; 206 - 207]
+ Nhóm Tày Mười: nhóm này đến miền núi Nghệ An muộn hơn một chút
Qua sự tìm hiểu ở vùng Tây Bắc, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đồng tộc nói người Tày Mười ở Nghệ An là người Thái ở vùng Mường Muỗi (thuộc tỉnh Lai Châu) Khi Lê Lợi đánh quân Minh, chủ đất ở vùng Mường Muỗi tại Châu Ninh Viễn là Đèo Cát Hãn đã cùng với Kha Lại chống lại Sau khi bình định được họ Đèo, nhà vua đem tù binh về dâng ở Thái Miếu và quyết định cho dời một bộ phận
cư dân ở Mường Muỗi vào Thanh Hóa và Nghệ An Vì vậy, nhóm Tày Mười khi đến Nghệ An vẫn tự gọi mình theo quê hương cũ, song qua thời gian, địa danh ấy
đã bị gọi lệch đi: Muỗi thành Mười [23; 208 - 209]
+ Nhóm Tày Thanh: còn gọi là Man Thanh tức Thái Đen Nhóm này không
phải chỉ có ở Thanh Hóa vào Nghệ An mà còn từ Mường Thanh (Tây Bắc) chuyển
cư đến đây [23; 209] Mường Thanh xưa thuộc châu Ninh Biên, phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hóa (nay thuộc Điện Biên - Lai Châu) Trên đường chuyển cư vào vào vùng núi Nghệ An, họ đi qua đất Lào - cũng có người đi qua Thanh Hóa nay đã ở Mường Lư - nên nhóm này chịu ảnh hưởng của văn hóa Lào nhiều hơn Số lớn nhóm Man Thanh sống dọc theo đường số 7, song họ cũng ở rải rác trong địa hạt nhiều huyện khác, kể cả Quỳ Hợp, Tân Kỳ và Nghĩa Đàn Họ đến Nghệ An cách ngày nay khoảng 350 năm, có nơi họ là chủ khai canh ra các bản mường, mãi cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Man Thanh ở Thanh Hóa còn tiếp tục đến Quỳ Hợp và một số nơi khác
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: con đường chuyển cư của nhóm Tày Thanh vào đất Nghệ An được xác định là theo hai hướng Một hướng từ Thanh Hóa sang Phủ Quỳ nhưng vì đến muộn nên nhóm Tày Thanh phải sống xen ghép với nhóm Tày Dọ đã đến từ trước đó Vì thế, trước đây họ bị coi là “dân ngụ cư”
Trang 22(páy cư) và có địa vị thấp hơn trong xã hội Tuy nhiên, nhóm Tày Thanh không phải chuyển cư đến cùng một lúc Khi chuyển cư đến đây họ phải sống phân tán trong các ngọn nguồn khe suối để tìm những vùng đất có thể khai khẩn được Tuy đến sau nhưng một số người đứng đầu nhóm Tày Thanh vẫn trở thành những chủ đất nhỏ và lập nên các mường riêng Ngoài ba nhóm đông đảo trên thì ở miền núi Nghệ An còn
có nhóm Tày Khăng với số lượng đáng kể từ Mường Khăng ở Lào nay cư trú ở Kỳ Sơn và Tương Dương Một nhóm Thái ở huyện Tương Dương gọi là Mèn (một cư dân nói tiếng Thái cổ) [14; 211]
Tại phủ Quỳ Châu cũ chủ yếu chỉ có hai nhóm: Tày Chiềng tức Thái Trắng
và Man Thanh tức Thái Đen, không thấy có Tày Mười, nếu có thì số lượng người Tày Mười ở Quỳ Châu cũng không đáng kể Tuy có sự cư trú xen kẽ, song người Thái Trắng ở Quế Phong và Quỳ Châu hiện tại là chủ yếu, còn người Thái Đen ở vùng Quỳ Hợp là chủ yếu
Việc phân chia Thái Trắng, Thái Đen có nguồn gốc lịch sử của nó, nhưng theo quan niệm mang tính triết học thì có một số nét phân biệt như Thái Đen chuộng số lẻ mà cụ thể là: quy định số gian nhà, số bậc cầu thang, tổng số cửa chính, cửa sổ trong nhà phải là số lẻ, tượng trưng cho sự linh động và phát triển Thái Trắng chuộng số chẵn, nói số chẵn là thế ổn định vững chắc như: đũa có đôi, người có vợ có chồng, trong vũ trụ có trời có đất, có ngày có đêm, có âm có dương… Do đó, số gian nhà, bậc cầu thang, số cửa trong nhà… là số chẵn Chiếc áo phụ nữ Thái Trắng là màu trắng có lẫn các màu khác là đen Thái Đen thì áo màu đen còn lẫn các màu khác là trắng
Tuy có một số nét riêng, song trên đại thể người Thái có sự thống nhất cao
độ về tên gọi Các định ngữ Đen, Trắng hoặc mang tính địa danh như Tăy Mười, Tăy Thanh, Tăy Khăng… chỉ dùng khi cần cụ thể trong tìm hiểu, nghiên cứu, còn trong thực tế nó đã mờ nhạt đi nhiều Đối với các nhóm Thái ở Nghệ An nói trên càng mờ nhạt, không rõ nét lắm Có lẽ nó chỉ còn ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu dân tộc học và văn hóa dân gian, tức văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể [27; 262 - 263] Tuy nhiên, đồng bào Thái ở các bản họ tự biết mình
là Thái Trắng hay Thái Đen Dù là nhóm Thái nào hay nguồn gốc như thế nào thì
Trang 23mỗi người Thái ở huyện Quỳ Hợp cũng đều tự hào về những gì mà họ đã làm được cho quê hương, cho đất nước
- Lịch sử cư trú: Từ buổi đầu bình minh của lịch sử cho đến hiện tại vùng đất
này đã trải qua nhiều biến cố Nơi đây đã có nhiều thay đổi về địa vực, về nơi cư trú Do tình trạng du canh, du cư trước đây của đồng bào Thái, nên việc nghiên cứu
về lịch sử cư trú của người Thái ở huyện Quỳ Hợp gắn với lịch sử của vùng đất này Lịch sử cư trú của người Thái trước đây, đã được nhiều nhà khoa học, dân tộc học nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng cho rằng: Cộng đồng Thái vào Việt Nam đầu tiên từ thiên niên kỷ II (thế kỷ XI - XII) sau công nguyên, đầu tiên là nhóm Thái Trắng và sau đó là nhóm Thái Đen
Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng: khoảng thế kỷ XI - XII,
do nhu cầu của sản xuất mở rộng vùng cư trú người Thái từ phía Nam Trung Quốc lại tiếp tục di cư vào vùng Tây Bắc Việt Nam với những đợt thiên di ồ ạt Sinh sống
ở Tây Bắc một thời gian, đa số ở lại, một nhóm qua Lào rồi vào Nghệ An, một nhóm qua Hòa Bình, Thanh Hóa rồi đến Nghệ An
