Mục tiêu luật dạy nghề chỉ rõ dạy nghề là “ đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
SƠ CẤP NGHỀ PHỤC VỤ BUỒNG TẠI TRƯỜNG NGHIỆP VỤ NHÀ HÀNG THÀNH PHỐ
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
Tp Hồ Chí Minh, tháng 05/ 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
SƠ CẤP NGHỀ PHỤC VỤ BUỒNG TẠI TRƯỜNG NGHIỆP VỤ NHÀ HÀNG THÀNH PHỐ
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC – 601401
Tp Hồ Chí Minh, tháng 05/ 2012
Trang 33 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
8 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Trang 4Nguồn nhân lực nói chung, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có chất lượng cao nói riêng đang thực sự trở thành yếu tố quan trọng trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước, đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của đất nước, tạo sức mạnh cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế.
Trong đường lối phát triển đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Đảng
và Nhà nước coi việc phát triển dạy nghề có vị trí quan trọng trong chiến lược phát
triển nguồn nhân lực của đất nước Đảng và Nhà nước đã xác định rõ vai trò của phát triển nguồn nhân lực và khẳng định rằng: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Để có thể hội
nhập kinh tế tốt hơn, trình độ của nhân lực được đào tạo cần được chuẩn hoá và
tương đồng với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mục đích trao đổi
lao động, học tập cũng như việc tuyển dụng, trả lương trong các doanh nghiệp trong
và ngoài nước ở Việt Nam
Để đào tạo được nguồn nhân lực tốt đáp ứng cho nhu cầu phát triển xã hội, đòi
hỏi giáo dục nghề nghiệp gắn liền với đào tạo nguồn nhân lực tham gia vào xây
dựng và phát triển đất nước (đào tạo theo nhu cầu xã hội) Mục tiêu luật dạy nghề
chỉ rõ dạy nghề là “ đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có
năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” 1
Và chúng ta cũng nhận thấy 1 điều là : bấy lâu nay chúng ta luôn chú trọng đến việc đào tạo nghề cho những đối tượng có điều kiện đi học tại các trường cao đẳng, đại học, các cơ sở , trung tâm dạy nghề v.v mà hầu như rất ít quan tâm đến việc đào tạo nghề cho những đối tượng là trẻ em đường phố, trẻ mồ côi không nơi
1 Luật Dạy nghề của Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 10, số 6/2006/QH11 ngày 19 tháng 11 năm 2006 Điều 4, chương I
PHẦN A PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 5nương tựa (gọi chung là trẻ có hòan cảnh khó khăn) không có cơ hội và điều kiện (cả về vật chất và thời gian) để đến trường, đến lớp
Năm 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số
39/2009/TT-BGDDT ngày 29 tháng 12 năm 2009, quy định Giáo dục hoà nhập cho trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn, trong thông tư nêu rõ mục tiêu giáo dục hoà nhập: “ Mọi trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đều được học tập bình đẳng trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, được giáo dục các kĩ năng sống, học văn hoá, hướng nghiệp, học nghề để hoà nhập cộng đồng; Mọi trẻ em được nhận một nền giáo dục phù hợp với hoàn cảnh sống, nhu cầu và khả năng học tập trong các giai đoạn phát triển của trẻ.”
Ðào tạo nghề và giải quyết việc làm cho trẻ lang thang (trẻ đường phố), trẻ có hoàn cảnh khó khăn là một trong những những cách để giúp trẻ ổn định cuộc sống hội nhập cộng đồng, cũng là một phần trong kế hoạch của Tp HCM nói riêng và của Nhà nước nói chung về "Chương trình bảo vệ trẻ có hoàn cảnh đặc biệt" Việc hỗ trợ nghề nghiệp cho trẻ ngày càng đa dạng, mang tính chuyên môn, đựợc tiến hành bởi các cơ sở xã hội trong và ngoài Nhà nước Trong những năm gần đây, trẻ có hoàn cảnh khó khăn tại địa bàn TP.HCM đã được các cơ quan chức năng quan tâm, hỗ trợ, trẻ được học nghề và học việc tại các Trung tâm Dạy nghề của quận, Trường dạy nghề Lasan Ðức Minh, Cơ sở Dạy nghề Hướng Dương, nhà may Liên Hương, nhà hàng Hương Lài, Studio Cát Vàng, xưởng cơ khí Kim Thu Sau khi học nghề, một số trẻ đã được giữ lại cơ sở để làm việc Trong đó phải kể đến một cơ sở dạy nghề miễn phí cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn là Trường Nghiệp
vụ Nhà hàng Thành Phố (NVNH TP) ( tên trước đây là Trường Nghiệp Vụ Nhà Hàng cho Trẻ em Đường phố) – trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội TP.HCM Đây là đơn vị sự nghiệp dạy nghề liên kết với nước ngoài (Hiệp hội Tam giác Thế hệ nhân đạo - Triangle Generation Humanitaire (TGH));
Trường NVNH TP hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, Trường được thành lập với mục tiêu đóng góp vào chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam thông qua hoạt động dạy nghề và tạo việc làm miễn phí cho các thanh niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, con em gia đình hộ nghèo hoặc diện chính sách có công Nhiệm vụ chính của trường là xây dựng chương trình và đào tạo nghề ngắn hạn như: làm bếp, phục vụ nhà hàng, làm bánh Âu cho những thiếu niên mồ côi, lang thang hoặc con em các gia đình nghèo ở TP Đây là trường đào tạo về nghiệp
vụ nhà hàng đầu tiên cho trẻ đường phố tại TP.HCM
Hiện nay, trường đã và đang mở rộng cơ sở vật chất, đầu tư phòng học – mở rộng thêm nghề đào tạo ngắn hạn nhằm tạo thêm nhiều điều kiện cho thiếu niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại TP được học tập về nghiệp vụ nhà hàng để giúp các em có việc làm ổn định, hội nhập đời sống xã hội Bên cạnh đó, việc xây dựng
và phát triển chương trình dạy nghề tại trường luôn được chú trọng nhằm đưa ra những chương trình đào tạo hiệu quả, gắn liền với thực tiễn giúp người học có năng lực thực hành nghề một cách vững vàng và tự tin sau khi ra trường
Trang 6Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu mạnh dạn chọn lĩnh vực
Luận văn được thực hiện với sự hướng dẫn của PGS.TS Phùng Rân
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xây dựng chương trình đào tạo nghề “ phục vụ buồng (phòng)” trình độ sơ cấp cho đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tại Trường Nghiệp Vụ Nhà
Hàng Thành Phố - trực thuộc Sở Lao Động Thương Binh & Xã Hội Thành Phố
Hồ Chí Minh, nhằm góp phần giải quyết việc làm cho đối tượng trẻ có hoàn cảnh
khó khăn sống trên địa bàn TP.HCM, bao gồm : trẻ đường phố, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ thuộc diện gia đình nghèo, gia đình chính sách có công Tạo điều kiện để các em có nghề nghiệp ổn định hoà nhập với cộng đồng, nuôi sống bản thân và gia đình
3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu xác định được cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu hợp lý thì sẽ xây dựng được chương trình đào tạo nghề phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề “phục vụ buồng (phòng)” cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thị trường lao động, đồng thời góp phần tạo công ăn, việc làm ổn định cho đối tượng là trẻ có hoàn cảnh khó khăn
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chương trình đào tạo nghề “Phục vụ buồng (phòng)” trình độ sơ cấp
4.2 Khách thể nghiên cứu
trường cao đẳng, đại học, các trung tâm dạy nghề tại TP.HCM
4.3 Khách thể điều tra
TP.HCM
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
▪ Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
▪ Nhiệm vụ 2: Khảo sát nhu cầu học tập từ phía người lao động đang làm
công việc phục vụ buồng; khảo sát nhu cầu tuyển dụng từ các nhà quản lý trong khách sạn trên địa bàn TP.HCM
Trang 7▪ Nhiệm vụ 3: Xây dựng chương trình đào tạo sơ cấp nghề “ phục vụ buồng tại Trường Nghiệp Vụ Nhà Hàng Thành Phố ”
▪ Nhiệm vụ 4: Tiến hành lấy ý kiến chuyên gia về biểu đồ phân tích nghề
phục vụ buồng và chương trình đào tạo sơ cấp nghề phục vụ buồng cho trường Nghiệp Vụ Nhà Hàng Thành Phố
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Những phương pháp nghiên cứu cơ bản sử dụng để thực hiện luận văn là:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu có liên quan đến vấn đề phát triển chương trình đào tạo nghề, bao gồm:
