Nguyễn Tuấn Anh - Trưởng phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học nghiệp, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật cơ sở hạ tầng
Trang 1Sau quá trình thực hiện, dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Lê Xuân Quang -
Phó viện trưởng - Viện nước, Tưới tiêu và Môi trường - Viện Khoa học Thủy lợi Việt
Nam và PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh - Trưởng phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học
nghiệp, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Kỹ thuật cơ sở hạ tầng với đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải
pháp thu trữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho vùng Trung Du, Miền núi
phía Bắc”
Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã có cơ hội học hỏi và tích lũy thêm
được nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc của mình
Tuy nhiên, do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và công tác xử
lý số liệu với khối lượng lớn nên những thiếu sót của Luận văn là không thể tránh
khỏi Do đó, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô
giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và đồng nghiệp
Qua đây tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Lê Xuân
Quang và PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và
cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành luận văn này
giáo Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, các thầy cô giáo các bộ môn đã truyền đạt
những kiến thức chuyên môn trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin cảm ơn Viện Nước- Tưới tiêu và Môi trường, cảm ơn Ths
Nguyễn Thị Kim Dung - Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các
giải pháp công nghệ về cơ sở hạ tầng (thủy lợi và cấp nước sinh hoạt) phục vụ xây
dựng nông thôn mới vùng trung du, miền núi phía Bắc” đã cho tác giả sử dụng số
liệu của đề tài làm luận văn
Xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 2 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Văn Thuyết
Mang l ■ i tr ■ nghi ■ m m ■ i m ■ cho ng ■■ i dùng, công ngh ■ hi ■ n th ■ hi ■ ■■ ■ n online không khác gì so v ■ i b ■ n g ■ c B ■ n có th ■ phóng to, thu nh ■ tùy ý.
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Hà Nội, ngày 21 tháng 2 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Văn Thuyết
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 3MỞ ĐẦU 1
I.TÍNHCẤPTHIẾTCỦAĐỀTÀI 1
II.MỤCĐÍCHVÀPHẠMVINGHIÊNCỨU 2
III.CÁCHTIẾPCẬNVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 2
IV.KẾTQUẢDỰKIẾNĐẠTĐƯỢC 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THU TRỮ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 3
1.1 tổng quan tình hình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thu trữ nước trên thế giới 3
1.1.1 Sự phát triển của các biện pháp kỹ thuật thu trữ nước tại các khu vực trên thế giới 5
1.1.2 Xu hướng phát triển thu trữ nước phục vụ canh tác trong tương lai 9
1.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thu trữ nước trong nước 11
1.2.1 Nghiên cứu về thu trữ nước vùng đồi 11
1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ thu trữ nước vào thực tiễn 13
1.3 Tổng quan của vùng nghiên cứu 17
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 17
1.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội 32
1.3.3 Hiện trạng kinh tế - xã hội 37
1.4 Nhận xét 40
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THU TRỮ NƯỚC PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TDMNPB 42
2.1Khái niệm và phân loại thu trữ nước 42
2.2.Các giải pháp công nghệ thu trữ nước 46
2.2.1 Thu trữ nước không có công trình trữ 46
2.2.2 Thu trữ nước có công trình trữ 56
2.3 Phương pháp tính toán thiết kế hệ thống công trình thu trữ nước 60
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 42.3.2 Lựa chọn hình thức thu trữ 63
2.3.3 Lựa chọn loại bể trữ 66
2.3.4 Tính toán hệ thống thu trữ nước không có công trình trữ, lưu vực hứng nước ngoài diện tích canh tác 68
2.4 Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn hình thức thu trữ nước và thiết kế công trình thu trữ nước 82
2.4.1 Mưa 82
2.4.2 Nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, gió 82
2.4.3 Nguồn nước 82
2.4.4 Địa hình 83
2.4.5 Đất đai thổ nhưỡng 83
2.4.6 Loại cây trồng và biện pháp canh tác 83
2.4.7 Hiệu ích kinh tế 84
CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THU, TRỮ NƯỚC PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHO VÙNG TDMNPB 85
3.1 Nghiên cứu xác định các chỉ tiêu thiết kế công trình thu trữ nước 85
3.1 1 Tính toán lượng mưa thiết kế 85
3.1.2 Tính toán quy mô của hệ thống thu trữ nước 92
3.2 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thu, trữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho vùng TDMNPB 93
3.2.1 Lựa chọn công nghệ tưới cho cây trồng 93
3.2.2 Giải pháp quy hoạch hệ thống thu trữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp 96
3.3 Nhận xét 108
CHƯƠNG 4 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH THU TRỮ NƯỚC CẤP NƯỚC TƯỚI CHO 1 HA CAM TẠI HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH 110
4.1.Điều kiện tự nhiên và KTXH khu vực xây dựng mô hình: 110
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 110
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 54.1.3.Tình hình canh tác nông nghiệp và vấn đề nước tưới 111
4.2 Thiết kế mô hình trình diễn 112
4.2.1 Các thông số sử dụng trong thiết kế 112
4.2.2 Tính toán nhu cầu tưới bổ sung 115
4.2.3 Tính toán quy mô của hệ thống thu trữ nước 116
4.3 Đánh giá hiệu quả mô hình 117
4.4 Đánh giá khả năng nhân rộng của mô hình 121
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 127
KẾTLUẬN 127
KIẾNNGHỊ 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 6Bảng 1.1 Các sông chính chảy qua vùng TDMNPB 28
Bảng 1.2 Đặc trưng dòng chảy năm trung bình nhiều nămvùng TDMNPB 30
Bảng 1.3 Thống kê các đơn vị hành chính vùng TDMNPB 33
Bảng 1.4 Dân số và mật độ dân số các tỉnh TDMNPB 33
Bảng 1.5 Lực lượng lao động vùng TDMNPB 34
Bảng 1.6 Hiện trạng số trường phổ thông vùng TDMNPB 36
Bảng 1.7 Hiện trạng cơ sở y tế vùng TDMNPB 37
Bảng 1.8 Hiện trạng sử dụng đất vùng TDMNPB 38
Bảng 2.1: Kích thước lưu vực tương ứng với độ dốc 47
Bảng 2.2: Xác định kích thước vùng thấm 47
Bảng 2.3 Các thông số thiết kế bờ bán nguyệt 51
Bảng 2.4: Kích thước của mương sườn đồi 52
Bảng 2.5: Quan hệ giữa khoảng cách giữa các mương sườn đồi và độ dốc mặt đất 52 Bảng 2.6: Các thông số thiết kế bể gạch xây 58
Bảng 2.7: Chế độ tưới của một số loại cây trồng cạn 61
Bảng 2.8: So sánh hai hình thức thu trữ nước có và không có công trình trữ 65
Bảng 3.1: Lượng mưa ứng với tần suất P=75% 87
Bảng 3.2: Bốc hơi ETo các trạm trong vùng nghiên cứu 88
Bảng 3.3: Bốc hơi ETo các trạ m trong vùng nghiên cứu (tiếp) 89
Bảng 3.4: Tính toán dung tích trữ đã xét đến bốc hơi 90
Bảng 3.5: Diện tích hứng nước (f) cho 1 m3 nước trữ theo các bề mặt hứng nước khác nhau 90
Bảng 3.6: Hệ số dòng chảy C theo các loại bề mặt khác nhau 93
Bảng 3.7: Kích thước của rãnh thu nước 105
Bảng 3.8: Quan hệ giữa khoảng cách giữa các rãnh thu nước và độ dốc mặt đất 105
Bảng 4.1: Các chỉ tiêu tính chất cơ lý đất khu vực mô hình 111
Bảng 4.2 : Các yếu tố khí tượng tại Cao Phong – Hoà Bình 113
Bảng 4.3: Kết quả tính toán lượng mưa thiết kế 114
Bảng 4.4: Kết quả tính toán nhu cầu tưới của cây cam 115
Bảng 4.5: Chi phí xây dựng hệ thống thu trữ nước (quy mô 1 ha) 119
Bảng 4.6: Năng suất cây cam trong một chu kỳ phát triển 119
Bảng 4.7: Tính toán hiệu quả kinh tế khu mô hình Cao Phong – Hoà Bình 120
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 7Hình 1.1: Thu trữ nước cho mô hình xen canh nông lâm nghiệp tại Israel 5
Hình 1.2: Hệ thống thu trữ nước lưu vực nhỏ tại Burkina Faso 5
Hình 1.3: Hệ thống thu trữ nước lưu vực lớn tại Mali 8
Hình 1.4: Thu trữ nước bằng luống với lưu vực đã được xử lý tại Mexico 9
Hình 1.5: Kết cấu cơ bản bể xi măng vỏ mỏng 13
Hình 1.6: Hồ chứa nước Sính Lủng (trái);Lùng Thàng xã Hố Quáng Phìn (phải) Đồng Văn - Hà Giang 13