Đặc biệt, các nhà nghiên cứu: Diệp Đình Hoa, Hà Văn Tấn, Lê Sỹ Giáo… đều cho rằng, nguồn gốc của người Thái ở Việt Nam vừa mang yếu tố bản địa, vừa mang yếu tố di dân từ Trung Quốc đến Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: đợt thiên di lớn nhất của người Thái vào Nghệ An là vào khoảng thế kỷ XV gắn liền với thời Lê Lợi Còn Diệp Đình Hoa lại cho rằng sớm hơn thế kỷ X, học giả Pháp Cham-bơ-lai cho rằng người Thái có mặt ở Nghệ An sớm hơn thế kỷ VI [29; 61]
Nhưng với những cứ liệu lịch sử, tư liệu bằng tiếng Thái, đặc biệt là những
di chỉ khảo cổ học tìm được ở Quỳ Châu, nhiều nhà khoa học cho rằng: Quỳ Hợp cũng là quê hương lâu đời của người Thái Điều này được khẳng định trong cuốn
Các dân tộc ít người ở Việt Nam, Sổ tay về các dân tộc Việt Nam do Viện Dân tộc
học biên soạn Người Thái ở Nghệ An nói chung, người Thái ở Quỳ Hợp nói riêng
có ba nhóm chủ yếu: Tày Mường (còn gọi là Tày Chiềng hay Hàng Tổng), Tày Mười, Tày Thanh (còn gọi là Man Thanh) Các nhóm Thái với những nguồn gốc khác nhau đã vào Nghệ An sớm muộn khác nhau nhưng theo nguồn tài liệu thông
sử có được thì sự có mặt các nhóm Thái ở vùng núi Nghệ An rõ rệt nhất vào thời
Trang 24Trần và thời thuộc Minh thế kỷ XIII - XV Trong đó nhóm Tày Mường là nhóm quan trọng nhất và là nhóm đến cư trú sớm nhất ở huyện Quỳ Hợp so với các nhóm khác Từ thế kỷ XIV trở đi, vùng Quỳ Hợp cũng tiếp nhận các cuộc thiên di từ Tây Bắc, Thanh Hóa vào và Lào sang
* Tiểu kết chương 1
Như vậy, về cơ bản những yếu tố về lịch sử và nguồn gốc của người Thái trên địa bàn huyện Quỳ Hợp không có nhiều điểm khác biệt so với đồng bào dân tộc Thái cư trú ở địa bàn các huyện miền Tây Nghệ An
Định cư trên vùng miền núi thấp, đồng bào người Thái cũng có những yếu tố vừa khó khăn, vừa thuận lợi để cộng đồng cư dân người Thái ở Quỳ Hợp dựa vào nguồn lợi tự nhiên để cùng đoàn kết nhau lại, cần cù, xây dựng và phát triển thành các bản làng
Sống trong điều kiện tự nhiên, xã hội đã cho phép cộng đồng người Thái ở huyện Quỳ Hơp vừa sáng tạo, vừa lưu giữ bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu văn hóa, văn minh của người Việt để làm thay đổi đời sống kinh tế, văn hóa của dân tộc mình
Sống trong điều kiện tự nhiên như vậy, ngành kinh tế chủ đạo của cộng đồng người Thái ở Quỳ Hợp là nghề làm ruộng nước và làm nương rẫy Tuy nhiên, sống trong nền kinh tế tự cung tự cấp, các gia đình người Thái ở huyện Quỳ Hợp đều biết làm một nghề thủ công Hầu hết đàn ông trong các gia đình người Thái đều biết làm nhà, đan lát, làm đồ dùng cho nghề lúa nước, xẻ gỗ Một số biết làm đồ gốm, rèn sắt, làm đồ trang sức, làm nỏ, súng kíp Phụ nữ biết dệt vải, dệt thổ cẩm Ngoài ra
họ còn biết đến các nghề như: khai thác lâm sản, hái lượm, săn bắn nhằm đảm bảo cho cuộc sống Chính vì những yếu tố này đã tạo nên sự phong phú và đa dạng trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của đồng bào nơi đây
Trang 25Chương 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA ĐỒNG BÀO NGƯỜI THÁI
Ở HUYỆN QUỲ HỢP
Tại huyện Quỳ hợp cánh đồng Mường Ham (Châu Quang), Mường Chủng Láng (Châu Yên cũ) rộng 900 ha; Mường Chọong (Châu Lý) trên 200 ha rồi các cánh đồng Châu Thái trên 200 ha, Châu Cường gần 200 ha, Châu Lộc trên 100 ha [23; 213]
Người Thái vốn có tập quán sinh sống cạnh nguồn nước nên việc áp dụng các biện pháp thủy lợi tưới tiêu đã có từ rất lâu đời Các hệ thống mương phai, cọn nước, dùng cây mét hoặc cây nứa làm máng nước (lin) để đưa nước vào ruộng mỗi khi hạn hán thì người Thái đã có kinh nghiệm từ xa xưa Đó là điều kiện cho đồng bào Thái làm kinh tế ruộng nước, chủ động nguồn nước tưới cho cây lúa
Tuy nhiên, là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước cũng mang những khó khăn của nó như do địa hình, chất đất, nguồn nước Chính những yếu tố đó tác động đến quá trình canh tác của người Thái nơi đây Đồng bào Thái ở Quỳ Hợp đã biết phân loại ruộng để chọn giống và
có biện pháp canh tác hợp lý trong điều kiện của mình Ruộng được người Thái được phân theo nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả cũng chỉ gộp lại theo cách phân chia ra loại ruộng tốt và ruộng xấu
Việc phân loại tốt xấu các loại ruộng trước kia cái chính là để đặt giống lúa cho phù hợp: có loại giống chịu hạn tốt, có loại không có khả năng chịu hạn, có loại giống thì phù hợp với loại đất nhiều mùn, cũng có loại giống lại phù hợp cho những ruộng ngập nước làm thế năng suất sẽ cao hơn Nhưng sau này thì việc phân loại
Trang 26ruộng được người Thái chú trọng vì điều đó còn giúp họ chọn cho mình phương pháp canh tác hợp lí, điều chỉnh các khâu kỹ thuật, tăng năng suất lao động [54; 40 - 41]
- Giống lúa và các biện pháp kỹ thuật:
Trải qua lịch sử lâu đời làm lúa nước, cư dân bản địa nơi đây đã duy trì được những giống lúa nước thơm ngon, có hương vị đặc biệt, thích hợp với khí hậu, thời tiết và chất đất ở huyện Quỳ Hợp Đó là các giống lúa: nuồi nài, củ cộn, đăm đỏi, củ
phàng Người Thái quý hơn cả là “nếp cẩm” Đây là loại gạo nếp có màu đen,
thơm dẻo Loại nếp cẩm thường khó làm, thu hoạch năng suất thấp nên rất hiếm
Người Thái ở Quỳ Hợp cũng có một số loại lúa tẻ gọi là Chăm Háo, Chăm
Đạc, Khấu Mua, Khầu Pẹt (lúa chiêm), Khẩu Sẻ (lúa tẻ) [23; 224] Gạo tẻ đồng
bào chủ yếu chỉ để dùng khi đói, khi tiếp khách
Hiện nay, đồng bào Thái ở Quỳ Hợp đã áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy, nhiều giống lúa mới với năng suất cao đã được đồng bào đưa vào sản xuất
- Các biện pháp kỹ thuật:
