Theo thống kờ hiện naytỏc phẩm được nghiờn cứu nhiều nhất trong giai đoạn văn học 1900 – 1945 chớnh là tiểu thuyết Tố Tõm.. Tuy nhiờn cho đờn nay vẫn cũn cú một sồ vấn đề chưa được nghiờ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời đã đánh một
dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam Làtác phẩm mở đầu cho nền tiểu thuyết mới và văn xuôi lãng mạn Việt Nam
Với đương thời Tố Tâm không chỉ được xem là một cuốn tiểu thuyết
hay mà có lẽ nó còn được xem như một “ tuyên ngôn nghệ thuật” Vì vậytác phẩm đã tỏa ra một sức hút kì lạ đối với độc giả Thổi vào đời sống vănhọc một luồng sinh khí mới
1.2 Quả thực tiểu thuyết Tố Tõm đó trở thành một hiện tượng văn
học lý thỳ, đựơc nhiều nhà nghiờn cứu quan tõm Theo thống kờ hiện naytỏc phẩm được nghiờn cứu nhiều nhất trong giai đoạn văn học 1900 – 1945
chớnh là tiểu thuyết Tố Tõm Tuy nhiờn cho đờn nay vẫn cũn cú một sồ vấn
đề chưa được nghiờn cứu kĩ càng và cú hệ thống trong đú có vấn đề: Nhõn
vật trong tiểu thuyết Tố Tõm của Hoàng Ngọc Phỏch Đõy là vấn đề cú ý
nghĩa quan trọng Một mặt nú gúp phần làm nờn thành cụng cho tỏc phẩm,giỳp cho ta hiểu sõu hơn về tỏc phẩm Mặt khỏc nú thể hiện cỏch nhỡn vàdấu ấn phong cỏch riờng của nhà văn Đồng thời nú cũn cú tỏc dụng quantrọng đối với lớ luận và thực tiễn Dưới gúc độ lớ luận, nghiờn cứu về nhõnvật cú thể làm sỏng rừ thờm nhưng vấn đề về tiểu thuyết và đặc trưng vềthể loại của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Có thể nói đây là một vấn đề cònkhá mới mẻ do đó khóa luận góp phần giải quyết vấn đề này
1.3 Thực hiện đề tài này, khóa luận còn muốn góp phần vào hoạt
động thực tiễn dạy - học Tố Tâm và các hiện tượng văn học có liên quan ở
trường phổ thông
2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề.
2.1 Nghiên cứu về Hoàng Ngọc Phách và tiểu thuyết Tố Tâm nói chung
Trang 2Hoàng Ngọc Phỏch - Người của một cuốn sỏch - cuốn tiểu thuyết
Tố Tõm đó dành được rất nhiều sự ưu ỏi của độc giả cũng như giới phờ
bỡnh, nghiờn cứu văn học Lịch trỡnh tỡm hiểu, nghiờn cứu Tố Tõm vàHoàng Ngọc Phỏch đó cú hơn nửa thế kỉ và cú khoảng trờn 300 cụng trỡnh,bài viết
Ra đời trong bối cảnh giao thời của văn học, Tố Tõm đó gõy tiếng
vang lớn trong dư luận, người khen nhiều nhưng người chờ cũng khụngớt.Trong khi thế hệ trẻ hết sức ca ngợi thỡ thế hệ già lại chờ bai mạt sỏt.Năm 1922, trong một bài phỏt biểu, Lờ Hữu Phỳc nờu lờn một vấn đề cũng
chớnh là băn khoăn của tỏc giả: “ Quyển Tố Tõm ra đời khớ sớm quỏ, lại viết theo lối mới ta chưa từng xem quen” ễng cũng xỏc nhận đõy là cuốn “ Tõm lớ tiểu thuyết ” đầu tiờn ở Việt Nam: “Độc giả xem quyển Tố Tõm xin nhớ là một quyển tõm lớ tiểu thuyết” Đõy cú thể xem là cụng trỡnh đầu tiờn nghiờn cứu về Tố Tõm.
Trong những năm 30 của thế kỉ XX, Tố Tõm được nhiều tỏc giả quan
tõm, nghiờn cứu bởi nú là tỏc phẩm cú giỏ trị đột phỏ trong nghệ thuật nhưcỏc bài viết, tiểu luận của Thiếu Sơn, Trỳc Hà, Trương Tửu,… đăng trờncỏc bỏo tạp chớ Tuy nhiờn cỏc tỏc giả này chỳ trọng vào tiếng núi xó hội,
những cỏch tõn nghệ thuật Năm 1933, trờn bỏo Loa, Trương Tửu tập trung
nghiờn cứu hai vấn đề mà Hoàng Ngọc Phỏch đặt ra trong tỏc phẩm: Đụitrai gỏi yờu nhau cú thoỏt được ỏi tỡnh khụng? Ái tỡnh ấy ở hiện trạng xóhội bõy giờ gặp những trở lực gỡ và gõy những tai họa gỡ? Song Võn trờn
bỏo Thanh Nghệ Tĩnh ( số 19/10/1934 ) lại khẳng định: “ Phương phỏp viết truyện của Hoàng Ngọc Phỏch là một phương phỏp khoa học, cú trật
tự hẳn hoi, cú kết quả xỏc đỏng Ta nên nghiêng mình trước cuốn văn tâm lí
ấy vì ông đã mở một kỉ nguyên mới trong văn giới nước ta về buổi đó”.