phương pháp tiếp cận đào tạo theo mô-đun
liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra bằng phiếu hỏi: Thông qua nghiên cứu thực trạng các điều
kiện thực tế, nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá và thiết kế các bảng hỏi
để thu nhận thông tin làm cơ sở đánh giá về thực trạng chương trình đào tạo, đánh giá nhu cầu nghề nghiệp, việc làm trên địa bàn TP.HCM
Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá của
những chuyên gia về chương trình đào tạo nghề phục vụ buồng (phòng) do người nghiên cứu xây dựng
6.3 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng toán thống kê xử lý các thông tin
khảo sát để mô tả
7 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Trong điều kiện thực tế nghiên cứu, luận văn thực hiện một số nội dung trong phạm vi như sau:
7.1 Khảo sát, đánh giá thực trạng nhu cầu học nghề phục vụ buồng và nhu cầu tuyển dụng ở một số khách sạn tại TP.HCM
Trang 87.2 Qua nghiên cứu, chương trình được xây dựng ở mức thiết kế nội dung chương trình chi tiết, chỉ đánh giá chương trình bằng phương pháp chuyên gia, chưa có đủ điều kiện áp dụng thực nghiệm để đánh giá chương trình
Đề tài chỉ khảo sát nhân viên phục vụ buồng, cán bộ quản lý bộ phận phục vụ buồng ở các khách sạn tại Tp.HCM
8 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
8.1 Tính thực tiễn
Khi đề xuất phát triển chương trình đào tạo nghề “Phục vụ Buồng” trình độ
sơ cấp có hiệu quả thì:
Góp phần tạo công ăn, việc làm ổn định cho đối tượng là trẻ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn TP.HCM
Giúp cho các cơ sở đào tạo và các cơ quan quản lý đào tạo có tài liệu đào tạo
và quản lý
8.2 Hiệu quả kinh tế xã hội
Góp phần vào việc thực hiện chủ trương nhà nước nói chung và của Tp.HCM nói riêng về giúp các em có hoàn cảnh khó khăn trưởng thành, vững vàng, có thêm
kỹ năng và kiến thức nghề nghiệp, chuẩn bị cho cuộc sống ngày mai bên cạnh việc tăng thu nhập cho gia đình và cho bản thân, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội
8.3 Khả năng triển khai ứng dụng vào thực tế
Các kết quả nghiên cứu của đề tài hoàn toàn có khả năng ứng dụng vào thực tế đào tạo nghề Phục vụ Buồng tại các trường, các cơ sở đào tạo nghề không chỉ trên địa bàn TP.HCM mà trên các vùng miền trên đất nước Việt Nam đang có tiềm năng phát triển du lịch như: khu vực Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam Bộ và Tây Nguyên
9 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN:
1 Thu thập và nghiên cứu tài liệu
Hoàn thành đề cương nghiên cứu
( chuyên đề 2)
07/2011
2 Xây dựng cơ sở lý luận
Soạn bộ công cụ khảo sát
08/2011
Trang 93 Khảo sát, phân tích số liệu, đánh giá:
- Nhu cầu tuyển dụng
6 Nhận góp ý từ giáo viên hướng dẫn để hoàn
thiện luận văn
02/2012
_ _
Trang 10CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
_ _ _ _ _ _
1.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Khái niệm về giáo dục nghề nghiệp
1.1.2 Thuật ngữ về xây dựng chương trình
1.1.3 Thuật ngữ chuyên ngành nghiên cứu
1.2 TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG
Trang 111.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Khái niệm về giáo dục nghề nghiệp
như một thuật ngữ toàn diện về các khía cạnh của quá trình giáo dục, bổ sung vào nền giáo dục nói chung, bao gồm việc nghiên cứu những công nghệ và các môn khoa học có liên quan, và việc đạt được kỹ năng thực hành, thái độ, sự hiểu biết và kiến thức liên quan đến nghề nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế và cuộc sống xã hội Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật còn có thể được hiểu thêm là:
- Một phần không thể thiếu của nền giáo dục nói chung;
- Môt phương tiện (hoặc cách thức) nhằm chuẩn bị cho các lĩnh vực nghề nghiệp và tham gia hiệu quả vào thế giới việc làm;
- Một khía cạnh của học tập suốt đời và chuẩn bị cho tinh thần trách nhiệm công dân;
- Một công cụ cho việc thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện về môi trường;
- Một phương pháp để tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo [48, tr.7]
Theo từ điển giáo dục học [11], giáo dục nghề nghiệp là hệ thống đào tạo
nhân lực có tay nghề trong nền giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỉ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh
- Giáo dục nghề nghiệp gồm:
1) Trung học chuyên nghiệp: được thực hiện từ 3 – 4 năm đối với người tốt
nghiệp trung học cơ sở; từ 1 – 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, nhằm đào tạo kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có kiến thức
và kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ trung cấp
2) Sơ cấp nghề nghiệp được thực hiện dưới 1 năm đối với những người
có trình độ học vấn và sức khoẻ phù hợp với chương trình dạy nghề ngắn hạn; từ 1 – 3 năm đối với những người thích hợp với chương trình dạy nghề dài hạn
Nội dung giáo dục nghề nghiệp tập trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo Phương pháp giáo dục nghề nghiệp chú trọng kết hợp giảng giải lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành để đảm bảo sau khi tốt nghiệp người học có khả nâng hành nghề Nội dung, phương pháp giáo dục nghề nghiệp
Trang 12được thể hiện thành chương trình giáo dục các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp quy định
trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học Được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp [16, chương 1]
bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp,
ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục lên trình độ cao hơn [16, chương 2]
sơ cấp thể hiện mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp; quy định chuẩn kiến thức,
kỹ năng, phạm vi, và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-đun, mỗi nghề [16, chương 2]
1.1.2 Thuật ngữ về xây dựng chương trình
Một số khái niệm và thuật ngữ về xây dựng chương trình [26]
công việc
và kỹ năng nghề cụ thể
cho giáo viên bao gồm: trình tự về nội dung, trang thiết bị, dụng cụ, vật tư tiêu hao, các yêu cầu về tiêu chuẩn đạt được
hoàn tất (có một khởi điểm và một kết thúc xác định), có thể chia thành hai hay nhiều bước và được thực hiện trong một khoảng thời gian hữu hạn, đến khi hoàn tất sẽ ở dưới dạng một sản phẩm, bán thành phẩm, một dịch vụ hoặc một quyết định, mà thông thường người thợ được phân công để thực hiện
nghề, qua đó một tiểu ban gồm các chuyên gia lành nghề được tập hợp và dẫn dắt bởi một thông hoạt viên đã được đào tạo, để cùng nhau xác định cụ thể và chi tiết được các nhiệm vụ và công việc mà các công nhân lành nghề phải thực hiện trong nghề nghiệp của họ
Trang 13- Đơn nguyên học tập (Learning element): Nội dung đào tạo của mỗi
module được chia thành từng phân tố gọi là đơn nguyên học tập Mỗi đơn nguyên học tập trình bày một vấn đề chuyên biệt về kiến thức và kỹ năng của một nghề nào đó và có thể dùng cho người dạy lẫn người học [34]
về một nghề cụ thể để có thể xây dựng được nội dung đào tạo nghề Phương thức đó được thực hiện bằng cách quan sát tại chỗ thao tác công việc của một công nhân, và hỏi chuyện họ về các công việc cụ thể mà họ thực hiện
thức tối thiểu (về sự kiện, khái niệm, nguyên tắc và quy trình) cần thiết để
hành nghề
việc
chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học nghề có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của một nghề Trong mođun hàm chứa cả kiến thức đan xen , tích hợp với kỹ năng; có được môđun từ phân tích nghề Sau khi học xong một môđun, học viên
có thể hành nghề ngay trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp của nghề hoặc một vị trí nhất định của sản xuất
được phân chia một cách logic theo từng công việc hợp thành của một nghề nào
đó có mở đầu và có kết thúc rõ ràng và về nguyên tắc công việc này không chia nhỏ hơn được Kết quả của một công việc là một sản phẩm, một việc phục vụ hoặc một quyết định cần thiết [34]
