Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề đặt ra luận án tập trung Chương 2: BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
Trang 1cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án
Trương Tất Thịnh
Trang 2Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong nước liên
1.3 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học
đã tổng quan và những vấn đề đặt ra luận án tập trung
Chương 2: BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN
2.1 Phúc lợi xã hội và công bằng về phúc lợi xã hội ở các
tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay 322.2 Quan niệm, vai trò và yếu tố quy định bảo đảm công
bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ởcác tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay 54
Chương 3: BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY -
3.1 Thành tựu bảo đảm công bằng về phúc lợi xã hội cho
đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc
3.2 Hạn chế của bảo đảm công bằng về phúc lợi xã hội cho
đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc
3.3 Nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra trong bảo đảm
công bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu
108
Trang 3số ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Chương 4: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC BẢO ĐẢM
CÔNG BẰNG VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH BIÊN
4.1 Yêu cầu cơ bản tiếp tục bảo đảm công bằng về phúc lợi
xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới
4.2 Giải pháp chủ yếu tiếp tục bảo đảm công bằng về phúc
lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên
KẾT LUẬN 162
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Công bằng xã hội là phạm trù chính trị - xã hội, phản ánh khát vọng củaloài người, là thước đo để phân biệt bản chất của các chế độ xã hội khác nhau
và là mục tiêu của CNXH hướng tới Ở Việt Nam, công bằng xã hội vừa làmục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quanđiểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hoà đời sốngvật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thànhviên trong xã hội” [35, tr.79] Trong đó, bảo đảm công bằng về PLXH là một
bộ phận đặc biệt quan trọng nhằm giảm bớt sự chênh lệch thu nhập giữa các
cá nhân, các cộng đồng, nhất là đối với các đối tượng yếu thế, dễ bị tổnthương Thông qua PLXH - một hình thức phân phối cơ bản nhằm khắc phụcnhững khiếm khuyết của thị trường, từng bước xóa bỏ sự khác biệt giữa thànhthị và nông thôn, giữa lao động chân tay và lao động trí óc, nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần cho nhân dân Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Tăngcường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tínhbền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội,
an ninh con người” [36, tr.147]
Bảo đảm công bằng về PLXH cho người dân luôn phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như nhận thức của các chủ thể, điều kiện kinh tế, xã hội và khả năng huyđộng các nguồn lực xã hội cho việc thực hiện chính sách xã hội nói chung vàbảo đảm phúc lợi xã hội nói riêng Với điều kiện còn nhiều khó khăn như hiệnnay, Nhà nước ta chưa đủ khả năng để đảm bảo đầy đủ nhu cầu PLXH củanhân dân, do đó cần phải bảo đảm công bằng về PLXH giữa các vùng, miền,cho các nhóm xã hội, nhất là đối với các đối tượng yếu thế, đồng bào DTTS.Với một quốc gia đa tộc người như Việt Nam, đồng bào DTTS sinh sống chủyếu ở miền núi, địa bàn chiến lược, thì bảo đảm công bằng về PLXH cho đồngbào DTTS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, lâu dài, từng bước nâng cao
Trang 6chất lượng sống và tạo nên sự ổn định xã hội vùng biên giới của Tổ quốc, chủđộng đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn xuyên tạc, chống phá củacác thế lực thù địch.
Đối với các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, nơi có tỷ lệ đồng bào DTTSchiếm đa số dân cư thì bảo đảm công bằng về PLXH lại càng trở nên quan trọng.Đây là khu vực giữ vị trí chiến lược cả về KT - XH, quốc phòng, an ninh và đốingoại, là địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện phát triển KT - XHkhó khăn, đời sống của đồng bào các DTTS còn có nhiều thiếu thốn, tỷ lệ hộnghèo cao, dễ bị tổn thương Do đó, bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bàoDTTS không chỉ thể hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta mà còntrực tiếp góp phần khắc phục dần khoảng cách chênh lệch, từng bước nâng caođời sống vật chất, tinh thần của đồng bào, tạo nền tảng bảo vệ vững chắc chủquyền biên giới quốc gia
Thực tế bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS các tỉnh biêngiới phía Bắc Việt Nam những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu quantrọng, nhưng vẫn còn tồn tại một số bất cập Đến nay, nguồn lực đảm bảoPLXH chủ yếu vẫn từ ngân sách nhà nước, các nguồn lực từ xã hội hoá rấthạn chế; hiệu quả đảm bảo công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS cònthấp, mức độ thụ hưởng PLXH của đồng bào được cải thiện chậm và cònchênh lệch so với các khu vực khác và cả nước Trình độ dân trí còn thấp, khảnăng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, thông tin thấp, mức sống chưa cao, tỷ
lệ đói nghèo cao và khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các nhóm dân cư
có xu hướng doãng xa Điều đó ảnh hưởng trực tiếp, toàn diện đến đời sốngcủa đồng bào DTTS cũng như quá trình phát triển KT-XH, xây dựng khối đạiđoàn kết dân tộc trên địa bàn
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn và nghiên cứu vấn đề:“Bảo đảm công bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án.
Trang 72 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn bảo đảm công bằng về PLXHcho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiệnnay; luận án đề xuất yêu cầu, giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm công bằng
về phúc lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía BắcViệt Nam hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan một số công trình khoa học tiêu biểu đã công bố có liên quanđến đề tài luận án; chỉ ra những vấn đề mà đề tài luận án cần tập trung nghiêncứu làm rõ;
Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận bảo đảm công bằng về phúc lợi xãhội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiệnnay;
Phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm công bằng về phúc lợi xã hội chođồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay, chỉ
rõ nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết;
Xác định yêu cầu cơ bản và giải pháp chủ yếu bảo đảm công bằng vềphúc lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía BắcViệt Nam hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Bảo đảm công bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở cáctỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu làm rõ quan niệm, nội dung,
phương thức và vai trò bảo đảm công bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bàoDTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay so với người dân trong
Trang 8cả nước Nội dung bảo đảm PLXH cho đồng bào DTTS rất rộng, trong luận ánnày tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu như xoá đói giảmnghèo, trợ giúp xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế và các phúc lợi xã hội cơ bản
Về không gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động bảo đảm công bằng về
PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay,trong đó tập trung nghiên cứu các địa phương ở biên giới Việt -Trung, khảosát tại 4/7 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam gồm (tỉnh Lai Châu, Cao Bằng,
Hà Giang và Quảng Ninh)
Khách thể nghiên cứu: Đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía
Bắc Việt Nam hiện nay
Về thời gian: Các số liệu điều tra, tài liệu sử dụng nghiên cứu trong luận án
sẽ giới hạn từ năm 2010 đến nay
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Đề tài luận án được xây dựng dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc, về chính sách xãhội, về CBXH; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CBXH, bảo đảmcông bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc ViệtNam hiện nay
Cơ sở thực tiễn
Đề tài luận án dựa trên cơ sở thực tiễn hoạt động thực hiện công bằng
về PLXH cho đồng bào DTTS; các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo, sơ kết, tổngkết thực hiện công tác dân tộc, công tác chính sách xã hội ở các tỉnh biêngiới phía Bắc Việt Nam hiện nay; kết quả điều tra, khảo sát điểm tại một sốđịa phương về vấn đề này
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ
Trang 9nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng cácphương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: kết hợp lôgíc - lịch sử; phân tích vàtổng hợp; quy nạp và diễn giải; hệ thống và so sánh; điều tra xã hội học vàphương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, trong đó, áp dụngmột số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, luận án kế thừa kết quả
nghiên cứu của những công trình nghiên cứu liên quan, các báo cáo, tổng kết củaTrung ương và địa phương, từ đó làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn bảo đảmcông bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc ViệtNam hiện nay