Người Thái ở huyện Quỳ Hợp thường làm đất tuân theo quy trình: tháo nước cho ráo đất, cày lật đất (lớp đất cày lên không quá 10 - 15cm), phơi ải, ngâm nước, bừa cho đất phẳng, đất nhuyễn; trục cho đất nhuyễn thêm; bàn trang lại cho kỹ, cho đất thật phẳng rồi mới cấy; hoặc làm nương mạ thì vun luống Ở những nơi ruộng khó cày bừa, khó điều khiển trâu thì đồng bào lùa trâu đi vòng quanh cho chúng dẫm sục bùn, cho nước vào ngâm kỹ một thời gian rồi tháo nước đi và cấy lúa
Do đất ruộng ở huyện Quỳ Hợp trước đây mùn lá cây nhiều, nhân dân chưa phải bón phân Mãi sau này, nhân dân mới dần dần có tập quán dùng các loại phân dơi (phân lèn), vôi và phân hóa học bón ruộng Cũng có khi gặt xong đồng bào để cho rạ khô và đốt ngay tại ruộng làm phân bón
Đối với ruộng lúa nước, cơ cấu mùa vụ vẫn là hai vụ trong năm Vụ chiêm làm đất gieo mạ vào tháng 11 đầu tháng 12 âm lịch, cấy hoặc gieo thẳng vào dịp lập xuân, sau đó làm cỏ, bỏ phân, thu hoạch vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 Vụ mùa, gieo cấy vào tháng 6, sau đó làm cỏ bỏ phân, thu hoạch vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 Nơi nào giờ đây có ruộng làm ba vụ thì lịch không phải như vậy
Trang 27Trong canh tác sản xuất lúa nước thì việc tưới tiêu cho lúa là khâu quan trọng, đồng bào có câu: “có nước mới có ruộng, có ruộng mới nên lúa” (mí nặm chăng pên na, mí na chăng pên khẩu) Các biện pháp dẫn thuỷ nhập điền được diễn
tả trong bốn chữ: mương, phai, lái, lín Mương là đường khai dẫn nước từ suối vào ruộng Phai là đập ngăn nước được cả cộng đồng tập trung công sức đắp để dâng mực nước sông, suối vào mương để dẫn tới ruộng Lái gồm những phai của hệ thống cọn nước (lốc hay cọn) Muốn cọn nước quay, phải tạo ra dòng chảy xiết, nên phải đắp các phai con (lái) để tập trung dòng nước chảy vào guồng, đẩy vào các lá chắn (đan bằng nứa) buộc chặt vào bánh xe guồng làm guồng quay Ở những nơi nào mà khó đào mương thì người Thái dùng máng (lín) để dẫn nước vào ruộng Lín được làm bằng bương, tre, nứa khoét hết đầu mắt, tạo thành ống dẫn nước
- Công cụ lao động:
Để phục vụ cho canh tác làm ruộng nước, đồng bào Thái thường sử dụng nhiều công cụ khác nhau, điển hình như:
+ Cày (mở tháy): Loại cày này của người Thái giống như cày chìa vôi của
người Việt Họ tự chặt cây đẽo làm cày, lưỡi sắt do thợ người Thái tự làm hoặc mua
từ miền xuôi Loại cày này cày được khá sâu và lật đất đều, phù hợp với đất đai, địa hình Sau này, người ta dùng cày 51 là phổ biến Ruộng gặt xong, nếu cần rạ thì họ cắt rạ để đánh tranh, hoặc đơn giản chỉ để lót chuồng gia súc Sau đó cày ải, phơi nắng rồi mới cho nước vào ngâm Chiếc cày là công cụ từ lâu, trở thành vật thiêng liêng, đối với người nông dân hầu như nhà nào cũng phải có cày Những thửa ruộng trong xó núi, khó cày bừa, người Thái dùng trâu vòng dẫm cho sục, san cho phẳng rồi cấy xuống
+ Bừa (phưa) người Thái thường sử dụng hai loại:
Bừa đạp (mở ban): Bừa đạp ngày xưa của người Thái chỉ có một bộ răng
bằng gỗ, vót nhọn, nhưng nay đã có bừa răng sắt, bừa đất mau tơi, mau nhuyễn hơn Khi bừa, người Thái có thể đứng lên trên hai thanh bừa để điều chỉnh cho mặt ruộng mau tơi, mau phẳng Nếu trâu yếu, ruộng sục, sợ hại trâu thì người Thái chỉ buộc lên trên bừa một khúc gỗ hoặc khúc chuối là được Bừa đạp chủ yếu là để cắt xẻ đất, làm tơi đất
Trang 28Bừa dựng (mở phứa): Bừa dựng ngày xưa chỉ có răng gỗ, nay được làm bằng
răng sắt Người sử dụng bừa không đứng lên trên mà đi sau bừa, dùng tay ấn khung bừa xuống hoặc nhấc bừa lên để điều chỉnh, làm cho mặt ruộng phẳng Công dụng của bừa dựng là gạt đất chỗ cao xuống chỗ thấp, san phẳng những chỗ lồi lõm trên mặt ruộng
+ Trục (mở lạt): Trục ruộng là một dụng cụ làm bằng một gúc gỗ chế tác
thành hình cạnh khế, hai đầu chốt buộc dây rồi cho trâu kéo Dụng cụ này có chức năng làm cho đất đã bừa sau khi trục thì càng nhuyễn, càng phẳng Trục ruộng còn
có thể làm cho cỏ và bèo bị nhấn chặt xuống bùn, mau hoai
+ Bàn trang (mở tạp ta): Dụng cụ này được làm bằng tấm ván mỏng, dài
khoảng sải tay, rộng khoảng 10cm, ở giữa có đục lỗ tra cán dài để cầm đẩy, gạt đất, bùn làm cho mặt ruộng, nương mạ phẳng Tác dụng của bàn trang là làm phẳng mặt ruộng hoặc dùng để vun bùn thành luống, rồi vãi mạ
+ Hái (mở hài): Hái là dụng cụ để thu hoạch lúa Hái của đồng bào Thái
được làm bằng tre (một mảnh phần thân liền với một đoạn phần cành, tạo nên cái hái cong cong, có thể vơ lúa về, có gắn lưỡi hái bằng sắt chế tác có chấu để cắt lúa,
có hái làm bằng cành cây cong, nhẹ, gọn, tiện cho việc cắt lúa Sau này, cư dân Việt
du nhập thêm cả cái liềm vào Quỳ Hợp để thu hoạch lúa Cư dân Thái Quỳ Hợp chỉ dùng liềm để cắt tranh săng (cỏ tranh) và các loại cỏ rạ cho trâu bò
+ Mở cuối: Dụng cụ này không có từ Việt tương đương, hình tròn to hơn sọt
(mở chặt), đan thưa, làm bằng nan tre dẻo, có quai hai bên để xỏ đòn gánh bằng tre tròn hoặc dẹt Đường kính mở cuối rộng khoảng 50 - 60cm, chiều cao khoảng 60 - 70cm Người Thái gặt lúa bó lại từng bó bằng nắm tay, gác lên ngọn rạ, qua một ngày nắng cho khô, sắp vào mở cuối gánh về Sau này, cư dân Việt lên cư trú ở một
số xã, do vậy đường ra đồng cũng được mở rộng, người Thái gặt lúa bằng liềm hái, không cần bó, chất lên xe bò rồi kéo về nhà
+ Các dụng cụ khác: Ngoài các dụng cụ nói trên thì còn có xẻng (vên) để
đào đất, xúc đất, xúc bùn đổ từ chỗ cao xuống chỗ thấp hoặc dùng để làm cỏ dọc bờ ruộng, xúc đất xúc bùn be bờ; cuốc dùng để cuốc đất ở góc ruộng, những chỗ cao hoặc đập cho tơi đất, dùng cuốc để cuốc cỏ dọc bờ; cào răng sắt dùng để cào cỏ, cào
