Xứ Nghệ la môt trong những cái nôi đặc sắc và xuất sắc nhất của cả nước về lối hát đối đáp trong ca dao tình yêu.Ở xứ Nghệ có điệu hát ví giao duyên rấtđặc trưng của vùng sông nước Lam.C
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tiểu luận này ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đãnhận được sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Ngọc Hà cùng các thầy côgiáo và bạn bè…Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớithạc sỹ Nguyễn Thị Ngọc Hà cùng các thầy cô giáo, bạn bè và người thân
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền
Trang 2
MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử sinh thành và phát triển của ca dao nước ta rất lâu dài và phongphú.Phạm vi các hiện tượng ca dao của cộng đồng người Việt nói riêng cũngnhư các dân tộc nói chung rất rộng lớn,đa dạng Các thể loại văn học dân giannói chung và các thể loại ca dao nói riêng đều là sản phẩm của lịch sử,gắn vớiđời sống của con người trong những không gian và thời gian nhất định
Ca dao, dân ca là những viên ngoc quý trong kho tàng văn hóa dântộc.Một trong những giá trị quý báu của ca dao dân ca là nó cho chúng ta thấykhá sâu sắc và đậm đà cuộc sống và tâm hồn của con người Việt Nam Trongmột số bài viết về truyền thống cao quý về văn hóa vững chắc của dân tộc, giáo
sư viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn đã khẳng định: “Có thể nói dân tộc Việt Nam làmột trong những dân tộc có nền văn hóa dân gian rất giàu đẹp và giá trị của nó
đã vượt qua thử thách của thời gian, bởi vì bản chất của nó là nhân nghĩa, thủychung, vì nước, vì dân, vì con người vì độc lập tự do hạnh phúc hòa bình, nềntảng của nó là nhân dân
Nó là một cống hién xứng đáng vào nền văn hóa chung của loài ngườiCái gốc và linh hồn của văn hóa dân tộc chính là văn hóa dân gian, là thơ
ca dân gian Có thể nói hơn bất cứ dữ liệu văn hóa nào khác,qua thơ ca dân gianchúng ta có thể thấy được một phần cái bản lĩnh, bản sắc,cái phong cách của dântộc Việt Nam.Phong cách la toàn bộ những đặc điểm thuộc về ý chí và phẩmchất,nói lên thái độ,hành vi của con người đối với cuộc sống,đối vối xã hội,đốivới bản thân.Phong cách dân tôc là những đặc điêm tâm lý dân tộc hình thànhtrong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử,còn phong cách địa phương lanhững sắc thái đa dang, và đực thù của phong cách dân tôc thể hiện ở tiếng địaphương
Xứ Nghệ là một trong những cái nôi của văn hóa của Việt Nam Từ baođời nay,các nghệ sĩ dân gian đã không ngừng sáng tạo nên một kho tàng cadao,dân ca đồ sộ,độc đáo để ca ngợi đất nước,con người,tình yêu con nười xứ
Trang 3Nghệ : “Nghệ Tĩnh co một kho tàng vă hóa dân gian rất phong phú và có lẽ vàobậc nhất so với tất cả các địa phương khác trong toàn quốc “ (Ninh ViếtGiao) Thể hiện tính cách ,tình cảm và tâm hồn con người xứ Nghệ rõ rệt và đầy