- Phương pháp phân tích tổng hợp giúp tác giả có cái nhìn bao quát về
đối tượng nghiên cứu; từ đó giải quyết một chuỗi các giả thuyết liên quan đếnkết quả nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá, luận án xác định khung lý thuyết đánh giá
gồm các vấn đề: nội dung, phương thức, vai trò và các yếu tố quy định bảođảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS; trên cơ sở đó đánh giá thựctrạng bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giớiphía Bắc Việt Nam hiện nay
- Phương pháp xin ý kiến của chuyên gia, thông qua việc tham khảo
ý kiến của các nhà khoa học, nhà lãnh đạo, quản lý, các chuyên gia cókinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu, tác giả luận án khái quát và củng
cố các nhận định, đánh giá và đề xuất các yêu cầu, giải pháp bảo đảmcông bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía BắcViệt Nam hiện nay
- Phương pháp điều tra xã hội học, tác giả luận án tiến hành điều tra
khảo sát điểm bằng phiếu trưng cầu ý kiến với 2 đối tượng: 180 cán bộ, côngchức, viên chức đang công tác tại Ban Dân tộc, Sở Lao động thương binh và
xã hội, Phòng dân tộc, Phòng Lao động thương binh và xã hội; 360 hộ dân ở 4
Trang 10huyện thuộc các tỉnh Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang, Quảng Ninh Trên cơ sở
đó, nghiên cứu sinh đã tổng hợp, phân tích số liệu để đưa ra các nhận định,đánh giá có liên quan đến nội dung đề tài luận án
5 Những đóng góp mới của đề tài
Đưa ra quan niệm, làm rõ nội dung, phương thức, vai trò bảo đảm công bằng
về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay.Đánh giá thực trạng, nguyên nhân và vấn đề đặt ra trong bảo đảm công bằng
về phúc lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc ViệtNam hiện nay
Đề xuất yêu cầu và giải pháp mang tính đột phá nhằm phát huy mọi nguồnlực để bảo đảm công bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ởcác tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay;
Kết quả luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảngdạy các vấn đề liên quan đến dân tộc, công bằng xã hội, phúc lợi xã hội và chínhsách xã hội ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận án
Trang 11Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), kết luận, danh mục các côngtrình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan các công trình tiêu biểu nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Nhóm công trình tiêu biểu nghiên cứu về công bằng xã hội
John Rawls (2001), A theory of justice (Một lý thuyết về công lý) [126] đãcho rằng, công bằng chỉ có được khi con người tự nguyện cùng tham dự vàohợp tác xã hội để làm sao cho mỗi cá nhân giành được lợi ích nhiều hơn sovới khi họ sống đơn lẻ Vì thế, nếu thể chế của một xã hội là căn cứ để xácđịnh được một nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp với lợiích của mỗi cá nhân thì thể chế xã hội ấy là công bằng Ông cho rằng, côngbằng hay không công bằng trong một thể chế xã hội không phải khác nhau vềxuất phát điểm của mỗi cá nhân mà chủ yếu ở chỗ, khi tham gia vào hợp tác
xã hội, cho dù có sự bất bình đẳng do những khác biệt bẩm sinh và địa vị xãhội nhưng có sự chấp nhận mang tính tự nguyện trong cơ chế hoạt động hợptác xã hội chung thì đó vẫn là công bằng Quan niệm của J.Rawls đã thể hiệnnhững cố gắng của ông trong việc đưa ra một cách nhìn mới về CBXH
Jean - Jacques Rousseau (2006), Bàn về khế ước xã hội [78] đã thể hiện
tư tưởng về tự do, bình đẳng và sự cảm thông sâu sắc với thân phận con người.Ông đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng trong xã hội là do chế
độ tư hữu và những lầm lạc của con người Ông phê phán mạnh mẽ nhữngngười cam chịu, không dám đấu tranh, từ bỏ tự do của mình Từ đó, ông đưa rabiện pháp để thiết lập tự do, bình đẳng giữa người với người, đó là nhà nướcphải được tổ chức cai trị bằng một khế ước xã hội, trong đó, mọi thành viên kếthợp với nhau thành một lực lượng chung, được điều khiển bằng một động cơchung, một ý chí chung Tư tưởng đó chứa đựng những luận điểm tiến bộ mànhiều tác giả sau này khi bàn về CBXH đã tham khảo
Trang 13David Miller (2010), Principles of social just (Nguyên tắc công bằng xã hội)
[124] đã cho rằng, CBXH là một phạm trù lịch sử, nội dung và các nguyên tắc
cơ bản của nó phải gắn liền với các điều kiện khác nhau của các cộng đồng xãhội khác nhau Tác giả đã đưa ra ba thành phần chính trong hệ thống cácnguyên tắc của CBXH cần phải được thực hiện và đảm bảo, đó là: công lao,nhu cầu và sự bình đẳng của con người Cuốn sách cũng làm rõ những cơ sở,điều kiện cũng như những khó khăn, thách thức nhằm thực hiện nhữngnguyên tắc của CBXH trong thời đại ngày nay
1.1.2 Nhóm công trình tiêu biểu nghiên cứu về phúc lợi xã hội
Neil Gilbert (1989), The enabling state: Modern welfare capitalism in America (Phúc lợi tư bản hiện đại ở Mỹ) [118] đã cho rằng, sau hơn hai thập
niên áp dụng chế độ tài chính và phúc lợi cải tiến ở Hoa Kỳ, chế độ phúc lợimới đã vượt xa những hình mẫu truyền thống Lựa chọn mô hình nào là vấn
đề đặt ra Công trình đã trình bày chi tiết một tầm nhìn mới về sự chuyển dịchcủa phúc lợi xã hội - từ cách thức phân phối đến đối tượng hưởng lợi, tìmhiểu về lợi ích của các tổ chức tư nhân và hướng tiếp cận theo hướng thịtrường trong phân phối nguồn quỹ dự phòng xã hội; kiểm tra cách thứcchuyển dịch từ thuế tiêu dùng, hỗ trợ tín dụng, các chi phí phát sinh khácsang nguồn quỹ phúc lợi xã hội
Neil Gilbert và Paul Terrell (2009), Dimensions in Social Welfare Policy (Khuôn khổ của chính sách phúc lợi xã hội) [119], đã phân tích và đưa
ra một công cụ khá hoàn thiện, có chiều sâu và bao hàm nhiều lĩnh vực khinghiên cứu về chính sách phúc lợi xã hội Nghiên cứu đưa ra những minh hoạthực tế để chứng minh cho các luận điểm lý thuyết về bảo đảm thu nhập,phúc lợi trẻ em, những thành phố kiểu mẫu, chăm sóc hàng ngày, hành độngcủa cộng đồng và sức khoẻ tâm thần Ngoài ra, tác giả còn nêu ra tổng quan
về xu hướng của chính sách phúc lợi xã hội của các bang có hệ thống phúclợi tiến bộ, bao gồm: tính phù hợp, tài chính, phân phối và phân phối lợi ích
Trang 14Ira C.Colby, Catherine, N.Dulmus, Karen M.Sowers (2013), Social work and social policy: advancing the principles of economic and social justice (Công tác xã hội và chính sách xã hội: thúc đẩy các nguyên tắc công
bằng kinh tế và xã hội) [117], đã coi chính sách phúc lợi xã hội toàn cầu nhưmột nội dung chủ yếu để thực thi CBXH hiện nay, và nhà nước như là mộtcông cụ quản lý, điều tiết chủ yếu nhằm giải quyết những mâu thuẫn, xungđột xã hội để thực thi công bằng và bình đẳng Công trình cũng cho rằng, hiệnnay, xã hội châu Á đang đứng trước những thách thức cơ bản trong thực thiCBXH: sự cọ sát giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại trong việc tìm kiếmnhững giải pháp thực thi CBXH trong nền kinh tế thị trường, tính thiếu đồng
bộ trong thể chế chính trị, pháp lý và hệ thống chính sách xã hội Từ đó, đưa
ra những giải pháp để thực hiện CBXH trong điều kiện mới
1.1.3 Nhóm công trình tiêu biểu nghiên cứu về bảo đảm công bằng phúc lợi xã hội cho các dân tộc thiểu số
Will Kymlicka (2002), “Multiculturalism and Minority Rights: West and
East” (Đa văn hoá và quyền của người thiểu số: Tây và Đông) [122], đã chỉ ranhững đặc điểm quan trọng đối với quyền của nhóm thiểu số ở Châu Âu như:đòi hỏi sự bình đẳng dần trở thành một quyền và quyền này không có nghĩa làmột “đặc ân” như tiền lệ trong quá khứ Ngoài ra, tác giả đưa ra ba yếu tố đánhgiá trạng thái của quyền này, đó là: nhân khẩu (tỷ lệ dân số người thiểu số); trình
độ nhận thức pháp luật và nền dân chủ
Fulya Memisoglu (2007), The European Union's Minority Rights Policy and Its Impact on the Development of Minority Rights Protection in Greece
(Chính sách về quyền của người thiểu số ở Liên minh châu Âu và tác động
của nó đối với sự phát triển của bảo vệ quyền của thiểu số ở Hy Lạp) [123],
đã giải thích mâu thuẫn nội bộ trong khuôn khổ EU, làm nổi bật mô hìnhchính sách và thay đổi liên quan đến các quyền dân tộc thiểu số Nghiên cứuvào trường hợp của Hy Lạp cho thấy kể từ đầu những năm 1990, hàng loạt
Trang 15các chính sách cải cách đã diễn ra trong khu vực kinh tế - xã hội, cũng nhưliên quan đến pháp lý, chính trị và các quyền văn hoá của dân tộc thiểu số.Nghiên cứu chỉ ra giải pháp đối với quyền của người thiểu số không chỉ gópphần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực dân tộc thiểu số sinh sống ở
Hy Lạp, mà còn khu vực hoá chính trị, khuyến khích sự tham gia của người dântộc thiểu số trong chính quyền khu vực địa phương
Địch Đông Đường (2008), Nghiên cứu pháp luật bảo vệ quyền lợi kinh tế của các dân tộc thiểu số Trung Quốc [42], đã đề cập đến lý luận cơ bản vềquyền lợi kinh tế của các DTTS; Nội dung chủ yếu về quyền lợi kinh tế của cácDTTS Trung Quốc; Quá trình biến đổi và hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợikinh tế của các DTTS Trung Quốc; Pháp luật cứu trợ đối với quyền lợi kinh tếcủa các DTTS Trung Quốc và tìm hiểu các hướng đi cơ bản giải quyết vấn đềDTTS Qua đó tác giả cho rằng: Căn nguyên của những xung đột dân tộc chính
