1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn và truyện ngắn nguyễn khải

35 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 223 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tế, việc tìm hiểu so sánh tu từ trong tác phẩmvăn xuôi về nguyên tắc có thể thực hiện với bất kỳ nhà văn nàonhng do một số giới hạn nhất định, chúng tôi chỉ đi sâu vàonghiên c

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

- So sánh tu từ là một biện pháp nghệ thuật thờng đợc cácnhà văn, nhà thơ dùng phổ biến với mật độ khá dày đặc trongtác phẩm Biện pháp này có chức năng rất quan trọng Nó làm cho

sự vật, hiện tợng đợc tác giả nói đén trở nên cụ thể, cung cấp mộtquan niệm rõ rệt về chúng, thể hiện đựôc tình cảm, thái độ, ttởng của riêng mình Tuy vậy mảng nghiên cứu về so sánh tu từvẫn còn thiếu vắng Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài này

- Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Khải gắn liền vớinhững thời kỳ của đất nớc, khởi bút từ những năm đầu thời kỳkháng chiến chống Pháp, trải qua công cuộc xây dựng xã hội miềnBắc, thời kỳ chống Mỹ và đặc biệt có nhiều thành tựu trongnhững năm sau hoà bình Với một chặng đờng sáng tác dài, gắnliền với lịch sử của đất nớc nh vậy, Nguyễn Khải đã có một khốiluợng tác phẩm lớn trên nhiều thể loại nh tiểu thuyết, ký, kịch,truyện ngắn, tạp văn, tuỳ truyện, tuỳ bút Và qua những sáng tác

ấy, ông đã khẳng định đợc một phong cách nghệ thuật độc

đáo, mới mẻ, đơc giới nghiên cứu đánh giá cao Nguyễn Khải đãtừng nhận các giải thởng nh: Giải tác phẩm xuất sắc của hội vănnghệ Việt Nam (1953), hai giải thởng của Hội Văn nghệ Việt Nam(1982, 1989), Giải thởng Hồ Chí Minh (2000), Giải thởng ASEAN(2000)

Do những cống hiến to lớn trong gần 6 thập kỷ qua , NguyễnKhải đợc giới phê bình, nghiên cứu đặt ở vi trí đáng kể trongnền văn xuôi hiện đại Việt Nam "Nguyễn Khải là một trongnhững cây bút tiêu biểu cho nên văn xuôi cách mạng" (Hà Công

Tài - Những chặng đờng văn Nguyễn Khải) Nhà nghiên cứu văn

học Vơng Trí Nhàn cũng từng khẳng định: " Từ 1975 đến nay,Nguyễn Khải luôn luôn thuộc loại những cây bút dẫn đầu trong

đời sống văn học" ( Nguyễn Khải sự vận động của văn học cách

Trang 2

mạng từ sau 1975) Tác phẩm của ông đã đem lại một cái nhìn

nghệ thuật độc đáo, mới mẻ chỉ có ở riêng ông và là một thành tuquan trọng của nền văn học nớc nhà Do Nguyễn Khải có vị trí ,vai trò quan trọng nh vậy cho nên việc nghiên cứu, tìm hiểunhững tác phẩm của ông là việc cần thiết và chắc chắn sẽ rút ra

đợc nhiều bài học bổ ích

- Mặt khác trong chơng trình ngữ văn phổ thông trunghọc, rất nhiều học sinh đã biết đến và thực sự yêu thích nhà văn

Nguyễn Khải qua truyện ngắn nh Tầm nhìn xa, Mùa lạc Thực hiện chơng trình đổi mới sách giáo khoa hiện nay, tác phẩm Một ngời Hà Nội, một tác phẩm rất tiêu biểu của ông viết ở giai đoạn

sau 1975 đã đợc chọn để đa vào sách Ngữ văn 12 Điều đó chothấy rằng cùng với thời gian và sự sàng lọc, Nguyễn Khải vẫn làcây bút trụ vững và có ý nghĩa đặc biệt trong những biến

động, phát triển của nền văn học dân tộc

Trong thực tế, việc tìm hiểu so sánh tu từ trong tác phẩmvăn xuôi về nguyên tắc có thể thực hiện với bất kỳ nhà văn nàonhng do một số giới hạn nhất định, chúng tôi chỉ đi sâu vàonghiên cứu " So sánh tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Khải" nhằmgóp thêm một tiếng nói khẳng định những cống hiến củaNguyễn Khải đối với nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Mặt khácviệc thực hiện đè tài này sẽ góp phần cung cấp kiến thức cho việcdạy học o trờng phổ thông

II Lịch sử vấn đề.