Hình 1.7: Mô hình thí điểm áp dụng công nghệ trữ nước bằng bồn chứa nhựa dẻo do công ty Labaronne CITAF, CH Pháp sản xuất tại Phố Ngọc, xã Trung Minh, TP Hòa Bình 17
Hình 1.8: Bản đồ các tiểu vùng sinh thái vùng TDMNPB 18
Hình 2.1: Sơ đồ phân loại kỹ thuật thu trữ nước sử dụng cho canh tác nông nghiệp 45 Hình 2.2: Sơ đồ hệ thống tiểu lưu vực Negarim 46
Hình 2.3: Bờ đồng mức trồng cây dài ngày 48
Hình 2.4: Kích thước mặt bằng một lưu vực kẹp giữa 2 bờ đồng mức 49
Hình 2.5: Kích thước mặt cắt ngang một bờ đồng mức 49
Hình 2.6: Một số mặt cắt bờ bán nguyệt 50
Hình 2.7 Sơ đồ bố trí mặt bằng mương sườn đồi 51
Hình 2.8: Kích thước và cấu tạo bờ hình thang 53
Hình 2.9: Sơ đồ bờ đồng mức bằng đá 54
Hình 2.10: Phối cảnh đập đá thấm 55
Hình 2.11: Hệ thống hướng dòng bằng các đập phân nước tại Pakistan 56
Hình 2.12: Bể trữ nước bằng gạch xây ở Srilanca 57
Hình 2.13.Ao trữ nước được gia cố bằng đất sét ở Dawro 59
Hình 2.14: Ao trữ nước lót HDPE tại Alamata – Ethiopia 59
Hình 2.15: Lưu vực thu nước bằng HDPE 60
Hình 2.16: Mô hình mô phỏng thu trữ dòng nước mặt 68
Hình 2.17: Quan hệ giữa tốc độ thấm và khả năng tạo dòng chảy mặt của lưu vực với lượng mưa cố định R 70
Hình 2.18: Sơ đồ biểu diễn lượng thấm và khả năng hình thành dòng chảy cho 2 trận mưa có cùng lượng nước 71
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 8tích nhỏ hơn 1ha tại 2 thời điểm 72
Hình 2.20: Sơ đồ hệ thống thu trữ nước tưới bổ sung cho cây trồng 76
Nguyên tắc tính toán 76
Hình 2.21: Quan hệ giữa hệ số dòng chảy với kích thước lưu vực (FAO) 78
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí hệ thống thu trữ nước kết hợp chống xói mòn kiểu rãnh đơn 97
Hình 3.2: Sơ đồ bố trí hệ thống thu trữ nước kết hợp chống xói mòn kiểu đa rãnh 98 Hình 3.3: Sơ đồ cắt dọc hệ thống thu trữ nước 98
Hình 3.4: Sơ đồ nguyên lý thu trữ nước của hệ thống 99
Hình 3.5 Kết cấu cơ bản bể gạch xây 101
Hình 3.6: Kết cấu cơ bản bể HDPE 102
Hình 3.7: Kết cấu cơ bản bể xi măng đất 103
Hình 3.9: Cắt ngang rãnh thu nước 105
Hình 3.10: Kết cấu cơ bản bể lọc 106
Hình 3.11 : Ống lọc và đầu ống nối tiếp 107
Hình 3.12: Kết cấu và kích thước trụ vòi 108
Hình 4.1: Đường tần suất lượng mưa năm tại Cao Phong – Hoà Bình 114
Hình 4.2: So sánh cây cam 1 năm tuổi trong và ngoài khu mô hình 118
Hình4.3: Quy hoạch hệ thống thu trữ nước quy mô trang trại 123
Hình 4.4 : Phân vùng tưới của các bể trữ nước 124
Hình 4.5: Quy hoạch tổng thể hệ thống thu trữ nước khu trồng cam Đội Thu Phong, Nông trường Cao Phong 125
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 9MỞ ĐẦU I.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
trên đất dốc với thế mạnh là các loại cây trồng cạn (cây ăn quả, cây công nghiệp,
đồng cỏ chăn nuôi) Địa hình bị chia cắt, ruộng nương thường có quy mô nhỏ, phân
tán, xa nguồn nước Lượng mưa và nguồn nước tuy phong phú nhưng phân bố
không đều theo không gian và thời gian, thường phát sinh xói mòn, bạc màu đất do
mưa lớn trong mùa mưa và thiếu nước tưới trong mùa khô, là những yếu tố hạn chế
đối với sản xuất nông nghiệp trên đất dốc
Nhiều năm qua nhà nước và nhân dân đã xây dựng nhiều công trình thủy lợi
bằng các giải pháp truyền thống như: Hồ chứa nước, đập dâng, trạm bơm để phát
triển sản xuất, ổn định và nâng cao đời sống của người dân, góp phần xói đói giảm
nghèo Đến nay các công trình có điều kiện thuận lợi đã được khai thác triệt để,
những công trình còn lại, do địa hình phức tạp nên suất đầu tư ngày càng cao Hiện
nay, vấn đề đưa nước lên vùng cao đất dốc để tạo điều kiện chuyển đối cơ cấu cây
trồng, mở rộng diện tích phát triển sản xuất đang là vấn đề tồn tại cần giải quyết với
những công nghệ thích hợp
tưới, vừa góp phần hạn chế xói mòn thoái hóa đất sẽ là giải pháp hữu hiệu để phát
triển canh tác trên đất dốc
Xây dựng hồ treo trên núi sử dụng các công nghệ vật liệu mới cấp nước cho đồng
bào vùng cao; Công nghệ thu trữ nước trên đất dốc, phòng chống xói mòn, cung cấp
nước tưới cho cây cam bưởi; Mô hình thu trữ nước mưa trên đồi cát phục vụ canh
tác lâm nghiệp và phòng chống hoang mạc hóa, sa mạc hóa Mặc dù công nghệ
thu trữ nước đã được nghiên cứu và ứng dụng khá lâu nhưng hiện vẫn dừng lại ở
các nghiên cứu thí điểm, chưa có hướng dẫn tính toán xác định các chỉ tiêu thiết kế
công trình thu trữ nước Các giải pháp thu trữ nước thiếu tính đồng bộ với các giải
pháp về kỹ thuật tưới, đối tượng cây trồng
Với quỹ đất chưa được tưới chiếm khoảng 70% diện tích canh tác nông nghiệp
trên đất dốc vùng TDMNPB nhu cầu phát triển hệ thống thu trữ nước trong tương
lai sẽ rất lớn Vì vậy nghiên cứu các giải pháp thu trữ nước phục vụ sản xuất nông
nghiệp cho vùng TDMNPB có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 10II MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất được các giải pháp thu trữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho
vùng TDMNPB
Phạm vi nghiên cứu:
Vùng Trung du Miền núi phía Bắc
III CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cách tiếp cận:
đề tài luận văn
tiết, đầy đủ và hệ thống
Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
có liên quan đến đề tài luận văn;
+ Phương pháp phân tích thống kê: tổng hợp và phân tích các tài liệu về khu
vực nghiên cứu, tài liệu của các đề tài, dự án có liên quan Kết hợp nghiên
cứu lý thuyết để đề xuất công nghệ với thí nghiệm ngoài hiện trường để xác
định các thông số kỹ thuật của công trình thu trữ nước
+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của các bên liên
quan (PRA), điều tra xã hội học để lấy ý kiến của người dân và các cấp chính
quyền địa phương
dụng để thu thập ý kiến của các nhà khoa học và các bên có liên quan;
+ Phương pháp điều tra thực địa: tổ chức các nhóm điều tra gồm các chuyên
gia về lâm nghiệp, nông nghiệp, thủy lợi, kinh tế, môi trường kết hợp với
một số cán bộ địa phương;
+ Phương pháp mô hình hóa: Sử dụng phần mềm CROPWAT được sử dụng
để tính toán nhu cầu nước của cây trồng
IV KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC
vùng TDMNPB
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG NGHIÊN
CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thu trữ nước trên
thế giới
Từ xa xưa loài người đã biết cách sử dụng các biện pháp thu trữ nước Việc
thu trữ nước đã từng là phương kế sinh nhai chủ yếu tại các vùng khô hạn và bán
khô hạn hàng ngàn năm trước, là tiền đề cho việc thiết lập các thành phố và các khu
định cư trên sa mạc (Evenari và nkk, 1971) Cho đến thế kỷ 18, hàng triệu hecta đất
canh tác nông nghiệp ở những vùng khô hạn của thế giới chủ yếu dựa trên việc thu
trữ nước Từ giữa thế kỷ 19, do ảnh hưởng của Đại Cách mạng Công nghiệp, các dự
án tưới tiêu sử dụng công trình thuỷ lợi lớn phát triển rất nhanh, thu trữ nước cùng
với các kỹ thuật tưới quy mô nhỏ không còn được các quốc gia quan tâm Trong các
thập kỷ gần đây, do sự khan hiếm và suy thoái tài nguyên nước cùng với việc phát
triển các công trình thuỷ lợi ở một số nước và khu vực gần như đã đạt giới hạn, thu
trữ nước lại thu hút được sự quan tâm đặc biệt
Mặc dù kỹ thuật thu trữ nước có từ rất sớm, nhưng mãi đến năm 1950 mới có
một vài công trình nghiên cứu về thu trữ nước được tiến hành Đến đầu những năm
1960 thì kỹ thuật thu trữ nước mới thực sự được nghiên cứu và phát triển
Từ năm 1970, Nhóm tư vấn nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR) đã
huy động nhiều nguồn lực khoa học thế giới để nghiên cứu các giải pháp phòng
chống hạn hán Các nhà khoa học của CGIAR đã đưa ra nhiều sáng kiến và biện
pháp nhằm đương đầu với các thách thức của hạn hán, trong đó quản lý đất và nước
bền vững được coi là một trong những biện pháp chủ chốt Các công nghệ canh tác
bền vững trên đất dốc kết hợp với các biện pháp thu trữ nước, bảo vệ đất và nước
của Viện nghiên cứu quốc tế về cây trồng cho vùng nhiệt đới bán khô hạn
(ICRISAT) thuộc CGIAR đã làm tăng năng suất nông nghiệp, thu nhập của nông
dân và khả năng của người dân trong việc đối phó với hạn hán Mô hình này đã
được nhân rộng tới hàng trăm làng xã tại ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Thái Lan và