là quyền lợi kinh tế của các DTTS không được bảo vệ Vì vậy xây dựng hệthống bảo vệ quyền lợi đặc biệt đối với cộng đồng DTTS là cách làm quan trọng
để có thể giải quyết các vấn đề dân tộc
Reza Hasmath (2010), A Comparative Study of Minority Development in China and Canada (Một nghiên cứu so sánh về phát triển dân tộc thiểu số ở
Trung Quốc và Canada) [120], đã so sánh chính sách dân tộc của Canada vàcủa Trung Quốc Theo tác giả, chính sách dân tộc thể hiện sự tôn trọng hơn đốivới văn hoá và xã hội của dân bản địa Những chính sách mới của Canada tậptrung vào 3 lĩnh vực ưu tiên Thứ nhất, sự đàm phán thương lượng về đất đaitruyền thống và quyền được đảm bảo đối với các tài nguyên thiên nhiên như:
cá, khoáng sản, gỗ và săn bắn thú rừng Thứ hai, chuyển giao quyền kiểm soát
và quản lý (quyền tự trị) lớn hơn cho Hội đồng bản địa về những vấn đề có tínhđịa phương như: đất và nguồn tài nguyên, dịch vụ y tế, giáo dục và đào tạo.Thứ ba, tăng cường năng lực các Cộng đồng bản địa thông qua việc tham giavào xây dựng và thực hiện các kế hoạch cải thiện hạ tầng cơ sở như: nhà ở,
Trang 16đường xá, hệ thống nước, các chương trình hiện đại hoá Từng bước trực tiếp
hỗ trợ và xây dựng lại các nền kinh tế của người bản địa Tác giả cho rằng, cảCanada và Trung Quốc cùng phải thực hiện chính sách với số lượng lớn cácdân tộc thiểu số song chính sách của Canada có xu hướng cởi mở hơn, trongkhi chính sách của Trung Quốc hướng tới kiểm soát chặt chẽ
Văn phòng Cao uỷ của Liên Hợp Quốc về nhân quyền (OHCHR) (2010),
Minority Rights: International Standards and Guidance for Implementation (Quyền của nhóm thiểu số: Tiêu chuẩn quốc tế và Hướng dẫn thực hiện) [125]
đã đề cập đến những vấn đề xương sống nhất về quyền con người đối với nhómngười thiểu số Bao gồm: khái niệm người thiểu số, có sự phân định với ngườibản địa và so sánh người không phải công dân nước đó, người không quốc tịch;nêu phạm vi bảo vệ quyền của người thiểu số; pháp luật quốc tế về bảo vệquyền của người thiểu số; cơ chế quốc tế bảo vệ quyền của người thiểu số.Nghiên cứu cũng đã nhận diện được những nội dung cơ bản của quyền, đó là:
sự sống còn, sự phát triển và bảo vệ bản sắc của dân tộc thiểu số, bình đẳng vàkhông phân biệt đối xử, sự tham gia có hiệu quả và có ý nghĩa
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã nêu trên đây, chủ yếu làm rõ thực tếđời sống của các DTTS; những vấn đề bức xúc, khó khăn đang đặt ra đối với ngườiDTTS Một số công trình nghiên cứu đề cập đến việc tổ chức thực hiện chính sách
xã hội, bảo đảm PLXH đối với người DTTS; từ đó đề cập đến một số chính sách vàgiải pháp bảo đảm PLXH cho người DTTS Đặc biệt, một số các công trình nghiêncứu về PLXH đã đề cập đến kinh nghiệm trong thực hiện PLXH ở các quốc giatrên thế giới Các nước XHCN trước đây, coi PLXH là những gì do xã hội màtrực tiếp là nhà nước đưa lại; PLXH gắn với những lợi ích công cộng màthông qua đó, người dân được hưởng thụ không phải trả tiền Nhà nước cungcấp cho người dân càng nhiều và càng không mất tiền thì càng thể hiện tính
ưu việt cao của xã hội Tuy nhiên, với thực tế của nền kinh tế các nước nàythì hình thức và quy mô của PLXH vượt quá khả năng cho phép dẫn đến
Trang 17những mâu thuẫn trong KT-XH, hệ thống phúc lợi bị phá vỡ hoặc duy trì mộtcách méo mó Các nước phương Tây, coi PLXH là cách thức giải quyết vấn
đề xã hội, tạo động lực tăng trưởng kinh tế, là biện pháp tổng hợp toàn diện
để giải quyết nhu cầu cá nhân và xã hội hiện tại, cải thiện mối quan hệ xã hội,được tiến hành ở mọi trình độ, cấp độ xã hội Phúc lợi xã hội ngoài việc đónggóp bảo đảm sức khỏe giáo dục còn nhằm cải thiện và nâng cao đời sống,công việc cho mọi người Một số công trình nghiên cứu về thực hiện PLXHhiện nay đã cho rằng, kinh tế thị trường gây ra những biến động KT-XH đòihỏi con người phải có sự thích nghi nhưng không phải ai cũng làm được, do
đó nhà nước cần ban hành và thực hiện chính sách PLXH xuất phát từ sựcông bằng và tạo mọi điều kiện đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho con người.Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách phúc lợi, nhà nước cố gắng giảm bớttrách nhiệm của mình và đề cao sức mạnh trợ giúp và chia sẻ của cộng đồng
1.2 Tổng quan các công trình tiêu biểu nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án
1.2.1 Nhóm công trình tiêu biểu nghiên cứu về công bằng xã hội
Lương Việt Hải (2008), Hiện đại hoá xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội
[44] đã chỉ ra rằng, CBXH phải được thực hiện bằng nhiều hình thức phânphối, ngoài phân phối theo cống hiến còn cần phân phối công bằng các nguồnlực phát triển cho các vùng, miền, ngành, nghề; thực hiện công bằng trongphân phối các thành quả của sự phát triển xã hội trên các phương diện nhưgiáo dục, y tế, hạ tầng cơ sở nhằm đảm bảo cho mọi người có được cơ hội vàđiều kiện sống, lao động bình đẳng Việc thực hiện CBXH phải được tiến hànhngay trong mỗi bước phát triển, song song với tăng trưởng kinh tế Các tác giảcũng đánh giá những kết quả đã đạt được, chỉ ra những hạn chế trong thực hiệnCBXH ở nước ta thời kỳ đổi mới Những vấn đề trên tuy mới được các tác giảtrình bày một cách khái quát mà chưa có sự phân tích sâu sắc, song là những gợi
ý để tác giả luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm rõ
Trang 18Phạm Văn Đức và các cộng sự (2008), Công bằng xã hội, trách nhiệm
xã hội và đoàn kết xã hội [41] đã tập hợp nhiều báo cáo có giá trị lý luận vàthực tiễn về CBXH, đáng chú ý là báo cáo của tác giả Đỗ Huy với “Công bằng
xã hội ở Việt Nam: nhận diện và giải pháp”, đã khái quát quá trình thực hiệnCBXH ở nước ta Tác giả nhấn mạnh, những di hại của chiến tranh gây nênkhá nhiều bệnh tật cần được khắc phục Vì thế, muốn có CBXH, không thểphân phối theo cơ chế thị trường thông thường, mà Việt Nam đã thực hiệnphân phối theo lao động trên cơ sở kinh tế thị trường định hướng XHCN Tácgiả đã đánh giá những kết quả, chỉ ra những hạn chế, bất cập và những vấn đềcần giải quyết trong thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay
Phạm Thị Ngọc Trầm (2009), Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng
xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay [103], đã hệ thống hoá và làm rõnhiều vấn đề lý luận về CBXH trong điều kiện mới, đặc biệt đã bổ sung thêmnội dung phân phối thông qua PLXH, an sinh xã hội trên cơ sở phản ánh bảnsắc văn hoá của một dân tộc Các tác giả đã kiến nghị, để thực hiện nguyêntắc phân phối công bằng theo kết quả lao động là chủ yếu, cần xác định đượcgiá trị của từng loại lao động Đồng thời, cần thực hiện một cách đầy đủ,nghiêm túc nguyên tắc phân phối công bằng ở tất cả mọi loại hình sở hữu của
tư nhân cũng như của Nhà nước, góp phần tạo sự đồng thuận và ổn định xãhội Cuốn sách không những giúp cho tác giả luận án luận giải nhiều nội dung
về lý luận mà còn gợi mở hướng bảo đảm công bằng về PLXH
Nguyễn Minh Hoàn (2009), Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [48]
đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa CBXH vớitiến bộ xã hội Theo tác giả, CBXH là động lực của sự phát triển xã hội và làthước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội Bởi lẽ, động lực thúc đẩy con ngườihoạt động là lợi ích của chủ thể hoạt động; CBXH làm cho các thành viên thamgia vào quan hệ lợi ích không thấy bị thiệt thòi, hơn nữa còn kích thích họ hoạtđộng một cách tích cực hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Với
tư cách là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội, qua các hình thái KT - XH
Trang 19đã có trong lịch sử, có thể thấy rõ mức bất công trong phân phối sản phẩm củalao động đã giảm dần và mức công bằng tăng dần Từ đó, tác giả đã làm rõ một
số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay
Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty (2010), Tăng trưởng kinh tế và tiến
bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam [84] đã cho rằng, “CBXH là sự bình đẳng vềquyền và nghĩa vụ của công dân, bình đẳng trong chế độ phân phối thu nhập,
cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội” [84, tr 18] Theo tác giảThước đo chủ yếu của CBXH bao gồm: Chỉ số phát triển con người (HDI),đường cong Lorenz, hệ số GINI, mức độ nghèo khổ, mức độ thoả mãn nhucầu cơ bản của con người…
Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về côngbằng xã hội trong thời kỳ đổi mới” [79, tr 56 - 61], cho rằng, qua tổng kết thựctiễn và nghiên cứu lý luận thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhận thứcsâu sắc, toàn diện hơn về công bằng xã hội và đạt được nhiều thành tựu nhấtđịnh Ngoài ra, bài viết cũng chỉ ra một số hạn chế trong việc thực hiện côngbằng xã hội và đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát huy thành tựuđạt được, khắc phục hạn chế thực hiện công bằng xã hội ở nước ta thời gian tới
Nguyễn Thị Lan Hương (2016), Thực hiện công bằng xã hội đối với các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay [54 ], đã làm rõ nội dung thực hiện
CBXH đối với các thành phần kinh tế bao gồm: Bình đẳng giữa các thànhphần kinh tế về cơ hội phát triển và bình đẳng trong phân chia lợi ích giữa cácthành phần kinh tế Tác giả cho rằng, thực chất của thực hiện CBXH đối vớicác thành phần kinh tế là thực hiện hài hoà lợi ích giữa các thành phần kinh tếnói chung và các chủ thể kinh tế nói riêng thông qua hệ thống các chính sách,