2.1 Lịch sử nghiên cứu so sánh tu từ

2.2 Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Khải

Chúng tôi nhận thấy rằng tác phẩm chính của Nguyễn Khảikhi ra đời dù ở giai đoạn nào cũng đặc biệt thu hút sự chú ý của

độc giả cũng nh giới phê bình văn học, kể cả những tác phẩm ôngviết khi đã ngoài 70 tuổi và cả những năm cuối đời Sở dĩ văn

ông có một sức hút đặc biệt đối với bạn đọc nói chung, giới phê

Trang 3

bình nói riêng là bởi vì ở đó ngời ta luôn bắt gặp những vấn

đề nóng bỏng của cuộc sống, đợc nhìn nhận và phản ánh mộtcách khá thẳng thắn

Cho đến nay đã có trên 50 tác giả nghiên cứu về NguyễnKhải nh Hà Minh Đức, Nguyễn Huệ Chi, Ngô Thảo, Phan Cự Đệ, LạiNguyên ân, Vơng Trí Nhàn

Nhìn chung các công trình nghiên cứu Nguyễn Khải đi theo

2 xu hớng chính

2.2.1 Xu hớng thứ nhất tìm hiểu những đặc điểm cơ bản

của ngòi bút Nguyễn Khải trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của

ông

Tiêu biểu cho xu hớng này có Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, HàMinh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Văn Hạnh, Chu Nga, Vơng TríNhàn

Trong bài " Nguyễn Khải" giáo s Phan Cự Đệ cho rằng:

"Nguyễn Khải là một cây bút trí tuệ luôn luôn suy nghĩ sâu lắng về những vấn đề cuộc sống đặt ra và cố gắng tìm một lời đáp thuyết phục theo cách riêng của mình" Giáo s cũng nhấn mạnh đến tính vấn đề qua các tác phẩm Nguyễn Khải: " Trong các tác phẩm của nhà văn, thông qua những sự kiện xã hội, chính trị có tính chất thời sự nóng hổi, bao giờ cũng nổi lên những vấn

đề khái quát có ý nghĩa triết học và đạo đức nhân sinh" Ông

cũng cho rằng ngòi bút Nguyễn Khải là ngòi bút hiện thực tỉnhtáo, ngòi bút ấy luôn luôn gắn liền với những cảm hứng lãng mạncách mạng về ngày mai ( Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, tập 2,NXBGD và THCN, Hà Nội, 1983)

Chu Nga trong một bài viết cũng cho rằng: "Với con mắt sắc sảo của mình, nhìn vào ngõ ngách nào của cuộc sống, Nguyễn Khải cũng có thể nhanh nhạy phát hiện ra những vấn đề phức tạp"

Trang 4

Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh lại cho rằng: " Những

điều thôi thúc Nguyễn Khải cầm bút là nhu cầu đợc bàn bạc, đợc triết lý với độc giả" Nguyễn Đăng Mạnh còn thấy một điều đặc

biệt ở nhà văn này nữa đó là vấn đề tự biểu hiện con ngời t ởng, con ngời trí tuệ của nhà văn

tTác giả Đoàn Trọng Huy trong cuốn Văn học Việt Nam 1945

-1975, tập 2, NXBGD, Hà Nội, 1990 đã lu ý rằng trong phong cáchNguyễn Khải có 3 đặc điểm nổi bật đó là: Cái nhìn hiên thựcnghiêm ngặt, tính chính luận, tính thời sự - năng động Ba đặc

điểm này là nên sức mạnh riêng của Nguyễn Khải đồng thời làmcho Nguyễn Khải không lẫn đợc với gơng mặt các nhà văn ViệtNam hiện đại khác, đó là 3 trong những đặc điểm cơ bảnxuyên suốt đời văn Nguyễn Khải

Ngoài ra các đặc điểm khác của ngòi bút Nguyễn Khải cũng

đợc nêu lên trong một số bài viết của Đào Thuỷ Nguyên, NguyễnThị Huệ, Nguyễn Thị Bình, Vơng Trí Nhàn

2.2.2 Xu hớng thứ hai nghiên cứu đặc điểm ngòi bút

Nguyễn Khải qua những tác phẩm cụ thể.