[4,532]
Trong một bài điều tra về thanh niờn An Nam, năm 1938 cũng đó
khẳng định cụng lao cuả ụng: “ Trước Tố Tõm, tiểu thuyết là một chuỗi dài
Trang 3sự kiện chồng chộo lờn nhau, cú nhiều lỳc lần khụng ra, nhưng rồi cuối cựng khụng thể nào khỏc vẫn dẫn đến một sự giỏo dục về đạo lớ ễng Hoàng Ngọc Phỏch dự đó thanh minh nhiều lần nhưng vẫn cú can đảm viết cuốn tiểu thuyết thật sự là tiểu thuyết ễng đặc biệt cú can đảm làm cho tiểu thuyết khụng phải chỉ kể lể sự kiện mà là chõn dung của những tõm hồn”.
Nhìn chung trong những năm 30 của thế kỉ XX, chỳng ta chưa thấy
xuất hiện những cụng trình đỏng kể nào nghiờn cứu về Tố Tõm và Hoàng Ngọc Phỏch Chỗ đứng vẻ vang mà Tố Tõm dành được chỉ kộo dài trong
khoảng 10 năm vỡ sau nú một loạt những tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn
ra đời đó chiếm được vị trớ trong lũng độc giả thỡ Tố Tõm chỉ được đún
nhận một cỏch vừa phải nếu khụng là hờ hững, lóng quờn Trước nghịchcảnh đú, Thạch Lam đó rỳt ra một vài nhận xột khụng phải là khụng cú
phần vội vó: “ Tố Tõm bõy giờ khụng cũn ai nhắc đến, cuộc kộn chọn của
thời gian loại cuốn tiểu thuyết đú như nhiều tiểu thuyết của cỏc văn sĩ khỏc”.
Ngay lập tức người ta đó bỏc lại ý kiền của ụng Trong Nhà văn hiện đại (quyển 2), ở mục Hoàng Ngọc Phỏch, Vũ Ngọc Phan lờn tiếng trỏch cứ cỏc nhà phờ bỡnh đó “ phạm vào một điều lầm lớn là khụng biết
đặt Tố Tõm vào “ thời đại của nú” để thấy hết những “ giỏ trị thời đại”
mà “quyển tiểu thuyết nổi tiếng một thời ấy chứa đựng”
Trong khoảng thời gian từ 1945 – 1954, việc nghiờn cứu Tố Tõm cú
phần trựng xuống Nguyờn nhõn một phần do tỡnh hỡnh lịch sử, một phần
do sự chi phối của một quan niệm nghệ thuật cú phần chật hẹp đưa tới sựcảnh giỏc quỏ lớn đối với cỏc hiện tượng văn chương lóng mạn trong đú cú
Tố Tõm – tỏc phẩm được xem là mở đầu cho khuynh hướng lóng mạn.
Phải từ 1954 trở đi, Tố Tõm và Hoàng ngọc phỏch mới được nghiờn
cứu trở lại và xuất hiện nhiều cụng trỡnh lớn của nhiều tỏc giả Đỏng kể là
cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tõn biờn của Phạm Thế Ngũ Ở đõy
Trang 4ụng đó đi vào nghiờn cứu một số vấn đề khỏ mới mẻ như vấn dề nghệthuõt, hoàn cảnh và chủ ý của Hoàng Ngọc Phỏch khi viết tỏc phẩm này.