một số nước thuộc khu vực Đông Phi Qua nghiên cứu tổng kết các mô hình phòng
chống hạn hán tại khu vực Nam Á, Viện Quản lý nước quốc tế (IWMI) thuộc
CGIAR coi thu trữ nước là một công cụ chiến lược để đối phó với hạn hán
khô hạn Theo các tác giả, lượng mưa vùng khô hạn thường không đủ đáp ứng yêu
cầu nước cơ bản của cây trồng do phân bố mưa không đều trong suốt thời vụ sản
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 12xuất Chẳng hạn, tại các nước vùng Địa Trung Hải, lượng mưa năm thường chỉ đạt
thoát dưới dạng bốc hơi và dòng chảy mặt rất lớn, giai đoạn khô hạn kéo dài liên tục
gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Do vậy, để sản xuất nông nghiệp bền vững,
cần có giải pháp sử dụng nước mưa và bảo vệ đất một cách hiệu quả và thu trữ nước
mưa là giải pháp tốt nhất vì nó làm tăng lượng nước cung cấp cho một đơn vị diện
tích cây trồng và giảm thiểu tác động của hạn hán
Theo một báo cáo của Viện nước quốc tế Stockholm - SIWI (2001), vùng
Tiểu Sahara của Châu Phi và Nam Á sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu 400 triệu tấn
lương thực vào năm 2020 do phần lớn diện tích canh tác nằm tại các khu vực khan
hiếm về nước và thường xuyên chịu các đợt hạn hán Căng thẳng về nước trong các
đợt hạn ngắn là nguyên nhân chính gây giảm năng suất cây trồng Cách mạng xanh
đã chỉ ra rằng quản lý nước cho cây trồng một cách tối ưu là điều kiện cốt lõi để
tăng năng suất cây trồng Tuy các công trình tưới có vai trò rất quan trọng trong sản
xuất lương thực nhưng tiềm năng nguồn nước cho các công trình này tại các vùng
khô hạn lại rất hạn chế Do đó, việc phát triển sản xuất nông nghiệp sử dụng nước
mưa (rainfed agriculture) cho vùng không có điều kiện xây dựng công trình thủy lợi
là một việc tất yếu để đảm bảo an ninh lương thực Các biện pháp thu trữ nước quy
mô nhỏ tại các vùng này sẽ phát huy hiệu quả rất cao trong việc tăng năng suất cây
trồng
cơ bản: thu trữ nước mưa và thu trữ nước mặt Thu trữ nước mưa là phương pháp
hứng nước mưa từ một tiểu lưu vực, trữ lại trong đất hoặc trong các công trình trữ
nước ở khu vực lân cận (bể, ao ) để cho cây trồng sử dụng Tỷ lệ giữa diện tích
canh tác và diện tích tiểu lưu vực có thể dao động từ 1/1 đến 1/hàng trăm, phụ thuộc
vào mức độ khô hạn, loại cây trồng và tính chất đất Thu trữ nước mặt bao gồm một
lưu vực đó được tập trung lại qua hệ thống kênh dẫn, dẫn đến khu canh tác, trữ lại
trong các tầng đất hoặc các công trình trữ nước Thu trữ nước đòi hỏi nhiều lao
động cũng như diện tích mặt bằng nhưng nhìn chung là một giải pháp có chi phí
thấp, mang lại hiệu quả phòng chống hạn hán cao Hiệu quả mang lại từ việc áp
năng suất cây trồng, giảm thiệt hại, phục hồi rừng và cải tạo đất Hiện nay các nước
áp dụng rộng rãi các biện pháp thu trữ nước là Ai Cập, Tunisia, Libya, Algeria,
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 13Isreal, Jordan, North Yemen, India, Pakistan và các nước cộng hòa thuộc Liên bang
Xô viết trước đây
1.1.1 Sự phát triển của các biện pháp kỹ thuật thu trữ nước tại các khu vực trên
thế giới
1.1.1.1.Châu Á
a Israel
Ben Asher (1988) đã tổng kết các kinh nghiệm thu trữ nước tại Israel trong
khuôn khổ một công trình nghiên cứu thu trữ nước tại vùng tiểu sa mạc Sahara của
Ngân hàng Thế giới Công trình nghiên cứu của họ tập trung vào các vấn đề sau: (i)
Thí nghiệm phương pháp kỹ thuật thu trữ nước, đặc biệt là đối với lưu vực nhỏ; (ii)
Nghiên cứu đặc điểm bề mặt đất; (iii) Nghiên cứu và lập mô hình động học dòng
chảy mặt; (iv) Phân tích tính kinh tế của các kỹ thuật thu trữ nước Tại trang trại
Wadi Mashash, một dự án dài hạn với mục tiêu phát triển mô hình rừng xen canh
nông lâm nghiệp với việc thu trữ nước lưu vực trung bình đã được thực hiện (Zohar
và nkk, 1987, Lovenstein 1994) Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu xây dựng các
tiêu chí thiết kế cho lưu vực nhỏ, các tiêu chí này đã được sử dụng ở nhiều trang trại
ở Israel (Boer 1994)
Hình 1 1: Thu trữ nước cho mô hình
xen canh nông lâm nghiệp tại Israel
Hình 1 2: Hệ thống thu trữ nước lưu vực nhỏ tại Burkina Faso (Nguồn:
Reijntjes và nnk)
b Jordan
Tại Jordan, đập đất được xây dựng từ những năm 1964 để lấy nước cải thiện
đồng cỏ với tổng diện tích là 2.500 hecta (Al-Labadi 1994) Vào năm 1972, dự án
phát triển vùng cao của Jordan đã được triển khai Đập đá đổ, đường bao đá theo
đường đồng mức, bờ bao bằng đất được sử dụng để tăng độ ẩm đất tại khu vực
trồng trọt trên đất dốc (Shatanawi 1994) Tổng diện tích hưởng lợi sau khi triển khai
dự án là khoảng 6000 hecta Vào giữa năm 1985-1988, Bộ Nông nghiệp Jordan,
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 14trong khuôn khổ hợp tác với ACSAD đã sử dụng thềm đồng mức và bậc đồng mức
cho việc cải thiện các đồng cỏ tại quận Balama Năm 1987, khoa Nông nghiệp
trường Đại học Jordan đã đề xướng công trình đập đất dùng để chặn dòng và lấy
và lượng mưa hàng năm khoảng 150mm Gần đây, một dự án đã phát triển mô hình
dự báo trực quan tổng hợp cho thiết kế và quản lý các hệ thống thu trữ và sử dụng
nước tại các vùng khô hạn ở Jordan (Oweis và Taimeh, 1994)
c Các nước Trung Đông khác
Tại cộng đồng người Dei-Atiye của Syria, việc thu trữ nước mưa đã được thực
hiện vào năm 1987 với diện tích 130 ha Dự án được chia thành 4 phần, đó là
nghiên cứu trồng rừng, sắp xếp các loài thực vật, nghiên cứu thực phẩm từ ngũ cốc
và thu trữ nước mặt (Ibrahim 1994) Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế các
kỹ thuật thu trữ nước và nhận dạng khu vực thu trữ nước phù hợp với môi trường
vùng Bắc Phi và Tây Á bẳng ảnh vệ tinh (Oweis và Prinz, 1994)
Tại vùng Đông-Bắc Arập, một hệ thống tên là Mahafurs đang được sử dụng
Hệ thống này đơn giản là một hố nông có đường kính 20-100m được bao bởi bờ đất
Tại Afghanistan, lưu vực nhỏ hỗn hợp được sử dụng từ rất lâu Báo cáo trong
một cuộc điều tra nhận thấy rằng từ đầu những năm 1970, hơn 70.000 hecta của hệ
thống thu trữ nước kiểu Meskat được sử đụng để trồng cây ăn quả
d Ấn Độ
Rất nhiều dự án về thu trữ nước và các chương trình liên quan đã được hiện từ
năm 1975 tại Trung tâm nghiên cứu vùng hạn hán ở Todhpur và tại Trung tâm
nghiên cứu quốc tế thuộc vùng bán khô hạn ở Hyderabad
Vào những năm 1980, ICRISAT đã phát triển một hệ thống mương trồng cỏ
và mương đáy rộng để thu trữ nước trong mùa mưa và dùng để tưới trong mùa khô
Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích trồng trọt tăng từ 2-5 lần ICRISAT cũng đã
thực hiện một số dự án nghiên cứu với mục đích kết hợp các kỹ thuật tưới bằng bể
truyền thống với các điều kiện kinh tế xã hội Ý tưởng của Dự án được thực hiện
với mục đích cải thiện việc quản lý các bể chứa với việc kiểm soát nước, tìm ra một
hệ thống nước mặt khác, quản lý đất kiểm soát xói mòn (Von Oppen 1985) Các ý
tưởng này có tiềm năng rất lớn và vẫn được tiếp tục nghiên cứu
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 15e Các nước khác
Tại vùng nhiệt đới châu Á, đặc biệt là vùng phía nam Ấn Độ và Sri Lanka, đập
đất và các hố rỗng đã được sử dụng hàng ngàn năm nay để giữ nước trong suốt mùa
mưa Các bể chứa nước này cho phép nông dân canh tác tưới tiêu vụ thứ 2 vào mùa
khô Các bể này được đặt một cách ngẫu nhiên vì vậy rất dễ lấy nước
1.1.1.2.Châu Phi
a Bắc Phi
Tại một số nơi của Lybi, các khu vực thí điểm thềm bao bậc thang phụ trách
hơn 53.000 hecta đã được xây dựng (Al-Ghariani, 1994)
Năm 1990, chính phủ Tunisia đã bắt đầu thực hiện chiến lược quốc gia về huy
động nước mặt bao gồm 21 đập, 203 đập đất nhỏ, 1000 giếng, 2000 công trình với
mục đích tăng mực nước ngầm phục vụ tưới (Achouri, 1994) Cho đến năm 1984,
công trình Meskats đã phục vụ 300.000 hecta, trong đó có 100.000 hecta trong cây
ô lưu, công trình Jessours phục vụ 400.000 hecta (Tobbi, 1994) Kỹ thuật tưới dâng
hiện đại đã được ứng dụng tại trung tâm Tunisia từ năm 1980 phục vụ một diện tích
Tại vùng Wadi El-Arish của Ai Cập, các bờ đá đã được sử dụng để hướng
dòng chảy nước mặt phục vụ cho mục đích tưới Các bể chứa nước phục vụ cho nhu
cầu sử dụng của con người, gia súc cũng như cho tưới là rất phổ biến Số lượng các