một phần nội dung đào tạo của một hoặc một số nghề hoàn chỉnh được cấu trúc theo các mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành mà sau khi học xong người học có thể ứng dụng để hành nghề trong xã hội [34]
cách thể hiện các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà công việc đó đòi hỏi
yếu nằm trong một nghề Một nhóm các công việc tương tự hoặc có liên quan được sắp xếp một cách thuận tiện hoặc tùy ý
trong một ngành nghề nào đó để xác định được các bước cần diễn ra để thực
Trang 14hiện được công việc đó, các kiến thức chủ yếu có liên quan mà người thợ cần biết, và các tiêu chuẩn mà giới sản xuất đòi hỏi cho việc thực hiện công việc
và công việc mà một công nhân lành nghề phải thực hiện được trong nghề nghiệp của mình (Xem chữ DACUM)
một việc làm hoặc công việc
thực hiện thành thạo một mục tiêu công việc
trong một nghề dùng để xác định xem một công việc đã được thực hiện một cách thỏa đáng hay chưa
hoạt động đào tạo Trong đó phải phản ánh các yếu tố mục tiêu dạy học, nội dung và phương pháp, phương tiện dạy học, các kết quả dạy học Những yếu tố này được cấu trúc theo quy trình chặt chẽ về thời gian biểu Sao cho sau khi hoàn tất hệ thống việc làm đó, người học và người dạy đạt được mục đích việc học và dạy của mình hình thành nên một mẫu người, mẫu năng lực, mẫu
nhân cách có đủ tài (3K: kiến thức – kỹ năng – kỹ xảo), đủ đức (3T: tư tưởng –
tình cảm – thái độ)
Chương trình đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất thường được
xây dựng trên cơ sở phân tích tỉ mỉ toàn bộ các công việc trong quy trình công
nghệ (quy trình lao động) của mỗi nghề để thiết kế một nội dung đào tạo theo từng công việc của quy trình công nghệ sao cho phù hợp với nhu cầu người sử dụng lao động cũng như trình độ và khả năng của người học
Một chương trình đào tạo sau khi được xây dựng và áp dụng sẽ liên tục được điều chỉnh, phát triển và cải tiến cho phù hợp với nhu cầu sản xuất công nghiệp, nhu cầu xã hội
Trong xây dựng chương trình đào tạo gồm có 3 giai đoạn: thiết kế - thực
hiện – đánh giá và 10 bước sau:
Trang 15Sơ đồ 1.1: Các bước trong xây dựng chương trình đào tạo nghề
(Nguồn: Tài liệu môn học phát triển chương trình đào tạo nghề- TS Võ Thị Xuân)
Trong sơ đồ 1.1, do sự giới hạn về thời gian nghiên cứu, đề tài chỉ thực hiện
được các bước có tô nền xanh – chữ đỏ
- Phát triển chương trình đào tạo [25]: là một quá trình thiết kế, điều chỉnh sửa đổi dựa trên việc đánh giá thường xuyên liên tục Phát triển là một từ
đã mang nghĩa là thay đổi tích cực Thay đổi trong chương trình đào tạo có nghĩa là những lựa chọn hoặc điều chỉnh hoặc thay thế những thành phần trong chương trình đào tạo (thay đổi về mẫu năng lực, thay đổi cấu trúc nội dung)
Để có được sự thay đổi tích cực mang lại sự phát triển, cần phải:
Thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu về nghề nghiệp và phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ liên quan
Thay đổi phải có kế hoạch – đây là một loạt các bước theo trình tự và
hệ thống để dẫn tới trạng thái mục tiêu
Thay đổi phải mang lại sự tiến bộ hơn
đổi những chi tiết nhỏ mà không làm thay đổi về mẫu năng lực hay cấu trúc nội dung
Trang 161.1.3 Thuật ngữ chuyên ngành
nghi cần thiết phục vụ kinh doanh lưu trú, đáp ứng một số yêu cầu về nghỉ ngơi,
ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác trong suốt thời gian khách lưu trú tại khách sạn, phù hợp với động cơ, mục đích chuyến đi Theo Quy định về tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn du lịch (Ban hành kèm theo Quyết định số 02 /2001/QĐ-TCDL ngày 27 tháng 4 năm 2001): Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, bảo đảm chất lượng
về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch [36]
khách sạn nhằm thu lợi nhuận, bao gồm các dịch vụ cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú Đây là mảng hoạt động chính yếu nhất của một khách sạn, nó đóng vai trò trụ cột, là hoạt động chính của một khách sạn vì doanh thu từ hoạt động này chiếm tỷ lệ cao – chủ yếu là do hoạt động kinh doanh buồng
- Kinh doanh buồng: Theo thẩm định của các chuyên gia: buồng là nơi khách
lưu trú trong một thời gian nhất định để nghỉ ngơi, thư giãn hoặc làm việc Dịch
vụ buồng được coi là sản phẩm chính của khách sạn Việc tiêu thụ dịch vụ buồng tạo doanh thu lớn cho khách sạn và góp phần thúc đẩy tăng quy mô các dịch vụ khác trong khách sạn
doanh của khách sạn, bộ phận này chịu trách nhiệm làm sạch các loại đồ vải (ga trải giường, gối, chăn, nệm, rèm cửa), lau chùi đồ đạc trong phòng, làm vệ sinh thảm, trang trí phòng theo mô hình của khách sạn hoặc theo yêu cầu của khách, chuẩn bị giường ngủ, chăn màn và cung cấp các dịch vụ bổ sung cho khách Ngoài ra, bộ phận buồng còn làm vệ sinh tại các khu vực công cộng như: hành lang, tiền sảnh… Trong mọi công việc của mình, mục đích của bộ phận buồng
là luôn duy trì các tiêu chuẩn phù hợp cùng với phương thức phục vụ buồng hoàn hảo
các dịch vụ bổ sung cho khách, làm vệ sinh, bảo dưỡng buồng nghỉ cho khách Người làm công việc phục vụ buồng được gọi là nhân viên buồng hay nhân viên
vệ sinh khu vực tiền sảnh
làm sạch và phục vụ tại các khu vực công cộng, phòng ngủ và phòng tắm của khách Bộ phận phục vụ buồng chịu trách nhiệm làm vệ sinh hàng ngày hoặc theo định kỳ buồng của khách lưu trú
1.2 TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
1.2.1 Hệ thống đào tạo nghề và chương trình đào tạo ở Việt Nam
Trang 17Luật giáo dục 2005 quy định hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm: trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với
người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;
Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp,
từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng
Sơ đồ 1.2: Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam2
2 Nguyễn Văn Tuấn, Võ Thị Xuân Phát triển chương trình đào tạo nghề Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM, 2008, tr.3
Trang 18Dạy nghề có 3 cấp: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề
Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực
hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức
chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm,
tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức
chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn [16, chương 2]
Song song với hệ thống đào tạo nghề theo 3 cấp trình độ do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) quản lý, hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam còn có một loại hình đào tạo trung cấp chuyên nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) quản lý
Chương trình đào tạo cụ thể được xây dựng trên chương trình khung Chương trình khung do bộ chủ quản trực tiếp quản lý, xây dựng và ban hành Các cơ sở dạy nghề dựa theo các chương trình khung đã ban hành để xây dựng chương trình đào tạo cụ thể cho cơ sở đào tạo của mình Đối với các ngành, nghề đào tạo chưa có chương trình khung, các trường tự xây dựng và phát triển chương trình đào tạo dựa trên cơ sở phân tích nghề hoặc bản phân tích nghề do cơ quan có thẩm quyền đã công bố
Trong đề tài nghiên cứu, tác giả xây dựng chương trình đào tạo sơ cấp nghề theo hệ thống dạy nghề Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội
Trang 19Sơ đồ 1.3: Cấp quản lý về xây dựng và phát triển chương trình3
Chương trình đào tạo khung chính là danh sách các môn học, mô-đun khung
và giới hạn thời lượng, được thiết kế bao quát cho một ngành, nghề đào tạo cụ thể trong một nhà trường
Sơ đồ 1.4: Mô hình chương trình đào tạo Khung4
Chương trình khung được quy định bởi văn bản số: 01/2007 QĐ – Bộ LĐTB&XH cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trực thuộc bộ quản lý và văn bản
thuật Tp.HCM, 2008
Trang 20số: 21/2001/QĐ- Bộ GD&ĐT cho các trường trung cấp chuyên nghiệp do Bộ GD&ĐT quản lý.