Tiếp đú là sự ra đời của một loạt cụng trỡnh nghiờn cứu: Song An hoàng Ngọc Phỏch - người của một cuốn sỏch của Vũ Bằng ( Tạp chớ văn học số 113/ 1970), Từ truyện thơ đến tiểu thuyết Tố Tõm : sự phỏt triển của tiểu thuyết văn xuụi ở Việt Nam” của Cao Thị Như Quỳnh, John Straxer ( Tập
san nghiờn cứu Chõu Á, 1988)
Vào những năm đổi mới, mọi vấn đề của văn học được người ta xột
lại và nghiờn cứu nhiều hơn vỡ thế Tố Tõm cũng được nghiờn cứu trờn nhiều bỡnh diện sõu rộng hơn Đặc biệt năm 1989, Tuyển tập Hoàng Ngọc Phỏch gồm Tố Tõm và một số hồi kớ, truyện ngắn, biờm khảo của ụng
được xuất bản đỏnh dấu mốc quan trọng trong quỏ trỡnh nghiờn cứu vềHoàng Ngọc Phỏch và tỏc phẩm của ụng Nhất là năm 1996, nhõn kỉ niệm
100 năm ngày sinh của Hoàng Ngọc Phỏch, để tưởng nhớ đến cụng lao vànhững đúng gúp to lớn của ụng cho sự nghiệp văn chương cũng như sựnghiệp giỏo dục nước nhà, Nguyễn Huệ Chi đó cho cụng bố cụng trỡnh
Hoàng Ngọc Phỏch - Đường đời và đường văn Đõy là cụng trỡnh tổng
hợp khỏ đầy đủ và chọn lọc cỏc bài phờ bỡnh, nghiờn cứư của tỏc giả trong
và ngoài nước Dựa vào cụng trỡnh này cộng thờm một số bài viết, tiểuluận đăng trờn cỏc bỏo, tạp chớ của một số tỏc giả như Phong Lờ, Trần Thị
Trõm, Lờ Ngọc Chõu, Nguyễn Văn Học, chỳng tụi thấy tiểu thuyết Tố Tõm
chủ yếu được nghiờn cứu trờn cỏc bỡnh diện sau đõy:
Thứ nhất Tố Tõm được đỏnh giỏ cao về mặt cỏch tõn nghệ thuật.
Cỏc nhà nghiờn cứu như Nguyễn Huệ Chi, Cao Thị Như Quỳnh, John
Schafer,… đó xỏc nhận với Tố Tõm, Hoàng Ngọc Phỏch đó định hỡnh
được một quan niệm nghệ thuật mới, mở ra một mụ hỡnh mới cho tiểu
thuyết Việt Nam – Tõm lớ tiểu thuyết Phạm Thế Ngũ trong bài viết Tiểu thuyết Tố Tõm của Hoàng Ngọc Phỏch đó dành riờng một mục để núi về “
nghệ thuật mới” Hay ở một số bài viết khỏc, cỏc tỏc giả đều chỉ ra được
Trang 5cỏi mới của Tố Tõm về mặt nghệ thuật là ở sự thay đổi kết cấu tỏc phẩm,cỏch xõy dựng nhõn vật.
Vấn đố thứ hai cũng được nhiều nhà nghiờn cứu quan tõm là vấn đề
ỏi tỡnh và tiếng núi xó hội của tỏc phẩm Nguyễn Hụờ Chi nghiờn cứu về “
Tiếng núi trực diện của tỡnh yờu và ý nghĩa xó hội của sống chết vỡ tỡnh” trong Tố Tõm Tỏc giả lớ giải: “ Nguyờn nhõn thế hệ trẻ đứng ra bờnh vực cho Tố Tõm bởi họ tỡm thấy ở cỏi chết của Tố Tõm khụng phải là mốt hiệu tuyệt vọng chỏn chường, quay lưng lại cuộc sống mà là một lời hiệu triệu thức tỉnh, một lời hiệu triệu nồng nàn của chớnh con tim đăm đuối khiến
họ phải bàng hoàng vựng dậy, tự tỡm thấy mỡnh trong hỡnh ảnh của Tố Tõm và họ lao theo tiếng gọi của tỡnh yờu, bất chấp mọi răn đe, cảnh tỉnh của nhà văn” [4, 100].
Đào Đăng Vĩnh so sỏnh Tố Tõm với Đoạn tuyệt để thấy được sự thay
đổi nhanh chúng vấn đề “thõn phận con người trong xó hội”
Ngoài hai vấn đề núi trờn, cỏc nhà nghiờn cứu cũn đi vào tỡm hiểumột số vấn đề như: Hoàng Ngọc Phỏch tạo nờn tỏc phẩm trong trường hợp
nào? tại sao thiờn hạ mờ truyện Tố Tõm? Tại sao sau Tố Tõm, Hoàng
Ngọc Phỏch lại khụng tiếp tục sự nghiệp văn chương nữa?