đủ là bộ phận ca dao tình yêu nam nữ Ở chủ đề này,chúng ta co thể thấy mọiphương diện cũng như mọi mức độ,cung bậc của tình yêu đôi lứa một cách cụthể rất riêng, rất đặc săc của con người xứ Nghệ
Xứ Nghệ la môt trong những cái nôi đặc sắc và xuất sắc nhất của cả nước
về lối hát đối đáp trong ca dao tình yêu.Ở xứ Nghệ có điệu hát ví giao duyên rấtđặc trưng của vùng sông nước Lam.Có rất nhiều loại ví như: ví đò đưa,víphường vải, ví phường nón, ví phường cấy ,ví trèo non,ví phường buôn…lànhững làn điệu dân ca mang tính ngẫu hứng từ lối sống cộng đồng được dângian hóa trở thành quen thuộc Đó là những câu văn thể lục bát hoặc lục bát biếnthể sử dụng rất ít từ Hán Việt ,sử dụng rất nhiều từ địa phương nhưng lại đátphong thai tự nhiên, có sự chải chuốt mang đeens cho lối hát trữ tình giaun tínhnhac điệu bay bổng ngân vang mà rất gần gũi,mang đạm chất của con người xứNghệ
Ở Nghệ Tĩnh trai gái nông thôn thường gặp gỡ ,tìm hiểu, thổ lộ tình cảmvới nhau trong khi cùng lao động,trong những ngày hội hè, vui xuân bằng nhữngcuộc hát đối đáp nam nữ.Trong những cuộc hát đối đáp này không chỉ tình cảm,tình yêu được bộc lộ mà còn phát lộ tài năng, tài ứng khẩu thành thơ, nhớ đượcnhiều câu hát cổ Đặc biệt khi hát lên những câu hát về tình yêu ,các chàng trai
cô gái xứ Nghệ đồng thời cũng hát lên cả những ước mơ về một cuộc sống hạnhphúc và nói lên quan niệm của mình về cái đẹp lý tưởng của con người - ở đây
là con người mà mình yêu Từ trong ca dao tình yêu nam nữ, từ trong những câuhát đối đáp ta có thể tìm thấy một sự biểu hiện khá tập trung lý tưởng thẩm mỹcủa các chàng trai cô gái cũng như người dân nơi vùng sông nước Lam này, thấyđươc những nét đạc trưng phong phú về tình yêu của các chàng trai cô gái vùngnông thôn xứ Nghệ Và hiểu thêm về nền văn hóa văn học của vùng đất văn hiến,đi sâu, khám phấ những nét riêng của tình yêu người Việt xư Nghệ Từ đây giúp
Trang 4cho tôi có được những kiến thức mới về văn học dân gian ,phục vụ cho cuộcsống ,học tập và nghiên cứu các đặc trưng văn hóa ,văn học của các miền nôngthôn đất Viẹt Chính vì vậy mà tôi đã lựa chọn đề tài nay.
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ca dao Việt Nam được nghiên cứu từ lâu Các công trình nghiên cứu về
ca dao Việt Nam đã đươc đề cập ở nhiều loại đề tài từ nhiều góc độ
Nghiên cứu từ góc độ thi pháp học, trong cuốn “thi pháp ca dao” củaNguyễn Xuân Kính (1992),tác giả đã đề cập đến những vấn đề:
Thi pháp học và việc nghiên cứu thi phap ca dao
Mấy điều cần chú ý khi nghiên cứu thi pháp ca dao
Thể thơ
Kết cấu
Không gian và thời gian nghệ thuật
Ngôn ngữ trong ca dao
Một số biểu tượng trong ca dao
Bên cạnh một số công trình nghiên cứu về mặt thi pháp của ca dao thìcũng có một số công trình khác nghiên cứu ở phương diện khác như: Trần Đình
Sử (1998) nghiên cứu những đặc điểm thi pháp ca dao:
Nhân vật trữ tình trong ca dao
Kết cấu trong ca dao
Hệ thống hìng ảnh ngôn ngữ trong ca dao
Nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học gồm có:
Cao Huy Đỉnh “ nghiên cứu lời đối đáp trong ca dao trữ tình”Tạp chínghiên cứu Văn học số 9 năm1996 đề cập đến những bài ca dao mang tính chấtđối đáp mà chủ yếu là đối đáp giao duyên nam nữ,vợ chồng
Mai Ngọc Chừ “nghiên cứu ngôn ngữ ca dao Việt Nam” đề cập tới ngônngữ gắn với lời ăn tiếng nói hàng ngày được nhân dân đưa vào trong ca dao
Bùi Mạnh Nhị “ công thức truyền thống và đặt trưng cấu trúc của ca daotrữ tình”( tạp chí van hóa số 1 năm 1997) Nghiêm cứu đặc trưng cấu trúc trong
Trang 5bài ca dao trữ tình dân gian ở khía cạnh công thức truyền thống và đặc trưng cấutrúc của ca dao trứ tình,
Bên cạnh các tác giả,học giả chuyên nghiên cứu về văn học dân gian, còn
có các tác giả là sinh viên,học viên,là những ngừời mới bắt đầu vào nghề.Không thể kể hết,ở đây tôi chỉ kêt những luận án luận văn tiêu biểu như:
Khóa luận “ Tìm hiểu đặc điểm cấu trúc-ngữ nghĩa của ca dao ViệtNam”(1998) Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc cũng như những dấu ấn văn hóatrong ca dao
Khóa luận “ đặc điểm ngôn ngữ phần mở đầu trong ca dao trữ tình ngườiViệt(Vinh,2000)
Khóa luận “ đại từ trong ca dao Việt Nam” (Vinh ,2004) nghiên cứu đại
từ được sử dụng trong ca dao trư tình
Riêng đề tài “Lối đối đáp trong ca dao tình yêu người Việt xứ Nghệ” Thìngoài bài báo “ Nghiện cứu lời đối đáp trong ca dao trữ tình” của Cao Huy Đỉnhthì chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu khám phá một cách cụ thể chi tiết.Cũng vì thế mà tôi lựa chọn đề tài này
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề tài này mục đích của chúng tôi là nhằm:
Thống kê,phân loại ca dao về tình yêu Nam Nữ trong hệ thống các bài cadao về tình yêu Nam Nữ trong kho tàng ca dao xứ Nghệ, đặc biệt là tỉ lệ ca daođối đáp Nam nữ trong ca dao tình yêu người Việt xứ Nghệ
Trang 6Lý giải cỏc hiện tượng,cỏch sử dụng lối đối đỏp trong ca dao tỡnh yờungười Việt xứ Nghệ
Tỡm những điểm đặc sắc cỳng như những đúng gúp của lối đối đỏp trong
ca dao tỡnh yờu người Việt Xứ Nghệ đối với nền văn học và văn húa dõn gian
- Nhằm giúp cho công tác giảng dạy và sinh hoạt của vănhọc đân gian trong nhà trờng phổ thông có cái nhìn toàndiện, sâu sắc, đặc biệt là ca dao tình yêu xứ Nghệ
- Phân tích những đặc điểm của lối đối đáp trong cadao tình yêu ngời Việt xứ Nghệ, góp phần làm nổi bật vẻ đẹptâm hồn của con ngời bìng dân xứ Nghệ
IV đối tợng nghiên cứu:
Nh đề tài đã xác định rõ đối tợng nghiên cứu của chúngtôi là cao dao tình yêu ngời Việt xứ Nghệ Trên cơ sở nhữngthành tựu của các công trình đã công bố, chúng tôi tiến hànhkhảo sátvề lối đối đáp trong ca dao tình yêu ngờ Việt xứNghệ Văn bản mà chúng tôi lựa chọn là bộ "kho tàng ca dao xứNghệ" do Ninh Viết Giao (chủ biên), Nguyễn Đổng Chi, Võ VănTrực- Nhà xuất bản Nghệ an- 1996
Trang 7ở chừng mực cho phép chúng tôi sẽ so sánh trong nội bộ cadao đối đáp của xứ nghệ với nhau, cũng nh lối đôi đáp của cadao xứ Nghệ với lối đối đáp của cqa dao các vùng miền khác,nhằm tìm ra nét tơng đồng cũng nh nét đặc trng.