Tiêu biểu cho xu hớng này có Lại Nguyên Ân, Lê Thành Nghị,

Vũ Quần Phơng, Nguyễn Huệ Chi, Thành Duy, Hồ Phơng

Khi tập truyện Mùa lạc vừa mới ra đời, Thành Duy đã có bài

viết Mùa lạc, một thành công mới của Nguyễn Khải, trong đó có

những nhận xet nh: "Với Mùa lạc, không những Nguyễn Khải chọn cho mình phơng hớng tốt trong sáng tác, mà còn vợt các tác phẩm trớc của anh về tính t tởng và tính nghệ thuật" hay: "trong mùa lạc anh tập trung sự chú ý của mình vào việc diễn tả cuộc đấu tranh giã cái mới và cái cũ nêu lên những vấn đề thiết thực nóng hổi của đời sống, của con ngời".

Tác giả Nguyễn Văn Hạnh khi nhận xét về tập Chủ tịch huyện của Nguyễn Khải đã cho rằng: "Nguyễn Khải có khả năngphân tích cuộc sống mạnh mẽ, có sức phát hiện, biết nhìn,

Trang 5

biết nghe, biết chọn lọc hiện thực, biết dùng lối kể chuyện xen kẽ với nhận xét và bình luận Đây là biện pháp quan trọng của truyện ngắn nó cho phép đối tợng nói trực tiếp bằng ngôn ngữ của bản thân nó, do đó tạo nên sự biến hoá cho bút pháp và

đồng thời dễ gây cho độc giả những ấn tợng bất ngờ thú vị"

(Chủ tịch huyện của Nguyễn Khải, báo đăng trên tạp chí vănnghệ quân đội, số 10, 1972)

Ngoài ra có thể gặp các bài nghiên chứu khác đánh giá từngtác phẩm cụ thể của Nguyễn Khải của các tác giả: Nguyễn HữuSơn, Trần Thanh Phơng, Lê Thanh Nghị, Ngô Thảo, Phan HồngGiang

3 Mục đớch của đề tài

Qua nghiờn cứu cấu trỳc so sỏnh tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Khải khúaluận muốn đạt được ba mục đớch sau:

3.1 Làm sỏng tỏ cấu trỳc so sỏnh tu từ (SSTT) trong truyện ngắn Nguyễn

Khải trờn cơ sở so sỏnh mụ hỡnh cấu trỳc SSTT trờn lý thuyết

3.2 Thụng qua khảo sỏt cấu trỳc SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Khải khúa

luận rỳt ra những nột độc đỏi trong việc sử dụng phương thức tu từ của NguyễnKhải

3.3 Nờu lờn những đúng gúp của ụng về phương thức SSTT đối với văn học

Việt Nam hiện đại trờn phương diện SSTT

3.4 So sỏnh SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Huy Thiệp.

4 Đối tượng nghiờn cứu

Đối tượng nghiờn cứu của khúa luận này là những phộp SSTT được thể hiệntrong truyện ngắn Nguyễn Khải rut ra từ 34 truyện ngắn đú là:

"Nằm vạ", "Mựa lạc", "Tầm nhỡn xa", "Hai ụng già ở Đồng Thỏp Mười",

"Nắng chiều", "Một người Hà Nội", "Đời khổ", "người ngu", "Luật trời", "Cặp vợchồng ở chõn động Từ Thức", "Hậu duệ dũng họ Ngụ Thỡ", "Chuyện tỡnh của mỗingười", "Anh hựng bĩ vận", "Đổi đời", "Sống giữa đỏm đụng", "Nơi về", "Ngườigià", "Mẹ và bà ngoại", "Thầy Minh", "Đó từng cú những ngày vui", "Lớnh chữachỏy", Lóng tử", "Một bàn tay và chớn bàn tay", "đàn ụng", Một chiều mựa đụng",

Trang 6

"Phía khuất mặt trời", "Đăn bă", "Chị Mai", "Mẹ vă câc con", "Sư giă chùa Thắm vẵng đại tâ về hưu", "Một giọt nắng nhạt", "Câi thời lêng mạn", "Những năm thângyín tĩnh"

5 Câi mới của đề tăi

Đề tăi năy cố gắng đi sđu nghiín cứu cấu trúc SSTT trong truyện ngắnNguyễn Khải một câch cụ thể, hệ thống vă toăn diện nhất Qua đó thấy đuợc nhữngnĩt độc đâo vă đóng góp của ông về phương diện năy

Đề tăi sẽ nghiín cứu sự khâc nhau trong câch sử dụng so sânh tu từ trongtruyện ngắn của Nguyễn Khải vă Nguyễn Huy Thiệp

6 Phương phâp nghiín cứu

6.1 Phương phâp thống kí phđn loại

Bằng phương phâp thống kí phđn loại chúng tôi đê tiến hănh thống kí phđnloại ttât cả câc dạng SSTT trong 34 truyện ngắn của Nguyễn Khải, được in trong "Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải", NXB Hội nhă văn, 2002