Như vậy, qua nhiều thăng trầm, Hoàng Ngọc Phách và tỏc phẩm củaụng vẫn cú chỗ đứng trong lũng độc giả và là đối tượng quan tõm nghiờn
cứu của nhiều tỏc giả trong và ngoài nước Trờn thực tế tỏc phẩm Tố Tõm
vẫn được bạn đọc trõn trọng cõn nhắc tỡm hiểu với một thỏi độ trõn trọng,cụng bằng
Từ những cụng trỡnh tiờu biểu núi trờn cũng như một số chuyờnluận khảo cứu, cú thể thấy việc nghiờn cứu về Hoàng Ngọc Phỏch và tiểu
thuyết Tố Tõm đó ngày càng mở rộng, đào sõu cú qui mụ hơn tuy nhiờn, vấn đề “ Nhõn vật trong tiểu thuyết Tố Tõm của Hoàng Ngọc Phỏch – một
vấn đề có ý nghĩa quan trọng góp phần trong việc đi vào tìm hiểu thế giới
Trang 6nhân vật trong tiểu thuyết ở giai đoạn đầu của văn học Việt Nam thì chưađựơc nghiờn cứu một cỏch kĩ càng, cú hệ thống
2.2 Nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Tố Tâm
Như trên đã nói, gía trị về nội dung cũng như nghệ thuật của tiểuthuyết Tố Tâm đã được nhìn nhận khá kĩ càng Tuy nhiên, về phương diệnnhân vật trong tác phẩm thì chưa được đề cập nhiều Trong cuốn sỏch
Hoàng Ngọc Phách – đường đời và đường văn của Nguyễn Huệ Chi tập hợp nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về tiểu thuyết Tố Tõm nhưng để có một
công trỡnh riờng nghiờn cứu về nhõn vật là khụng cú ở mỗi nhà nghiên
cứu chỉ động chạm đến một khía cạnh nhỏ của nhân vật như: Tố Tõm: từ một vài khớa nhỡn thi phỏp Hay trong luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hà (Đại học Vinh): Tiểu thuyết Tố Tam trên con đường đi đến hiện đại của tiểu thuyết lang mạn Việt Nam, có nói sơ qua về đặc điểm của nhân vật Hay trong khoá luận tốt nghiệp của Đỗ Thị Tâm (Đại học Vinh): Nhân vật nữ từ Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đến Đoạn tuyệt của Nhất Linh, ở
khoá luận này chủ yếu đi vào tim hiểu, phân tích, so sánh hai nhân vật nữchính của hai tác phẩm mà thôi chứ không đề cập tới các nhân vật khác
trong Tố Tõm nữa Như vây, tuy có xuất hiện những công trỡnh, bài viết về nhõn vật trong Tố Tõm nhưng chua thật toàn diện.
2.3 Khóa luận của chúng tôi là công trình tiếp tục đi sâu tìm hiểu
nhân vật trong tiểu thuyết Tố Tâm
3 Đối tượng nghiờn cứu và giới hạn của đề tài.
3.1 Đối tượng nghiờn cứu.
Giống như tờn gọi, đề tài này nghiờn cứu vấn đề: Nhõn vật trong tiểu thuyết Tố Tõm của Hoàng Ngọc Phỏch
3.2 Giới hạn đề tài
Trang 7Tài liệu mà chỳng tụi tỡm hiểu, nghiờn cứu, khảo sỏt dựa vào cuốn
Hoàng Ngọc Phỏch - Đường đời và đường văn, do Nguyễn Huệ Chi sưu
tầm, nghiờn cứu, biờn soạn
4 Nhiệm vụ nghiờn cứu
Thực hiện đề tài này, chỳng tụi đặt ra những nhiệm vụ sau:
4.1 Đưa ra một cỏi nhỡn chung về Hoàng ngọc Phỏch và tiểu thuyết
Tố Tõm, xỏc định vị trớ của tiểu thuyết Tố Tõm trong lịch sử tiểu thuyết
Việt Nam
4.2 Thống kờ, phõn tớch, xỏc định đặc điểm của nhõn vật trong tiểu
thuyết Tố Tõm của Hoàng Ngọc Phỏch.
4.3 Khảo sỏt, phõn tớch nghệ thuật xõy dựng nhõn vật trong tiểu
thuyết Tố Tõm của Hoàng Ngọc Phỏch.