3 Phơng pháp tổng hợp:
Đây là phơng pháp quan trọng nhấtnhằm lý giải các hiệntợng cũng nh tổng hợp hóa , khái quát hóa vấn đề nhằm tìm ranhững kết luận cần thiết về lối đối đáp trong ca dao tình yêungời Việt xứ Nghệ
VI Phạm vi nghiên cứu :
- Về ca dao tình yêu ngời Việt
- Lối đối đáp trong ca dao tình yêu nguời Việt
- Về ca dao tình yêu ngời Việt xứ Nghệ
- Lối đối đáp trong ca dao tình yêu ngời Việt xứ Nghệtrong "Kho tàng ca dao xứ Nghệ"của Ninh Viết Giao (chủ biên),Nguyễn Đổng Chi ,Võ Văn Trực- Nhà xuất bản Nghệ an 1996
VII Bố cục tiểu luận
Tiểu luận có bố cục ba phần:
ơng III: ý nghĩa của việc sử dụng lối đối đáp trong ca
dao tình yêu ngời Việt xứ Nghệ
Phần III: Kết luận
Trang 8Nội dung
Ch ơng I: Những vấn đề chung:
I Về ca dao tình yêu ngời Việt và lối đối đáp trong
ca dao tình yêu ngời Việt:
Trong ca dao dõn ca lấy đề tài trong đời sống riờng tư và đời sống giađỡnh thỡ ca dao dõn ca về tỡnh yờu nam nữ là bộ phận phong phỳ nhất
Tớnh chất phong phỳ của ca dao dõn ca về tỡnh yờu nam nữ trước hết thểhiện ở số lượng cỏc cõu hỏt Hầu hết ca dao dõn ca về tỡnh yờu nam nữ đượcsỏng tỏc ra trong những điều kiện của mối quan hệ nam nữ ở nụng thụn ViệtNam trước đõy Trai gỏi ở nụng thụn thường gặp gỡ,tỡm hiểu nhau, thổ lộ tỡnhcảm với nhau trong khi cựng lao động trong những ngày hội hố,vui xuõn Mộttrong những hỡnh thức thể hiện sự giao duyờn đú là những cuộc hỏt đối đỏp nam
nữ Cú thể tập hơp cỏc cõu ca dao,cỏc bài dõn ca cổ truyền về tỡnh yờu nam nữthành hai phần: Mộtt phần là của "cụ gỏi",một phần là của "chàng trai"; hầu hếtcỏc cõu hỏt bài ca trong hai phần đú là những lời đối đỏp bổ sung cho nhauthành một nội dung hoàn chỉnh của tỡnh yờu nam nữ Trong những cuộc hỏt thi
và núi chung ngay cả trong những trường hợp bỡnh thường khỏc,người nổi tiếng
là hỏt giỏi khụng phải chỉ cú tài ứng khẩu thành thơ, mà phần lớn cũn là vỡ nhớđược nhiều cõu hỏt cổ truyền cú thể mang ra ứng đỏp với đối phương trong mọitỡnh huống Do đú, ca dao dõn ca trữ tỡnh về tỡnh yờu nam nữ cú nội dung phảnỏnh được mọi biểu hiện của tỡnh yờu trong tất cả những chặng đườngcủa no: giaiđoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bú trao đổi cho nhau những lời thềnguyền,trao những tặng vật cho nhau, giai đoạn hạnh phỳc với những niềm ước
mơ, những nỗi nhớ nhung, hoặc sự thất bại đau khổ với những lời than thở oỏntrỏch Tớnh chất hoàn chỉnh ấy của nội dung dõn ca trữ tỡnh về tỡnh yờu nam nữ
Trang 9còn được thể hiện trong lối hát của một số loại dân ca thí dụ như sự phân chia ralàm nhiều chặng hát của phương vải Nghệ-Tĩnh với nhưng câu hát dạo, hát mời.hát xe kết va hát tiễn.
Ca dao dân ca trữ tình về tình yêu nam nữ hay nói đến những cộc gặp gỡcủa trai gái trong những khung cảnh lao động Tình cảm gắn bó giữa trai gái do
đó thường được biểu hiện trong mối quan hệ khăng khít với cuộc sống lao độngcủa nhân dân Lắm khi không thể phân biệt được rạch ròi, rằng trai gái trao đổivới nhau về công việc lao động hay là trao đổi với nhau về tình yêu