Trang 29rạ dưới bùn thay cho việc dùng tay vốc Cào răng sắt cũng được dùng để di chuyển đất từ chỗ cao xuống chỗ thấp thay cho cuốc xẻng
Trong các công cụ lao động trên, người Thái đặc biệt chú ý đến con dao Dao
là công cụ vạn năng Ngoài việc dùng để chặt cây, phát cành, làm nhà, chẻ nan đan lát , dao còn dùng trong nhiều việc khác và đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của đồng bào Thái ở Quỳ Hợp Nếu có được một con dao tốt, đồng bào Thái có thể tạo dựng một cái nương đầy đủ như ý nghĩa của nó Dao thay rìu đốn cây, chặt mét, chặt nứa, cạo bùi nhùi để làm mồi dễ bén lửa Dao tham gia vào việc dọn sạch nương, chặt cây làm lỗ gieo hạt, chặt cành chặt nứa làm hàng rào, thay thuổng khi cần đào bới, thay liềm gặt hái, thay giáo hoặc mác khi giết thú, vũ khí hộ thân khi bị kẻ gian hoặc dã thú tấn công Công việc này thường là của người đàn ông nên ta thấy đàn ông Thái khi ra khỏi nhà là có con dao đeo bên hông Nói thế không có nghĩa là chỉ đàn ông Thái đeo dao mà đàn bà Thái cũng đeo dao Nên có thể nói, con dao là bạn chí thân của người Thái Quỳ Hợp Dao với người Thái như hình với bóng
* Kinh tế nương rẫy
Nương rẫy là loại hình phổ biến của nhiều cư dân vùng nhiệt đới Loại nương rẫy này có từ thời nguyên thuỷ, khi con người mới biết trồng trọt đầu tiên, tàn dư của nó còn bảo lưu cho đến ngày nay Nương rẫy là một khoảng đất rừng được chặt phá, đốt để trồng trọt theo lối “đao canh hỏa chủng” trong tiếng Việt, hay còn được gọi là hong trong tiếng Mường
- Phân loại giống và cây trồng:
Việc phân loại nương rẫy giúp cho người Thái xác định được giống và các loại cây trồng, có nhiều cách phân loại: phân loại theo địa hình có nương dốc, nương bằng; phân loại theo thời gian có nương một vụ, nương hai vụ; phân loại theo độ phủ xanh của cây có rẫy rừng già, rẫy rừng tái sinh; phân loại theo cây trồng
có nương lúa, nương ngô, nương sắn ; phân loại theo cách canh tác có nương cày, nương dùng dao rìu, nương chọc lỗ Trên nương rẫy, đồng bào đã thực hiện chuyên canh, xen canh khá thuần thục như: nương lúa trồng xen lạc, vừng, bầu bí; nương bông trồng xen dưa
Ở đây, chúng tôi chỉ nói đến lịch làm nương rẫy một vụ (theo âm lịch) của đồng bào Thái ở Quỳ Hợp Thông thường là: tháng 2 phát nương; tháng 3 đốt
Trang 30nương, gieo lúa và ngô nương trồng xen; tháng 4 làm cỏ nương; tháng 5 làm cỏ ngô sớm; tháng 6 làm cỏ lúa, ngô muộn, thu hoạch hoa màu; tháng 7 thu hoạch ngô, khoai; tháng 8 thu hoạch lúa nương Đó là lịch chung như vậy còn lịch sản xuất bây giờ đã thay đổi nhiều [23; 226]
- Giống và các biện pháp kỹ thuật:
+ Giống: Người Thái có truyền thống làm rẫy cách đây hàng ngàn năm Trên
các nương rẫy, đồng bào Thái trồng đan xen các loại cây trồng khác nhau: nương lúa nếp kết hợp trồng xen với vừng, lạc, bầu, bí, kê, ngô
Đồng bào Thái ở Quỳ Hợp gieo trồng trên nương rẫy nhiều giống lúa ngon nổi tiếng Những giống lúa có khả năng chịu hạn tốt, thích hợp với địa hình có độ dốc và thời tiết khí hậu miền núi như ở Nghệ An Ngoài lúa nếp ra thì còn có các loại giống lúa tẻ như: Khầu Chanh, Chắm Háo, Chắm Nọi, Chắm Đạc, Khầu Ngân…
Hiện nay, việc phát rừng đốt rẫy bừa bãi như trước đây rất ít, đồng bào chỉ được gieo trồng trên những mảnh nương rẫy mà chính quyền địa phương cho phép
Do vậy, những giống lúa rẫy cũng được gieo trồng trên các nương bãi, trên những mảnh đất mà không thể biến thành ruộng để gieo cấy lúa nước
+ Kỹ thuật canh tác: Háy nghĩa của dân tộc Thái là một khoảnh đất rừng
được chặt phát, đốt dọn sạch rồi xới đất để trồng trọt Lối canh tác này được đồng bào gọi bằng một thuật ngữ là "đao canh hoả chủng" tức canh tác bằng con dao, bằng đốt lửa rồi trồng Đây vẫn là phương thức canh tác trên nương phổ biến của người Thái ở Quỳ Hợp từ xưa đến nay
Canh tác trên nương rẫy được chia thành các khâu: khoảng tháng 2 - 3 âm lịch, người Thái vào rừng chọn đất, phát rẫy, đợi cho cành khô rồi châm lửa đốt Cành lá cháy để lại một lớp tro dày làm phân bón cho rẫy; tháng 3 - 4 trỉa hạt Kỹ thuật gieo hạt trên nương của người Thái chủ yếu theo lối chọc lỗ rồi tra hạt là chính Những cơn mưa đầu mùa làm cho hạt giống nảy mầm rất nhanh Khoảng một tháng, sau khi cây lúa, ngô, kê lên cao khoảng hai gang tay, người Thái dùng cuốc bướm (còn gọi là cở vạch) làm cỏ, xới đất, vun gốc cho cây Người dân làm nương rẫy thường không phải bón phân gì Năng suất lúa và hoa màu trông cậy vào chất đất, mưa nắng nên người Thái thích làm rẫy mới hơn rẫy cũ Điều đó dẫn đến thu
hẹp dần những cánh rừng rậm rạp
Trang 31Điểm đặc biệt là đồng bào Thái rất coi trọng thời vụ trên nương rẫy, tuân thủ
và chủ động thời gian hơn cả làm ruộng nước Vì nếu đốt nương muộn quá thì sẽ gặp mưa, nếu đốt sớm quá thì cây cỏ sẽ mọc kín cả nương trước khi gieo hạt rồi trông coi, bảo vệ và chờ thu hoạch Nương rẫy cũng được đồng bào làm hàng rào để bảo vệ cây trồng Việc canh tác trên nương rẫy người Thái thường theo một chu kỳ khép kín (6 - 8 năm), trên một vùng lãnh thổ ổn định Mỗi mảnh nương chỉ gieo trồng từ một đến hai vụ sau đó thì bỏ cho rừng tái sinh, chuyển sang canh tác ở mảnh nương khác, tuần tự như thế đến khi hết diện tích gieo trồng mới quay trở lại