cơ chế, hiện thực hoá các chính sách KT-XH Nội dung chính của thực hiệnCBXH đối với các thành phần kinh tế là đảm bảo sự bình đẳng về quyền tiếpcận các nguồn lực, quyền tham gia vào hoạt động kinh tế và quyền được phânphối công bằng thành quả của phát triển giữa các thành phần kinh tế, từ đó tạođộng lực cho phát triển, góp phần ổn định xã hội
Trang 20Bùi Thị Phương Thuỳ (2017), Thực hiện công bằng xã hội với việc
phát triển con người ở Việt Nam hiện nay [86], đã làm rõ những vấn đề lý
luận cơ bản về CBXH, thực hiện CBXH, phát triển con người và vai trò củathực hiện CBXH với việc phát triển con người Luận án đã đánh giá nhữngthành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng thực hiện CBXH với việcphát triển con người ở Việt Nam từ đổi mới đến nay Trên cơ sở đó đề xuấtcác giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của thực hiện CBXH đối với việcphát triển con người ở nước ta hiện nay Đây là tài liệu quan trọng giúp tácgiả luận án có sự nhìn nhận toàn diện về thực hiện công bằng trong phát triểncon người trong đó, công bằng về phúc lợi xã hội là một nội dung quan trọng
Vũ Văn Viên (2019), “Thực hiện dân chủ và công bằng xã hội trongquá trình dân chủ hoá ở Việt Nam hiện nay” [115], cho rằng, dân chủ và côngbằng xã hội là những nội dung cơ bản được C.Mác quan tâm sâu sắc nhằmxây dựng một xã hội mới trong đó các giá trị dân chủ và công bằng xã hộiđược đảm bảo Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các quan điểm trước đây, cácnhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã có những đóng góp quý giá khi xây dựng quanniệm về CBXH Trên cơ sở phân tích quan điểm của C.Mác về CBXH, bàiviết tập trung vào công bằng xã hội trong phân phối và khẳng định: “côngbằng xã hội là một quyền - quyền ngang nhau giữa cống hiến và hưởng thụ”[115, tr 4] Bài viết cũng đề cập đến quá trình phát triển quan điểm của Đảng
ta về CBXH và đánh giá khái quát việc thực hiện CBXH ở nước ta
1.2.2 Nhóm công trình tiêu biểu nghiên cứu về phúc lợi xã hội
Bùi Thế Cường (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về phúc lợi xã hội [18]
đã làm rõ quá trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phúc lợi xã hội, từ đóphân tích, so sánh sự biến chuyển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phúc lợi xãhội ở thời kỳ Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và thời kỳ xâydựng xã hội chủ nghĩa (1954-1969) Qua việc khái quát, phân tích các nộidung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về PLXH ở các thời kỳ lịch sử, tácgiả khẳng định: Hồ Chí Minh có một hệ thống các luận điểm về PLXH Ở
Trang 21từng thời kỳ cách mạng, xuất phát từ yêu cầu thực tế mà Người trực tiếp chỉđạo tập trung vào những mắt xích quan trọng nhất trong công tác phúc lợi xãhội Những tư tưởng đúng đắn, khoa học và đầy nhân văn của Chủ tịch HồChí Minh đã và đang được hiện thực hoá ở Việt Nam.
Đàm Hữu Đắc (2010), Nghiên cứu chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập [36], đã tập trung nghiên cứu toàn diện
lý luận và thực tiễn về hệ thống chính sách PLXH và dịch vụ xã hội chăm sócngười cao tuổi Việt Nam Đồng thời, tác giả đã nghiên cứu những kinhnghiệm quốc tế, từ đó đề xuất định hướng phát triển hệ thống chính sáchPLXH và dịch vụ xã hội cơ bản chăm sóc người cao tuổi hiện đại phù hợp vớibối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Phạm Xuân Nam (2014), “Quan điểm của Hồ Chí Minh và của ĐảngCộng sản Việt Nam về hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội” [69, tr 3 -10],
đã luận giải quan điểm của Hồ Chí Minh về hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi
xã hội Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đề xướng và đặt nền móngcho việc thực hiện các chính sách xã hội nói chung và chính sách an sinh xãhội, phúc lợi xã hội nói riêng ở Việt Nam Đồng thời, bài viết còn phân tíchquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới về hệ thống ansinh xã hội, phúc lợi xã hội và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả thực hiện chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ở Việt Nam
Phùng Hữu Phú và các cộng sự (2016), Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới [72], đã đề cập các vấn đề lý luận và thực tiễn về xâydựng hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở nước ta; thực trạng hệthống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, trong đó tập trung đánh giá thành tự
và hạn chế trên một số vấn đề như: tạo việc làm, tạo thu nhập và tham gia thịtrường lao động, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ
Trang 22giúp xã hội Đồng thời công trình cũng đề cập đến những nhân tố ảnh hưởngtới hệ thống ASXH và PLXH; từ đó đề xuất một số giải pháp, định hướnghoàn thiện chính sách ASXH và PLXH
Đào Quang Vinh (2020), “Đảm bảo phúc lợi xã hội và tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam” [114] đã cho rằng: “Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhậpquốc dân được sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thầncủa các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối lại, ngoài phân phốitheo lao động” [114, tr.37] Từ quan niệm đó, tác giả đã đánh giá thực hiệnPLXH ở Việt Nam và cho rằng, hệ thống chính sách, pháp luật về PLXH củanước ta về cơ bản đã khá toàn diện, trong đó chủ yếu thực hiện trên 3 nguồntài chính: đóng góp của các chủ thể tham gia thị trường; ngân sách nhà nướcđảm bảo; và huy động từ cộng đồng Đồng thời, tác giả cũng khảo sát việcthực hiện PLXH ở một số nước trên thế giới và cho rằng: “Kinh nghiệm quốc
tế và thực tiễn ở nước ta đã chỉ ra rằng cần nhất quán quan điểm tăng trưởngkinh tế phải đi đôi với giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội Trong từng giaiđoạn phát triển, tùy điều kiện cụ thể cần tập trung giải quyết những vấn đềPLXH cơ bản, tạo sự ổn định xã hội để phát triển kinh tế Tuy nhiên, không
có mô hình nào là phù hợp cho tất cả các nước, mà mỗi nước cần tìm chomình một con đường phù hợp”[114, tr.46]
Nguyễn Đức Chiện (2021), “Vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hộitrong thực hiện phúc lợi xã hội ở Việt Nam hiện nay” [15], đã nghiên cứu vaitrò, làm rõ những thành công và hạn chế của Nhà nước, thị trường và xã hộitrong thực hiện phúc lợi xã hội ở Việt Nam hiện nay Bài viết cho rằng “Môhình phúc lợi xã hội mà Việt Nam đang hướng đến thực hiện tốt là tăng cườngtrách nhiệm của các chủ thể, thúc đẩy các nỗ lực tham gia của các cá nhân,doanh nghiệp và nhà nước trong việc bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội nhằmgiảm dần gánh nặng của ngân sách Nhà nước chi cho phúc lợi xã hội Nhữngphân tích trên cho thấy, mối quan hệ giữa các chủ thể (Nhà nước, thị trường
Trang 23và xã hội) hiện nay còn nhiều bất cập cả về pháp lý, thể chế chính sách, tàichính, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ có tính chuyên nghiệp; chưa hìnhthành được hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội rộng khắp với những cơ chếchủ động, tích cực, bền vững, làm chỗ dựa vững chắc cho người nghèo tựvươn lên thoát nghèo; chưa huy động được sự tham gia mạnh mẽ của toàn xãhội và công tác bảo đảm an ninh và phúc lợi xã hội.” [15, tr.108] Từ đó, bàiviết gợi mở một số phương hướng và giải pháp giải quyết hài hòa mối quan
hệ của ba chủ thể thực hiện PLXH ở Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025,góp phần hiện thực hóa các chủ trương của Đảng trong tăng cường tráchnhiệm, phối hợp hài hòa của các chủ thể trong thực hiện công tác này nhằmxây dựng một hệ thống phúc lợi toàn dân, toàn diện
1.2.3 Nhóm công trình tiêu biểu nghiên cứu về bảo đảm công bằng
về phúc lợi xã hội cho các dân tộc thiểu số
Nguyễn Quốc Phẩm (2006), Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người [71] đã cho rằng, CBXH giữa các dân tộcđược biểu hiện ở chỗ các dân tộc được thoả mãn những nhu cầu cơ bản về vậtchất và tinh thần trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ vàquyền lợi; đồng thời tạo ra cơ hội và điều kiện để các dân tộc, nhất là DTTSphát triển, phù hợp với khả năng đáp ứng của quốc gia trong những giai đoạnlịch sử nhất định Tác giả khẳng định, trong quá trình lãnh đạo cách mạng,Đảng ta đã thực hiện hiện nhất quán chính sách công bằng và bình đẳng dântộc, góp phần xây dựng và củng cố khối đoàn kết các dân tộc Quá trình đó đãđạt được một số kết quả khích lệ trong việc thực hiện sự công bằng và bìnhđẳng trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên, việc thựchiện chính sách công bằng và bình đẳng trên lĩnh vực trên còn bộc lộ những bấtcập hạn chế, nhiều vấn đề nan giải chưa được giải quyết
Hoàng Chí Bảo (2009), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay [3], đã
Trang 24đóng góp quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đối với việc xây dựng, tăngcường mối quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa các dân tộc ở nước ta Côngtrình đã đánh giá thực trạng mối quan hệ dân tộc ở nước ta, chỉ ra nhữngthành tựu và hạn chế trong bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa cácdân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, làm rõ nguyên nhân của thực trạng.