Chương trình đào tạo chi tiết chính là chương trình đào tạo khung đã được triển khai thành các phần chi tiết đến từng bài học và phân bổ cho từng học kỳ Chương trình đào tạo khung được duyệt cố định bởi các cấp có thẩm quyền (cấp bộ), còn Chương trình đào tạo chi tiết tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tế, tùy thuộc vào đặc thù của từng ngành, nghề, từng trường có thể thiết kế với độ linh hoạt cao Thông thường căn cứ vào Chương trình khung đã có, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ thiết kế riêng cho mình các Chương trình chi tiết
Sơ đồ 1.5: Quan hệ giữa chương trình đào tạo Khung và Chi tiết 5
Khối luợng kiến thức, kỹ năng được quy định trong chương trình khung tối thiểu mà người học nghề ở một nghề xác định, một trình độ xác định phải đạt được sau khóa học gọi là “phần cứng” Phần cứng chiếm 75% chương trình đào tạo Chương trình khung áp dụng thống nhất cho tất cả các cơ sở dạy nghề trên cả nước Trên cơ sở chương trình khung, các trường xây dựng chương trình đào tạo cho từng nghề của trường mình bằng cách lựa chọn khoảng 25% kiến thức và kỹ năng nghề của từng nghề ngoài kiến thức và kỹ năng đã được xác định trong chương trình khung Phần này gọi là “phần mềm” hay còn gọi là kiến thức và kỹ năng nghề
tự chọn Các cơ sở dạy nghề lựa chọn các kiến thức kỹ năng sao cho phù hợp với đặc điểm lao động của ngành và của từng vùng Như vậy, chương trình đào tạo có thể khác nhau giữa các trường Các trường tổ chức xây dựng và phê duyệt chương trình đào tạo để sử dụng cho trường mình
5 http://www.srem.com.vn
Trang 211.2.2 Chương trình dạy học (Syllabus)
Khái niệm
Hiện nay, khái niệm chương trình dạy học (CTDH) có nhiều nghĩa khác nhau
- Theo Victor Jackupec – Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường: [35]
thuật ngữ được sử dụng với ý nghĩa là kế hoạch dạy học trong các cơ sở giáo dục
trình định hướng nội dung, chủ yếu chỉ đưa ra những nội dung dạy học cần được thực hiện Đến những năm 90 của thế kỹ XX, khái niệm chương trình DH là một hệ thống có hiệu lực để định hình các quá trình học tập trong mối liên quan với những mục tiêu học tập đã được xác định
Các tình huống (tập hợp các nội dung và phương pháp)
Các chiến lược (lập kế hoạch các tình huống)
Đánh giá (đánh giá kết quả đầu ra, đo lường kết quả dạy học và học tập nhờ những quy trình khách quan)
Từ đó, có thể định nghĩa CTDH là văn bản trình bày những mục đích ( kết quả đầu ra mong đợi), những định hướng cho nội dung, quá trình, phương pháp dạy học và đánh giá của một chương trình giáo dục
- Theo Ronald C Doll :
Định nghĩa chương trình học của một nhà trường như là “Nội dung và quá trình chính thức hoặc không chính thức mà nhờ đó người học có những kiến thức và sự hiểu biết , phát triển các kỹ năng , và thay đổi thái
độ, nhận thức và giá trị dưới sự tổ chức của nhà trường đó” [46]
- Theo Peter F.Oliva: [44]
Chương trình học bao gồm một số kế hoạch dưới dạng văn bản và ở nhiều phạm vi khác nhau, vạch ra các kế hoạch học tập theo ý muốn Chương trình học, do đó, có thể là một bài học, một khóa học, một chuỗi
Trang 22các khóa học, hay toàn bộ chương trình học của nhà trường – và có thể diễn ra bên ngoài lớp học hay bên ngoài nhà trường dưới sự hướng dẫn của cán bộ nhà trường
- Theo Đỗ Huy Thịnh: [24]
Chương trình học là quy trình và nội dung của chương trình đào tạo của môn học, ngành học, bộ môn hay trường học Curriculum mang ý nghĩa rộng hơn, chung hơn cho thấy dạy cho ai, dạy cái gì, và dạy như thế nào Trong khi đó syllabus mang ý nghĩa cụ thể, giới hạn hơn là nội dung giảng dạy cho một môn học (hay đơn vị học tập), thường gắn với một kỳ thi/ kiểm tra để đánh giá kết quả học tập
Như vậy, chương trình dạy học là văn bản trong đó phải bao gồm xác định các mục đích (cụ thể có mục tiêu cho từng bài học, môn học, ngành học), nội dung, quá trình, phương pháp dạy học và đánh giá của một chương trình giáo dục
Một CTDH dù ở cấp độ chương trình ngành học hay môn học, chương trình khung hay chi tiết thì chỉ có giá trị pháp lý khi được cấp quản lý nhà nước về giáo dục có thẩm quyền phê duyệt.[18, tr.110]
“Mức độ đạt được đối với các mục tiêu đã đưa ra thể hiện tính hiệu quả của chương trình học Mục đích của việc thiết kế một chương trình học phụ thuộc vào đối tượng người học của chương trình đó” [43, tr.39]
Các hướng tiếp cận xây dựng chương trình dạy học [25, tr.8]
Có ba hướng tiếp cận trong việc thiết kế chương trình dạy học:
yếu đến nội dung kiến thức cần truyền thụ và mối quan tâm của người lập trình là nội dung kiến thức Quan trọng nhất khi xác định nội dung dạy học theo hướng này là khối lượng và chất lượng kiến thức cần truyền thụ cho người học
mạnh mục tiêu đào tạo, coi mục tiêu đào tạo là tiêu chí để lựa chọn nội dung , phương pháp, cách thức thi cử và đánh giá kết quả đào tạo Mục tiêu dạy học cũng là chuẩn để đánh giá kết quả học tập
- Tiếp cận phát triển (development approach): là cách tiếp cận chú
trọng phát triển những năng lực tiềm ẩn của cá nhân, phát triển sự hiểu biết của người học hơn là quan tâm đến việc người học nắm được một khối lượng kiến thức như thế nào
thiết kế ý tưởng; Implement – thực hiện; Operate – vận hành) là một
giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội trên cơ
sở xác định chuẩn đầu ra (CĐR) để thiết kế chương trình và phương
Trang 23pháp đào tạo theo một quy trình khoa học Xây dựng chương trình đào tạo theo cách tiếp cận CDIO nhằm đào tạo sinh viên phát triển toàn diện cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực thực tiễn và có ý thức trách nhiệm với cộng đồng và xã hội Theo cách tiếp cận CDIO, khi xây dựng và nâng cấp các chương trình đào tạo phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ, từ khâu xây dựng CĐR, thiết kế khung chương trình, chuyển tải khung chương trình vào thực tiễn và đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng như toàn bộ Chương trình.[40]
Mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm trong việc xây dựng chương trình đào tạo Tùy thuộc vào quan điểm của người dạy về mục đích dạy học để có cách tiếp cận phù hợp Tuy nhiên, trong dạy học hiện đại, cách tiếp cận phát triển có nhiều ưu điểm [18, tr.112]
Qui trình xây dựng một chương trình dạy học
Sơ đồ 1.6 : Quy trình biên soạn cơ bản chương trình dạy học
Như trên đã nói, định nghĩa về chương trình học thì luôn thay đổi do tác động của xã hội và những mong đợi đối với nhà trường , qui trình để phát triển một chương trình học gần như không đổi
Sơ đồ 1.6 là quy trình biên soạn cơ bản chương trình dạy học Quy
trình này đảm bảo xây dựng hệ thống mục tiêu, giảng dạy và đánh giá [45]
Một số xu hướng quốc tế trong việc xây dựng chương trình [35]
đóng”, có nghĩa là toàn bộ nội dung chi tiết trong chương trình quy định là bắt buộc chung cho mọi trường
thiết và tạo ra không gian tự do cho sự phát triển CTDH nội bộ tại chỗ, có xét đến những điều kiện khu vực, các điều kiện vật chất và con người, và đặt biệt là các điều kiện chủ quan về phía những người học Xu hướng có tính phổ biến trong việc xây dựng CTDH mở là cấp nhà nước chỉ quy định chương trình khung thống nhất, còn chương trình chi tiết do các địa
Trang 24phương hoặc các trường tự xây dựng riêng phù hợp với điều kiện địa phương
CTDH hiện nay mang tính phân hóa Các chương trình được phân loại , thiết kế dựa trên nhu cầu của mô hình giáo dục và thị trường lao động
phát triển năng lực
việc truyền thụ kiến thức, quy định những nội dung dạy học chi tiết có tính bắt buộc CTDH định hướng nội dung không còn thích hợp lắm trong hiện tại bởi:
nội dung chi tiết trong CTDH dẫn đến nội dung dạy học bị lạc hậu so với hiện đại
đánh giá chủ yếu dựa trên việc kiểm tra khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn
hay chương trình định hướng phát triển năng lực đang được quan tâm CTDH định hướng kết quả đầu ra không đưa ra những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình đào tạo để từ đó đưa ra những hướng dẫn chung về lựa chọn nội dung , phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn
của chính sách giáo dục tiên tiến Các CTDH được chuyển đổi từ những kế hoạch học tập định hướng thuần túy theo môn học sang định hướng vào hứng thú, khả năng học tập riêng của người học, phát huy tính tích cực, tự lực của người học
CTDH, đặc biệt trong đào tạo chuyên nghiệp và đại học ở nhiều nước: các
mô đun và điểm tín trở thành các thành phần cấu trúc cố định của CTDH
1.2.3 Chương trình đào tạo nghề
Khái niệm
Chương trình đào tạo (CTĐT) là văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể
Trang 25các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỉ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết với thực hành , quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của
cơ sở giáo dục và đào tạo.[11, tr.54]
Một số mô hình xây dựng chương trình đào tạo nghề [31, tr 28 - 30]
Từ thập niên 70 trở đi, một số các mô hình xây dựng chương trình đào tạo được đề xuất và áp dụng trên thế giới gồm:
- Mô hình phân tích (FEA: Front – End Analysis) được phát triển năm
1977 bởi nhà giáo dục học Joe Harless Mục đích của mô hình là này
là giúp tìm ra một giải pháp thích hợp để giải quyết vấn đề dựa trên cơ
sở phân tích
- Mô hình hệ thống (TTS: Training Technology System ) do Richard
Swanson phát triển năm 1987 Mô hình này tập trung giải quyết những vấn đề đào tạo trong sản xuất, kinh doanh
- Mô hình hệ thống thiết kế dựa trên sự thực hiện (PBID: Performance
– Based Instructional Design System) do David Pucel xây dựng vào
năm 1989 Mô hình cung cấp một khung tổng quát có ý nghĩa cho
việc xây dựng một CTĐT đảm bảo khả năng thực hiện của người học
- Mô hình phát triển CTĐT(Training Development ) do John Collum
phát triển năm 1995
Trong khuôn khổ luận văn, người nghiên cứu trình bày về Mô hình phát triển của John Collum, thể hiện qua sơ đồ 1.7 và được giải thích như sau:
cứ vào tình hình thực tại và dự kiến những hình ảnh tương lai để xác định phương hướng đào tạo Những căn cứ đó thường là tính pháp lý của nhà trường, là điều kiện và nguồn lực (đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất ) Qua đó, nhà trường sẽ có định hướng chính xác những mục tiêu và phương án thực hiện để đạt những mục tiêu đó
- Phân tích đầu vào: Đầu vào là đối tượng người học cần trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp Cần xác định rõ chuẩn trình độ văn hóa người học và đặc điểm yêu cầu các công việc của nghề cần đào tạo, từ đó giúp cho việc xác định mục tiêu và chuẩn đánh giá có giá trị và tin cậy cao Kết quả của phân tích nghề luôn gắn với giá trị trong giai đoạn phân tích này
phân tích và nắm vững những đặc điểm rõ ràng thì bước tiếp theo của người xây dựng chương trình là viết mục tiêu cho toàn bộ chương trình học Mục tiêu tuyên bố người học có khả năng làm việc ở vị trí lao động
Trang 26nào , có năng lực nghề nghiệp, phẩm chất chính nào để phù hợp với nghề được đào tạo
học (hoặc đơn nguyên học tập) Đây là những mục tiêu được định rõ điểm kết thúc và người học phải đạt được trong một khung thời gian nhất định để làm cơ sở cho các mục tiêu tiếp theo
xây dựng chương trình cần xác định hình ảnh cụ thể của người học sau khi được đào tạo Những tiêu chuẩn, kết quả này là cơ sở để đánh giá chất lượng quá trình đào tạo (kiến thức và kỹ năng )
kỳ quan trọng để xác định CTĐT có chất lượng hay không Các phương pháp và hình thức tổ chức đánh giá đảm bảo có tính giá trị và độ tin cậy cao Cần đánh giá về kiến thức, kỹ năng , thái độ, công việc đảm nhận
- Bốn bước tiến hành song song:
Cung cấp và truyền đạt thông tin điều khiển quá trình nhận thức Đây là một khâu có ý nghĩa gần như quyết định đến sự thành công của CT
mỗi kỹ năng đều phải hoàn thiện và các kỹ năng phải nối tiếp nhau một cách có hệ thống
dạy như phim ảnh, mô hình, sách báo…
trong quá trình đào tạo; phân tích những tính huống nhằm đề ra những hướng dẫn thực hiện giúp các khóa sau thực hiện tốt hơn
tạo những công việc cần thực hiện sau khi tốt nghiệp nhằm cũng cố và nâng cao tay nghề
tiêu chuẩn đặt ra để đánh giá tổng kết Từ đó, điều chỉnh lại chương trình trong từng giai đoạn, từng khâu cho hoàn thiện
CTĐT kiểm tra, xem xét lại toàn bộ quá trình đã thực hiện, các giai đoạn
có mâu thuẩn không nhằm hoàn thiện, điều chỉnh những thông số, yêu cầu cho hợp lý và định ra phương hướng, biện pháp cho bước tiếp theo
Trang 27Đánh giá đào tạo
Đồng nhất hóa
tổ chức – hoàn cảnh
Hướng dẫn phân tích đầu vào
Xây dựng Mục tiêu chung
Xây dựng Mục tiêu cụ thể
Xác định tiêu chuẩn kết quả đào tạo
Xem xét lại
toàn bộ
Xây dựng công cụ đánh giá
Tổ chức đào tạo giảng dạy Thiết kế Thiết kế tài liệu Thu thập tư liệu
Hướng dẫn đào tạo
Hướng dẫn đào tạo tiếp tục
Sơ đồ 1.7: Sơ đồ mô hình phát triển chương trình đào tạo của John Collum [31]
Đánh giá chương trình đào tạo nghề
Đào tạo nghề là để phục vụ cho con người và họ có những mục đích khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh của chính cá nhân Sự thành công của khóa đào tạo nghề phụ thuộc vào mục tiêu đào tạo và điều đó, về phần mình, phụ thuộc vào mục tiêu của mỗi cá nhân
Theo quan điểm của Donald Kirkpatrick thì nếu lấy mục tiêu là đào tạo đối tượng đã có việc làm thì kết quả đào tạo có thể được đánh giá theo bốn
Trang 28bậc khác nhau Các tiêu chí áp dụng cho các bậc cần được xây dựng trong giai đoạn thiết kế ban đầu của khóa đào tạo Những tiêu chí cần đánh giá trong và sau khóa đào tạo Tất cả các bậc liên quan với nhau và đều quan
trọng Các lĩnh vực dưới đây được sắp xếp theo trình tự của Giá trị
- Bậc 1: Reaction (Phản ứng)
Phản ứng của học viên Hỏi cảm tưởng của họ về khóa đào tạo
- Bậc 2: Gain in knowledge, skills (Thu hoạch về kiến thức, kỹ năng)
Trước khi bắt đầu một khóa đào tạo nghề, cần vạch ra mục tiêu thiết thực về trình độ kiến thức và kỹ năng tối thiểu mà học viên cần đạt được trong quá trình đào tạo Từ đó, biết được các học viên đáp ứng được các mục tiêu học tập hay không Các tiêu chí trên dễ đánh giá
- Bậc 3: Performance (Năng lực thực hiện)
Học viên thực sự thực hiện kỹ năng sau khóa đào tạo chứ không
chỉ trình diễn khả năng thực hiện kỹ năng đó trong khóa học Thu thập
dữ liệu về “thực hiện” thông thường chỉ làm sau khóa đào tạo, trong công việc
- Bậc 4: Org Results (Kết quả của tổ chức)
Để biết mục tiêu của khóa đào tạo đã đạt được, kết quả thực sự của một khóa đào tạo quan trọng hơn nhiều so với mọi tiêu chí khác Khóa học chỉ thành công thực sự khi học viên sử dụng các kỹ năng đã học
để tạo nên thành quả Thu thập dữ liệu về “kết quả” thường chỉ có thể làm sau khi khóa học đã kết thúc và tại nơi làm việc và đây là công việc khó khăn
Như vậy, trước khi thực hiện khóa đào tạo thì phải quyết định cần phải đánh giá kết quả khóa đào tạo đó như thế nào Các tiêu chí về sự thành công cho phép sau đó nhìn nhận khóa đào tạo một cách khách quan [27]
1.2.4 Chương trình đào tạo nghề theo Module kỹ năng hành nghề (MKH)