bể chứa tăng từ dưới 3000 bể vào năm 1960 lên tới 15.000 bể vào năm 1993 với trữ
Tại vùng Tây Bắc Ai Cập một dự án tài trợ bởi GTZ/FAO về việc sử dụng đất
bao gồm cả các hoạt động thu trữ nước cũng đã được thực hiện (El-Shafey)
Tại Yêmen, các đập nhỏ trữ nước sử dụng cho tưới và cấp nước nông thôn đã
(Banatraf 1994)
Matfia là một kỹ thuật cổ dùng để trữ nước sử dụng cho con người và gia súc
tại Morocco ngày nay vẫn đang được sử dụng (Tayaa, 1994) Các kỹ thuật hiện đại
như kỹ thuật bê tông gia cố bể chứa cũng đang được thử nghiệm Từ năm 1984,
Morroco đã bắt đầu xây dựng nhiều đập Barrages Collinaires để thu trữ nước mặt
Diện tích lưu vực hạ lưu dưới những đập này từ 500 tới 10.000 hecta Kể từ năm
cấp nước tưới cho 3000 ha đất canh tác
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 16b Vùng tiểu sa mạc châu Phi
Một dự án nông lâm (PAF) với mục đích cải thiện việc trồng rừng sử dụng lưu
vực nhỏ do OXFAM khởi xướng vào năm 1979 tại tỉnh Yatenga của Burkina Faso
Vào năm 1982, dự án này được thay đổi thành đê đá bao (dọc theo đường đồng
mức) và được sử dụng cho trồng trọt Sau đó đê đá bao này kết hợp với hệ thống
“zai” truyền thống và được nông dân địa phương chấp nhận Theo báo cáo, vào cuối
năm 1988, dự án này đã thay đổi khoảng 8.000 hecta của trên 400 thôn (Critchley et
al., 1992)
Hàng loạt dự án nghiên cứu đang thực hiện tại trung tâm cao nguyên của
Burkina Faso bởi rất nhiều viện nghiên cứu khác nhau Tại vùng Hiraan của
Somalia có một kỹ thuật thu trữ nước địa phương có tên là “Caag” và “Gawan” vẫn
đang được sử dụng (Abdi, 1986)
Tại Ethiopia, Sudan và Botswana, đập hãm bằng đất được sử dụng để hãm
dòng chảy mặt chảy xuống sườn thoải, chúng được gọi là “haffirs” (Barrow, 1987)
Năm 1985, Viện Kỹ thuật nông thôn và Công trình thủy lực, Đại học
Karlsruhe, Đức bắt đầu thực hiện một dự án nghiên cứu tính khả thi kỹ thuật tưới
mặt tại vùng Sahel Tổng diện tích tưới là 127 hecta và diện tích thu nước là 3.3
trồng cây lúa miến cho năng suất cao gấp 3 lần so với khu canh tác chỉ dùng nước
mưa (Klemm 1990)
Từ năm 1989 đến năm 1991, một nghiên cứu được tài trợ bởi EC đã được thực
hiện bởi Viện Kỹ thuật nông thôn và công trình thủy lực để phát triển phương pháp
nhận dạng các vùng phù hợp với tưới mặt Tất cả các dữ liệu được lấy từ vệ tinh
công nghệ GIS để phát triển các dữ liệu về khí tượng, thổ nhưỡng, địa hình, kinh tế
xã hội (Tauer và Humborg 1992, Prinz et al 1994)
Hình 1.3 : Hệ thống thu trữ nước lưu vực lớn tại Mali Nguồn: Klemm
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 17Vào năm 1984, dự án Thu trữ nước Turkana, do Oxfam tài trợ đã được thực
hiện tại Quận Turkana của Kenya Mục tiêu của dự án là phát triển hệ thống thu trữ
nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển gia súc trồng trọt
(Critchley và nkk, 1992)
1.1.1.3 Bắc Mỹ và Nam Mỹ
Tại Mỹ, có nhiều dự án nghiên cứu về vấn đề thu trữ nước tại lưu vực và giảm
sự tổn thất nước (Frasier, 1994)
Một đập hãm lâu đời có tên là “Bolsa” vẫn được sử dụng để canh tác nông
nghiệp tại một vài nơi của Mexico “Bolsa” là các bể tường bằng đất lấy nước từ
nhánh sông theo từng mùa Tại Đông Nam Brazin, một hệ thống tương tự tên là
“zay” cũng được xây dựng vào năm 1986
1.1.2 Xu hướng phát triển thu trữ nước phục vụ canh tác trong tương lai
1.1.2.1 Các biện pháp kỹ thuật thu trữ nước
Một số dự án thu trữ nước thất bại do kỹ thuật sử dụng không phù hợp với
từng điều kiện cụ thể (Siegert, 1994) Các ưu điểm và hạn chế của từng phương
pháp thu trữ nước có thể được tổng kết như sau :
a Thu trữ nước sử dụng cho gia súc
Tại các nước đang phát triển, các giếng nước và bể nước sử dụng cho gia súc
có thể tiết kiệm nước nhưng phải bơm lấy nước ngầm hoặc phải đi lấy ở rất xa
Tại các nước phát triển (như Mỹ và Australia) người ta vẫn đang nghiên cứu
các chất xử lý đất hiệu quả và rẻ (Arar, 1993) Trong tương lai giá thành cho từng
biện pháp xử lý được mong đợi là phải rẻ để có thể xử lý được một diện tích lớn và
lấy được nước sạch, không có chất độc
Hình 1.4: Thu trữ nước bằng luống với lưu vực đã được xử lý tại Mexico Nguồn:
Frasier
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 18b Thu trữ nước bằng luống
Tại các vùng có lượng mưa hàng năm không dưới 200 mm (mưa mùa đông)
và 300 mm (mưa mùa hè), thì phương pháp thu tữ nước bằng luống là phương pháp
rất có hiệu quả
Các đập và bờ dọc theo đường đồng mức có thể được xây dựng bằng máy kéo,
thiết bị gia súc kéo, và các công cụ khác do vậy kỹ thuật này được ứng dụng rồng
rãi cho các vườn cây ăn quả, trồng rừng và canh tác hàng năm
c Hệ thống lưu vực nhỏ
Hầu hết các nghiên cứu về sự phát triển của lưu vực nhỏ đều được thực hiện
tại Israel Việc phân tích về giá thành và lợi ích của các lưu vực nhỏ tại Israel đã chỉ
không mang lại hiệu quả kinh tế (Oron et al., 1983)
d Thu trữ nước lưu vực trung bình
Hệ thống lưu vực nhỏ và trung bình được xem là có tiềm năng lớn trong tương
bề mặt, rất khó cho cây cối mọc lại Tuy nhiên, có khả năng xây dựng hệ thống
nhiều lưu vực nhỏ tại các khu đất này, đặc biệt đối với hệ thống dẫn nước trên sườn
đồi với lớp nước tương đối lớn
Đối với ruộng bậc thang, nếu như việc tính toán thủy văn chính xác thì các
ruộng bậc thang làm việc rất tốt và sẽ là công cụ tích cực cho sự phát triển trong
tương lai (tái trồng thảm thực vật) tại các vùng bán sa mạc Ngược lại sẽ có thể gây
ra những hậu quả nghiêm trọng về xói mòn, xạt lở
e Thu trữ nước lưu vực lớn
Sự phát triển hệ thống này có thể được kết với các công trình phòng chống lũ
cho các con suối cạn
1.1.2.2 Sự phát triển công nghệ thu trữ nước mới
Trong những năm gần đây việc phát triển công nghệ cho việc thu trữ nước đã
có tác động đến vai trò trong lương lai của thu trữ nước nói chung:
a Hệ thống nước bổ sung
Nước mặt được thu gom và trữ lại để sử dụng cho khu vực canh tác sử dụng
các biện pháp tưới khác nhau Nước được trữ lại ở đây cho phép vụ mùa kéo dài và
có thể canh tác vụ thứ hai
b Hệ thống hai mục đích
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 19Đối với hệ thống hai mục đích, đầu tiên nước chảy qua diện tích canh tác sau
đó nước thừa được trữ lại tại các hệ thống lưu trữ nước sau tưới Tại Arizona, Mỹ,
tưới mặt được kết hợp với tưới nhỏ giọt để tăng hiệu quả sử dụng
c Hệ thống kết hợp
Nếu nước tưới từ các khu nuôi trồng thủy sản hoặc từ các sông suối/hồ chứa
không đủ cho tưới thường xuyên thì việc kết hợp với thu trữ nước (trong suốt mùa
mưa) là rất khả thi
nước
1.2.1 Nghiên cứu về thu trữ nước vùng đồi
Ông cha ta đã biết thu trữ nước từ rất sớm Từ bao đời nay, nước mưa hứng từ
mái nhà, cây đã được thu lại trữ trong lu, vại, bể chứa để sử dụng cho sinh hoạt ở
vùng đồng bằng Ở vùng đồi, đồng bào vùng cao cũng đã biết thu nước chảy tràn
trên sườn đồi để dẫn đến tưới cho các khu ruộng lúa nước bậc thang Mặc dù vậy,
kỹ thuật thu trữ nước ở nước ta chưa phát triển, các biện pháp thu trữ nước của dân
gian chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Canh tác dựa vào nước trời ở vùng đồi núi rất
bấp bênh, phụ thuộc vào thời tiết
Cho đến nay, mới chỉ có một vài nghiên cứu về thu trữ nước ở Việt Nam
Trong những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ trước, Viện Khoa học Thuỷ lợi và một số cơ
quan khác đã tiến hành một vài nghiên cứu về biện pháp thu trữ nước như: thu trữ
nước trên sườn dốc bằng mương sườn đồi, hố vảy cá, ao núi Tuy nhiên, các biện
pháp này đã không phát triển nhân rộng được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng trên, nhưng có thể kể ra một số nguyên nhân cơ bản sau: (i) Nhận thức về vai
trò của các biện pháp kỹ thuật của người dân và cơ quan quản lý các cấp còn hạn
chế; (ii) Hiệu quả kinh tế mang lại của một số biện pháp kỹ thuật thu trữ nước - đặc
biệt là biện pháp đào mương sườn đồi, hố vảy cá - chưa cao, không tương xứng với
đầu tư bỏ ra; (iii) Một số biện pháp kỹ thuật (chẳng hạn biện pháp đào ao núi) chỉ có
thể áp dụng trong một số điều kiện địa hình, địa chất nhất định
Theo Nguyễn Văn Toàn (2005), tổng diện tích đất đồi núi ở Việt Nam là