Từ đó, đề xuất phương hướng, quan điểm, giải pháp thực hiện bình đẳng vàtăng cường hợp tác giữa các dân tộc ở nước ta
Phạm Văn Dũng (2009), Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay [24], đã phân tích cơ sở vềcông bằng xã hội trong giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáodục ở các vùng DTTS ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, công bằng trong giáo dục
là việc tạo ra cho mỗi người DTTS có cơ hội tham gia vào quá trình pháttriển của xã hội và hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, bảo đảmquyền được giáo dục của mỗi người dân nói chung và đồng bào DTTS nóiriêng Công bằng xã hội trong giáo dục là trách nhiệm chung của nhà nước,của toàn xã hội Tác giả đã đề xuất một số phương hướng cơ bản và nhữnggiải pháp chủ yếu để bảo đảm thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ởcác vùng DTTS Việt Nam
Hoàng Xuân Lương (2014), Tư tưởng Hồ Chí Minh về các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển [61 ], đã đề cập đến nhiều
vấn đề lý luận và thực tiễn về đoàn kết dân tộc, bình đẳng dân tộc trên cáclĩnh vực chính trị - kinh tế, xã hội Đề tài đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh
về các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển; Phântích, làm rõ việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về các dân tộc bình đẳng,đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển trong thực tiễn công tác dân tộc;nghiên cứu giải pháp nâng cao khả năng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vềcác dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển trongthực tiễn công tác dân tộc…
Trang 25Phan Văn Hùng (2015), Những vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay [53], đã nghiêncứu các yếu tố chủ yếu tác động đến quan hệ dân tộc, nguồn gốc bất bìnhđẳng và xung đột dân tộc; chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhànước ta cùng một số định hướng chính sách dân tộc trong thời gian tới; thựctrạng quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất giảipháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc trong thờigian tới Những đề xuất, kiến nghị này có giá trị lớn đối với củng cố tăngcường mối quan hệ dân tộc tốt đẹp nói chung, bảo đảm công bằng về phúc lợi
xã hội cho đồng bào DTTS nói riêng
Bùi Thị Ngọc Lan (2019), “Công bằng xã hội giữa các nhóm dân tộcthiểu số ở Việt Nam hiện nay” [56], đã làm rõ khái niệm CBXH giữa các dântộc, phân tích những thành tựu, hạn chế của việc thực hiện CBXH giữa cácnhóm DTTS ở Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân cơbản dẫn đến những hạn chế, đề xuất một số biện pháp nhằm thực hiện côngbằng xã hội đối với nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay Bài viết chorằng: “công bằng xã hội giữa các dân tộc là một giá trị định hướng để từngdân tộc được thoả mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất và tinh thần trongquan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi; đồng thờitạo ra cơ hội và điều kiện để các dân tộc, nhất là nhóm dân tộc thiểu số đượcphát triển nhanh và bền vững, phù hợp với khả năng đáp ứng của quốc giatrong những giai đoạn lịch sử nhất định” [56, tr 4] Trên cơ sở phân tíchthực trạng của vấn đề này, tác giả khẳng định: “ thực hiện công bằng xã hộiđối với nhóm dân tộc thiểu số không chỉ là một mục tiêu mang đậm tínhnhân văn, mà còn là một biện pháp kinh tế có tác động mạnh mẽ và tích cựcthúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, ổn định hơn; đồng thời là mộtđộng lực góp phần quan trọng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ViệtNam” [56, tr 13] Bài viết đã gợi mở cho tác giả luận án một số vấn đề lýluận và thực tiễn trực tiếp liên quan đến đề tài
Trang 261.2.4 Nhóm công trình tiêu biểu nghiên cứu về bảo đảm công bằng phúc lợi
xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam
Lê Ngọc Lân (2005), “Phụ nữ các dân tộc miền núi phía Bắc: về hônnhân, văn hoá giáo dục và chăm sóc sức khoẻ” [58] đã giới thiệu một số nét
về địa vị của phụ nữ các DTTS trong các lĩnh vực hôn nhân, giáo dục vàchăm sóc sức khoẻ và đưa ra kết luận so với phụ nữ vùng đồng bằng, đô thị,thì phụ nữ DTTS tỉnh miền núi phía Bắc còn thua thiệt nhiều Để nâng caovai trò, vị thế của phụ nữ các DTTS cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ vềKT-XH, trong đó cần quan tâm đẩy mạnh hoạt động của các đoàn thể xã hội,
mở rộng các hình thức phổ cập giáo dục, xoá nạn mù chữ, mở rộng các hìnhthức tuyên truyền nhằm xoá bỏ một số tập tục lạc hậu, những định kiến đangcản trở sự phát triển của phụ nữ
Nguyễn Ngọc Thanh (2012), Một số vấn đề về chính sách giáo dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam [81] đã làm rõ tình hình giáo dục cũngnhư tác động của chính sách giáo dục đối với người dân ở vùng cao miền núiphía Bắc Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ đặc điểm vùng cao miền núi phía BắcViệt Nam; cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu chính sách xây dựng cơ sở vật chấttrong giáo dục; chính sách giáo dục về chương trình giảng dạy và sách giáokhoa; chính sách giáo dục về phát triển nguồn nhân lực
Hà Hùng (2014), Nghiên cứu thực trạng nghèo, giảm nghèo của người dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ [52], đã đánhgiá thực trạng nghèo và giảm nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số ở 3 vùngtrọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, chỉ ra các nhân tố tácđộng đến thực trạng này Đề tài đã tập trung làm rõ mức độ tác động của cácyếu tố nội sinh đến nghèo và giảm nghèo của đồng bào DTTS, từ đó, đề xuấtcác giải pháp và kiến nghị nhằm giảm nghèo bền vững ở vùng DTTS
Đỗ Thị Thơm (2016), Thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay [85], đã đề cập đến khái niệm dân tộc thiểu số, người dân tộc
Trang 27thiểu số, liệt kê nội dung quyền người dân tộc thiểu số và đề cập một số khíacạnh của quyền Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng, đời sống của đồng bào DTTSnói chung và ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng vẫn còn nhiều thua thiệt Ởnhiều vùng dân tộc tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tỷ lệ đói nghèo hiện vẫn cao
so với bình quân chung của cả nước; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữacác vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đàotạo còn thấp, đào tạo nghề chưa được quan tâm dẫn đến chất lượng nguồn nhânlực kém; công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa cònnhiều khó khăn [85, tr 152]
Trần Hồng Hạnh (2018), Chuyển đổi sinh kế của các dân tộc thiểu số ở vùng biên giới Việt - Trung [46], đã đề cập đến quan điểm của Đảng, Nhànước ta và các chính sách phát triển KT-XH vùng DTTS, vùng biên giới Việt
- Trung; điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, dân cư và các hoạt động kinh tếtrong khu vực; phân tích vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sự thay đổi củacác nguồn vốn cũng như sự thay đổi sinh kế của các DTTS ở vùng biên giớiViệt - Trung; phân tích ảnh hưởng của chuyển đổi sinh kế của các dân tộcthiểu số đến sự phát triển KT-XH và an ninh quốc phòng Đặc biệt, cuốn sách
đã đề cập đến một số khó khăn, thách thức và trở ngại đối với quá trình pháttriển của khu vực này như: thiếu vốn tự nhiên, thiếu vốn tài chính, thiếu laođộng, trình độ dân trí thấp, chủ yếu lao động thủ công, chưa qua đào tạo, biếnđổi khí hậu, thiên tai gia tăng, khó khăn trong tiếp cận thị trường, biến độnggiá cả, phân hoá giàu nghèo và bất ổn xã hội ngày càng gia tăng, nguy cơ đốivới môi trường sinh thái… [46, tr 359 - 386] Cuốn sách cung cấp cho luận
án một số cứ liệu khoa học và thực tiễn về đời sống của đồng bào DTTS ởkhu vực này, và gợi mở một số giải pháp có giá trị thực tiễn cao
Bùi Thị Ngọc Lan, Nghiêm Sỹ Liêm (2020), “Quản lý xã hội vùng dân tộcthiểu số khu vực Trung du và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” [57], chorằng, quản lý xã hội ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc nước ta hiệnnay được thực hiện chủ yếu thông qua hai hình thức cơ bản là thiết chế xã hội
Trang 28truyền thống và bộ máy quản lý của chính quyền các cấp, trực tiếp là hệ thống
chính trị cấp cơ sở vùng DTTS Trên cơ sở đánh giá những kết quả đã đạtđược, bài viết chỉ ra một số những hạn chế, yếu kém và những vấn đề đặt racần giải quyết như: vấn đề di cư tự do của người DTTS còn nhiều bất cập,tình hình an ninh chính trị có những dấu hiệu phức tạp, tệ nạn xã hội gia tăng,
quản lý đất đai vùng DTTS còn nhiều yếu kém; đời sống tín ngưỡng, tôn giáo
biến đổi không bình thường; một số hủ tục lạc hậu vẫn tồn tại trong một bộphận đồng bào DTTS; các thế lực thù địch, phản động tăng cường lợi dụngvấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Từ thực trạng đó, bài viết đã đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện hiệu quả quản lý xã hội vùng DTTS trong thời gian tới
Như vậy, các công trình ở trong nước đã nghiên cứu nhiều vấn đề lýluận và thực tiễn có liên quan đến bảo đảm công bằng về PLXH cho đồngbào DTTS, tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về bảo đảm côngbằng về PLXH cho đồng bào DTTS cũng như thực tiễn vấn đề này ở cáctỉnh biên giới phía Bắc