6.2 Phương phâp so sânh đối chiếu

Sau khi tiến hănh thống kí, phđn loại chúng tôi lấy kết quả đó để soôsanhs,đối chiếu giữa câc dạng của cấu trúc SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Khải với cấutrúc so sânh tu từ trong lý thuyết phong câch học từ đó chỉ ra nĩt khâc biệt vă tươngđồng giữa chúng

Chương II: So sânh tu từ trong truyện ngắn Nguyễn Khải

Chương III: Giâ trị biểu hiện của SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Khải.Chương IV: So sânh SSTT trong truyện ngắn Nguyễn Khải vă Nguyễn Huy Thiệp

Trang 7

Chương I: MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Khải

1.1.1 Truyện ngắn

1.1.2 Truyện ngắn Nguyễn Khải

Cả một đời gắn bó với nghề viết văn và đã để lại một sự nghiệp văn chươngkhông nhỏ cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, nhà văn Nguyễn Khải đã từ giãchúng ta vào một ngày đầu năm2008 với bao điều chưa nói hết, chưa viết hêt Ông

là nhà văn sáng tác trên nhiều thể loại và ở thể loai nào cũng thành công, để lạinhững tác phẩm văn chương bất hủ trong lòng người đọc Có thể nói giá trị vănchương của ông sống lâu trong lòng bạn đọc như vậy là do phong cách sáng tác củaông được hình thành từ rất sớm và độc đáo Sau đây chúng tôi sẽ chỉ trình bàyphong cách của ông ở thể loại truyên ngắn trên phương diện nội dung tư tưởng vàhình thức nghệ thuật

1.1.2.1 Phong cách truyện ngắn Nguyễn Khải nhìn ở phương diện nội dung

tư tưởng.

Nguyễn Khải là một trong số ít nhà văn ở nước ta có một hành trình sáng tạogắn liền với một chặng đường dài của dân tộc, từ những năm kháng chiến chốngPháp gian khổ cho đến những năm đất nước bước vào quá trình hội nhập với thếgiới Là một nhà văn nhạy cảm với những thay đổi của thời cuộc, có trách nhiệmcao trong nghề nghiệp, sáng tác của Nguyễn Khải nói chung và truyện ngắn nóiriêng được giới phê bình, đồng nghiệp, bạn đọc mệnh danh là nhà văn của thời sự,nhà văn "thông tấn" (Trần Đăng Khoa), "nhà tư tưởng" (Nguyên Ngọc), điều đókhông hề giảm đi vẻ đẹp nghệ thuật đích thực trong văn chương Nguyễn Khải Quảđúng như vậy, Nguyễn Khải là một trong số ít nhà văn có được tác phẩm bám sátnhững vấn đề thời sự của đất nước từ những năm xây dựng nông thôn ở miền Bắc,thời chống Mỹ và sau này là những vấn đề thiết thực liên quan đến con người thờihậu chiến, thời hiện đại Cũng vì vậy mà nhà văn Nguyên Ngọc đã cho rằng ông lànhà văn trung thực nhất của thời đại Với một lối tiếp cận riêng, nên mặc dù bám sátvào những vấn đề thời sự nhưng tác phẩm của Nguyên Khải, kể cả những tác phẩmviết ở thời kỳ đầu như tập truyên j mùa lạc, chưa bao giờ là những tác phẩm mang

Trang 8

tính chất minh họa giản đơn đằng sau cái hiện thực sôi động, thậm chí nóng bỏngcủa cuộc sống là bao vấn đề mang tầm khái quát, có giá trị nhân văn sâu sắc đượcđặt ra Vì vậy nói như một nhà phê bình văn học là tác phẩm của Nguyễn Khải thờinào cũng đọc được và không đến nỗi cũ Nguyễn Khải là nhà văn có cái nhìn sắcsảo, nhạy cảm không chỉ với cái đẹp mà còn với cả những cái xâu, cái lạc hậu, trì trệtrong xã hội Ông đã từng thành công với nhiều nhân vật phản diện Tuy nhiên, vớimột quan niệm về hiện thực sâu sắc, với một lòng tin vào bản chất tốt đẹp của conngươnì, truyện ngắn của Nguyễn Khải là một minh chứng tiêu biểu cho hành trìnhmải miết đi tìm vẻ đẹp vĩnh hằng của con người trong những biến đổi vô cùng củacuộc sông Đó là vẻ đẹp về mặt trí tuệ, đặc biệt về mặt nhân cách trong những conngưuơì bình thường nhất, lặng lẽ nhất ở trong cuộc sông vuầ đa dạng vừa có chiềusâu như vậy, lẽ đương nhiên là cảm hứng sáng tạo trong truyện ngắn của cũng trởnên phong phú Ở đó vừa có cảm hứng ngợi ca vừa có cảm hứng phê phán Nhưngđiều đặc biệt là ở cây bút này dù ngợi ca hay phê phán cũng không bao giờ dẫn đếnmột cái nhìn cực đoan, đơn giản Mỗi con người là một thế giới đầy bí ẩn và phứctạp và không thể đánh giá được trong ngày một ngày hai với một cací nhìn chủ