23.959.600 ha (72,8% diện tích tự nhiên toàn quốc), trong đó sử dụng cho nông
nghiệp là 4.413.700 ha (18,4%) và cho lâm nghiệp là 11.802.700 ha(49,3%)
Do sức ép về dân số, nguồn đất trữ ở đồng bằng đã sử dụng hết, bình quân
diện tích đất tự nhiên trên đầu người chỉ 0,46 ha Để đảm bảo nhu cầu về lương
thực, người dân đã tiến sâu vào rừng tìm đất canh tác nên nạn chặt phá rừng ngày
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 20càng xảy ra mãnh liệt Mất rừng đã kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng, đó là xói
quả lũ lụt và hạn hán, làm suy thoái nguồn đa dạng sinh học xảy ra với tần suất cao
hơn, khốc liệt hơn Bên cạnh đó, quá trình canh tác lạc hậu đã biến những vùng đất
màu mỡ trở thành đất nghèo kiệt về dinh dưỡng, mất sức sản xuất, năng suất cây
trồng ngày càng thấp, cân bằng sinh thái bị phá vỡ trầm trọng Trong những năm
qua, đã có nhiều nghiên cứu về các biện pháp canh tác bền vững, bảo vệ đất và một
vài nghiên cứu về thu trữ nước Một số nghiên cứu về thu trữ nước và bảo vệ đất,
chống xói mòn được trình bày như sau:
Năm 1995-1996, Trung tâm Thuỷ nông Cải tạo đất và CTN - Viện Khoa học
Thuỷ lợi đã tiến hành nghiên cứu bể trữ nước lót bạt plastic phục vụ cấp nước sinh
hoạt vùng cao, ứng dụng tại Hà Giang, Cao Bằng và một vài tỉnh miền núi phía
Bắc Tuy nhiên, do vật liệu plastic không bền vững trong môi trường tự nhiên,
nhanh bị lão hoá nên các bể này nhanh chóng bị hư hỏng sau một thời gian sử dụng
Nước mưa hứng từ mái nhà, cây thu lại trữ trong lu, vại, bể chứa để sử dụng
cho sinh hoạt
Đào ao trữ nước mưa: Giải pháp đào ao trữ nước tại các khu vực đất dốc
thương rất khó áp dụng vì nhiều lý do như (i) địa hình dốc việc lựa chọn được một
khu vực tương đối bằng phẳng để đào ao rất khó còn đào tại đia hình dốc thì khối
lượng đào rất lớn(ii) Khả năng giữ nước của đất đồi dốc rất thấp nên về mùa khô ao
không có nước (iii) chi phí để đào ao lớn và mất một diện tích lớn
phục vụ canh tác bền vững trên đất dốc và bảo vệ đất chống xói mòn” Đã đưa ra
được các công nghệ thu trữ nước mưa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp vùng khô
hạn Nam Trung Bộ, bằng các chất liệu như túi nhựa dẻo, xi măng vỏ mỏng,…
nhiều lĩnh vực xây dựng trên thế giới Vật liệu xây dựng là cát vàng, xi măng và
lưới thép chịu lực, đây là loại vật liệu có khả năng chịu lực tốt, khối lượng xây dựng
ít Bể được thiết kế hình lòng thuyền hai thành là mái nghiêng (phần mái nghiêng
50) Toàn bộ bể được trát lớp vữa xi măng cát vàng M100 trong đặt một lớp lưới
thép chịu lực, phía ngoài đánh bóng chống thấm bằng hồ xi măng PC 40 Bốn mép
bể được đắp một lớp vữa dày 10cm rộng 15cm và đặt một thanh sắt φ6 Trên mặt bể
có đặt ống xả nước thừa và ống lấy nước tưới được đặt sát đáy bể Kích thước cơ
bản của bể được thể hiện trên Hình 1.5
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 21L2 mÆt b»ng bÓ xi m¨ng Vá máng
Hình 1.5 : Kết cấu cơ bản bể xi măng vỏ mỏng
1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ thu trữ nước vào thực tiễn
+ Hồ treo BTCT
Nhằm khắc phục tình trạng thiếu nước vào mùa khô hạn cho người dân vùng
cao Hà Giang, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định đầu tư xây dựng những chiếc hồ
Giang, đến nay trên địa bàn 4 huyện vùng vúi đá có 77 hồ chứa nước Các hồ chứa
này có nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho bà con thôn bản
Không chỉ đảm bảo về chất lượng mà mỗi chiếc hồ còn được thiết kế khá đẹp
mắt Những chiếc hồ hình bầu dục, hình trái tim hay hình vầng trăng khuyết… với
làn nước trong xanh, không chỉ cũng cấp nước cho hàng ngàn người dân nơi đây mà
còn tạo nên cảnh quan môi trường nên thơ cho vùng cao nguyên đá của tỉnh
Những chiếc hồ chứa nước lớn được xây dựng ở vị trí thung lũng để có thể
thu gom nước từ các vách đá xung quanh song lại phải nằm ở vị trí tương đối cao để
từ đó có thể dẫn nước về các bể áp, cấp nước cho người dân Bởi vậy không ngoa
khi người ta gọi đó là những chiếc “hồ treo” trên núi…
Hình 1.6 : Hồ chứa nước Sính Lủng (trái);Lùng Thàng xã Hố Quáng Phìn (phải)
Đồng Văn - Hà Giang
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 22+ Kết cấu thường gặp
Tường chắn: Kết cấu bằng bê tông cốt thép M200, chiều cao h = 3.0 m, bề
rộng đỉnh tường B=0.4m, bề rộng đáy Bđ= 2.0 m Dọc theo tường chắn cứ 10 m bố
trí một khe lún
Mái hồ được gia cố bằng BTCT M200 dày 10 cm, hệ số mái gia cố m = 1 Dọc
theo chiều dài của mái, cứ 5m bố trí một khe lún
Nền bể: Có kết cấu từ trên xuống dưới gồm các lớp Bê tông cốt thép M200
dày 15 cm, lớp vải địa kỹ thuật, lớp vải chống thấm, tiếp theo là lớp vải địa kỹ
thuật, cuối cùng là lớp cát lót dày 10 cm
Rãnh thoát lũ: Rãnh thoát lũ được bố trí sát theo tường chắn, được xây bằng
đá hộc vữa xi măng M75 dày 30 cm Bề rộng đáy rãnh B = 2m, một mái là tường
chắn, mái còn lại có hệ số mái m = 1 được gia cố bằng đá hộc xây vữa xi măng
M75
Bậc xuống hồ để lấy nước: Được xây bằng đá hộc vữa xi măng M75, bề rộng
của bậc B=3m
Cầu vào hồ lấy nước: Kết cấu bằng bê tông cốt théo M200, bề rộng mặt cầu
+ Hồ chứa vải địa kỹ thuật: Là loại hình mới được đưa vào đầu tư xây dựng trong
những năm gần đây Thường một công trình hồ chứa vải địa kỹ thuật gồm 3 hạng
mục:
+ Bể chứa: Lợi dụng các chỗ trũng (có thể là bể hốc đá lớn) tạo bể sau đó trải
lót vải chống thấm tạo thành bể chứa nước
+ Hệ thống thu nước từ mái sườn dốc: Mái tự nhiên được làm sạch sẽ bảo
đảm vệ sinh cho nước khi tràn mái xuống đến bể Trước khi vào bể nước được qua
hệ thống lọc cấp phối thô dạng rãnh hay tường
+ Hệ thống phục vụ cấp nước từ bể: Tại bể có bố trí các bậc thang xuống bể
để người dân lên xuống lấy nước và thau rửa bể Để tạo điều kiện thuận lợi cho lấy
nước và giữ vệ sinh, có thể bố trí hệ thống bơm tay hút nước trực tiếp từ bể hay
giếng thông với bể Nếu có điều kiện có thể làm đường ống dẫn cấp nước đến hộ
dùng nước Phương pháp này cần bố trí thêm một bể lọc tinh sau bể trữ
Loại hồ chứa vải địa kỹ thuật này có ưu điểm là diện tích thu hứng nước
rộng, đơn giản, dễ thi công, tận dụng được nhiều vật liệu địa phương nên giá thành
rẻ Nhược điểm của loại hồ chứa này là bề mặt rộng dẫn đến bốc hơi lớn, nước
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 23trong bể mới được lọc thô, khi thi công xây dựng đòi hỏi am hiểu về vải địa kỹ
thuật Theo đánh giá thì hiệu quả sử dụng hồ chứa vải địa kỹ thuật thấp do một số
nguyên nhân sau:
+ Hồ được xây dựng ở vị trí thấp nên mùa mưa là nơi tập trung bùn cát,
rác… chảy vào do vậy phải thường xuyên nạo vét
+ Ý thức quản lý, bảo quản, duy tu hàng năm của chính quyền và người dân
địa phương còn kém nên sau một số năm, một số hạng mục công trình bị hư hỏng
như hàng rào bảo vệ, rọ đá xung quanh hồ, lớp vải lọc… Hàng năm lòng hồ không
được nạo vét, vệ sinh nên nước trong hồ rất bẩn, không đảm bảo dùng cho sinh
hoạt
+ Do điều kiện địa hình, địa chất, một số hồ được xây dựng xa khu dân cư
tập trung, lượng dân cư được phục vụ ít nên hiệu quả khai thác sử dụng thấp Mặt
khác tuy dung tích lớn song không đủ trữ lượng để lắp hệ thống ống và bơm dẫn
nước tới từng hộ gia đình
+ Công nghệ túi nhựa dẻo
* Ưu điểm:
Trang 24- Vật liệu làm bồn chứa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn theo chứng
* Nhược điểm:
điểm này được khắc phục bằng cách bố trí bể ở vị trí cao (miền núi rấp phù
Chiều cao tối
đa (cm) Khối lượng rỗng kg
Với tính chất linh hoạt, gọn nhẹ của công nghệ, có khả năng áp dụng :
những vùng không bằng phẳng nền đất không chắc Có thể áp dụng bể chứa nước
thay thế cho công nghệ cấp nước bằng hồ treo vách núi (bằng cách lắp đặt nhiều túi
Trang 25Hình 1.7 : Mô hình thí điểm áp dụng công nghệ trữ nước bằng bồn chứa
nh ựa dẻo do công ty Labaronne CITAF, CH Pháp sản xuất tại Phố Ngọc, xã
Trung Minh, TP Hòa Bình
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Vùng Trung du, miền núi phía Bắc (TDMNPB) bao gồm 14 tỉnh: Lai Châu,
Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc
Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Hòa Bình có vị trí địa lý như
sau:
- Phía Tây giáp CHDCND Lào;
Dựa vào địa hình vùng TDMNPB có thể chia làm 3 tiểu vùng:
Sơn, Tuyên Quang
Hòa Bình
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 26Nguồn: Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường Hình 1.8 : Bản đồ các tiểu vùng sinh thái vùng TDMNPB
1.3.1.2 Đặc điểm địa hình
Các tỉnh TDMNPB hầu hết nằm ở thượng nguồn các sông, suối cho nên sự
biến đổi về cao độ rất lớn và phức tạp Cao nhất ở đường phân lưu, thoải dần đến
đất đai hẹp tương đối bằng phẳng kéo dài hai bên bờ sông, suối, tuy nhiên cũng có
những vùng tạo thành các thung lũng bằng phẳng, đất đai tập trung như những cánh
đồng Điện Biên, Nghĩa Lộ, Phù Yên, Than Uyên, Sơn Dương, Đồng Hỷ, Hòa An,
Lộc Bình, Ngoài ra, còn có những cao nguyên bằng phẳng như Mộc Châu, Sơn
La, Đồng Văn, Lục Khu, Hữu Lũng nhưng những cao nguyên này thường ở đầu
nguồn các suối, do điều kiện địa hình đất đai bị chia cắt mạnh, manh mún và có độ
dốc lớn nên việc phát triển thủy lợi phục vụ khai phá đất đai phát triển nông - lâm
nghiệp, kinh tế xã hội và đời sống nhân dân các dân tộc miền núi là hết sức khó
khăn, phức tạp
Vùng cao núi đá
Vùng này chủ yếu là núi đá vôi có độ cao trung bình trên 600m, địa hình
phức tạp có độ dốc lớn, có nhiều hang, hốc đá và các kẽ nứt, khả năng giữ nước rất
kém
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 27Ở Hà Giang, vùng cao núi đá gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ,
Yên Minh Độ cao trung bình so với mặt biển trên 1500 m Cao Bằng, vùng này
nằm ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, dọc biên giới Việt Trung có diện tích chiếm
32% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, cao độ trung bình từ 700 - 1000 m Với đặc trưng
chủ yếu là xen kẽ giữa các dãy núi đá vôi là những thung lũng hẹp và có hiện tượng
Karst phát triển mạnh Ở Lai Châu, núi đá vôi phân bố chủ yếu ở 2 huyện Tam
Đường và Phong Thổ, còn ở huyện Sìn Hồ, Than Uyên cũng có nhưng không nhiều
Ở Điện Biên, núi đá vôi phân bố chủ yếu ở huyện Tủa Chùa, Tuần Giáo và thành
phố Điện Biên Ở Sơn La, vùng núi đá vôi dọc theo Quốc lộ 6 rộng khoảng 20km
kéo dài từ Mộc Châu - Yên Châu - Sơn La - Thuận Châu đến Quỳnh Nhai Đặc
trưng địa chất vùng này là đá vôi dạng khối và phân lớp, xen kẹp các núi đá vôi là
các đồi cát kết, bột kết và đá phiến sét (nguồn: Nghiên cứu giải pháp công trình
trữ, cấp nước cho sản xuất và ds một số vùng khan hiếm nước ở 8 tỉnh miền núi Bắc
Bộ - Tô Trung Nghĩa)
Vùng núi thấp
Vùng núi thấp chủ yếu là núi trung bình và núi thấp Độ cao trung bình từ
dốc
Ở Lào Cai vùng núi thấp tập trung tại dải đất dọc theo sông Hồng và sông
Chảy gồm thành phố Lào Cai, thị xã Cam Đường, huyện Bảo Thắng, Bảo Yên và
phía Đông huyện Văn Bàn, địa hình ít hiểm trở, có nhiều vùng đồi thoải, thung
lũng, ruộng nước, là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc
xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng Ở Bắc Kạn vùng này tập trung chạy dọc theo
Quốc lộ 3 và các tuyến đường đi các huyện trong tỉnh, địa hình không phức tạp, cao
độ dưới 600m Ở Yên Bái vùng này chủ yếu địa hình là đồi núi thấp, thung lũng bồn
địa Ở Lạng Sơn vùng này chiếm diện tích nhiều nhất, trong đó dạng địa mạo núi
thấp đồi cao phân bố trên các dải núi dọc biên giới Việt Trung chạy dọc theo lòng
máng cao lạng dọc Quốc lộ 4B từ Cao Bằng về thành phố Lạng Sơn, dạng địa mạo
tỉnh Tuyên Quang, vùng núi trung bình cao nằm ở phía Bắc của tỉnh, vùng núi thấp
Vùng trung du
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 28Vùng trung du là những dải đồi với đỉnh tròn, sườn thoải, độ cao từ 0 -
phát triển cây trồng và vật nuôi
Ở tỉnh Thái Nguyên vùng này nằm ở phía Nam, địa hình tương đối bằng
phẳng, xen kẽ giữa các đồi bát úp dốc thoải là các khu đất bằng, độ cao trung bình
hết các huyện gồm đồi thấp, cao độ từ 25 - 100m, đỉnh tròn dốc thoải, độ dốc trung
những dải đất chạy dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Đà, sông Lô và sông Bứa có độ
dải núi thấp, ít bị chia cắt
1.3.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra đất của Viện Quy hoạch và TKNN cho thấy trên địa
bàn 14 tỉnh TDMNPB có các loại đất sau đây: ( Phụ Lục PL 1.1)
Nhóm đất cát
Đất cát có thành phần cơ giới nhẹ, cát hoặc cát pha, có chỗ rất thô không sản
xuất được Mặt khác do hàm lượng phù sa và thành phần phù sa thay đổi theo mùa
nên thành phần cơ giới phân lớp theo tầng khá rõ Mặc dù được bồi thường xuyên
Nhóm đất cát có ở 2 tỉnh Sơn La và Phú Thọ Tỉnh Sơn La nhóm đất này
chiếm 0,01% diện tích tự nhiên (DTTN), Phú Thọ chiếm 0,16% DTTN
Trên loại đất này thích hợp trồng khoai lang, vừng, ngô Ngoài ra, cần xen
canh gối vụ và trồng dày để mặt đất luôn được che kín đảm bảo chế độ nhiệt, chế độ
nước điều hòa trong đất
Nhóm đất phù sa
Đất phù sa được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ chủ yếu của các con sông
suối lớn đã tạo nên vùng đồng bằng khá màu mỡ Đất phù sa phân hóa theo mẫu
chất, điều kiện địa hình và hệ thống sử dụng đất Do vị trí địa lý và bản chất của các
sản phẩm phù sa được bồi đắp khác nhau nên đặc điểm của chúng rất đa dạng
Nhóm đất này phân bố ở tất cả các tỉnh, chủ yếu tập trung ở các tỉnh như Phú
Thọ (17,94% DTTN, Thái Nguyên (9,26%DTTN), Bắc Kạn (3,43%DTTN), Hòa
Bình (2,93%DTTN)
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 29Nhóm đất xám bạc màu (B)
Đất thoát nước tốt, mực nước ngầm sâu Điều kiện cơ bản để hình thành đất
Nhóm đất này chỉ có ở 4 tỉnh Cao Bằng (0,17%DTTN), Tuyên Quang
(0,28%DTTN), Thái Nguyên (1,83%DTTN), Phú Thọ (0,09%DTTN)
Đối với loại đất này nơi thuận lợi nước tưới nên luân canh cây lúa và màu
Nếu không thuận lợi nước thì chuyển sang chuyên màu và cây công nghiệp ngắn
ngày Cần chú ý bón vôi khử chua, tăng cường bón phân hữu cơ và bùn ao cải tạo
thành phần cơ giới lớp đất mặt
Nhóm đất đen
Các loại đất đen đều có ưu điểm là có độ phì tự nhiên cao, đất không chua,
có cấu trúc viên, tơi xốp thích hợp với các loại cây đậu đỗ, ngô, mía, các loại cây ăn
quả, ở địa hình thấp thoát nước kém nên trồng lúa Chú ý sử dụng các loại phân bón
phù hợp trong môi trường trung tính và kiềm, giàu Ca++, Mg++
Nhóm đất đỏ vàng
Nhóm đất đỏ vàng phân bố ở tất cả các tỉnh TDMNPB nhiều nhất ở Tuyên
Quang (87,65%DTTN), Lạng Sơn (87,11%DTTN), Bắc Kạn (84,35%DTTN) Còn
lại phân bố đều ở các tỉnh nhưLai Châu (48,14%DTTN), Điện Biên
(63,17%DTTN), Hà Giang (60,85%DTTN), Cao Bằng (60,81%DTTN), Thái
Nguyên (75,31%DTTN), Phú Thọ (66,25%DTTN), Hòa Bình (79,55%DTTN).Đây
cũng là nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất và đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh
vực kinh tế xã hội Quá trình hình thành đất đỏ vàng là quá trình tích lũy sắt, nhôm
lệ sắt nhôm tăng lên
Đất mùn vàng đỏ trên núi (H)
Nhóm đất mùn đỏ vàng phân bố ở độ cao từ 900m trở lên Do đất được hình
thành trong điều kiện khí hậu điển hình cho đới rừng nhiệt đới ẩm,lượng mưa
lớn, ẩm độ cao, thường xuyên có mây mù, nên quá trình phân giải các chất hữu cơ
cũng như quá trình Feralít xảy ra yếu hơn so với đất phát triển trên cùng loại đá mẹ
ở đới thấp Do vậy mùn được tích lũy lại, đôi khi còn cả lớp hữu cơ bán phân giải
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 30Nhóm đất mùn trên đá cao
Đất mùn vàng nhạt Pôtzôn hóa (A):
Đất được hình thành trên các loại đá mẹ khác nhau (granít, phiến sét ) ở độ
cao từ 1.800 - 2.800m Hình thái phẫu diện lớp đất mặt có màu đen, xuống các tầng
dưới có màu xám đen hoặc xám, xám nhạt Cấu trúc của đất thường là viên hạt, tơi
xốp
Nhóm đất này phân bố nhiều ở các tỉnh là: Lào Cai (6,9%DTTN), Lai Châu
(7,4%DTTN), Yên Bái (6%DTTN), còn lại phân bố một ít ở các tỉnh Điện Biên
(0,12%DTTN), Hà Giang (0,88%DTTN), Cao Bằng (0,03%DTTN), Sơn La
(1,85%DTTN)
Đất thích hợp trồng cây dược liệu hoặc khoanh nuôi bảo vệ rừng
Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ
Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ thường có địa hình thung lũng được bao
bọc bởi các đồi núi xung quanh Đất được hình thành do các sản phẩm rửa trôi bồi
tụ từ trên đồi núi xuống, tầng đất thường có lẫn đá, nơi thấp thường có tầng glây
Do địa hình thung lũng nên đặc điểm của loại đất này phụ thuộc nhiều vào tính chất