Trong ca dao dân ca trữ tình, ta thường gặp những nét sinh hoạt, nhữngcảnh vật quen thuộc trong đời sống hằng ngày của nhân dân lao động Nhữngnét sinh hoạt, những cảnh vật ấy đươc dùng làm bối cảnh cho biểu hiện của tìnhyêu, hạnh phúc cũng như tình yêu đau khổ Tên của nhiều điệu lý miền NamTrung bộ và Nam bộ thể hiện rõ rệt đặc điểm đó: Lý hoài xuân, lý bơ thờ, lý lênnúi, lý lạch, lý trách ai, lý dệt vải, lý đan lờ, lý cây chanh, lý cây cau, lý conngựa, lý con tằm (Nam Trung bộ), lý xe tơ, lý áo vá quàng, lý kéo chài, lý câybông, lý con sáo, lý chuồn chuồn, lý con cua, lý đất trồng
Trong ca dao dân ca về tình yêu nam nữ có nhiều bài miêu tả tâm trạngnhớ nhung nhau đến đau khổ:
- Muốn khuây dạ nỏ chịu khuây
Sự đâu đem đổ dạ này mê man
Mặc dầu nhiều khi được diễn tả bằng những lời chất phác, tinhf yêu chânthành mãnh liệt ấy của nam nữ thanh niên nông thôn đã giải thích được sự sâusắc của nhiều câu hát (thấu lòng người) nói lên được những nét đặc thù của tinhyêu, như những câu sau đây:
Trang 10Đề tài tình yêu đau khổ cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong ca dao dân caViệt Nam Có những câu hát là những lời đau xót về kỷ niệm của một mối tình
đã qua
Thưêng thì ca dao dân ca việt nam miêu tả tình yêu đau khổ bên cạnhnhững nguyên nhân chủ quan( trai gái không hợp nết nhau) còn nói tới nhữngnguyên nhân khách quan, những nguyên nhân xã hội.Những trắc trở trong tìnhyêu thường do cuộc sống nghèo khổ,do chế độ gia trưởng độc đoán và những tệlậu, tục lệ khắt khe trong xã hội phong kiến gây ra
Hàng loạt bài "thách cưới" có tính chất tròa phúng trong một chặng h¸tcủa dân ca đối đáp nam nữ đã được sáng tác và lưu truyền trên cơ sở phản ứngcủa nam nữ thanh niên đối với những tục lệ thách cưới, nộp cheo tronh chế độhôn nhân ngày xưa
Trong ca dao dân ca trữ tình, có một nhóm bài ca nòi về ông Tơ bàNguyệt, phản ánh nhận thức lệch lạc của nhân dân đối với những hiện tượng tanhợp trươca quan hệ nam nữ Ở nhưng bài ca lấy đề tài tình yêu đau khổ,ông Tơ
bà Nguyệt là những lực lượng siêu nhiên do trí tưởng tượng của người xưa tạo
ra để giải thích nguyên nhân của những nỗi bất hạnh trong tình yêu Nhưng cóđiều đáng chú ý là nhốm bài ca này lại chủ yếu phản ánh tinh thần đấu tranh củanhân dân vì hạnh phúc lứa đôi Nhiều bài nói lên những lời oán trách, sự mùquáng độc địa của ông Tơ bà Nguyệt ấy
Tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chínhấy của nhưng "chàngtrai" và "cô gái" trong ca dao dân ca trữ tình Việt nam phản ánh quan điểm về tự
do yêu đương, tự do hôn nhân của nhân dân lao động Khác với quan điểm tự doyêu đương, tự do hôn nhân vô trách nhiệm của giai cấp tư sản Quan điểm tụ doyêu đương, tự do hôn nhân của nhân dân lao động,trong những điều kiện lịch sửcủa chế độ cũ, một mặt gắn liền với cuộc đấu tranh để thoát ra khỏi những ràngbuộc của lễ giáo phong kiến và những tệ lậu tục lệ khắt khe của nhân dân; mộtmặt còn gắn liền với quan điểm đạo đức, về lòng chung thủy giữa những ngườilao động với nhau
Trang 11Như vậy ca dao dân ca trữ tình về tình yêu nam nữ đã két hợp chạt chẽchủ đề tình yêu với chủ đề lao động và chủ đề đấu tranh xã hội.sự kết hợp củacác chủ đề đó làm cho ca dao dân ca trữ tình không những chỉ phản ánh sinhhoạt nam nữ trong khuôn khổ những tình cảm cá nhân mà cồn có nội dung xãhội phong phú và tính tư tưởng cao.