Cuối cựng rỳt ra một số kết luận về nhõn vật trong tiểu thuyết TốTõm của Hoàng Ngọc Phỏch
5 Phương phỏp nghiờn cứu
Khúa luận vận dụng nhiều phương phỏp nghiờn cứu khỏc nhau,trong đú cú cỏc phương phỏp chớnh: phương phỏp thống kờ - phõn loại;phương phỏp phõn tớch - tổng hợp; phương phỏp so sỏnh - đối chiếu…
6 Đúng gúp và cấu trỳc khúa luận
6.1 Đúng gúp của khúa luận:
Khoỏ luận là tiểu luận đi sõu tỡm hiểu, nghiờn cứu nhõn vật trongtiểu thuyết Tố Tõm của Hoàng Ngọc Phỏch với cỏi nhỡn tập trung và hệthống
6.2 Cấu trỳc của khúa luận:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung
chớnh của khoỏ luận gồm 3 chương:
Chương 1: Sự hỡnh thành và vị trớ của tiểu thuyết Tố Tõm trong
lịch sử tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Trang 8Chương 2: Đặc điểm của nhõn vật trong tiểu thuyết Tố Tõm của
1.1 Sự hình thành tiểu thuyết Tố Tâm
1.1.1 Cơ sở xã hội, văn hóa, thẩm Mỹ
Khi có mặt thực dân Pháp trên đất nước ta thỡ mọi cỏi đó thay đổi.Kinh tế hàng hoá kích thích sự phát triển của công thương nghiệp làm chothành thị phát triển, làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới, phát triển nhiều nghềmới, tầng lớp thị dân phát triển Tầng lớp thị dân trong các thành phốnhượng địa được xem là lớp người ngoài tứ dân Họ có ít nhiều tự do trongđời sống thành thị tư sản éối với họ thỡ họ hàng, làng xó, đẳng cấp khôngcũn nhiều ý nghĩa nữa Giai cấp tư sản từ các tầng lớp thị dân phát triển dầnlên
Giai cấp tư sản Việt Nam hỡnh thành trong hoàn cảnh hết sức đặcbiệt nên có những đặc trưng riêng éiều đó cũng ảnh hưởng đến ý thức của
Trang 9giai cấp này Giai cấp tư sản Việt Nam không sinh ra và trưởng thành từcuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến Việt Nam mà lại do thực dânPháp đẻ ra Pháp đẻ ra rồi cũng chính chúng chèn ép Giai cấp tư sản ViệtNam nhiều tính chất mại bản, nặng thương nghiệp hơn công nghiệp, khônglỡa bỏ được lối bóc lột phong kiến Tầng lớp tư sản Việt Nam thời bấy giờcũng không có một tinh thần dân tộc vỡ họ khụng cú một cơ sở kinh tếhùng hậu, không có kinh nghiệm đấu tranh và không có ý thức giai cấp rừrệt.
Sự phỏt triển cỏc đô thị dẫn đến sự phá sản nông nghiệp, làm cho nôngthôn tiêu điều xơ xác Nông dân kéo ra thành thị ngày càng đông Một tầnglớp tiểu tư sản nghèo ngày càng phát triển , sống bấp bênh ở thành thị
Ở đầu thế kỉ XX , giai cấp công nhân Việt Nam đó hỡnh thành Doquỏ trỡnh bần cựng hoỏ và phỏ sản của nụng dõn , thợ thủ cụng , giai cấpcụng nhõn cú điều kiện để hiểu được nông dân, liên minh được chặt chẽvới nông dân Và ngược lại, cũng trên điều kiện hiểu biết ấy , do vị trí lịch
sử của giai cấp vô sản mà nông dân đi theo nó làm cách mạng, bền bỉ vàlâu dài
Trong tỡnh hỡnh xó hội đầy phức tạp và có nhiều đổi mới như thếthỡ giai cấp phong kiến , vốùn đó hỡnh thành lõu đời trong xó hội ViệtNam cũng lung lay đến tận gốc éể bảo vệ quyền lợi ớch kỉ cho giai cấpmỡnh, giai cấp phong kiến đó quỳ gối đầu hàng giặc, làm tay sai cho giặc.Hơn thế nữa, họ cũn cấu kết với giặc để quay trở lại đàn áp các phong tràoyêu nước của nhân dân ta Tuy nhiên , trong số họ cũng cũn cú nhữngngười yêu nước, tự tách mỡnh ra khỏi hàng ngũ đó để đi làm cách mạngtheo xu hướng dân chủ tư sản
Nhỡn chung, xó hội Việt Nam đầu thế kỉ XX có nhiều biến động Cơcấu xó hội thay đổi hoàn toàn
1.1.1.2 Cơ sơ văn hoá , thẩm mĩ
Trang 10Xó hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là một xó hội phong kiếnchuyờn chế tập quyền cao độ Nhà Nguyễn khi lên ngôi đó duy trỡ Nhogiỏo, xem Nho giỏo như là quốc giáo, dùng tư tưởng Nho giáo để thống trị
xó hội Nho giỏo đó ràng buộc con người vào tư tưởng mệnh trời Nho giáodùng luân thường đạo lí để giáo dục xó hội, lấy bổn phận tu thõn , tề gia, trịquốc, bỡnh thiờn hạ làm kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân
tử Mục đích của Nho giáo muốn biến con người trở thành những phần tửđắc lực phụng sự cho nhà nước phong kiến éến khi cú sự hiện diện củathực dõn Phỏp, tỡnh hỡnh chớnh trị xó hội đó cú nhiều biến đổi nhưng mọivấn đề nêu trên vẫn được tồn tại Kẻ thù muốn duy trỡ tư tưởng phong kiếnlạc hậu để kỡm hóm sự phỏt triển của ta, nhằm tạo thuận lợi cho việc cai trịcủa chỳng
éến đầu thế kỉ XX , giai cấp phong kiến đó tỏ ra bạc nhược, ươn hèn,cúi đầu làm tay sai cho giặc Hàng ngũ giai cấp thống trị tan ró hoàn toàn íthức phong kiến cũng ngày càng thể hiện tớnh chất lạc hậu, cổ hủ Vớicỏch nhỡn của cỏc nhà nho tiến bộ thời này, nú là sức mạnh cản trở sự phỏttriển của xó hội Cho nờn , cỏc nhà chớ sĩ éụng Kinh Nghia Thục đó chủtrương chốïng lại tư tưởng phục cổ, sùng bái cổ nhân, giáo điều, có tác hạikỡm hóm sự phỏt triển của trớ tuệ Họ chủ trương làm cho con người phải
từ bỏ tư tưởng sống định mệnh, trở nên can đảm, làm chủ cuộc đời mỡnh,
cú khả năng hiểu biết vũ trụ, phất cao ngọn cờ khoa học
Mặc dự ý thức phong kiến đó tỏ ra thoỏi hoỏ, nhưng trong thực tế , ởgiai đoaün 1900 - 1930 , nú vẫn cũn cơ sở tồn tại Ở nông thôn, gốc rễ của
nó vẫn cũn rất sõu Ở thành thị thỡ nú bắt đầu va chạm với ý thức tư sảnvừa mới xuất hiện Tuy nhiên, phạm vi cũn rất nhỏ hẹp , chỉ giới hạn trongquan hệ đạo đức gia đỡnh và tỡnh cảm cỏ nhõn
Vào đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản đó ra đời, tư tưởng tư sản cũngxuất hiện Nó được đưa từ nước ngoài vào, thông qua các sĩ phu tiến bộ íthức tư sản cũn giới hạn trong phạm vi cỏc thành thị và tỏ ra cũn nhiều yếu
Trang 11ớt í thức tư sản trong giai đoạn này cũn chịu khuất phục ý thức phong kiến.
Sự xung đột cũng chỉ xảy ra trong phạm vi cá nhân, gia đỡnh là chủ yếu Vịtrớ lịch sử của nú khụng cho phộp nú xung đột với ý thức phong kiến trêncác lĩnh vực kinh tế, chính trị.Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề ảnh hưởngcủa ý thức hệ tư sản Việt Nam đối với sự phát triển của văn học, cũng cầnphải lưu ý rằng: Mặc dự giai cấp tư sản Việt Nam ở giai đoạn này, bản chất
là ốm yếu, phát triển què quặt nhưng đó là sự ốm yếu, què quặt về kinh tế,chính trị, văn hoá éối với công cuộc hiện đại hoá văn chương Việt Nam, ýthức hệ tư sản đó cú một vai trũ xỳc tỏc tớch cực Và, theo quan điểm củaMác : Ý thức hệ thống trị thời đại là ý thức hệ của giai cấp thống trị Giaicấp nào thống trị xó hội về mặt vật chất cũng thống trị xó hội về mặt tinhthần, nhưng trong khi chi phối xó hội thỡ đồng thời nó cũng là của xó hội
và chịu sự chi phối trở lại của xó hội Qua đó, chúng ta càng thấy rừ vai trũcủa ý thức hệ tư sản trong tiến trỡnh hiện đại hoá văn chương ở giai đoaünđầu thế kỉ XX Ở đây, khi xem xét vấn đề , chúng ta cũng phải lưu ý mộtđiều là không thể đồng nhất hoàn toàn chính trị với văn học, nhất là bànđến ý thức hệ tư sản của giai đoạn này Giữa chúng có liên quan mật thiếtvới nhau nhưng vẫn có quy luật riêng Và, bằng chứng là khi cách mạng tưsản đó thất bại hoàn toàn, với cuộc khởi ngĩa Yờn Bỏi, sau năm 1930 vănhọc chịu ảnh hưởng của ý thức hệ tư sản đó phỏt triển mạnh mẽ, mặc dự núcũn mang nhiều hạn chế
Nhỡn chung, đầu thế kỉ XX, trong xó hội Việt Nam đó cú nhữngchuyển biến mạnh mẽ từ ý thức hệ phong kiến sang ý thức hệ tư sản Ở giaiđoaün 30 năm đầu của thế kỉ, ý thức hệ tư sản chưa đủ sức làm thay đổi nềnvăn hoá phong kiến Việt Nam nhưng trong một mức độ nhất định nó đógúp phần tạo ra những nhõn tố thỳc đẩy cho sự đổi mới hoàn toàn ở giaiđoạn sau, giai đoan 1930 - 1945
Nền văn hoá Việt Nam được thai nghén và trưởng thành trong cái nôivăn hoá éụng Nam Á Tư tưởng phương éụng đó ăn sâu vào phong tục, tập