Ngoài việc trồng lúa nước và làm rẫy, người Thái ở Quỳ Hợp còn trồng các loại cây hoa màu, lương thực Từ xưa, đất nương bãi, đất chân núi hoặc đất nương rẫy cũ được nhân dân gieo trồng các loại cây hoa màu để phụ thêm vào cây lúa, giúp đồng bào vượt qua những năm hạn hán mất mùa và để chăn nuôi gia súc, gia cầm Đó là các giống: ngô nếp (đươi nếu), ngô tẻ (đươi chăm), ngô nếp tím (đươi kim), ngô đỏ (đươi đìu) ; về khoai sắn thì có các giống: khoai lang tím (mên lang kím), khoai lang trắng (mên lang háo), khoai lang vàng (mên lang lướng), sắn tím (mên có kím), giống sắn trắng (mên có háo) ; về kê thì có các giống: kê nếp (phàng nếu), kê tẻ (phàng chắn) Ngày nay, đồng bào Thái còn du nhập thêm một số giống cây trồng mới như ngô vàng, sản lượng cao Bên cạnh cây hoa màu và lương thực, đồng bào dân tộc Thái ở Quỳ Hợp còn trồng các loại cây thực phẩm, rau đậu như: bí
đỏ (mở ứ), bầu trắng (cở nạch), mướp (mở buộp), mướp đắng (mở hảy), cải thìa, vừng đen, đậu tương, hành, tỏi
Sau này cùng với sự tụ cư của người Việt, các giống cải bắp, xu hào, su su, đậu đen, đậu xanh, xà lách, lạc ngày càng được đồng bào Thái gieo trồng nhiều, làm cho bữa ăn của họ ngày càng phong phú
- Công cụ lao động:
Bên cạnh kinh tế ruộng nước, đối với cư dân Thái ở Quỳ Hợp, kinh tế nương rẫy đóng vai trò rất quan trọng Khi làm nương rẫy, người Thái thường sử dụng các loại công cụ sau:
+ Dao: có 2 loại chính là mở vanh và mở pạ Mở vanh dùng cho đàn ông,
mở pạ dùng cho phụ nữ Đây là loại dao to, sắc và là công cụ không thể thiếu của
Trang 32người Thái do chính thợ Thái tự làm hoặc thợ miền xuôi lên mở lò làm Người Thái dùng dao này để chặt phát cây nhỏ, cây bụi cho chết héo rồi đốt để làm rẫy
Mở vanh là loại dao của đàn ông nên thường to và sắc, được bỏ vào bao dao Bao dao được làm bằng hai miếng nẹp gỗ, có dây đeo và đeo vào bên hông Đàn ông Thái thường dùng dao này để chặt, phát cây nhỏ, cây bụi cho chết héo rồi đốt
để làm rẫy
Mở pạ là loại dao của phụ nữ, thường bỏ vào nẹp tre mét buộc úp vào cái giỏ
“phắc phạ”, thắt sau lưng trong lúc đi làm Đây là nét đặc trưng của người Thái Phụ
nữ Thái dùng mở pạ vừa để phát rẫy, vừa hái rau măng bỏ vào “phắc phạ”
+ Rìu (mở ván): do thợ người Thái tự làm hoặc thợ miền xuôi lên làm Đầu
rìu thường có tra cán để cầm cho chắc chắn, đỡ công sức và có tác dụng nhiều hơn Rìu dùng để chặt ngã cây to, đẵn cành lớn, bổ gốc, dọn dẹp rẫy
+ Chở lẻ: dụng cụ này không có từ Việt tương đương Chở lẻ được làm bằng
dao cùn, chắp vào đầu gậy để chọc lỗ, tra hạt Trước khi tra hạt, người Thái dùng chở lẻ để chọc lỗ Người Thái thường bẻ gậy lắc sang hai bên cho miệng lỗ rộng ra rồi nhấc chở lẻ lên, thả hạt giống xuống, dùng chân khỏa lấp đất lại
+ Cuốc bướm: loại cuốc nhỏ hình tam giác, mua của người miền xuôi Cán
cuốc ngắn, dùng để cuốc xới nương rẫy có độ dốc nhất định Người ta cho rằng, cuốc càng mòn (có khi mòn đến tận vai) càng nhẹ, sắc và dễ làm Người làm có khi ngồi xổm, một tay cầm cuốc để xới, làm cỏ, một tay vơ cỏ, vơ lá
+ Cở vạch: dụng cụ này không có từ trong tiếng Việt tương đương Cở vạch
được làm bằng dao cùn, bẻ cong, tra cán ngắn Công dụng của cở vạch cũng giống như cuốc bướm là làm cỏ, xới đất, vun gốc cho cây
+ Mở hép: dụng cụ này có thể gọi là hái nhỏ, dùng để ngắt từng bông lúa
rẫy Mở hép làm bằng một miếng sắt mỏng, nhỏ chỉ bằng ngón tay, chế tác thành răng chấu như lưỡi hái, lưỡi liềm, gắn vào một miếng gỗ gọt giống hình con chim Nơi mắt chim dui một lỗ để luồn sợi dây buộc hai đầu, vừa để luồn tay vào Người gặt lúa rẫy dùng mở hép để ngắt từng bông lúa
+ Sọt (mở chặt): dụng cụ này hình tròn, đan bằng nứa, có đáy sâu, dùng để
xếp các bó lúa rẫy vào, gánh về nhà Sọt có quai mây hoặc song, có lạt luồn xuống tận đáy cho chắc chắn, đan khít, hạn chế lúa rơi vãi, có thể hai người khiêng hay
Trang 33một người gánh hai sọt hai đầu, nặng nhẹ tùy vào sức người gánh, đòn gánh sọt bằng tre
+ Gùi, địu (mở pế): là dụng cụ dùng để thu hoạch các sản phẩm ở nương rẫy
như: lúa, bầu, bí, ngô, kê Gùi, địu hình tròn hoặc hình bầu dục, đan bằng nứa dày, khít xung quanh, đáy sâu, to cỡ người ôm, có quai mây quấn vải mềm để đặt lên trên trán Người ta mang gùi, địu sau lưng khi đi trên đường hẹp, đường gập ghềnh, khi phải chui luồn Người Thái ở các bản vùng sâu, vùng xa của Quỳ Hợp hay dùng gùi, địu hơn người Thái ở vùng bằng phẳng, địa hình mang vác không cần thiết phải dùng đến gùi, địu
* Nghề chăn nuôi
Đồng bào dân tộc Thái ở phủ Quỳ Châu cũ nói chung, huyện Quỳ Hợp ngày nay nói riêng có truyền thống chăn nuôi gia súc, gia cầm Vào bản Thái nào ở Quỳ Hợp, dù bản đó thuộc Tày Chiềng hay Tày Thanh ta đều thấy gia đình nào cũng chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt, chó, dê Đương nhiên, có gia đình chăn nuôi đủ các loại gia súc gia cầm nói trên với số lượng lớn, có gia đình chỉ chăn nuôi một số loại với số lượng không đáng kể
Phương thức chăn nuôi trước đây của đồng bào thể hiện tính chất nửa chăm sóc, nửa tự nhiên Đàn gà vịt hầu như chỉ gặp chủ buổi sáng và buổi chiều, khi chúng ra khỏi chuồng đi ăn và khi về chuồng đi ngủ Đồng bào Thái ở Quỳ Hợp đã thuần chủng được những giống gà, vịt cho chất lượng thịt rất ngon, thường gọi là vịt bầu, điển hình như ở các xã: Châu Hồng, Bắc Sơn, Liên Hợp
Đàn lợn cũng thường tiếp xúc với chủ một hoặc hai lần một ngày, rồi chúng vào rừng, ra suối, lên nương để tự kiếm sống Những con lợn hay phá hoại cây trồng thường bị người ta “đeo gông” Lợn cái đến thời kỳ sinh con thường vào rừng