Đặc biệt đáng chú ý khi hát lên những tiếng hát về tình yêu, "chàng trai"
và "cô gái" đồng thời cũng hát lên những tiếng hát ước mơ về một cuộc sốnghạnh phúc và nói lên quan niệm của mình về cái đẹp lý tưởng của con người( ởđây là con người mà mìng yêu) Do đó trong ca dao dan ca về tình yêu nam nữ
ta có thẻ thấy được một sự biểu hện khá tập trung lý tưởng thẩm mỹ của nhândân lao động, chủ yếu là nông dân lao động thời xưa Theo quan niệm của nhândân, tình yêu không thể tách rời những kết quả tốt đẹp trong tình yêu và ngượclại Quan niệm đó là nguyên nhân của một lối nói độc đáo trong ca dao dân caViệt nam, khi "chàng trai" và "cô gái" muốn bộc lộ những tình cảm, diễn tảnhững tâm trạng và ý nghĩ của mình
- Lòng em đã quyết thi hành
Đã cấy thì gặt với anh một mùa
- Tiếc công đan giỏ bỏ cà
Giỏ thưa cà lọt công đà uổng công
Nhưng trong khá nhiều câu ca dao, bài dân ca về tình yêu nam nữ "chàngtrai" và nhầt là "cô gái" lại được miêu tả với một vẻ đẹp rất ít liên quan tới thứlao động cực nhọc, bị cưỡng bách đó Khi chàng trai ca ngợi một cô gái bằngnhưỡng lời lẽ như:
"Cổ tay em trắng như ngàCon mắt em liếc như là dao cauMiệng cười như thẻ hoa ngâuCái khăn đội đầu như thể hoa sen"
Hay như:
"Đêm tà thấp thoáng bóng trăng
Trang 12Ai đem người ngọc thung thăng chốn này"
Thì đó là sự ca ngợi một sắc đẹp mà chàng trai mơ ước
Khuynh hướng lý tưởng hóa ấy lại cồn bộc lộ rõ hơn nữa trong những ước
mơ về cuộc sống gia đình tương lai của những cặp trai gái đang yêu
Khi quan niệm lao động là cơ sở chủ yếu của lao động thẩm mỹ của ngườinông dân lao động, thì cần thấy rằng đó không phải là thứ lao động nô lệ, bịcưỡng bức mà là một thứ lao động dẫu có vất vả thì bao giờ ít nhiều cũng phải
có tính chất tự do Thứ lao động "đan sàng chẻ lạt" trong một "đêm trăng thanh",thứ lao động "con gái làm cỏ, con trai be bờ" mà vẫn:
"Gái thì kể phú ngâm thơTrai thì be bờ kể chuyện bài bây"
Mặt khác trong lý tưởng thẩm mỹ ấy, cái đẹp lý tưởng về con người lạithường gắn liền với ước mơ về một cuộc sống sung túc, mà nhiều câu hát củachính ngay những "chàng trai" và "cô gái" ấy lại chứng minh là không thể cóđược trong một hoàn cảnh sống cay cực, vất vả, thiếu thốn đủ đường của nhữngcon người "dầm sương gaiải nắng", "một ngày hai bữa cơm đèn" Mâu thuẩn ấytrong lý tưởng thẩm mỹ của người nông dân lao động phản ánh chính ngaynhững điều kiện sống và bản chất giai cấp cả tầng lớp nông dân Chế độ sở hữuruộng đất tronh xã hội phong kiến nước ta một mặt đẩy người nông dân vàocuộc sống khốn cùng, song mặt khác vẫn tạo cơ sở cho một sự phân hóa gai cápthường xuyên trong các tầng lớp nông dân lao động và có một số người vẫnvươn lên được tới một địa vị kinh tế cao hơn Đồng thời nền kinh tế nông nghiệpvới tính chất tự cung tự cấp của nó cũng đã tạo ra cơ sở thực tế cho lý tưởng vềmột cuộc sống ổn định tương đối của người nông dân Do đó trong lý tưởngthẩm mỹ cả người nông dân, yếu tố ước mơ nếu như có phần phản ánh đượccuộc đấu tranh gai cấp của các tầng lớp nhân dân lao động nói chung cho mộtcuộc sống lao động tự do, thì sẽ không còn có những bất công và những ràngbuộc gây nên mọi nỗi đau khổ cho con người nữa
II VÒ ca dao t×nh yªu ngêi ViÖt xø NghÖ:
Trang 13Cũng nh ca dao tình yêu của các vùng miền khác,ca daotình yêu ngời Việt xứ Nghệ gồm toàn bộ lời ca về đề tài tìnhyêu nam nữ ,ra đời trong sinh hoạt dân ca của nhân dân, chủyếu là trong hát dao duyên( đối ca nam nữ) Đây là bộ phận lời
ca chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số ca dao truyền thống đã đợc sutầm, xuất bản và phần lớn những bài ca dao hay đều thuộc bộphận này
Có ngời phân ca doa tình yêu ngời Việt xứ Nghệ theo cácchặng hát đối đáp nam nữ nh: hát dạo, hát hỏi, hát mừng, hátmời, hát đố, hát xe kết, hát tiễn Ca dao tình yêu không chỉ
đợc sáng tác và sử dụng trong các cuộc hát đối đáp nam nữtheo đúng thủ tục, lề lối truyền thống, mà còn đợc sáng tác và
sử dụng trong nhiều hoàn cảnh, trờng hợp khác nh: (hát ru, hát
lẽ, hát từng nhóm nhỏ ) trong quá trình lao động Căn cứ đềtài chủ đề có thể phân ca dao tình yêu ngời Việt xứ Nghệthành bốn bộ phận chính là: tỏ tình, tơng t, thề nguyền vàhận tình Hai nhân vật chủ yếu trong bài ca dao là chàng trai
và cô gái Hai nhân vật này thờng xng hô với nhau bằng nhữngcặp đại từ và những hình ảnh ẩn dụ, tợng trng quen thuộc nh:Anh- Em, Thiếp- Chàng, Mình- Mận- Đào
Ngời ta coi hát dao duyên là sinh hoạt văn nghệ, là "đóngkịch" do đó khi hát dao duyên ngời ta phải tạm quên đi cuộc
đời thực để sống với nhân vật "chàng trai" và "cô gái" trênsân khấu nghệ thuật dân ca Chính nhờ vậy mà ngời ta đợc
tự do sáng tạo, tự do bày tỏ quan niệm t tởng, tình cảm, khátvọng yêu đơng của mình Dù thuộc lứa tuổi nào, dù đã có vợ,
có chồng, khi hát đối đáp nam nữ ngời ta vẫn coi nhau là "traithanh gái lịch" và xng với nhau"anh- em" "thiếp- chàng" một
Trang 14cách tự nhiên Bởi đó chỉ là "đóng kịch" ai ghen tuông sẽ bịcông chúng chê cời Có lời ca nói về điều này nh sau:
"Ai có chồng nói chồng đừng sợ
Ai có vợ nói vợ đừng ghen
Đến đây hò hát cho quenRạng ngày ai về nhà nấy, nỏ lẽ một đèn hai tim"
Đặc điểm chung của ca dao tỏ tình là tính chất lãng mạn
và lý tởng hóa.Có hàng trăm cách tỏ tình khác nhau giữa cácchàng trai, cô gái, nhiều cách nói độc đáo, sáng tạo, tế nhị
- "Bây giờ Mận mới hỏi ĐàoVờn hồng đã có ai vào hay cha
- Mận hỏi thì Đào xin thaVờn hồng có lối nhng cha ai vào."
- "Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàngTre non đủ lá đan sàng nên chăng?
- Đan sàng em cũng xin vângTre vừa đủ lá nôn chăng hỡi chàng?"
Khi yêu nhau ta càng thêm lạc quan yêu đờivà nhìn thấy
đợc nhiều điều mới lạ, tốt đẹp của thế giới xung quanh mình
mà bình thờng không thấy hoặc khó thấy Vìo thế trong cadao tỏ tình không có ngời nào xấu, cảnh nào buồn, lời nàonhạt, tất cả đều phơi phới, mới mẻ, xinh đẹp và rất có duyên
ở bộ phận ca dao tơng t, nhiều trạng thái tâm lý , tìnhcảm khi yêu đơng nhất là khi xa cách( nh bâng khuâng, lolắng, nhớ nhung, buồn phiền) đợc phản ánh thể hiện rất hồnnhiên, chân thực tinh tế
Trang 15Nếu nh ca dao tỏ tình các chàng trai chủ động nói nhiềuhơn, hay hơn thì ở ca dao tơng t lại có phần ngợc lại Phần lớnnhững lời ca tơng t hay đều là lời của nữ giới Ngoài đời phụnữ thờng giữ gìn ít nói, nhng trong ca doa tình yêu, đặcbiệt là ca dao tơng t họ lại nói rất nhiều, rất tự do dờng nhmuốn dốc hết bầu tâm sự của mình Nhiều lời ca nghe nh củangời đang trong trạng thái mê sảng, tâm thần bất ổn.