Trang 12quán và tâm khảm của con người Lối sống theo làng xó, họ tộc đó tạo nờnthế tự trị lõu đời cho người Việt Nam Con người Việt Nam có nếp sốngchuẩn mực từ trong cách ăn mặc cho đến việc ứng xử Thế mà đến đầu thế
kỉ XX, sự du nhập của văn hoá phương Tây vào Việt Nam đó làm thay đổinhững giá trị cổ truyền của dân tộc Văn hoá Việt Nam chuyển dần sangnền văn hoá hiện đại chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây trên tất cảcác bỡnh diện
Chẳng hạn trờn bỡnh diện văn hoá vật chất, ảnh hưởng đáng kể nhất
là trong phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông- các lĩnh vực màphương Tây vốn mạnh.Về mặt văn hoá tinh thần: Trước kia ở Việt Nam tồntại ba tôn giáo được du nhập từ nước ngoài éú là Phật giỏo, Nho giỏo vàéạo giỏo Kitụ giỏo vốn đó xuất hiện ở Việt Nam từ cỏc thế kỉ trước(XVI ,XVII) , đến giai đoạn 1900- 1930 đó cú nhiều ảnh hưởng đến đờisống tinh thần của người Việt Nam Ngoài ra, cũn cú những đổi mới trongviệc giáo dục, trong lĩnh vực văn tự - ngôn ngữ, báo chí, văn học nghệthuật
Về giáo dục : éi đôi với những đổi thay về kinh tế, chính trị, xó hội, giáodục ở giai đoạn này cũng xuất hiện nhiều yếu tố mới Thực hiện chính sáchcai trị thuộc địa, Pháp đó tỏ ra rất khụn khộo trong vấn đề này Khi đó bỡnhđịnh xong toàn cừi Việt Nam, chỳng chưa bỏ ngay việc học và thi cử bằngchữ Hán mà tiến hành theo từng bước éầu tiờn là bổ sung những bài thimới vào những kỡ thi vốn cú từ trước Cho nên Tú Xương đó mỉa mai :
Trang 13Thay thế vào đó Pháp đó ban bố học chớnh tổng quy ( 1918 ) Bắt đầu từlúc đó, chính quyền thực dân kiểm soát tất cả công việc về giáo dục TiếngPháp được dạy trong nhà trường ngày càng phổ biến rộng hơn Từ năm thứhai, thứ ba học sinh phải học tiếng Pháp.
Mục đích của Pháp là hướng tới việc đào tạo lớp người làm tay saicho chúng Pháp không hề đặt ra nhiệm vụ phát triển trỡnh độ dân trí Và,những đổi thay về giáo dục ấy đó dẫn đến kết quả là tỉ lệ người đi học sovới dân số cũn rất ớt Hầu hết học sinh là con em của tầng lớp giàu cú hoặccon em của người dân thành thị có điều kiện thuận lợi trong việc học tập
Chữ quốc ngữ : Chữ quốc ngữ ra đời từ thế kỉ XVII, là thành quả tậpthể của nhiều giáo sĩ Bồ éào Nha, í, Phỏp trong đó công lao lớn nhấtthuộc về linh mục Alexandre de Rhodes Cuối thế kỉ XIX, chữ quốc ngữ đóđược người Pháp mang ra phổ biến nhưng bị sự phản ứng quyết liệt của cácnhà nho, cũng như những người yêu nước Việt Nam Nó bị xem là thứ chữcủa quân xâm lược Sang đầu thế kỉ XX, những sĩ phu yêu nước trongphong trào Duy Tân nhận thấy những ưu điểm của chữ quốc ngữ đó cổđộng sử dụng chữ quốc ngữ Tác giả Văn minh tân đọc sách viết : Phàmngười trong nước đi học nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, đểcho trong thời gian vài ba tháng đàn bà, trẻ con đều biết chữ éú thực là làbước đầu tiên trong việc mở mang trí khôn vậy [ 43/ 76] Nhưng đến sauchiến tranh thế giới lần thứ nhất, khi Hán học mất địa vị chính thống vàtrong xó hội đó hỡnh thành những yờu cầu mới, những thành phần cụngchỳng mới thỡ chữ quốc ngữ mới được xem là thứ chữ của dân tộc Việcđổi mới chữ viết đó mang nhiều ý nghĩa lớn, nú khụng chỉ tạo điều kiện dễdàng trong việc học, viết , đọc mà cũn cung cấp phương tiện hiện đại chonền văn học mới
Về văn học : Việc phổ biến sử dụng chữ quốc ngữ cũng góp phầnthúc đẩy việc xây dựng và phát triển nền văn xuôi Việt Nam Nền văn họctrung đại Việt Nam chưa chú ý phát triển văn xuôi Ở giai đoạn nửa cuối
Trang 14thế kỉ XIX đó cú xuất hiện những sỏng tỏc văn xuôi bằng chữ quốc ngữ củaTrương Vĩnh Kí và Huỳnh Tịnh Của Nhưng đõy chỉ là những mũ mẫmban đầu, những thí nghiệm lẻ loi chưa có tính chất phổ biến Sang đầu thế