tự làm ổ Mỗi lần như thế chủ phải lần theo dấu vết để tìm mẹ và đàn lợn con về nhà nuôi [23; 234]
Nuôi trâu bò của đồng bào Thái ở Quỳ Hợp cũng theo lối thả rông Quỳ Hợp
có khá nhiều đồng cỏ, nhất là các xã Châu Quang, Châu Lý, Châu Thái, Châu Sơn
Để nhận ra trâu bò của mình, người Thái thường đeo vào cổ của chúng cái mỏ kêu lốc cốc, để khi nào chúng đi sâu vào rừng hay lạc đường về, chủ dễ tìm Vì được thả vào những đồng cỏ nên trâu bò sinh trưởng một cách rất tự nhiên, gần như là hoang
Trang 34dã Nhiều gia đình chẳng biết đàn trâu bò của mình có bao nhiêu con Trâu bò không những dùng để cày kéo, mổ thịt khi có lễ, đám đình mà còn để kéo gỗ Nghề khai thác gỗ ở Quỳ Hợp là một nghề rất quan trọng nên đàn ông Thái rất thành thạo, khai thác gỗ trong rừng để kiếm sống Con trâu được dùng để kéo gỗ hoặc chuyển tải các lâm sản khác như: mét, nứa, luồng lại càng quan trọng Do vậy, không phải chỉ miền xuôi đối với nhà nông “con trâu là đầu cơ nghiệp” mà đối với nhiều gia đình người Thái ở Quỳ Hợp, con trâu cũng là đầu cơ nghiệp
Có thể nói, phương pháp chăn nuôi nửa chăm sóc nửa hoang dã chỉ có thể thích hợp với một thời kỳ nhất định, trong đó thiên nhiên còn rộng rãi, dân cư thưa thớt, đất trồng còn hẹp Giờ đây, mỗi gia đình chỉ nuôi một vài con trâu, bò Họ vẫn thả rông ra bãi, vào rừng, vào thung lũng và thay phiên nhau mỗi nhà một người trông coi trâu bò Bên cạnh đó, nhiều gia đình đã nuôi trâu bò theo kiểu “cầm chạc mũi” và có lúc phải cắt cả cỏ về cho trâu bò ăn hoặc dự trữ rơm rạ, cỏ khô cho trâu
bò ăn vào thời gian thiếu cỏ
Trước đây đồng bào Thái ở Quỳ Hợp nuôi gia súc, gia cầm thường làm chuồng dưới sàn nhà, mùi hôi thối xông lên nhà, mất vệ sinh, nay bà con đã làm chuồng trại để chăn nuôi trong khuôn viên nhà ở của mình Chính cách chăn nuôi gia súc, gia cầm của người Việt ở miền xuôi lên cư trú ở Quỳ Hợp đã ảnh hưởng đến cách chăn nuôi của người Thái, ảnh hưởng cả cách dùng phân chuồng để bón ruộng
Bên cạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm, hiện nay đồng bào Thái ở Quỳ Hợp còn theo người Việt chăn nuôi cá nhằm tận dụng đất đai, địa hình để làm ao, đào ao thả
cá, nuôi cá có hiệu quả Đồng bào cũng cắt cỏ, lá chuối, lá sắn hoặc vãi tấm cho
cá ăn Ao cá rộng hẹp, hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật là tùy theo địa hình, diện tích Đồng bào thường nuôi các loại cá trắm, cá rô phi, cá chép Việc chăn nuôi cá đã đem lại cho đồng bào Thái Quỳ Hợp một nguồn thực phẩm đáng kể để cải thiện chất lượng bữa ăn, phát triển kinh tế gia đình Có thể nói, tuy chăn nuôi cá mới được đồng bào Thái ở Quỳ Hợp áp dụng nhưng đã nhanh chóng trở thành một loại hình chăn nuôi nhiều người ưa thích
2.1.2 Các nghề thủ công truyền thống
Về cơ bản, sự ra đời của các nghề thủ công là do yêu cầu bức thiết của cuộc sống Đồng bào Thái lúc bấy giờ chỉ xem nghề thủ công là nghề phụ Những lúc
Trang 35nông nhàn, họ tranh thủ làm thêm các nghề thủ công để phục vụ nhu cầu cuộc sống gia đình
Sống trong nền kinh tế tự cung tự cấp, các gia đình người Thái ở huyện Quỳ Hợp đều biết làm một nghề thủ công Hầu hết đàn ông trong các gia đình người Thái đều biết làm nhà, đan lát, làm đồ dùng cho nghề lúa nước, xẻ gỗ Một số biết làm đồ gốm, rèn sắt, làm đồ trang sức, làm nỏ, súng kíp Phụ nữ biết dệt vải, dệt thổ cẩm
Nhìn chung, các nghề thủ công nghiệp của đồng bào Thái chủ yếu bó hẹp trong phạm vi gia đình và chưa tách khỏi nông nghiệp Đây cũng là tình trạng chung của các làng nghề thủ công trong khu vực, đúng như Bùi Dương Lịch đã nhận xét: Những hàng ấy cũng chỉ đủ dùng trong dân gian mà người làm nghề cũng chỉ đủ ăn
mà thôi
* Nghề dệt:
Người phụ nữ Thái ở Nghệ An nổi tiếng về dệt vải, dệt thổ cẩm và thêu thùa với mục đích giải quyết nhu cầu mặc cho bản thân, cho chồng con và những người thân trong gia đình là chính Đồng bào Thái thường dệt vải để may quần áo và thêu các loại như: váy, áo, đệm, chăn, rèm che, các loại khăn (piêu, tải, pang) Trong nghề dệt thì dệt thổ cẩm là đáng lưu ý hơn cả
Nghề dệt thổ cẩm của người Thái ở Quỳ Hợp xuất hiện khá sớm, đó là nghề của phụ nữ, lúc còn nhỏ tuổi họ quan sát mẹ làm, đồng thời cũng học nghề từ đó Khi lớn lên, đến tuổi lấy chồng, họ đã biết dệt thành thạo và tự chuẩn bị cho mình những đồ dùng cần thiết cho việc về nhà chồng Khi đã có chồng, có con, chị em lại càng phải dệt nhiều loại thổ cẩm, dệt cho chồng con và những người thân trong gia đình và cả dùng để trao đổi Sản phẩm thổ cẩm Thái ở Quỳ Hợp có khi chỉ là vải màu, vải các màu xen kẽ, vải dệt hoặc thêu các hình cây con, hoa lá, hình kỷ hà, các họa tiết trang trí với các mô típ khác nhau
Vật liệu dệt thổ cẩm gồm sợi bông, các loại lá cây, thân cây, rễ cây để nhuộm màu Cụ thể như: muốn có màu xanh đen thì phải dùng lá cây “cỏ hỏm”, màu xanh nhạt thì dùng lá “cây chàm”, màu xanh đậm thì hái lá cây “cỏ mực”, màu vàng tươi thì rễ cây “cỏ hẻm”, màu đỏ tươi thì dùng thân cây “cỏ pháng”, màu đỏ đậm thì dùng cánh kiến (khì chẳng) Dụng cụ dùng để dệt là cái khung cửi Để dệt được một
Trang 36tấm thổ cẩm không phải dễ mà đòi hỏi phải qua một vòng kỹ thuật liên hoàn từ khâu trồng bông, hái bông, cán bông, cung bông, lăn bông, sau đó kéo bông thành sợi, rồi nhuộm sợi bông thành các màu, guồng vào ống mét, vào con suốt, đem chăng sợi rồi mới đưa lên khung cửi