quan, hạn hẹp Thiên truyện Cái thời lãng mạn của ônglà một sụ giãi bày chân

thành, thấm thía về điều đó Với một quan niêm, một cái nhìn không hời hợt, giảnđơn, Nguyễn Khải đã để lại trong truyện ngắn của mình một thế giưói với nhữngnhân vật thật đa dạng, sống động, chân thật như chính đời sống của nó vậy Cũngchínhhtừ những tác phẩm như vậy mà những chiêm nghiệm, những triết lý về thânphận của con người cũng đuợc thê hiện một cách sâu sắc, cảm động trong mảngtruyện ngắn của ông Có thể nói rằng, với một cách tiếp cận hiện thực riêng và mộtkiểu xử lý đầy sáng tạo trong cảm hứng, Nguyễn Khải đã thực sự tạo được một dấu

ấn độc đáo, khó quên trong hành trình đến với bạn đọc mọi thời

1.1.2.2 Phong cách truyện ngắn Nguyễn Khải nhìn ở phương diện hình thúc nghệ thuật

Truyện ngắn của Nguyễn Khải không chỉ độc đáo trong lối tiếp cận hiện thực,trong cảm hứng sáng tạo mà còn độc đáo trong nhiều yếu tố ở phương diện hìnhthức nghệ thuật Là một nhà văn trung thực, xác định đúng đắn được lập trường của

Trang 9

người cầm bút, Nguyễn Khải không ngại vạch trần những xung đột trong đời sống

và con người Để thực hiện điều này, Nguyễn Khải đã tạo ra một kiểu tình huốngphổ biến, đó là tình huống kịch Qua những tình huống kịch như vậy, những xungđột xã hội, những mâu thuẫn trong lối sống, trong quan niệm cũng như mâu thuẫngiữa các thế hệ đã đuợc nhà văn đặt ra và thực sự đem đến cho người đọc một bứctranh chân thực, sống động về đời sống tinh thần đầy phong phú và phức tạp củacon người qua các thời kỳ lịch sử Bên cạnh tình huống kịch còn có một kiểu tìnhhuống rất phổ biến, đó là tình huống lựa chọn Ở đó nhân vật luôn được đặt trướcnhững sự lựa chọn, buộc họ phải lựa chọn một cách, đó có thể là cách nghĩ, cáchsống, cách ứng xử và từ đó làm rõ tính cách nhân vật Dễ thấy rằng hầu hết cácnhân vật trong truyện ngứn Nguyễn Khải, khi đứng trước những tình thế như vậythường có một cách lựa chọn đầy bản lĩnh, thể hiện được nhân cách đẹp đẽ màkhông phải trong hoàn cảnh đó ai cũng làm được như vậy Có thể nói rằng kiểu tìnhhuống kịch và đặc biệt là kiểu tình huống lựa chọn đã đem lại cho truyện ngắnNguyễn Khải những nét độc đáo, không thể trộn lẫn với bất kỳ tác phẩm của nhàvăn nào cùng thời và kể cả sau này

Tìm hiểu thế giứi nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải ta thấy ông đãthực sự xây dựng được một số kiểu nhân vật mang tính nghệ thuật cao và đồng thời

đã thể hiện được sâu sắc những quan niệm vè hiện thực cũng như quan niệm về conngười Trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Khải, có một lớp người mà cốt cách,phẩm chất, những nguyên tắc ứng xử của họ không bao giờ đổi thay trước nhữngbiến động của thời cuộc Điều đó không những không làm cho họ trở nên lạc thời

mà chính bản thân những con người đó đã lưu giữ lại được những truyền thống tốtđẹp của gia đình, dòng họ và rộng ra là cả một dân tộc Viết về những con người

như vậy, ngòi bút Nguyễn khải biết bao trân trọng, với ông họ như những "hạt bụi vàng" còn sót lại và ông tha thiết muốn níu giữ nó Xã hội hiện đại đang đổi thay