đất đai của các vùng đồi núi xung quanh thung lũng như thành phần cơ giới độ
chua, mức độ lẫn đá và sỏi sạn So với đất đai trên các đồi núi xung quanh, đất
thung lũng do sản phẩm của dốc tụ thường có màu sẫm và xỉn hơn, đất chua hơn,
mùn và đạm tổng số cao hơn
Nhóm đất này phân bố ở các tỉnh: Lai Châu (0,2%DTTN), Điện Biên
(0,8%DTTN), Hà Giang (1%DTTN), Cao Bằng (1,67%DTTN), Lạng Sơn
(2,03%DTTN), Tuyên Quang (0,92%DTTN), Thái Nguyên (7,01%DTTN), Phú
Thọ (6,16%DTTN), Hòa Bình (2,15%DTTN)
Đất thích hợp trồng 2 vụ lúa/năm ở những nơi chủ động được nước tưới hoặc
Nhóm đất cacbonat (K)
Đất cacbonat hình thành và phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá vôi ở
các thung lũng xung quanh là núi đá vôi Đặc trưng của đất cacbonat là trong phẫu
diện có tầng tích tụ canxi ở độ sâu 0 ÷ 100cm, hoặc có 1 tầng sáng màu hay tầng
mới biến đổi, tầng tích sắt hay nứt nẻ Canxi thường ở 2 dạng: CaCO3 (kết von
hoặc tuf vôi) và canxi trong dung tích hấp thu
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 31Nhóm đất này chỉ có ở 2 tỉnh: Sơn La (0,01%DTTN), Cao Bằng
(0,94%DTTN)
Đất thích hợp cho trồng lúa nước và hoa màu
Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá (E)
Đất xói mòn trơ sỏi đá được hình thành ở địa hình chia cắt dốc và do tác
động trực tiếp hay gián tiếp của con người theo chiều hướng bất hợp lý như: chặt
phá rừng, cùng với việc canh tác lạc hậu (du canh, quảng canh, không có công trình
chống xói mòn, liên tục trồng cây hàng năm trên đất dốc…) Trong điều kiện mưa
nhiều và tập trung độ dày lớp đất mịn ở bề mặt bị bóc mòn còn lại rất mỏng dưới
30cm, có nơi chỉ còn trơ lại đá gốc Vì vậy đất không còn lại khả năng sử dụng vào
đất nông nghiệp
Nhóm đất này có ở 3 tỉnh: Cao Bằng (0,36%DTTN), Phú Thọ
(0,3%DTTN),Hòa Bình (1,22%DTTN)
Đất xói mòn trơ sỏi đá thuộc đất tầng mỏng cần được sử dụng hợp lý Trước
hết phải nhanh chóng phủ xanh bằng thảm thực vật phù hợp với môi trường của
từng tiểu vùng sinh thái Đây là việc làm hết sức thiết thực để bảo vệ môi trường
giữ đất, giữ ẩm, giữ màu phục hồi độ phì nhiêu của đất Thực hiện cải tạo đồi trọc
nhiều nơi đã trồng bạch đàn khá tốt Để đảm bảo độ ẩm nên gieo cấy phân xanh phủ
đất như cốt khí, trinh nữ không gai hoặc cây đậu mèo Tuy nhiên, phủ xanh trên
loại đất này phải đầu tư cao hơn các nhóm đất đồi núi khác
1.3.1 4 Đặc điểm khí hậu
Nhiệt độ
Địa hình vùng TDMNPB phức tạp khiến cho khí hậu ở đây có những nét
trung du nhiệt độ có xu hướng cao hơn vùng núi thấp và vùng cao núi đá Vào tháng
7, tháng 8 và tháng 9 có nhiệt độ cao nhất; vào tháng 12, tháng 1 có nhiệt độ thấp
Trang 32Số giờ nắng
Tổng số giờ nắng trong năm ở vùng Tây Bắc gồm các tỉnh như Lai Châu,
Điện Biên, Sơn La tương đối cao, dao động khoảng 1800 ÷ 2000giờ/năm Vùng Tây
Bắc cao hơn so với vùng Đông Bắc do chịu ảnh hưởng sớm của gió mùa Tây Nam,
cuối mùa đông lại ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Trên toàn lưu vực các
tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 6, tháng 7, tháng 11, tháng 12, tháng 1 và
tháng 2
Tỉnh Điện Biên có số giờ nắng trung bình tháng cao nhất là 2024 giờ/năm
Tỉnh Hà Giang có số giờ nắng trung bình tháng thấp nhất là 1401 giờ/năm
( P hụ lục PL 1.3 )
Bốc hơi
Bốc hơi là đại lượng biến đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nắng, gió,
nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm Theo các tài liệu quan trắc cho thấy lượng bốc hơi
trên vùng nghiên cứu không lớn, tổng lượng bốc hơi đo bằng ống Piche dao động từ
600 ÷ 1000mm/năm
3 và tháng 4, tổng lượng bốc hơi hầu hết đạt trên 100mm/tháng Đây là thời kỳ cuối
mùa khô, trời nắng, nóng, lượng mưa nhỏ Từ tháng 6 đến tháng 10 lượng bốc hơi
đạt giá trị nhỏ nhất, đây là thời kỳ mưa nhiều, độ ẩm không khí nhỏ Lượng bốc hơi
trong các tháng này phổ biến ở mức từ 40 ÷90mm/tháng
Tổng lượng bốc hơi thấp nhất tại tỉnh Yên Bái là 678,2mm/năm, cao nhất tại
tỉnh Cao Bằng khoảng 1023mm/năm ( Phụ lục PL 1.4 )
Độ ẩm
Độ ẩm tương đối bình quân tháng của vùng nghiên cứu dao động từ 80 ÷
87% Tuy nhiên một số vùng mùa khô độ ẩm khá thấp như Hoàng Su Phì, Mù Cang
Chải, Bảo Lạc độ ẩm chỉ khoảng 72 ÷ 79% Sương muối là hiện tượng thường gặp
Lượng mưa
Chế độ mưa và lượng mưa trên toàn vùng phụ thuộc vào chế độ gió mùa và
các dạng địa hình khác nhau, phân theo mùa rõ rệt Mùa mưa gần như trùng với
mùa của gió mùa đông nam, thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 Lượng mưa
trong mùa mưa chiếm khoảng 75 ÷ 85% lượng mưa năm Tháng 7 và tháng 8 có
lượng mưa bình quân cao nhất đều đạt trên 250mm/tháng, cao nhất ở Hà Giang là
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 33Lượng mưa bình quân năm khá phong phú, biến đổi từ 1400 ÷ 2400mm/năm
Tuy nhiên sự phân bố mưa trên lưu vực lại không đều, mức độ dao động lượng mưa
ở các vùng khá lớn do địa hình và các hướng núi thay đổi giữa các vùng Lượng
mưa năm lớn nhất trên vùng nghiên cứu đo được ở vùng núi cao Hoàng Liên Sơn
2825mm/năm (Sa Pa), các vùng núi cao thuộc tỉnh Lai Châu: Mường Tè
2429mm/năm, Sìn Hồ 2746mm/năm Vùng ít mưa nhất được coi là trung tâm khô
hạn như thung lũng Yên Châu, cao nguyên Sơn La, cao nguyên Mộc Châu Lượng
mưa bình quân tháng cao nhất ở Hà Giang là 2468mm/năm, thấp nhất ở Cao Bằng
là 1423mm/năm
Mùa đông thường có mưa phùn và ẩm ướt, mùa hè thường có mưa rào, mưa
dông đôi khi có mưa đá nhưng chỉ trên diện hẹp Trong mùa đông có xuất hiện mưa
phùn, tuy nhiên số ngày có mưa phùn thấp hơn nhiều so với vùng đồng bằng, bình
quân có 16 ngày ở Lai Châu, 22 ngày ở Hòa Bình ( Phụ lục PL 1.6 )
1.3.1 5 Đặc điểm thủy văn, nguồn nước
Mạng lưới sông ngòi
* Sông Hồng
Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào Việt Nam qua các tỉnh Lào
Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam
Định và đổ ra biển Đông với tổng chiều dài 510km tính từ ngã ba Nậm Thi đến cửa
Cửa Lạt Đoạn chảy qua Phú Thọ được gọi là sông Thao
Sông Đà là nhánh lớn nhất của sông Hồng Sông bắt nguồn từ Vân Nam -
Trung Quốc chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chảy qua các tỉnh Lai Châu,
Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình để rồi nhập vào sông Hồng ở Phú Thọ Đoạn đầu
sông trên lãnh thổ Việt Nam, sông Đà còn được gọi là Nậm Tè
* Sông Lô
Sông Lô bắt nguồn từ Trung Quốc, đổ vào sông Hồng ở Việt Trì.Diện tích
nhiều nhánh sông lớn phân bố dạng hình quạt như sông Gâm, sông Chảy và sông
Phó Đáy, toàn bộ hệ thống được gọi là sông Lô - Gâm
* Sông Gâm
Bắt nguồn từ Vân Sơn - Trung Quốc chảy vào Việt Nam, tại Đồng Văn (Hà
Giang) Sông Gâm ở địa phận Trung Quốc có tên là Phố Mai khi chảy vào Việt
Nam đoạn đầu có tên là Nho Quế sau đó gọi là sông Gâm Cũng giống như sông Lô,
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 34sông Gâm hẹp, dốc nhiều thác ghềnh, càng về hạ lưu độ dốc giảm lòng sông rộng
dần
Sông Gâm là nhánh trái của sông Lô có tổng chiều dài 297km trong đó phần
* Sông Chảy
Sông Chảy Là nhánh sông lớn thứ 2 sau sông Gâm của sông Lô Nằm phía
phải, sông chảy bắt nguồn từ Đèo Ha Tác huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và
nhập lưu với sông Lô tại Vân Cường Đoan Hùng Phú Thọ, sông chảy theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam và gần như song song với sông Thao phía thượng nguồn có
nhiều nhánh tạo nên thế nan quạt Sông có chiều dài 295km diện tích lưu vực
* Sông Phó Đáy
Là phụ lưu trái của sông Lô, có thể coi là khá độc lập với sông Lô sông được
bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Cạn chảy theo Bắc - Nam về nhập lưu với
sông Lô ở Việt Trì (cách cửa sông 2km) sông dài 170km diện tích lưu vực
* Sông Bôi
Sông Bôi chảy qua 2 tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình, sông là nhánh chính đổ
chảy qua huyện Kim Bôi, Lạc Thủy và các huyện Nho Quan, Gia Viễn tỉnh Ninh
Bình Chiều dài tổng cộng khoảng 125 km
* Sông Cầu
Là nhánh lớn nhất của sông Thái Bình Bắt nguồn từ núi Vạn Om - Chợ Đồn
tỉnh Bắc Cạn Chiều dài sông tính đến Phả Lại là 288,5km diện tích lưu vực
thác ghềnh từ chợ mới về đến đập Thác Huống sông chảy hướng Đông Bắc - Tây