1.3 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.3.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã tổng quan có liên quan đến đề tài luận án
Một là, các công trình đã nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận và thực
tiễn về CBXH và bảo đảm CBXH ở Việt Nam Nhiều công trình đã làm rõquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,chính sách của Đảng, Nhà nước ta về CBXH, trên cơ sở đó tập trung luậngiải một số vấn đề lý luận cơ bản như: khái niệm, bản chất, nội dung, vaitrò của CBXH; mục tiêu, đặc điểm, nội dung, phương thức bảo đảmCBXH trong CNXH Đặc biệt, một số công trình đã tập trung nghiên cứucác vấn đề lý luận và thực tiễn về CBXH, bảo đảm CBXH ở Việt Nam,chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và giải pháp bảo đảm
Trang 29CBXH ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN và hội nhập quốc tế Các công trình nghiên cứu trên là tài liệutham khảo cho luận án luận giải rõ khái niệm, nội dung, quan điểm, chínhsách của Đảng, Nhà nước ta về CBXH và bảo đảm công bằng về PLXH
Hai là, các công trình đã nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận,
thực tiễn về phúc lợi xã hội ở trên thế giới và ở Việt Nam Một số côngtrình đã làm rõ khái niệm, học thuật về PLXH, các mô hình PLXH trênthế giới, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về PLXH và bảo đảmPLXH Một số công trình đã đề cập đến thực tiễn bảo đảm PLXH ở ViệtNam, chỉ ra những thành tựu, hạn chế của công tác bảo đảm PLXH chonhân dân ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Đây là những tài liệu thamkhảo quan trọng để tác giả luận án tiếp cận khái niệm, nội dung, quanđiểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về PLXH và bảo đảm PLXH
Ba là, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến thực tiễn bảo đảm công
bằng về PLXH cho đồng bào DTTS Một số công trình nghiên cứu đã đề cậpđến việc bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS, trong đó đi sâunghiên cứu việc thực hiện một hoặc một số chính sách PLXH như XĐGN, cứutrợ xã hội, trợ giúp xã hội, các chế độ PLXH, các dịch vụ xã hội… Qua đó, cáccông trình đề cập đến thực trạng đời sống của đồng bào, đánh giá việc bảo đảmcông bằng, bình đẳng dân tộc ở nước ta, chỉ ra những thành tựu, hạn chế,nguyên nhân của thực trạng và đề xuất một số giải pháp để nâng cao chấtlượng, hiệu quả thực hiện chính sách cũng như bảo đảm công bằng, bình đẳngdân tộc Các công trình nghiên cứu này là tài liệu quý để tác giả luận án kếthừa khi đánh giá thực trạng bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bàoDTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc hiện nay
Bốn là, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến một số vấn đề trong
bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phíaBắc Việt Nam hiện nay Một số công trình đã nghiên cứu về lịch sử phát triển,
Trang 30đặc điểm của các DTTS ở biên giới phía Bắc Việt Nam, những biến đổi trongđời sống xã hội, mối quan hệ tộc người và biến đổi của quan hệ tộc người trongthời kỳ đổi mới, chỉ ra những vấn đề nảy sinh, những vấn đề bức xúc, phức tạptrong đời sống của đồng bào nơi đây, những yếu tố khách quan và chủ quan chiphối, tác động đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, chính sáchphát triển KT-XH; chính sách xã hội, bảo đảm PLXH trên địa bàn Trên cơ sở
đó, các công trình đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiệnthực hiện chính sách dân tộc cũng như các chính sách xã hội, PLXH
Qua phân tích cho thấy, có nhiều công trình khoa học đã nghiên cứunhững vấn đề có liên quan, tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứutrực tiếp, hệ thống về bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ởcác tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay Đây là khoảng trống cầnnghiên cứu, góp phần làm rõ và bổ sung những vấn đề lý luận và thực tiễnbảo đảm công bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biêngiới phía Bắc Việt Nam hiện nay
1.3.2 Những vấn đề luận án sẽ tập trung giải quyết
Một là, tiếp tục nghiên cứu góp phần làm rõ một số khái niệm về công
bằng, về PLXH và đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã đượctổng quan, luận án hệ thống hoá và làm rõ hơn lý luận về CBXH, phúc lợi xãhội ở Việt Nam hiện nay Từ đó, nghiên cứu xây dựng và làm rõ nội hàmquan niệm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phíaBắc Việt Nam hiện nay
Hai là, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản bảo đảm
công bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phíaBắc Việt Nam Luận án tập trung xây dựng quan niệm và làm rõ mục đích,chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức bảo đảm công bằng về PLXHcho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay Từ
đó, làm rõ vai trò, yếu tố quy định bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng
Trang 31bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay Đây là khung
lý luận giúp cho hướng nghiên cứu của luận án được triển khai một cáchlôgíc, chặt chẽ và khoa học
Ba là, nghiên cứu khái quát chung về khu vực biên giới phía Bắc Việt
Nam hiện nay và đặc điểm đồng bào DTTS trên địa bàn Các công trìnhchưa nghiên cứu làm rõ đặc điểm có tính đặc thù liên quan đến việc bảo đảmcông bằng về PLXH cho đồng bào DTTS Do đó, luận án tập trung nghiêncứu làm rõ những đặc điểm của đồng bào DTTS có ảnh hưởng lớn đến bảođảm công bằng về PLXH
Bốn là, nghiên cứu thực trạng bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay Luận án tập trung
nghiên cứu làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thànhtựu, hạn chế trong bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS Trên cơ
sở đó, làm rõ những vấn đề đặt ra trong bảo đảm công bằng về PLXH cho đồngbào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Năm là, nghiên cứu đề xuất yêu cầu cơ bản tiếp tục bảo đảm công bằng
về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam trongthời gian tới Luận án nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể để huyđộng, sử dụng thống nhất mọi nguồn lực, kết hợp các tổ chức, các lực lượng,tạo sự chuyển biến rõ rệt đối với đời sống đồng bào DTTS nói chung, bảođảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía BắcViệt Nam nói riêng
Trang 32Kết luận chương 1
Bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS là vấn đề quan trọng,thường xuyên và lâu dài Hoạt động này vừa thể hiện bản chất của chế độ chínhtrị - xã hội, vừa mang nội dung rộng lớn và liên quan đến nhiều chủ thể Đếnnay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó có nhiều côngtrình khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu bảo đảm công bằng về PLXHnói chung và ở vùng đồng bào DTTS nói riêng với phạm vi, góc độ khác nhau
Các công trình đã nghiên cứu làm rõ một số vấn đề học thuật về CBXH,phúc lợi xã hội, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về CBXH, bảo đảm PLXH chođồng bào DTTS Một số công trình đã nghiên cứu về khu vực biên giới phíaBắc Việt Nam, thực hiện chính sách dân tộc, chính sách PLXH và thực tiễn đờisống của đồng bào trong khu vực này Những kết quả nghiên cứu này là nhữngtài liệu tham khảo cho nghiên cứu đề tài luận án
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu bảođảm công bằng về phúc lợi xã hội cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phíaBắc Việt Nam hiện nay một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc Đây là mộttrong những khoảng trống cần được bổ sung làm rõ cả về lý luận và thực tiễn
Do đó, luận án sẽ tập trung nghiên cứu góp phần làm rõ quan niệm, nội dung,phương thức, vai trò của bảo đảm công bằng về PLXH cho đồng bào DTTS ởcác tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay; thực trạng bảo đảm công bằng
về PLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nayTrên cơ sở đó, đề xuất yêu cầu và giải pháp tăng cường bảo đảm công bằng vềPLXH cho đồng bào DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Trang 33Chương 2 BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 2.1 Phúc lợi xã hội và công bằng về phúc lợi xã hội ở các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam
2.1.1 Quan niệm công bằng xã hội, phúc lợi xã hội và công bằng về phúc lợi xã hội
2.1.1.1 Quan niệm về công bằng xã hội
Thuật ngữ xã hội thường được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và
nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, “xã hội” là thuật ngữ dùng để chỉ một hệthống xã hội cụ thể, một hình thức của các quan hệ xã hội Theo nghĩanày, khái niệm xã hội đồng nhất với khái niệm hình thái kinh tế - xã hội,
là một kiểu xã hội ở vào trình độ phát triển nhất định trong lịch sử như xãhội nô lệ, phong kiến, tư bản, xã hội CSCN Còn theo nghĩa hẹp, thuật
ngữ xã hội được hiểu là lĩnh vực xã hội, cùng với các lĩnh vực khác như
chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh… Dù được hiểu theo góc
độ nào thì khi nói đến xã hội tức là đề cập đến những hoạt động của conngười hướng đến một mục tiêu chung, trong đó, hướng đến một xã hộicông bằng là ước mơ từ xa xưa của loài người tiến bộ