đén chóng mặt và mặt trái của nó đã tác động đến thành trì của từng gia đình, từngcon người với bao tốt xấu Nhìn chung, điều thu hút các nhà văn hiện đại cùng thờivới Nguyễn Khải vẫn là phản ánh, miêu tả mặt trái của nó Và vì thế khi người đọcthường xuyên phải đối diện với những nhân cách méo mó, tha hóa của nhiều nhân

Trang 10

vật trong các tác phẳm văn học hiện đại và không khỏi giật minh, kinh hoàng; thì lại

có thể tìm thấy một chút bình yên, một niềm tin khi tiếp xúc với kiểu nhân vật nhưthế này trong tác phẩm của Nguyễn Khải Đó cũng là một sáng tạo mang đạm cátính độc đáo của nhă văn Bên cạnh kiểu nhân vật luôn luôn có cách ứng xử đầy bảnlĩnh, giữ được cốt cách bất biến trước những vạn biến của cuộc đời, trong tác phẩmcủa Nguyễn Khải còn có một kiểu nhân vật rất phổ biến nữa đó là kiểu nhân vậtnam giưói với những lạc thời, bế tắc trong cuộc sống Họ chủ yếu là những ngườilính đã một thời xông pha trên trận mạc, là những nhà văn, nhà báo, nhà giao đàytâm huyết với nghề, nhưng trước sự đổi thay của thời thế họ vẫn không thể ngoảnhmặt quay lưng lại với những gì họ đã sống, nên ở một chừng mực nào đó, họ rơi và

bế tắc và nhiều lúc trở nên lạc thời Viết về những con người như vậy, Nguyễn Khải

một mặt đã nhìn thấy những đổi thay "tận đáy sâu", "tận cội rễ" trong đời sống của

ngày hôm nay Nhưng mặt khác, Nguyễn Khải dường như đang muốn làm một công

việc là "kéo một nước Việt Nam từ trong đáy sâu của thời gian lên với ánh sáng của hôm nay, để được sống và nghĩ cùng ngày, cùng giờ với một nhân laọi đang háo hức lao tới hững mục tiêu của cuối thế kỷ" Với một quan niệm, một cách nghĩ như

vây, càng ngày ông càng chứng tỏ đựoc mình đúng và đã bộc lộ được cái nhìn nhânsinh sâu sắc Với niềm tin tưởng vào những điều bất biến thuộc về bản chất của conngười, nhà văn còn tạo ra trong sáng tác của mình một kiểu nhân vật nũa, đó là nhânvật người phụ nữ với những hi sinh thầm lặng Xây dựng kiểu nhân vật này, mộtmặt nhà văn muốn ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp muôn đời của người phụ nữViệt Nam nhưng mặt khác nhà văn đã thực sự làm cho người đọc phải trăn trở, suy

tư trước lối sống thờ ơ, thiếu trách nhiêm của một lớp người trong xã hội Và vì vậy,bên cạnh cảm hứng ngợi ca, những tác phẩm viết về những người phụ nữ với những

hi sinh thầm lặng cũng chính là những tác phẩm có giá trị phê phán, nhà văn đã đénvới người đọc bằng một lời thức ngộ nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần quyếtkiệt

Xét về phương diện ngôn ngữ trong truyện nhắn Nguyễn Khải ta sẽ thấyNguyễn Khải là một trong những nhà văn đi tiên phong trong việc đổi mới văn xuôi,đặc biệt là từ năm 1986 Điều dễ nhận ra ở phương diện ngôn ngữ của cây bút này,

Trang 11

đó chính là ông đã tạo ra một thứ ngôn ngữ gần gũi, bình dị, dân dã và cũng khôngkém phần hài hước, dí dỏm Đó là một thứ ngôn ngữ góp phần làm dân chủ hóangôn ngữ văn chương, khiến cho tác phẩm của Nguyễn Khải dù là những tác phẩmmang tính vấn đề, tính triết lý cao vẫn có thể đén với người đọc một cách nhẹnhàng, sinh động và dung dị.