Huống về tới Phả Lại sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam lòng sông rộng
độ dốc lòng sông nhỏ Trên dòng chính sông Cầu đã xây dựng đập Thác Huống lấy
nước tưới cho 28000ha
Sông Cầu có 2 phụ lưu lớn là sông Công và sông Cà Lồ đều năm phía bờ
,
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 35Trên sông Công đã xây dựng hồ Núi Cốc có Whữu ích = 168 x 106 m3, nhiệm
Bắt nguồn từ dãy núi Na Pha Phước - Chi Lăng - Lạng Sơn Từ thượng
nguồn về tới Bố Hạ sông chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Sau đó đổi hướng
Bắc - Nam và Tây Bắc - Đông Nam nhập lưu với sông Cầu tại Phả Lại Sông dài
hạ lưu sông Hóa, sông Trung và sông Sỏi Sông Trung dài 65km có diện tích lưu
tưới cho 23.620ha
* Sông Lục Nam
Bắt nguồn từ huyện Đình Lập (Lạng Sơn) chảy theo hướng Đông Bắc - Tây
Nam nhập lưu vào sông Thương tại Phương Nhơn (Lục Nam - Bắc Giang) cách cửa
khúc độ dốc đáy sông từ Chũ về hạ lưu độ dốc giảm lòng sông mở rộng
* Sông Kỳ Cùng
Phần thượng lưu và trung lưu ở Việt Nam có tên là Kỳ Cùng Sông bắt
nguồn từ vùng núi Ba Xá cao trên 1000m, chảy từ Đông Nam lên Tây Bắc qua Đình
Lập, Lộc Bình, TP Lạng Sơn, Na Sầm đến Thất Khê (Lạng Sơn) sông uốn khúc và
theo hướng gần Tây Bắc - Đông Nam tới biên giới Sông Kỳ Cùng có tới 77 phụ
lưu, trong đó có 26 phụ lưu cấp 1, 34 phụ lưu cấp 2 và 16 phụ lưu cấp 3, 1 phụ lưu
cấp 4 Các sông nhánh lớn hơn cả là sông Bắc Giang, Bắc Khê và Ba Thín
* Sông Bằng Giang
Sông Bằng Giang hay còn gọi là sông Bằng chảy qua tỉnh Cao Bằng Sông
bắt nguồn từ núi Nà Vài cao 600m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nhập vào
sông Tây Giang ở Long Châu ở độ cao 140m
nhánh chảy gần như song song Một nhánh bắt nguồn từ vùng Núi Chu, gần Suối
Rút (huyện Mai Châu - Hòa Bình), nhánh kia bắt nguồn từ gần thị trấn Mường
Khến huyện Tân Lạc - Hòa Bình
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 36Bảng 1.1 Các sông chính chảy qua vùng TDMNPB
La dài 250 km
Giáo (Lai Châu) chảy qua Sơn La dài 93 km
từ Trung Quốc chảu qua biên giới Việt - Trung qua TX Hà Giang, Bắc Quang chảy vềTuyên Quang
Lĩnh và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti cung cấp nước cho khu phía tây của tỉnh Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào sông Lô, cung cấp nước cho phía đông của tỉnh
Sông Gâm Sông Bằng Giang Sông Quây
Sông Bắc Vọng
Rào
dài 55 km Sông Gâm có 2 phụ luu chính là sông Nho Quế và sông Neo
77 km
76 km
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 37TT Tỉnh Sông chính Ghi chú
Sông Phó Đáy Sông Cầu Sông Bắc Giang Sông Năng
dài 36 km
670 km
Gâm có chiều dài 117 km chảy qua tỉnh Bắc Kạn khoảng 70 km
có độ dài 54 km là 2 phụ lưu của sông Kỳ Cùng
Thương
Quốc đổ vào sông Kỳ Cùng
Quang
Sông Gâm Sông Lô
Sông Phó Đáy là 1 phụ lưu của sông Lô có chiều dài 84 km
Bình
Sông Đà Sông Bôi
dài 151 km thuộc hệ thống sông Hồng
sông Mã
Sông Hồng Sông Lô Sông Đà Sông Chảy
4 sông này đều thuộc hệ thống sông Hồng
Nguyên
Sông Cầu Sông Công
Sông Công dài 96 km, diện tích lưu vực 957 km2
2 sông này thuộc hệ thống sông Thái Bình
phụ lưu lớn là sông Công và sông Cà Lồ
là sông Cẩm Đàn, sông Thanh Luận, sông Rán và sông Bò
Nguồn: Tổng hợp từ các tài liệu Lượng dòng chảy năm
Trong 3 nhánh lớn của sông Hồng thì sông Đà có lượng dòng chảy lớn nhất
chiếm khoảng 42%, sông Thao có diện tích lưu vực xấp xỉ sông Đà song lại có
lượng dòng chảy nhỏ nhất chỉ chiếm 19%, sông Lô có diện tích lưu vực là nhỏ nhất
song có lượng dòng chảy đáng kể đứng thứ hai sau sông Đà chiếm 25,4% (tỷ lệ này
so với lượng dòng chảy đến tại Sơn Tây)
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 38Bảng 1.2 Đặc trưng dòng chảy năm trung bình nhiều nămvùng TDMNPB
Nguồn: Quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước các lưu vực sông
Dòng chảy năm không biến đổi nhiều lắm, năm nhiều nước nhất so với năm
ít nước nhất trong thời gian từ đầu thế kỷ tới nay cũng chỉ khoảng 2,0 ÷ 2,6 lần đối
với các trạm trên sông lớn và khoảng 3 ÷ 4 lần đối với các trạm trên sông nhánh của
sông Thái Bình Từ khi có chế độ quan trắc tốt hơn (1956 đến nay) lại rơi vào thời
kỳ sông Hồng ít nước thì tỷ lệ đó chỉ còn 1,6 ÷ 2,0 lần ở sông lớn và khoảng 3,0 ÷
4,5 ở thượng lưu sông Thái Bình ( Phụ lục PL 1.7; PL 1.8 )
Dòng chảy mùa lũ
Do chế độ mưa trên lưu vực biến đổi cả về không gian và thời gian, nên sự
xuất hiện lũ lớn trên các sông có sự phân kỳ rõ rệt Ở vùng TDMNPB mùa lũ từ
tháng 6 ÷ tháng 11; ở các tỉnh phía Đông Bắc có thể xảy ra lũ lớn vào tháng 11; ở
các tỉnh phía Tây Bắc mùa lũ có thể sớm hơn
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 39+ Trên lưu vực sông Hồng có trên 45% số năm có lũ lớn vào tháng 8, trên
29% vào tháng 7, chỉ có 17% xảy ra vào tháng 9 Tuy vậy những trận lũ đặc biệt lớn
chỉ xảy ra vào tháng 8 ví dụ như các trận lũ tháng 8/1945, tháng 8/1971
8, chỉ có 9,68% xảy ra vào tháng 6 và 9
số năm lũ vào tháng 8, có trên 40,8% số năm lũ vào tháng 9 và chỉ số 15,8% vào
tháng 10,
Lô; ở trung lưu 2 ÷ 3 m/ngày và ở hạ lưu là 0,5 ÷ 1,5m/ngày Ở thượng du sông
Biên độ mực nước ở các sông nhỏ đạt 3 ÷ 4 m, sông lớn tới 10m Biên độ
tuyệt đối đạt tới 13,22m ở Lào Cai (sông Thao); 31,1m ở Lai Châu (sông Đà); 20,4
m ở Hà Giang (sông Lô) Trên sông Thái Bình đạt 12,76m tại Chũ
Đặc trưng nước lũ của vùng TDMNPB như sau: ( Phụ lục PL 1.9; PL 1.10 )
Dòng chảy kiệt
Mùa kiệt ở vùng TDMNPB thường từ tháng 11 đến tháng 5 gồm 7 tháng (có
lưu lượng bình quân tháng nhỏ hơn lưu lượng trung bình năm) Trong đó có tháng
11 là tháng chuyển tiếp từ mùa mưa sang mùa ít mưa Từ tháng 10 đến tháng 11
động, cuối tháng 4 và tháng 5 do có mưa nên dũng chảy lại tăng nhanh, chính thức
mùa kiệt là từ tháng 12 đến tháng 4 Do vậy việc dùng nước cần được quan tâm đến
Trong các tháng mùa kiệt vẫn còn có lượng mưa chiếm khoảng 20 25%
lượng mưa cả năm nhưng lượng mưa này lại tập trung vào 3 tháng 11, tháng 4 và
thời tiết khô hanh, tháng 2 và tháng 3 tuy đó có mưa nhưng chỉ là mưa phùn Từ
tháng 12 đến tháng 3 dòng chảy trong sông suối là do nước ngầm và nước điều tiết
từ các hồ chứa cung cấp Do vậy tháng có lưu lượng nhỏ nhất trong năm hầu hết rơi
vào tháng 3 (53% ở Hoà Bình, 52% ở Yên Bái, 45% ở Phù Ninh, 49% ở Thác Bưởi,
57% ở Chũ), số năm còn lại rơi vào tháng 2 và tháng 4 ( Phụ lục PL 1.11 )
Đặc điểm địa chất thủy văn
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về địa chất thủy văn và nước
dưới đất được tiến hành ở vùng TDMNPB Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy tính
đa dạng, phong phú và phức tạp của địa chất thủy văn và nước dưới đất trong vùng
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai
Trang 40Trên cơ sở các số liệu và kết quả nghiên cứu cho phép đánh giá bước đầu về tiềm
năng nước ngầm của lưu vực
hổng và nước khe nứt Nước lỗ hổng tồn tại trong các thành tạo bở rời Nước khe
nứt tồn tại trong khe nứt (kể cả hang hốc karst) của các thành tạo đá cố kết
Theo kết quả điều tra khảo sát và nghiên cứu của các chuyên gia địa chất có
thể đánh giá tài nguyên nước dưới đất ở vùng miền núi và trung du Bắc Bộ như sau:
sâu rất khác nhau giữa vùng núi đá, núi đất ven suối, các thung lũng và cũng phụ
thuộc nhiều vào nước mặt Nhìn chung các điểm đã được thăm dò và khai thác nước
ngầm ở miền núi đa phần đủ tiêu chuẩn cấp cho sinh hoạt, công nghiệp và tưới, trừ
một số vùng có mỏ kim loại, mỏ than, vùng đá vôi phát triển thì cần phải xử lý
không có tỉnh nào nguồn nước ngầm quá tập trung, cũng ko có tỉnh nào nguồn nước
ngầm quá khan hiếm
Trữ lượng động tự nhiên của nước dưới đất trên toàn vùng là vào khoảng 569
kiếm thăm dò, cụ thể như sau:
+ Cấp A+B (trữ lượng đã được thăm dò tỉ mỉ có thể khai thác ngay): 1,2 triệu
+ Cấp C2 (trữ lượng mới được thăm dò sơ bộ, muốn đưa vào khai thác cần
1.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội
1.3.2 1 Điều kiện dân sinh
Hành chính:
Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 9.527.500ha gồm 13 thành phố
trực thuộc tỉnh, 5 thị xã, 123 huyện, 136 phường, 143 thị trấn và 22887 xã
dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai loi dai