Công bằng được hiểu là theo đúng lẽ phải, không thiên vị Từ điển bách
khoa triết học Nga đã định nghĩa:
Công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai tròthực tiễn của cá nhân/nhóm xã hội với địa vị của họ trong đời sống
xã hội, giữa quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa laođộng và trả công, giữa tội phạm và trừng phạt, giữa công lao và sựtrừng phạt của xã hội Sự không phù hợp trong những trường hợp
đó được xem là bất công [102, tr 650]
Trang 34Tác giả Lương Việt Hải đã chỉ rõ bản chất của công bằng, khi cho rằng:
“Công bằng không phải là sự bằng nhau về số lượng hay chất lượng giữa cái
mà anh bỏ ra và cái mà anh ta thu về Vấn đề cốt yếu ở đây là sự so sánh về
tỷ lệ” [44, tr 96]
Hầu hết các ý kiến khi bàn đến công bằng đều hướng tới công bằng xã
hội Trên cơ sở nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả Nguyễn QuốcPhẩm đã khái quát: “… công bằng xã hội được xem xét chủ yếu ở hai phươngdiện: 1) Phân phối thu nhập; 2) Khả năng tiếp cận đến các cơ hội phát triển ”[71, tr 136] Như vậy có thể thấy, CBXH được tiếp cận dưới nhiều góc độkhác nhau, tuy nhiên hầu hết các ý kiến đều cho rằng:
Công bằng xã hội là một giá trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc cống hiến về vật chất, tinh thần ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng thụ ngang nhau những giá trị vật chất, tinh thần do
xã hội tạo ra, phù hợp với khả năng hiện thực của đất nước
Mục tiêu của CBXH là xác lập mối quan hệ giữa người với người trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc tương xứng giữa nghĩa vụ
và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa phẩm chất, năng lực với cơ hội
và điều kiện phát triển Tuy nhiên, đó không phải là sự tương xứng, sự ngangnhau một cách chung chung, phi lịch sử, phi giai cấp mà trên thực tế việc xáclập mối quan hệ này phụ thuộc vào quá trình tồn tại, phát triển của con người
và cộng đồng người trong điều kiện lịch sử cụ thể, mà trước hết nó phụ thuộcvào trình độ phát triển của phương thức sản xuất cùng với lợi ích của các giaicấp, các nhóm chủ thể xã hội trong từng thời kỳ lịch sử
Bản chất của CBXH là đối xử trong quan hệ xã hội với các tầng lớp, giai
cấp, dân tộc, mỗi con người trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội ngangnhau giữa nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và hưởng thụ, phẩm chất, nănglực với cơ hội, điều kiện phát triển, phù hợp với điều kiện thực tế của xã hội
Trang 35Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, CBXH là mục tiêu của CNXH, được thựchiện trước tiên trên nguyên tắc phân phối theo lao động C.Mác cho rằng, mặttiến bộ của nguyên tắc ấy so với trong chủ nghĩa tư bản được thể hiện ở chỗ,trong chủ nghĩa xã hội - khi tư liệu sản xuất được công hữu hóa, công bằng gắnliền với nguyên tắc phân phối theo lao động Tiêu chuẩn chủ yếu quyết địnhphẩm giá, địa vị xã hội, quyền hưởng thụ các phúc lợi xã hội của mỗi người sẽtương đương với hoạt động có lợi ích của người đó cho xã hội Sau khi khấu trừnhững khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như đời sống cộngđồng, toàn bộ sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: Mỗingười sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng sản phẩm tiêu dùng trịgiá ngang với số lượng lao động mà người đó cung cấp cho xã hội C.Mác viết:
“Cùng một lực lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội dưới một hìnhthức này thì anh ta lại nhận trở lại của xã hội dưới một hình thức khác” [64, tr.34].Đây là luận điểm mà C.Mác đã chỉ ra nguyên tắc trao đổi sản phẩm, phân phốitheo lao động trong chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là sự cào bằng trong quan hệ phânphối, trong thoả mãn các lợi ích, mà là sự điều hoà các quan hệ phân phối,quan hệ lợi ích giữa cá nhân, các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư một cáchhợp lý trên nguyên tắc phân phối theo cống hiến cho xã hội Theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh, để bảo đảm CBXH phải thực hiện nguyên tắc phân phối theo
lao động, tránh chủ nghĩa bình quân Người nhấn mạnh: “Phân phối phải theo
mức lao động Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì đượcphân phối ít Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thì đượcphân phối ít” [68, tr 216] Cơ sở để đánh giá sự tương xứng đó chính lànhững tiêu chí nhất định mà xã hội lựa chọn và chấp nhận Trên thực tế, dohình thức đóng góp đa dạng như thời gian lao động, vốn, chất xám, xươngmáu, kinh nghiệm và hình thức được nhận lại cũng rất đa dạng như tiềncông, phần thưởng, địa vị, chức vụ, sự kính trọng đã làm cho sự tương xứngnói trên không phải bao giờ cũng được bộc lộ rõ ràng nên có những trườnghợp là công bằng nhưng chủ thể cho là chưa công bằng và ngược lại
Trang 36Nội dung của CBXH được thể hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã
hội, trong đó thể hiện tập trung ở công bằng trong phân phối và công bằng về
cơ hội, điều kiện phát triển Công bằng xã hội được xem xét chủ yếu ở haiphương diện: phân phối thu nhập và khả năng tiếp cận đến các cơ hội pháttriển Công bằng trong phân phối là sự ngang nhau trong phân phối các yếu tốđầu vào của sản xuất (tư liệu sản xuất) và sản phẩm đầu ra (tư liệu tiêu dùng)phục vụ nhu cầu tái sản xuất xã hội và đời sống con người Công bằng về cơhội, điều kiện phát triển tức là sự ngang nhau trong tiếp cận cơ hội để phát triển
Sự ngang nhau này không chỉ được biểu hiện ở cơ hội tiếp cận các nguồn lựcphát triển mà còn được biểu hiện ở tất cả các điều kiện, các dịch vụ xã hội Cơhội là bình đẳng nhưng năng lực của mọi người lại khác nhau, do đó không phảitất cả mọi người đều có thể sử dụng cơ hội một cách ngang nhau Thế nên côngbằng về cơ hội cũng bao hàm việc tạo cơ hội phù hợp để mỗi người có thể pháthuy khả năng vốn có của mình, cống hiến cho xã hội và được hưởng thụ tươngxứng với những cống hiến ấy Do đó, phân biệt công bằng về cơ hội, điều kiệnphát triển và công bằng trong phân phối chỉ mang ý nghĩa tương đối Công bằng
về cơ hội và điều kiện phát triển chính là tiền đề đảm bảo CBXH thực sự Đặcbiệt, trong xã hội hiện đại thì công bằng về cơ hội sẽ tác động toàn diện đến bảođảm công bằng trong đời sống xã hội
Thực hiện công bằng xã hội là tiền đề, điều kiện để thực hiện bình đẳng
xã hội Bởi lẽ, bình đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người với người
về một (hoặc một vài) lĩnh vực xã hội như: sự ngang bằng nhau về quyền vànghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, khả năng, cơ hội, mức độ thoả mãnnhững nhu cầu cụ thể nhất định Trong xã hội, không phân biệt thành phần,địa vị xã hội mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, có điều kiện vàkhả năng sống như nhau để phát triển năng lực và thoả mãn các nhu cầu củacuộc sống Bình đẳng là sự công bằng nhưng phải hợp lý trong mối quan hệ(trong sự so sánh) giữa hai hay nhiều đối tượng trong điều kiện cụ thể Còn
Trang 37công bằng xã hội là sự bằng nhau, giống nhau tương ứng một cách hợp lýgiữa hai mặt thống nhất của một đối tượng (cá nhân hoặc cộng đồng): giữanghĩa vụ và quyền lợi, giữa làm và hưởng, giữa công lao và khen thưởng,giữa khả năng và trách nhiệm, giữa tội lỗi và xử phạt Do vây, CBXH baohàm cả khía cạnh bình đẳng và bất bình đẳng Bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ công dân trước pháp luật; bình đẳng về nhân phẩm, chủng tộc, giới tính,tín ngưỡng tôn giáo chống lại mọi sự kỳ thị, phân biệt đối xử là những yêucầu của CBXH Tuy nhiên, sự bất bình đẳng về hưởng thụ do sự không ngangnhau về phẩm chất và năng lực trong lao động, cống hiến cũng là một yêu cầucủa công bằng xã hội Như vậy, xét đến cùng, không có bình đẳng trừu tượng,
mà bình đẳng phải được thể hiện ở việc thực hiện CBXH Đến lượt nó, bảnthân việc thực hiện CBXH cũng chính là thực hiện bình đẳng xã hội từngphần để hướng đến bình đẳng xã hội ngày một cao hơn Trên thực tế, khi bànđến công bằng theo nghĩa rộng bao gồm cả bình đẳng Trong luận án, tác giảxem xét theo hướng này, tức là sự giống nhau, sự ngang bằng nhau giữa các
cá nhân, cộng đồng phù hợp với điều kiện, khả năng cụ thể
2.1.1.2 Quan niệm về phúc lợi xã hội
Hiện nay, trên thế giới có một số quan niệm khác nhau về PLXH Nhà xã
hội học người Anh, Gordon Marshall đã định nghĩa: “Phúc lợi là tình trạng hoặc
điều kiện làm ăn khấm khá hoặc sinh sống đàng hoàng hạnh phúc” Ông cũng
cho rằng: “Không phải chỉ có những nhu cầu tối thiểu để sinh tồn, mà bao gồm
cả những nhu cầu cần thiết cho một cuộc sống tử tế, xứng đáng Các nhu cầu nàykhông chỉ có cái ăn, cái mặc, mà còn bao gồm nhà ở đàng hoàng, giáo dục, у tế
và cơ hội có việc làm” [23, tr 33 - 34]
Ở Nhật Bản đã chú trọng phát triển khía cạnh xã hội, đầu tư vào phúc lợi
xã hội từ rất sớm Trong Báo cáo Điều tra phúc lợi xã hội và giáo dục quốc tếlần thứ V, năm 1971 của Nhật Bản đã định nghĩa: “Phúc lợi xã hội là biệnpháp, thủ tục hỗ trợ một cách gián tiếp và là dịch vụ xã hội nhằm tăng cường
Trang 38phúc lợi cho mỗi cá nhân, với mục đích cải thiện mối quan hệ và công việc xãhội đối với mỗi thành viên trong xã hội” [23, tr 27].