Cấu trúc chương trình đào tạo theo truyền thống gồm nhiều môn học, sắp xếp theo cấu trúc kế hoạch đào tạo Trong các chương trình giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp ở nước ta vẫn còn cấu tạo CTĐT theo môn học Trong xu hướng cải tiến, thiết kế chương trình hiện nay là cấu trúc CTĐT theo module Vậy, tại sao cấu trúc CTĐT theo module lại được khuyến khích giảng dạy trong đào tạo nghề hiện nay? Nghiên cứu những vấn đề dưới đây sẽ cho chúng ta
có một cái nhìn rõ hơn về lý do trên
Trang 29.2.2.1 Sơ lược về tình hình đào tạo nghề theo Module
Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng module vào trong chương trình đào tạo nghề bởi phương thức đào tạo này có nhiều ưu điểm mà đặc biệt là đào tạo công nhân, kỹ thuật viên và nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ Hai tổ chức quốc tế lớn là UNESCO (Tổ chức Khoa học và Giáo dục quốc tế) và ILO (Tổ chức lao động quốc tế) không chỉ khuyến khích mà còn tạo điều kiện cho việc phát triển và ứng dụng các nhóm module trong đào tạo nghề nói riêng
và đào tạo nói chung Đối với ILO đã xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo module hoàn chỉnh ILO đặt nhiệm vụ “quốc tế hóa” các module đào tạo Tuy nhiên, do trình độ kỹ thuật công nghệ mà công cụ lao động ở mỗi nước có sự khác nhau Như vậy, vấn đề “quốc tế hóa” các tài liệu học tập sẽ gặp nhiều khó khăn Bởi vậy, các đơn nguyên học tập học tập phải cần chỉnh sửa cho phù hợp với hoàn cảnh mỗi nước, còn các nghề đặc thù phải tự biên soạn giảng dạy chứ không tham khảo ở nước nào [31, tr.34]
Ở Việt Nam, việc tiếp cận đào tạo nghề theo MKH chỉ thật sự phát triển khi có dự án Tăng cường các Trung tâm dạy nghề (viết tắc là SVTC) được thực hiện vào tháng 10/1994 theo Hiệp định song phương giữa 2 chính phủ Việt Nam và Thụy Sĩ Theo đó, Bộ LĐTB - XH là cơ quan chủ quản, Hợp tác phát triển Thụy Sĩ (SDC) là đơn vị tài trợ đã ủy nhiệm cho Tổng cục dạy nghề và tổ chức Swisscontact quản lý và thực hiện dự án Mục tiêu của dự án
là nhằm tăng cường năng lực cho các trung tâm dạy nghề trong việc cung cấp
kỹ năng nghề để người học có nhiều cơ hội hơn khi tham gia thị trường lao động Dự án cũng đã thực hiện việc khảo sát các Trung tâm Dạy nghề về chương trình và đưa đến những kết luận quan trọng như: CTĐT nặng về cung cấp kiến thức, ít quan tâm kỹ năng thực hành cho học viên; mục tiêu chương trình và các bài dạy không cụ thể; cấu trúc chương trình nghề bao gồm nhiều khóa học được sắp xếp đơn tuyến theo hướng bắt buộc học toàn
kỹ năng của một nghề; thời lượng nặng về lý thuyết; chưa có nguyên tắc về XDCT cho dạy nghề ngắn hạn…[26, tr.3].Từ kết quả đó, CTĐT theo module
đã được cho là phù hợp trong việc XDCT đào tạo nghề Đến nay, dự án STVC đã thực hiện được 17 bộ chương trình dạy nghề ngắn hạn theo module.[ 21]
MKH là một phương thức đào tạo nghề linh hoạt về mặt nội dung cũng như cấu trúc, có thể phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu để mở rộng diện nghề đào tạo hoặc nâng cao trình độ nghề nghiệp MKH rất phù hợp với loại hình đào tạo ngắn hạn bởi những ưu điểm sau:
nghề phù hợp với sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, có điều kiện để đào tạo bám sát được yêu cầu sản xuất Vì
Trang 30đây là hệ thống mở, có thể bổ sung hay thay đổi các đơn nguyên học tập một cách dễ dàng
phù hợp với nhu cầu của người học cũng như người sử dụng lao động
kế tục, thường xuyên tạo điều kiện cho người lao động có thể nhanh chóng đi vào nghề nghiệp cũng như nâng cao trình độ nghề nghiệp tới đỉnh cao khi có điều kiện
Nội dung đào tạo được tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề, thực hiện tốt nguyên lý “học đi đôi với hành” để nâng cao chất lượng
và hiệu quả đào tạo
Quá trình đào tạo mềm dẻo, linh hoạt, tạo điều kiện liên thông giữa một nghề, đặc biệt đối với những nghề cùng lĩnh vực kỹ thuật nhờ việc dùng chung một số module đơn vị
có thể được sử dụng ngay để hành nghề sau khi học xong mỗi MKH (cần gì học nấy)
kiểm tra trắc nghiệm sau khi học xong mỗi đơn nguyên, mỗi module
dạy nhờ những quy định và hướng dẫn cụ thể đối với giáo viên
Có điều kiện thực hiện “Cá nhân hóa cao trong đào tạo” nhờ việc đánh giá khả năng trình độ của từng học viên trước khi học và việc hướng dẫn lựa chọn các module thích hợp để đạt yêu cầu học tập của
họ cũng như đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường
- Phương thức đào tạo này cũng không tránh khỏi các nhược điểm:
kém phần logic
khả năng phát triển lâu dài cũng như tạo nên tính thích ứng cao của người học với sự biến đổi của khoa học và công nghệ bị hạn chế bởi thời gian đào tạo và cấu trúc logic của quá trình đào tạo Mặt khác những kiến thức này thường được coi là “chưa cần thiết” đối với đào tạo ngắn hạn
thực hành chiếm quá ít, hoặc khi các chuẩn đánh giá không được quy định rõ ràng
Trang 31 Đào tạo theo MKH nghề tốn kém hơn phương thức hiện hành vì biên soạn tài liệu giảng dạy phức tạp, phương tiện, thiết bị giảng dạy cần hoàn chỉnh theo qui định
giảng dạy theo MKH [31, tr.32]
Xu thế của các chương trình đào tạo hiện đại là mềm dẻo, linh hoạt
có khả năng chuyển đổi, thừa nhận năng lực của người học, có thể học suốt đời và có đặc tính doanh nghiệp.[1, tr.37]
Vì vậy, xây dựng chương trình đào nghề theo MKH trở nên thích hợp với xu thế hiện nay Những MKH được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích tỉ
mỉ toàn bộ các công việc trong qui trình công nghệ của một nghề mà người công nhân phải thực hiện trong thực tế Do đó, xây dựng một nội dung đào tạo theo từng công việc của qui trình đã làm cho nó vừa phù hợp với nhu cầu của người sử dụng lao động đồng thời cũng phù hợp với đặc điểm của người học, giải quyết tốt được mối quan hệ giữa 3 bộ phận: người sử dụng lao động, bộ phận đào tạo và người học nghề
Nhu cầu của người sử dụng lao động và người học nghề là hết sức đa dạng, tuỳ theo quan điểm và triết lý khác nhau người ta sẽ xây dựng CTĐT nghề theo MKH qua nhiều giai đoạn khác nhau Trong khuôn khổ đề tài, người nghiên cứu trình bày quy trình xây dựng CTĐT nghề theo MKH qua hai giai đoạn sau :
(1)_ Giai đoạn 1 : Thiết kế
(2)_ Giai đoạn 2 : Áp dụng
Giai đoạn thiết kế thường dừng ở các công đoạn: phân tích tình hình, phân tích nghề, phân tích công việc v.v , giai đoạn áp dụng bao hàm cả thiết
kế, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chương trình Trong phần này chúng ta sẽ
đi lần lượt một số bước của các giai đoạn đó (Xem sơ đồ 1.8)
Trang 32Sơ đồ 1.8: Quy trình xây dựng CTĐT nghề theo module kỹ năng hành nghề [1]
GIAI ĐOẠN 1: THIẾT KẾ
Nhiệm vụ chính của giai đoạn nầy là thiết kế nội dung đào tạo của nghề theo từng đơn nguyên và module, xây dựng kho tư liệu các đơn nguyên theo
(5) Xây dựng các đơn
nguyên học tập
(1) Điều tra, dự báo và
phân tích tình hình
Đánh giá trình độ
(3) Phân tích công việc và
Trang 33một hệ thống các danh mục và mã số Qui trình thực hiện giai đoạn này được tiến hành qua các bước:
(1) Điều tra và dự báo và phân tích tình hình
Ngày nay, sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia và do đó giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng cũng không nằm
ngoài sự tác động đó Điều tra, dự báo, phân tích tình hình để xác định nhu cầu đào tạo là bước đi quan trọng đầu tiên Có nhiều lý do để làm
phát sinh nhu cầu đào tạo như:
Hiện tại, kết quả công việc của cá nhân dưới mức yêu cầu
Có những thay đổi xãy ra làm ảnh hưởng tới công việc hiện tại của
cá nhân
Cá nhân thay đổi hay có khả năng chuyển đổi công việc
Xác định nhu cầu đào tạo tốt sẽ giúp chúng ta trả lời các câu hỏi dưới đây nhằm để đề ra các giải pháp rõ ràng, cụ thể như:
Loại hình đào tạo nào là cần thiết ?