Nghề dệt thổ cẩm Thái là nghề cổ truyền, nó có tính chất gia truyền, chị em Thái rất hãnh diện khi đã dệt được nhiều tấm thổ cẩm Cả nhóm Tày Chiềng và Tày Thanh đều biết dệt thổ cẩm, nhóm Tày Chiềng chuộng các màu đỏ, trắng, vàng còn nhóm Tày Thanh chuộng màu đen Dù là sản phẩm của nhóm nào thì thổ cẩm Thái ở Quỳ Hợp cũng khác Thái Tây Bắc, đó là màu sắc sặc sỡ hơn nhiều Tựu chung lại thổ cảm Thái ở Quỳ Hợp thường có các họa tiết trang trí với các mô típ như sau:
Mô típ cây có thân thẳng, lá cũng thẳng, mọc đôi hoặc mọc cách, thường bố trí xen kẽ giữa các con vật
Mô típ con: thường là con rồng, con cá sấu, con voi, con mèo, con công
Mô típ hoa: hoa hồng, hoa mặt trời (hướng dương), hoa ban
Mô típ trăng, sao, mặt trời: hình mặt trời có 12 cánh (màu trắng) tượng trưng cho sự tỏa sáng, hình mặt trăng chỉ vàng ở giữa thêu chỉ đỏ, xung quanh là những vì sao 8 cánh, 6 cánh, 4 cánh
Họa tiết đường diềm: thường là hình chân nhái, hình thoi, hình vuông
Người Thái dệt thổ cẩm để dùng trong gia đình là chính, song cũng để đem trao đổi với những dân tộc khác như người Mông, người Thổ Trong những năm gần đây, người Thái ở Quỳ Hợp có xu hướng mặc quần áo theo kiểu người Kinh, người miền xuôi Từ trẻ con, thanh niên, trung niên và nhiều ông bà già ngày nay cũng rất ít khi mặc quần áo, váy của dân tộc mình trong những ngày thường, chủ yếu là mặc trong những ngày tết, ngày lễ là chính Vì vậy, nghề dệt thổ cẩm, thêu thùa của phụ nữ Thái ở Quỳ Hợp chỉ còn duy trì ở một số gia đình, một số phụ nữ lớn tuổi, còn đa phần lớp con gái, những người trẻ tuổi không học nghề dệt, thậm chí không quan tâm đến công việc này Do vậy, trong nhiều gia đình người Thái hiện nay không còn khung dệt vải, dệt thổ cẩm
* Nghề đan lát:
Đan lát bằng vật liệu tre, mét, nứa, giang, mây, song
Trang 37Đàn ông Thái ở Quỳ Hợp có nhiều người thành thạo nghề đan lát Những vật liệu mà đồng bào Thái dùng để đan lát thường là bằng tre, mét, nứa, giang, mây, song Họ thường đan mở cuối, mở chặt để gánh lúa; thúng để đựng lúa; nong, nia để phơi lúa; rổ, rá để đựng những thứ lặt vặt trong gia đình; ép đựng xôi; mươn ăn cơm; phên, liếp để thưng quanh nhà, ngăn nhà thành các buồng; đan ghế mây để ngồi; đan gùi đeo sau lưng, đan rế đặt nồi, đan giỏ đựng cá, đan thùng hổ, láng xay,
láng xòn để bắt cá Những đồ đan lát của người Thái rất đẹp, tinh tế và có giá trị
nghệ thuật cao
Đan bện bằng vật liệu pó, nhạp, gai:
Nhạp, pó là những loại cây trong rừng , vỏ có chất sợi tương đối bền Người ta
chặt cây nhạp, pó về, bóc vỏ, tước lấy sợi, phơi khô, bện làm giây thừng, dây buộc
Gai là một giống cây nhỏ, có ươm trồng ngoài nương bãi Tháng 7, 8 thu hoạch, chặt cây về, tước lấy vở, lấy sợi Sợi gai màu trắng, bền hơn sợi cây nhạp, cây pó Người Thái ở Quỳ Hợp dùng gai để đanvó, vợt, te, lưới bắt cá, thậm chí cả lưới đi săn Từ khâu tước gai, cạo vỏ lấy sợi, đến khi xe thành sợi, có thề dùng để đan, gồm nhiều khâu Tương ứng với tùng khâu, có từng loại công cụ: pẳn pan dùng
để xe sợi gai; pía pản dùng để quấn sợi gai
Ngoài hai nghề nói trên, một số đàn ông Thái ở Quỳ hợp còn biết làm đồ gỗ, một số biết làm nghề thợ rèn Đồng bào cần rèn dao, rìu, cuốc, xuổng, liềm Khi sắp bắt tay vào mùa nương raayxthif những công cụ trên càng cần nhiều hơn, sắc hơn, nếu không rèn thêm thì cũng phải sửa chữa lại
Nhìn chung, bức tranh kinh tế truyền thống của người Thái ở huyện Quỳ Hợp khá phong phú Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh
tế hàng hóa đã góp phần phá vỡ thế khép kín của nền kinh tế, sử dụng tiềm năng sản vật của địa phương để trao đổi, phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân Với sự định hướng, hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, kinh tế người Thái Quỳ Hợp hiện nay đã có nhiều thay đổi tiến bộ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng
2.1.3 Các nghề kinh tế khác
* Khai thác lâm sản
Rừng ở Quỳ Hợp trước đây là một ngành kinh tế tiềm năng Hiện nay, diện tích đất lâm nghiệp của Quỳ Hợp tương đối lớn, lại có đầy đủ đặc điểm của thảm
Trang 38rừng Nghệ An, như là: phong phú về các loại cây thân gỗ, thân thảo; nhiều loại động vật quý hiếm voi, hổ, báo, gấu, bò tót, hươu, nai, mang, hoảng và rất nhiều loài chim
Trong khai thác lâm sản trước đây của đồng bào dân tộc Thái ở Quỳ Hợp thường là khai thác gỗ, thu nhặt, hái lượm Thông thường, đồng bào Thái hay khai thác gỗ, mét, nứa, mây, giang, lá cỏ để làm nhà cửa hoặc bán tại chỗ cho người Kinh, đóng bè vận chuyển về xuôi bán Người Thái còn lấy từ rừng đủ các loại rau, măng nứa, măng giang, đọt hèo, nấm, mộc nhĩ để ăn Chính vì rừng có vai trò như một “vườn thiên nhiên” nên cư dân Thái trước đây không có tập quán làm vườn rau phục vụ cho bữa ăn Rừng cung cấp một nguồn thực phẩm khá lớn Đồng bào Thái thường đi săn bắn, bẫy các loại chim, thú từ nhỏ đến lớn để làm thực phẩm, quy mô săn bắn, bẫy có thể là cá nhân hoặc cả bản Tuy nhiên, trước đây việc khai thác các loại lâm sản trên chỉ có mức độ vì dân số ít, có luật tục bản mường nên người ta chỉ chặt cây to, không phá cây con, chỉ giết con to không giết con nhỏ; chỉ bắt chim không phá tổ chim Điều này đã làm cho rừng luôn cân bằng sinh thái Những năm gần đây, cùng với sự gia tăng dân số, việc khai thác lâm sản vượt quá mức cho phép kiểm soát đã làm cho nguồn lâm sản của Quỳ Hợp bị cạn kiệt dần
- Săn bắn, bẫy chim thú: Săn bắn có hai loại hình là săn tập thể và săn cá nhân