1.2 Biện pháp so sánh tu từ

1.21 Khái niệm so sánh tu từ

So sánh tu từ (SSTT) là biện pháp nghệ thuật quen thuộc, được sử dụng trongnhiều lĩnh vực thơ ca, đới sống nhân dân về quan niêm SSTT đựoc nhiêù nhànghiên cứu đề cập đến tuy có khác nhau về tên gọi (so sánh tu từ, so sánh hình ảnh,

so sánh nghệ thuật)

- Nhóm tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Học trongcuốn phong cách học Tiếng việt, NXB Giáo dục, 1982 cho rằng “so sánh tu từ là sựđối chiếu hai đối tượng có cùng một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện mộtcách hình tượng đặc điểm của một trong hai đối tượng đó”

- Cũng đề cập đến so sánh tu từnhưng tác giả Nguyễn Thế Lịch trong bài cácyếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật, tạp chí tiếng việt tháng 1 năm 1988 lạinhấn mạnh đến tính mục đích của so sánh tu từ, tác giả viết: “So sánh nghệ thuậtthường được biểu hiện là một sự vật ra đối chiếu về một mặt nào đó đối với một sựvật khác loại nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác quan có thể nhận biết để hiểuviệc đưa ra đó dễ dàng hơn”

- Các tác giả Nguyễn Thái Hoà và Đinh Trọng Lạc trong công trình viếtchung có tên: “Phong cách học tiếng việt” lại cho rằng tính cụ thể của hình ảnh, tínhcảm xúc thẩm mỹ là hai yếu tố của so sáng tu từ: “So sánh là phương thức diễn đạt

tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một néttương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhậnthức của người đọc, người nghe”

- Đinh Trọng Lạc cũng đưa ra một khái niệm về so sánh tu từ được hầu hếtcác nhà nghiên cứu thừa nhận, đó là: “So sánh (so sánh tu từ, so sánh hình ảnh, làmột biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại

Trang 12

của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nétgiống nhau nào đó nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đốitượng”.

Nhìn lại các quan niệm trên ta thấy, tuy có những cảnh gợi tên khác nhau,nhưng những cách lý giải đó đều có một cách hiểu chung, đó là “so sánh tu từ làbiện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu, so sánh các sự vật, hiện tượng khác loạivới nhau nhằm tìm ra những nét giống nhau giữa chúng

Trong văn chưương so sánh là phương pháp tạo hình, phương thức gợi cảm.Nói tới văn chương là nói tới so sánh

Giúp khẳng định: “Hầu như bất cứ sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thểchuyển thành hình thức so sánh”

Như vậy biện pháp so sánh tu từ có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong vănhọc

Tuy nhiên trong thực tế chúng ta thường gặp hai kiểu so sánh

Kiểu 1: So sánh lôgic: Vế so sánh và vế được so sánh là các đối tượng cùngloại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tu đương giữa hai đối tượng

VD: Hào đẹp trai như bố

Kiểu 2: So sánh tu từ: các đối tượng được đưa ra so sánh là các đối tượngkhác loại

VD: Bàn tay em trắng như ngà

1.2.2 Các yếu tố của so sánh tu từ

- Ở dạng đầy đủ nhất, cấu trúc của một so sánh tu từ gồm có 4 yếu tố

VD: Trời xanh như ngọc thạch

Trang 13

+ Yếu tố 4: Yếu tố được đưa ra để làm chuẩn so sánh.

- Tuỳ nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp không đầy đủ 4 yếu tố

VD: Như cỏ cây phụ thuộc vào thời tiết

- Có những trường hợp đảo trật tự các yếu tố so sánh để nhằm mục đích nhấnmạnh tính chất, trạng thái của hành động và tạo được lời nói mới mẻ để thu hút sựchú ý của người đọc, người nghe

Trong thực tế vận dụng các yếu tố có thể vắng hoặc đối cho nhau nhưng cómột yếu tố không thể vắng mặt đó là yếu tố 4 _ Yếu tố chuẩn so sánh

1.2.3 Đặc điểm của so sánh tu từ

1.2.3.1 Tính cụ thể

Một trong những mục đích của so sánh tu từ là nhằm cụ thể hoá một thuộctính sự vật hoặc một trạng thái của hành động Vì vậy mà yếu tố được chọn làmchuẩn của so sánh luôn luôn cụ thể

VD: Không một người thân nào có thể chịu đựng nổi khi nhìn vào mảng thịtbầy nhầy với những hốc mắt, hốc mũi, lỗ miệng như đầu người đang tan rữa tronglòng đất vừa được móc lên

(Một bàn tay và chín bàn tay)

Ví dụ 2: Một bên mặt có vết nám to bằng nửa bàn tay bầm đỏ

(Đàn bà)

Trang 14

1.2.3.2 Tính biểu trưng.

Trong so sánh tu từ, yếu tố chuẩn so sánh càng mang được nhiều nét đặctrương, tiêu biểu cho thuộc tính của sự vật, trạng thái của hành động thì càng giúpcho người đọc hiểu rõ hơn ý đồ so sánh của tác giả, đồng thời hiệu quả so sánh caohơn