Kế hoạch đào tạo được thực hiện như thế nào?
Nhu cầu đào tạo có tin cậy hay không ?
Các vấn đề nào còn tồn tại ?
Triển khai hoạt động đào tạo ra sao để có hiệu quả ?
Nhà trường với sứ mạng là đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước
để phát triển kinh tế xã hội thì khi đào tạo cần phải gắn với nhu cầu lao động của thị trường, nhu cầu của chính người học, những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để đáp ứng được đòi hỏi của thị trường Đây là những vấn đề hết sức quan trọng và thiết thực để đảm bảo
cho học viên có đủ khả năng và cơ hội để hành nghề sau khi tốt nghiệp Mặt khác, khi xác định nhu cầu đào tạo thì cần phải chú ý đến nhu cầu đào tạo nghề trên địa bàn của từng địa phương và những lĩnh vực có nhu cầu lớn và có tính ổn định lâu dài
(2) Phân tích nghề
Phân tích nghề (Job analysis) là một tiến trình nhằm xác định các
nhiệm vụ và công việc mà một công nhân lành nghề phải thực hiện
được trong nghề nghiệp của mình Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân tích nghề chính là Sơ đồ phân tích nghề Kết quả phân tích nghề có thể được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như phát triển chương trình đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng, xác định các định mức lao động, tuyển dụng nguồn nhân lực… Với mỗi mục đích khác nhau sẽ có
sự khác biệt trong triết lý, qui trình và kỹ thuật phân tích nghề nhằm đạt
Trang 34được mục tiêu một cách tối ưu Với cùng mục đích xây dựng chương trình dạy nghề, nhưng xuất phát từ các góc nhìn khác nhau cũng sẽ dẫn đến các quan niệm, triết lý, qui trình và kỹ thuật khác nhau trong việc thực hiện phân tích nghề Hiện nay, có các phương pháp phân tích nghề
được thể hiện trên hình 1.1 dưới đây:
Hình 1.1: Khái quát một số phương pháp phân tích nghề [27]
Phương pháp nội quan
Thường là một chuyên gia bằng kinh nghiệm và vốn tri thức của mình, cùng với việc nghiên cứu các tài liệu liên quan, tự mình đưa ra một bức tranh về hoạt động nghề nghiệp cần phân tích Phương pháp này có tính chủ quan cao nhất, nhưng chi phí thấp nhất Chất lượng sản phẩm phân tích nghề của phương pháp nội quan phụ thuộc vào trình độ, năng lực và kinh nghiệm của người phân tích [25]
Phương pháp chuyên gia
Bức tranh hoạt động nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu do một nhóm chuyên gia phân tích và xây dựng (có nhiều cách thức làm việc giữa các chuyên gia; giai đoạn đầu của phương pháp chuyên gia thường bắt đầu bằng một dự thảo được xây dựng bằng phương pháp nội quan) Phương pháp này có tính khách quan cao hơn và chi phí cũng cao hơn phương pháp nội quan Phương pháp này rất hay được
sử dụng không chỉ trong phân tích nghề mà còn trong hầu hết các nghiên cứu xã hội
và nghiên cứu giáo dục [25]
Phương pháp DACUM
- Người lao động lành nghề là người có thể mô tả và xác định nghề của họ chính xác hơn bất kỳ ai
Nội
Chuyên gia
DACUM
Quan sát khách quan
Trang 35- Con đường hiệu quả nhất để xác định một nghề/công việc là mô tả, phân tích chính xác, chi tiết những công việc mà người lao động cần thực hiện.[28]
- Để thực hiện tốt nhiệm vụ công việc thì người lao động cần có kỹ năng, dụng cụ và thái độ cần thiết.[22]
- Cập nhật được nội dung đào tạo sát với nhu cầu hoạt động nghề nghiệp trong thực tế
- Lôi kéo được các doanh nghiệp, các nhà công nghiệp, các cơ sở sản xuất vào xác định nội dung đào tạo Tạo được mối liên hệ chặt chẽ giữa đào tạo với sản xuất và việc làm
- Không xác định được các nhiệm vụ, công việc chưa xuất hiện trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp
Phương pháp quan sát khách quan
Đây là phương pháp có tính khách quan cao nhất và có chi phí lớn nhất Một nhóm các chuyên gia với các phương tiện đo đếm cần thiết, tiến hành quan sát khách quan các đối tượng hành nghề trong thời gian đủ dài để đảm bảo tính chính xác về các công việc đang làm Kết quả quan sát khách quan về các công việc, mức độ lặp lại, chi phí thời gian cho các bước thực hiện … được ghi chép, tổng hợp và khái quát thành bức tranh chân thực về nghề cần phân tích [25]
Phân tích nghề bao gồm bốn bước : (1) mô tả nghề, (2) Xác định danh mục
các lĩnh vực nhiệm vụ và các công việc tương ứng, (3) phân tích các công việc, (4) Xác định chuẩn kỹ năng
(a) Mô tả nghề: Mô tả các nhiệm vụ của chức vụ mà người lao động đang đảm trách
(b) Xác định danh mục các nhiệm vụ nghề và các nhiệm vụ tương ứng:
Phải đảm bảo theo một trình tự logic và đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
Có mở đầu và kết thúc rõ ràng,
Có thể tồn tại độc lập,
Có kết quả rõ ràng,
Kết quả có thể đánh giá được theo các chuẩn quy định,
Không trùng lặp với công việc khác của nghề
Sản phẩm cuối cùng là sơ đồ phân tích nghề
Trang 36(3) Phân tích công việc và xác định chuẩn kỹ năng nghề
Tất cả các công việc xuất hiện trong sơ đồ phân tích nghề được phân chi tiết theo nội dung sau:[28]
- Trình tự các bước thực hiện
- Tiêu chuẩn thực hiện của từng bước
- Dụng cụ trang bị và vật liệu cần thiết để thực hiện mỗi bước
- Các kiến thức cần thiết để thực hiện mỗi bước
- Các kỹ năng cần thiết để thực hiện mỗi bước
- Các thái độ cần thiết khi thực hiện mỗi bước
- Các quyết định, tín hiệu và lỗi thường gặp khi thực hiện bước đó
Phân tích công việc và kỹ năng nghề là một việc hết sức phức tạp, tốn nhiều thời gian và công sức, nhưng đây là bước hết sức quan trọng vì nó sẽ quyết định nội dung và thời gian đào tạo hợp lý để hình thành các kỹ năng đó và cũng là cơ sở cho việc thiết kế các đơn nguyên học tập
Việc phân tích này cần có sự tham gia của một nhóm các nhà phân tích, các nhà chuyên môn cùng nghề, các công nhân có kinh nghiệm, [21] các giáo viên dạy thực hành nghề [28] Những kỹ năng này cần được qui định theo tiêu chuẩn đã được ban hành Trong trường hợp chưa có chuẩn quốc gia thì cần được sự thỏa thuận của người lao động, hoặc cá nhân người học theo yêu cầu của họ để xác định mục tiêu đào tạo Chuẩn các kỹ năng xây dựng cần phải chuẩn xác, quan sát và đếm được Kỹ năng được chia thành 3 loại:
(4) Xác định module và các đơn nguyên học tập
Trong cấu trúc của đào tạo nghề theo MKH để thuận tiện cho quá trình giảng dạy và học tập cũng như việc sử dụng chung một số kiến thức, kỹ năng nghề cho chương trình đào tạo của nhiều nghề khác nhau thì cần phải xây dựng các module đơn vị là một phần module kỹ năng hành nghề được phân chia một cách logic theo từng công việc hợp thành nghề đó Các đặc điểm, biểu hiện cơ bản của một module là:
Trang 37 Trọn vẹn: Đây là dấu hiệu thể hiện bản chất của module, nó là một đơn vị học tập trọn vẹn, có mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện giúp cho người học sau khi học xong có thể thực hiện được một số công việc cụ thể
giữa lý thuyết và thực hành để giúp cho người học đạt được kỹ năng thực hiện
tập Nó đòi hỏi cấu trúc về nội dung và phương pháp phải đáp ứng được với các trình độ khác nhau của người học cũng như một số điều kiện theo học khác nhau của họ
Đánh giá liên tục và hiệu quả: Việc đánh giá được chia nhỏ trong suốt quá trình học module nhằm khẳng định khả năng hình thành kỹ năng thực hiện của người học Các kết quả đánh giá phải theo những chuẩn thực hiện kỹ năng và
có thể mô tả, đo đếm, quan sát được
dụng nhiều lần của module đào tạo trong phát triển chương trình Tùy thuộc vào vần đề học tập của người học mà các module đơn vị có thể lắp ghép theo
tổ hợp các module đơn vị gần nhau về chuyên môn (đào tạo theo hướng nâng cao) hoặc lắp ghép theo tổ hợp các module thuộc nhiều lĩnh vực nghề khác nhau (đào tạo theo hướng mở rộng) [13, tr13 -17]
Khi xác định module cần phải dựa vào chuẩn kỹ năng nghề và các dấu hiệu trên, đặc biệt là hai dấu hiệu trọn vẹn và tích hợp Nếu chưa có chuẩn kỹ năng nghề thì dựa vào kinh nghiệm chuyên môn để phân tích, chọn lựa những công việc được nêu trong bảng phân tích nghề Thường các module được xác định trên cơ sở các công việc cơ bản, hoặc lắp ghép các công việc cơ bản có nội dung gần nhau thành một công việc trọn vẹn và thích hợp để đáp ứng được yêu cầu của người học
Đơn nguyên học tập cũng là một thành tố cơ bản rất quan trọng của phương thức đào tạo nghề theo MKH Việc xác định danh mục các đơn nguyên học tập dựa trên cơ sở danh mục các kỹ năng nghề cần thiết trong bước phân tích công việc, theo nguyên tắc mà mỗi kỹ năng cần có một đơn nguyên học tập Việc xác định các đơn nguyên học tập cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Các đơn nguyên không có phần trùng lắp
- Các đơn nguyên có thể dùng chung cho nhiều nghề
- Nội dung thể hiện được các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng một cách trọn vẹn
(5) Xây dựng các đơn nguyên học tập
Mỗi đơn nguyên học tập được cấu trúc bởi các phần sau:
xây dựng nội dung cũng như đánh giá kết quả học tập Mục tiêu cần phải nêu
Trang 38được cụ thể những hoạt động mà sau khi học xong, người học có thể thực hiện được với những điều kiện cho trước và đạt chuẩn qui định hoặc đạt các tiêu chí đánh giá đối với kỹ năng về trí óc Mục tiêu không chỉ giúp cho người dạy có thể đánh giá năng lực người học mà còn giúp cho người học có thể nhận biết và tự đánh giá về kết quả học tập của chính mình
- Có đầy đủ những thông tin cần thiết giúp người học có đủ kiến thức và hình thành được những kỹ năng theo đúng mục tiêu đã đề ra
- Nội dung biên soạn phải giúp cho người học có khả năng tự học
- Nội dung đơn nguyên ngoài phần viết cần có hình vẽ hoặc hình ảnh để minh họa
- Khi xác định nội dung đơn nguyên cần phải xác định những kỹ năng tiền đề
- Những thao tác trình bày đầy đủ và theo đúng trình tự để hướng dẫn người học có thể tự học và hình thành được kỹ năng
- Tất cả các phạm trù về an toàn lao động được trình bày đầy đủ [34]
tiêu đào tạo Khi biên soạn nội dung đánh giá cần phải dựa vào những cơ sở sau:
- Chuẩn kỹ năng quốc gia đã được ban hành hoặc đang được chấp nhận
- Chuẩn công nghệ đang hoặc sắp được sử dụng
- Những điều kiện hành nghề xác định (công cụ, phương tiện, qui trình công nghệ…)
Các câu hỏi cần phải trả lời khi biên soạn nội dung đánh giá:
- Những hoạt động nào mà người học phải thực hiện được khi học xong một đơn nguyên?
- Khi thực hiện các hoạt động thì cần phải đạt được những chuẩn nào?
- Những an toàn lao động nào cần được thực hiện [34, tr.33 - 34]
Về hình thức nội dung đánh giá được biên soạn dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm hoặc bài tập thực hành tùy theo từng loại đơn nguyên và kết quả học tập được đánh giá dưới dạng đạt hoặc không đạt
Để tiện việc theo dõi cũng như dễ sử dụng thì các đơn nguyên học tập được xếp theo từng nhóm Căn cứ vào nội dung thì nội dung đơn nguyên được chia thành
6 nhóm:
Trang 39 Lý thuyết: Nguyên lý kỹ thuật, phương pháp, qui tắc tính tóa…
đến việc hình thành những kỹ năng hoạt động
Thông tin kỹ thuật về thiết bị và dụng cụ: Nguyên lý hoạt động, kết cấu, những số liệu kỹ thuật của máy móc, thiết bị, công cụ…
Thông tin kỹ thuật về nguyên vật liệu, phương pháp: Phân loại, nhận biết nguyên vật liệu, phương pháp gia công…[34, tr.33-34]
Từ những đơn nguyên này, căn cứ vào mục tiêu đào tạo của từng module cụ thể mà ta sẽ chọn các đơn nguyên học tập thích hợp để thành lập module đó
(6) Xây dựng bộ tài liệu học tập cho module
GIAI ĐOẠN 2: ÁP DỤNG
Trong việc xây dựng chương trình đào tạo đến người học thì học viên cần phải được:
Đánh giá trình độ : Để xác định trình độ đầu vào của người học
Phân loại học viên
Lựa chọn các module kỹ năng hành nghề cho chương trình
Việc xây dựng MKH phải căn cứ trên yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc của một nghề xã hội nào đó để phân tích và xác định những mô đun nghề cần thiết đồng thời cũng dựa trên cơ sở đánh giá khả năng, trình độ cũng như nhu cầu nguyện vọng của người học để từ đó chọn các module và đơn nguyên học tập phù hợp nhằm đảm bảo được mục tiêu cũng như tính kinh tế trong đào tạo
Do vậy, ở đây tồn tại mối quan hệ tay ba giữa người sử dụng lao động, người đào tạo và học viên Trong cơ chế thị trường, người sử dụng lao động là người đặt hàng, người đào tạo là người thực hiện đơn đặt hàng và những kiến thức và kỹ năng mà người học viên có được sau quá trình đào tạo
là sản phẩm Sản phẩm này sẽ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động hay nhu cầu của bản thân người học
Trang 40MKH được xây dựng bằng các module nghề được lựa chọn từ một số các module của một nghề hay một số nghề khác nhau MKH thông thường được xây dựng cho nghề xã hội diện hẹp Tuy nhiên với mục đích tạo điều kiện cho người lao động không ngừng nâng cao trình độ đồng thời có thể mở rộng diện nghề để có thể thích ứng cao với nhu cầu đa dạng của thị trường lao động thì các module nghề được phân làm 2 loại là module cơ bản và module nâng cao Trong quá trình áp dụng có thể chọn tập hợp các module khác nhau để có được những MKH ở trình độ cao thấp và diện nghề rộng hẹp khác nhau
Tiến hành tổ chức thực hiện quá trình đào tạo
Đánh giá cấp chứng chỉ
Hành nghề
_ _