Khác với ca dao tỏ tình và tơng t ở bộ phận ca dao thềnguyền lại toát lên sức mạnh phi thờng của nghị lực và ý chí ở
đây các chàng trai cô gái thể hện sự tỉnh táo, sáng suốt, dámnhìn thẳng vào thực tế khó khăn, chấp nhận mọithử thách, vợtqua mọi trở lực để thực hiện tình yêu
"Đôi ta đã quyết thi hành
Đã đốn thì vác cả cành lẫn cây"
Mặc dù quyết tâm rất lớn, thề thốt rất nhiều nhng tìnhyêu tự của nam nữ thanh niên trong xã hội phong kiến vẫngặp nhiều trở lực và phần nhiều không thực hiện đợc Và đó
là nguyên nhân khiến cho bộ phận ca dao hận tình nảy sinh
và phát triển rất phong phú và đa dạng ở khắp địa phơngNghệ tĩnh Đó là nhữmg lời ca nạng nề , bi thiết rất giàu tínhhiện thực và ý nghĩa xã hội ở đây nhũng chàng trai cô gái yêunhau trở thành những nhân vật bi kịch trong tình yêu bấthạnh.Họ không chỉ than thân, trách phận mà còn trút sự hờncăm vào nhiều đối tợng khác nhau trong xã hội đơng thời.Nhiều bài ca do hận tình đã lên án và phê phán mạnh mẽ cácthế lực xã hội ngăn trở, phá hoại tình yêu
III Khảo sát về tỷ lệ ca dao đối đáp trong ca dao tình yêu ngời Việt xứ Nghệ:
Trang 16Trong "kho tàng ca dao xứ Nghệ" của Ninh Viết Giao ởphần ca dao tình yêu nam nữ có 1894 bài thì có đến 134 bài
là ca dao đối đáp- chiếm tỷ lệ trên 7,07% Đặc biệt tong sốnày thì tỷ lệ các bài ca dao đối đáp ở giai đoạn gặp gỡ tỏtình là lớn nhất, trong kho tàng ca dao xứ Nghệ chiêm khoảng64/134 bài ca dao đối đáp trong phần ca dao tình yêu namnữ.Giai đoạn tình yêu có tỷ lệ các bài ca dao đối đáp lớn tiếptheo đó là giai đoạn hò hẹn- thề nguyền Các bài ca dao đối
đáp thể hiện nỗi đau khổ hay niềm hạnh phúc chiếm tỷ lệ íthơn Trong ca dao đối đáp tình yêu nam nữ có các giai đoạn
có những bài thể hiện ý thử thách tài năng đối đáp, ứng đối,ứng khẩu nhanh trớc những câu đố hóc búa
Ch
ơng II Cách sử dụng lối đối đáp trong ca dao
tình yêu ngời Việt xứ Nghệ:
Trang 171 Hát đối đáp thờng xuất hiện trong những ngày lễ hội,
những dịp trai gái gặp gỡ nhau thờng là lúc tỏ tình.Chính vìvậy nội dung của loại lời này gồm hai ý lớn, có khi tơng hợpnhau, có khi đối lập nhau ở loại kết cấu tơng hợp diễn tả mộtcách sâu sắc nhất tìng cảm của đôi nam nữ Đây là lời tráchmóc khéo của ngời con trai xứ Nghệ:
- Anh quen em năm ngoái lại dừCơi trầu anh mang đế em chối từ không ănNgời con gái đáp lại:
- Có phải mô anh, có rứa mô anhNăm qua bé nhỏ, cha giám ăn trầu ngời
Hay nh:
- Anh thơng em sao nỏ muốn thơng
Sợ rồi một khóa đôi rơng khó chiều
- Quý hồ em có lòng thơngAnh có lòng đơi nh rơng khóa rồi
Nội dung của hai vế đối đáp rất phong phú, đây là dạngbốn dòng thơ, hai dòng hỏi và hai dòng đáp lại Lời hỏi và lời
đáp lại của đôi nam nữ cũng có sự thay đổi, có khi nam hỏinữ đáp,hoặc ngợc lại Kết cấu hai vế tơng hợp tạo khả năng thểhiện tình cảm một cách sâu đậm bay bớm, dí dỏm Nhiềucảnh ngộ, nhiều nghịch cảnh đợc bộc lộ:
- Thơng anh em cũng muốn thơng
Sợ rồi bên giáo bên lơng khó thành
- Quý hồ em có lòng thơngAmen mặc thiếp ,khói hơng mặc chàng