Ở một số quốc gia châu Âu cho rằng, phúc lợi kinh tế có nội dung rất rộnglớn nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân các cá nhân (nhu cầu vật chất và tinhthần) và của xã hội Năm 1980, Beulah Compton đã đưa ra một định nghĩa:
Phúc lợi xã hội là một thiết chế bao gồm các chính sách và luật lệ,được thực thi bởi nhà nước hay các tổ chức tự nguyện, thông qua đómột mức độ tối thiểu nhất định về các dịch vụ xã hội thiết yếu (như
y tế, giáo dục, nhà ở ) được phân phối cho các cá nhân, gia đình,nhóm xã hội (những dịch vụ mà gia đình hay thị trường không đápứng được cho họ) nhằm mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hoặc đónggóp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và cải thiện sự an sinh của
cá nhân, nhóm và cộng đồng một cách trực tiếp [23, tr 38]
Như vậy, nhiều nước trên thế giới đã quan tâm bảo đảm PLXH ngày càngtốt hơn cho người dân Hoạt động này thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, đượcthực hiện bởi chính phủ bằng ngân sách nhà nước với mục tiêu không chỉquan tâm đến những người không có cơ may mà cả các cá nhân bình thườngnhằm nâng cao mặt bằng sống tối thiểu của người dân
Ở Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa: PLXH là một bộ
phận thu nhập quốc dân được sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất vàtinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối ngoài thunhập theo lao động, phân phối lại Quan niệm này nhấn mạnh đến nguồn vậtchất sử dụng đảm bảo PLXH
Đào Quang Vinh (2020), trong bài viết “Đảm bảo phúc lợi xã hội và tăngtrưởng kinh tế ở Việt Nam” đã chỉ rõ: “Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí
xã hội như: trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng chohọc sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo…” [114, tr.38] Ông cũng cho rằng, có thể
Trang 39xem xét PLXH trên 3 khía cạnh: PLXH là một bộ phận thu nhập quốc dânđược sử dụng để góp phần thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của cácthành viên trong xã hội; thực hiện PLXH là thực hiện phân phối lại ngoàiphân phối theo lao động và PLXH là biện pháp nhằm giảm bớt sự không côngbằng xã hội Đây cũng là cách tiếp cận được nhiều nhà khoa học, nhà quản lýđồng tình và được sử dụng rộng rãi ở nước ta hiện nay.
Kế thừa các quan niệm trên, có thể khẳng định: Phúc lợi xã hội là một phần thu nhập quốc dân được phân phối bao cấp để đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho một bộ phận dân cư hoặc nâng cao đời sống mọi mặt cho toàn xã hội.
Thực chất phúc lợi xã hội là hoạt động phân phối lại (ngoài phần dùng cho phân phối theo lao động và phân phối theo vốn đóng góp) nhằm đáp ứng
nhu cầu vật chất, tinh thần ở mức thiết yếu (tối thiểu) cho một bộ phận dân cư(bộ phận yếu thế, không có cơ may) hoặc để nâng cao chất lượng sống cho
các thành viên trong xã hội Đây là hình thức phân phối lại do nhà nước, thực
hiện bằng nguồn ngân sách nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, làcông cụ được nhà nước sử dụng để điều chỉnh thu nhập trong xã hội, giảm bớtkhoảng cách giàu nghèo, xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho conngười, cho xã hội
Mục tiêu của PLXH là giảm thiểu sự bất công bằng trong xã hội, làm cho
mọi thành viên trong xã hội được thụ hưởng thành quả của phát triển Phúclợi xã hội là công cụ để bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho các đối tượng yếu thế,
dễ bị tổn thương hoặc có hoàn cảnh đặc biệt… giúp các đối tượng này hoànhập vào sự phát triển chung của xã hội, đồng thời hướng đến nâng cao điềukiện sống và cải thiện các mối quan hệ xã hội (giảm bớt chênh lệch giàu -nghèo, giảm các mâu thuẫn trong xã hội), mang lại cuộc sống tốt đẹp cho mọingười
Đối tượng của PLXH trước hết là những người có hoàn cảnh, điều kiện
sống đặc biệt (như người già, trẻ em, người tàn tật, người dân ở vùng quá khó
Trang 40khăn, những người có hoàn cảnh kinh tế thấp kém ) và tiếp đó là các thànhviên của xã hội nói chung (toàn dân) Phúc lợi không chỉ đảm bảo cuộc sốngcho các đối tượng không có cơ may, bị tổn thương mà là cho toàn dân nhằmcải thiện và nâng cao chất lượng sống chung và được thực hiện ở nhiều lĩnhvực Khi nền kinh tế càng phát triển thì số lượng người được hưởng các dịch
vụ phúc lợi càng được mở rộng, mức sống toàn dân sẽ được nâng cao
Nội dung của phúc lợi xã hội tuỳ thuộc vào phạm vi nhu cầu thiết yếu của xã
hội, trong đó các nhu cầu xã hội cơ bản thường liên quan đến nhu cầu lương thựcthực phẩm, việc làm và phát triển nghề nghiệp, thu nhập, nhà ở, chăm sóc sứckhoẻ và học tập Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, PLXH có nội dung hết sức toàndiện Trong “Chương trình Việt Minh”, Hồ Chí Minh đã mô tả những nét cơ bảnnhất về mô hình nhà nước mới, trong đó có lĩnh vực PLXH Sau khi giành đượcchính quyền, ngày 10 tháng 1 năm 1946, tại cuộc họp của Uỷ ban Nghiên cứu kếhoạch kiến quốc, Người yêu cầu: “Chúng ta phải thực hiện ngay: 1 Làm cho dân
có ăn 2 Làm cho dân có mặc 3 Làm cho dân có chỗ ở 4 Làm cho dân có họchành” [65, tr 175] Người đã khởi xướng và tổ chức thực hiện nhiều chính sáchPLXH phù hợp với những đối tượng cụ thể như cứu đói; xoá nạn mù chữ; mởmang hệ thống y tế, giáo dục; chăm sóc và trợ giúp thương binh, gia đình liệt sĩ;trợ giúp đồng bào tản cư; chăm sóc và giáo dục trẻ em, bảo vệ và chăm sóc ngườigià, phụ nữ, người ốm đau, người thất nghiệp Trong Di chúc Bác có đề cập đếncác định hướng chính sách nhằm bảo đảm cuộc sống cho mọi tầng lớp dân cư
Kế thừa và thực hiện tư tưởng của Người, ở Việt Nam, hệ thống
PLXH trong thời kỳ đổi mới xoay quanh 5 trục cơ bản gồm: một là, xây
dựng ba khu vực chính của hệ thống phúc lợi xã hội (bao gồm ưu đãi xã hội,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và cứu trợ xã hội); hai là, hình thành các
thiết chế quản lý quan hệ lao động (Luật Doanh nghiệp, Luật Lao động );
ba là, phúc lợi cho các nhóm xã hội yếu thế như trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người tàn tật, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn; bốn là, xoá đói giảm nghèo; năm là, khuôn khổ hoạt động của các chủ thể trong lĩnh vực