Ví dụ: Cũng là đã dám coi cái chết nhẹ tựa lông hồng

(Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu)

Ví dụ: Con người chỉ bé tí, như con kiến nguềnh ngoàng trên chảo lửa

(Lính chữa cháy) 1.2.3.3 Tính hình tượng

So sánh tu từ là một cách hình tượng hoá thuộc tính của sự vật, trạng thái củahành động qua những hình ảnh làm chuẩn mới lạ, độc đáo Hay nói cách khác, sosánh tu từ là hình thức biểu hiện bằng hình tượng, hình tượng càng hấp dẫn thì sosánh tu từ càng gây được ấn tượng đối với người đọc Để tạo được những hìnhtượng đẹp đẽ đó người nghệ sĩ phải có một giác quan nhạy bén, tinh tế

Ví dụ 1: Bàn tay gầy mỏng, đen sạm như chân con gà ác

(Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu)

Ví dụ 2: Trẻ thơ hồn nhiên, trinh trắng như hoa sen

(Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu) 1.2.3.4 Tính gần gũi

Với những khái niệm trừu tượng sẽ rất khó hiểu nhưng nếu nó đưa ra so sánh

sẽ trở nên gần gũi, quen thuộc, làm cho mọi người dễ hiểu

Ví dụ: Văn chương là cái thế giới mộng mơ của con người, là một đặc quyềnthiêng liêng của riêng con người

(Phía khuất mặt người)

Ví dụ: Thiên hạ là mọi đồ vật thần diệu, không thể hữu vi, không thể cố chấpđược

(Những người già)

Trang 15

Ví dụ: Nhưng khi gập lá thư lại thì một cảm giác êm đềm cữ lan nhan ra, nhưmạch nước ngọt rỉ thấm vào những thớ đất khô cằn vì năng hạn.

(Mùc lạc) 1.2.4.2 Chức năng biểu cảm – cảm xúc

So sánh tu từ ngoài chức năng nhận thức còn giúp biểu lộ tình cảm thái độ,đánh giá của tác giả trước hiện thực nói đến Sự lựa chọn hình ảnh thường làm nổibật cảm xúc chủ quan của tác giả

Ví dụ: Với tôi, cái hành phúc gia đình là mùi nước đái trẻ con, mùi ngải cứuvới cái mặt bà đẻ xoa nghệ vàng khè

(Chị Mai)

1.3 Tiểu kết chương 1

Trang 16

CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC SO SÁNH TU TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN KHẢI 2.1 Mô hình chung của cấu trúc so sánh tu từ trong truyện ngắn Nghễn Khải.

- Như đã trình bày ở chương truớc, ở dạng thức đầy đủ nhất, so sánh tu từgồm 4 yếu tố

Yếu tố (1): Yếu tố được (hoặc bị) so sánh (ĐSS)

Yếu tố (2): Yếu tố chỉ cơ sở so sánh (CSSS)

Yếu tố (3): Yếu tố chỉ quan hệ so sánh (QHSS)

Yếu tố (4): Yếu tố chuẩn so sánh (CSS)

Ví dụ: Thịt gỗ đen bóng như sừng trâu

Tuy nhiên qua khảo sát cấu trúc so sánh trong truyện nắng Nguyễn Khải,chúng tôi thấy so sánh tu từ có thể đủ hoặc vắng một (hay một số yếu tố) hoặc đảotrật tự so sánh Trong mỗi loại so sánh tu từ hoàn chỉnh hay biến thể đều có

- Giả sử ta gọi: M là yếu tố được so sánh

Trang 17

2.1.1.1 Kiểu so sánh Ma như N.

Ví dụ 1: Trời xanh như ngọc thạch (Mùa lạc)

M a N

Ví dụ 2: Ánh trăng lọc qua lớp sương mỏng uyển chuyển như khói khiến

khung cảnh cữ mờ nhạt một cách huyền ảo (Mùa lạc)

Ví dụ 3: Móng tay dài như móng vuột (Lãng tử)

(Sư giả chùa Thắm và ông đại tá về hưu)

Ví dụ 3: Màu gỗ ấy phải được ngâm cả chục năm dưới nước rồi, làm kèo M

làm cứ còn bền hơn cả sắt, thép

a N

(Nắng chiều) 2.1.1.3 Kiểu so sánh Ma bằng N.

Ví dụ: Một bên mặt có vết nám to bằng nửa bàn tay bầm đỏ

Ngày đăng: 08/09/2021, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w