+ Săn tập thể: là săn thú đông người Đây là phương thức tồn tại của cư dân
Thái mang dấu vết cổ xưa còn lưu truyền đến những năm 1960 Cả bản đi săn thú,
có khi hai bản Ví dụ như: bản Chiêng Đôn và bản Mọng; bản Nhanh và Pả Mẹt ở
xã Châu Quang hợp thành một phường săn Phường săn thường có chủ phường săn đứng đầu gọi là Chẩu Đằm (thường là Tộc trưởng), làm nhiệm vụ tổ chức, cúng tế con vật trước tổ tiên, bàn thờ Phường săn có sự phân công như sau:một đội quân đàn ông khỏe mạnh làm nhiệm vụ gánh lưới, căng lưới, giết thú; còn lại đa số là đàn
bà, trẻ em, người có tuổi đi phía sau để xua thú vào lưới Thú săn được đem về làm thịt, cúng tế, nấu ăn chung Sau khi đã có phần cho Chẩu Đằm và người đầu tiên giết được con thú Họ nấu hai món chính: thịt luộc và cháo xương (thái đọt chuối rừng, cho nước vèo vào; hoặc cho một thứ lá rừng chua như chơ hấu xồm, xồm pỏi
để làm món “cháo chua”) Bộ lưới săn thú (mở nảng) là do đồng bào bện bằng vỏ
Trang 39cây gai, sợi to bằng ngón tay, đan mắt bốn Vũ khí săn có giáo dài và chĩa ba vó móc câu để đâm xuyên qua con thú, ghì con thú xuống đất Đối tượng săn là hổ, lợn, hươu, nai [23; 228 - 229] Từ những năm 1970, phương thúc săn thú đông người bị mất dần, thú to ngày càng hiếm, nhường chỗ cho lối săn một người hoặc vài người riêng lẻ
+ Săn cá nhân: là hình thức săn thú chỉ có một người hoặc vài người, có săn
gián tiếp và săn trực tiếp Người săn thú trực tiếp phải thạo dùng súng kíp tự tạo và
có chó săn hỗ trợ Họ thường đi săn ban ngày hoặc ban đêm, nhờ chó phát hiện dấu vết con thú, rình bắn và chó rượt đuổi đến nơi con thú gục chết Con thú to thì phải hai người cùng bắn và rượt đuổi có khi phải hai ngày Trước đây, bất kì bản nào ở Quỳ Hợp cũng có những thợ săn thiện xạ, cụ thể như: xã Châu Quang, bản Chiềng Đôn có ông Lang Văn Thầm; bản Ảng có ông Lương Văn Đại
+ Bẫy chim thú (hẹo, hảo) – bẫy thú là săn gián tiếp: có nhiều loại bẫy, có
loại bẫy chim, có loại bẫy thú Người Thái ở Quỳ Hợp thường có các loại bẫy như sau:
+ Bẫy thắt (hẹo hặt): Loại bẫy này có thể làm to, nhỏ tùy thuộc vào để bẫy
con chim, con thú to hay nhỏ Chủ yếu có các bộ phận: cần giật làm bằng cây tre nhỏ hoặc ngọn cây, dây gai to hoặc nhỏ để thắt chặt cổ hoặc chân con thú, com chim Dây gai này cột với cần giật, một đầu dây cột vào một cái lẫy và cài thật kéo léo để thú, chim động chạm vào cái lẫy làm giật bẫy Phần còn lại của dây gai là một thòng lọng Khi bẫy giật thì thòng lọng buộc vào cổ, vào chân con thú, con chim vút lên cao Con vật càng giẫy giụa, càng bị thít chặt Bẫy thắt có thể bố trí dưới đất, dọc lối đi của thú hoặc trên cây, nơi chim có thể đến ăn quả và bị mắc vào bẫy
+ Bẫy sập (mở lập): Bẫy sập dùng để bẫy thú to hoặc vừa Vật đè là khúc gỗ
hoặc tảng đá Người Thái dùng cây chống vật đè lên dọc lối thú đi và gài bẫy thật khéo sao cho thú chạm vào bẫy là sập Một loại khác người Thái phải đào hố rộng
và sâu, lát cây và phủ thật kín cho con thú không nhận ra, để con thú đi qua và bị sập bẫy Bẫy sập có thể nguy hiểm cho cả người, nên đồng bào chỉ làm ở những nơi
ít người đi tới hoặc trước lối đặt bẫy, phải bằng cách gì đó đánh dấu thông báo trên cây cho mọi người biết để tránh
Trang 40+ Bẫy lao (mở hảo, láng hảo): Loại bẫy này làm bằng cây tre, mét hoặc cành
cây, uốn cong lên thật căng, một đầu bố trí cái lẫy làm sao cho khi con thú đi ngang qua làm bẫy sập, cánh cung bật làm bắn một dàn mũi tên vào con thú Bẫy này cũng nguy hiểm cho người nên cũng được bố trí ở những nơi cách xa, ít người qua lại
Cùng với sự thu hẹp dần của rừng, chim thú hiếm dần, các loại bẫy chim, thú nói trên cũng mất dần đi
* Hái lượm:
Ngoài việc làm lúa nước và làm nương rẫy thì đối với đồng bào Thái ở Quỳ Hợp, hái lượm cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày, dù nó không phải là một ngành kinh tế chủ đạo như ở thời kỳ nguyên thủy Ở huyện Quỳ Hợp trước đây rừng bao la, có nhiều loại như: củ mài, củ nâu, cây khầu, cây khủa, cây
cọ, vỏ cây, lộc, búp non, hoa, quả, các loại nấm, măng, mộc nhĩ, rau cỏ, mật ong, các loại cây làm thuốc , mùa nào thứ ấy Đây cũng là nguồn để chế biến các món
ăn ngon, có sẵn trong thiên nhiên, dễ kiếm Công việc hái lượm thường là của đàn
bà và trẻ nhỏ Dụng cụ dùng để hái lượm rất đơn giản, gồm một chiếc gậy dài có móc để chọc, khều hoa lá trên cao, dao để chặt, cái thuổng nhỏ để đào xới, cái gùi
để đựng Sinh hoạt hái lượm đã trở thành tập quán cổ truyền của phụ nữ và trẻ em người Thái Hiện nay, những thứ lấy từ thiên nhiên như thế cũng trở thành những món hàng trao đổi trên thị trường Đồng bào đã biết trồng những thứ thiết yếu trong khuôn viên nhà mình, đó là những bước chuyển biến từ hình thức hái lượm sang hình thức trồng trọt của người Thái
* Đánh bắt thủy sản
Bên cạnh hái lượm, công việc đánh cá ở các sông suối cũng được cư dân Thái ở huyện Quỳ Hợp tiến hành thường xuyên Đánh cá là một trong những nghề xuất hiện từ buổi bình minh của xã hội loài người tồn tại cho đến ngày nay Các sông suối tại Quỳ Hợp có nhiều loại cá Ngon nhất là cá chép, cá trôi, cá mát, cá rầm rồi đến cá lấu, cá măng, tôm, cua, ốc Người Thái đánh bắt cá dưới hai hình thức là cá nhân và tập thể Cá nhân đánh bắt thường là mò, lặn, đắp bờ vùng và dùng hai tay bắt Các loại công cụ sử dụng như vó, nơm, chài, lưới, câu, bẫy sập, gậy chọc, đăng Đánh bắt cá như trên thường do nam giới đảm nhiệm, tuy nhiên phụ nữ cũng có thể tham gia