kỉ XX , văn xuôi Việt Nam mới thể hiện những tiến bộ rừ rệt Bờn cạnh đó,
do có sự tiếp xúc với văn học phương Tây mà nền văn học Việt Nam giaiđoạn này đó xuất hiện thể loại mới: Thể loại tiểu thuyết hiện đại, vốn là đặcthù của văn hoá phương Tây Khởi đầu là quyển tiểu thuyết in bằng chữquốc ngữ, xuất hiện ở Nam kỡ năm 1887 với tựa đề Truyện thầy LazarôPhiền của Nguyễn Trọng Quản Nhưng đến giai đoạn 1900-1930 thỡ thểloại tiểu thuyết hiện đại mới phát triển trong phạm vi cả nước.Báo chí: Một sự kiện rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng trong đời sống xóhội mà cũn tỏc động đến sự phát triển của văn học giai đoạn này là sự rađời và phát triển của báo chí Báo chí đó xuất hiện ở Nam kỡ từ cuối thế kỉXIX với tờ Gia éịnh bỏo (1865 ) Nhưng đến đầu thế kỉ XX, báo chí mớiphát triển trong phạm vi toàn quốc và có những đóng góp đáng kể cho vănhọc Báo chí giai đoạn này không chỉ là công cụ để thông báo tin tức, tuyờntruyền mệnh lệnh mà cũn là nơi để công bố những tác phẩm văn chươngmới, nơi để nhà văn thử nghiệm ngũi bỳt của mỡnh Bỏo chớ cũng là mộtphương tiện đặc biệt cho công chúng học tập chữ quốc ngữ Những bài viếtđăng trên báo cũng là những bài tập đọc cho những người theo học chữquốc ngữ thời này Năm 1913, éụng Dương tạp chí ra đời Năm 1917, NamPhong tạp chí được thành lập éõy là hai tờ bỏo đó cú những đóng góp chovăn học giai đoạn này Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, một số báo chícách mạng, báo chí tiến bộ hoặc có xu hướng tiến bộ lần lượt xuất hiện như: Hữu Thanh , Tiếng Dân, éụng Phỏp thời bỏo, Phụ nữ tõn văn, kể cả các
tờ báo bí mật của Thanh niên Tân Việt và báo tiếng Pháp như : ChuôngRạng, An Nam ở Sài Gũn, Người cùng khổ ở Pháp cũng được phát hànhtrong giai đoạn này
1.1.1.3 Cơ sở thẩm mĩ :
Trang 15Cũng như mọi dân tộc khác, người Việt Nam ta có ý thức thẩm mĩriờng của mỡnh í thức thẩm mĩ của người Việt Nam cũng vận động và pháttriển qua các chặng đường lịch sử từ thời dựng nước đến nay í thức ấy núichung là phỏt sinh từ cuộc sống Nú luụn luụn nằm trong sự biến đổi, gạnlọc để đi lên nhưng nó lại có chất bền vững để chịu đựng với thử thách củathời gian và không gian Những nhân tố nào đó tạo nờn mụi trường thẩm
mĩ để cho con người nảy sinh ý thức thẩm mĩ ? éú chớnh là thiờn nhiờn là
vị trớ địa lí , vị trí văn hoá, là cộng đồng làng xó, là vận mệnh đất nước,vận mệnh nhân dân [63 /107 ] Ở giai đoạn 1900 - 1930, tỡnh hỡnh chớnhtrị xó hội cú nhiều biến động lớn lao như đó trỡnh bày, cho nên môi trườngthẩm mĩ không cũn như trước nữa Lối sống tư sản đó tấn cụng quyết liệtvào xó hội phong kiến Việt Nam, cựng với nú là sự du nhập ồ ạt của nềnvăn hoá phương Tây Tất cả đó làm thay đổi hẳn bộ mặt trang nghiêm của
xó hội phong kiến vốn tồn tại vững chắc hơn 10 thế kỉ qua Kẻ thù mangvào đất nước chúng ta nhiều cái mới Sự phát triển của đô thị tư sản đó phỏdần thế tự trị làng xó ngày trước Lối sống sôi động, gấp rút theo cường độcủa xó hội hiện đại đánh mất những sinh hoạt gia đỡnh, họ tộc, làng xó,vốn là một phương diện tạo nên các mối quan hệ tốt đẹp của con ngườiđược hỡnh thành rất lõu éứng trước những đổi thay của con người và xóhội; đối diện với những cái xấu xa, hợm hĩnh do thực dân Pháp đưa đến,con người Việt Nam đó phản ứng quyết liệt trong buổi đầu Họ tỏ ra bựctức, căm giận, không thể chấp nhận nổi, lắm lúc phải hét to lên trong sự bấtlực :
Muốn mự , trời chẳng cho mự nhỉ ,
Giương mắt trông chi buổi bạc tỡnh
( Trần Tế Xương )
Nhưng dù căm tức, dù bực bội đến đâu họ vẫn phải sống với nú, phảithớch nghi với nú; dần dần lại bỡnh thường hoá trước cái xấu, cái lố lăngcủa phương Tây, của xó hội tư sản Cuối cùng , chính những người nệ cổ