1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nắng đồng bằng và ăn mày dĩ vãng doc

79 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 422 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số ý kiến tiêu biểu: Xuân Thiều cho rằng: “Tác phẩm của Chu Lai đầy chất lính, giọng văn băm bổ, sôi động và các tình cảm riêng tư được đẩy đến tận cùng” 27, 04 - Nhà phê bình văn họ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ ngữ và câu là hai đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là những đơn vịquan trọng thể hiện sự hành chức của ngôn từ trong giao tiếp Trong tác phẩmvăn học, một mặt các đơn vị này thực hiện chức năng truyền tải thông tin, mặtkhác chúng thể hiện rõ phong cách và khả năng sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

1.2 Chu Lai là nhà văn quân đội, có nhiều tác phẩm viết về đề tài chiếntranh, về nhân vật người lính Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Chu Lai có nhiều đặcđiểm thú vị, tạo thành dấu ấn riêng, cần được phân tích từ góc độ ngôn ngữ học

Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài : “ Đặc điểm từ ngữ và câu trong hai tiểu

thuyết Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai”

2 Lịch sử vấn đề.

Nhà văn Chu Lai xuất hiện trên văn đàn với truyện ngắn đầu tay “Hũmuối người Mơ Nông” đăng trên báo độc lập 1963, nhưng phải đến 1978 với tậptruyện “Người im lặng” ra mắt bạn đọc thì ông mới tạo được dấu ấn trong lòng

độc giả Đặc biệt sự nghiệp sáng tác của ông, từ khi tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng

ra đời 1992 thì những sáng tác đó mới thực sự có được vị thế trong lòng bạn đọc

và được dư luận chú ý

Từ đây, các nhà nghiên cứu, phê bình cũng bắt đầu quan tâm đến cây bútquân đội này Đã xuất hiện nhiều trong các bài phê bình, bình luận đăng trên các

báo, tạp chí viết về tác phẩm của Chu Lai Ngoài cuộc thảo luận Ăn mày dĩ vãng

của tuần báo Văn nghệ, có hơn 20 bài viết và điểm sách về Chu Lai Mấy nămgần đây, Chu Lai là cây bút được quan tâm nhiều trên báo, truyền hình với cáctác phẩm được xuất bản và chuyển tải thành phim, đặc biệt còn có một số tác

phẩm được dịch và xuất bản ra nước ngoài như tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và tiểu thuyết Phố nhà binh

Năm 2008 là năm ông gặt hái được nhiều thành công trên con đường sángtác của mình Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Văn học đã có những nhận xét,

Trang 2

đánh giá từ đề tài bút pháp, nghệ thuật viết văn, đến kết cấu tác phẩm của ChuLai.

Đa số các ý kiến cho rằng : Chu Lai là một trong những nhà văn có nhiềutác phẩm viết về chiến tranh trong đó hình tượng trung tâm là người lính

Một số ý kiến tiêu biểu:

Xuân Thiều cho rằng: “Tác phẩm của Chu Lai đầy chất lính, giọng văn băm bổ, sôi động và các tình cảm riêng tư được đẩy đến tận cùng” (27, 04)

- Nhà phê bình văn học Lý Hoài Thu, nhận xét truyện ngắn “Phố nhà binh”, đã có sự nhìn nhận tổng thể về sáng tác của Chu Lai ở các mặt : đề tài,

thể loại, phạm vi phản ánh, đặc điểm, nhân vật, kết cấu…tác giả đưa ra nhận

định về văn Chu Lai như sau : "Văn Chu Lai rất gần với ngôn ngữ điện ảnh Có cảm giác như, ngòi bút của anh cũng “lia” cũng “lướt” từ nhiều góc độ cũng tiến cận cảnh, cũng lùi xa viễn cảnh như ống kính của người quay phim… Văn Chu Lai gân guốc, khỏe khoắn nhưng nhiều chỗ hơi thô, bỗ bã quyết liệt nhưng nhiều chỗ hơi ồn ào Có lẽ anh quan tâm nhiều đến phương diện tạo hình của ngôn ngữ mà ít chú ý đến chiều sâu tâm lý của nó" (28, 95)

Hồng Diệu khẳng định rằng : “Chu Lai là nhà văn thuỷ chung với đề tài chiến tranh, anh có nhiều tác phẩm viết về đề tài người lính trên cả ba mặt trận: văn học, sân khấu, điện ảnh” (20, 56)

Bùi Việt Thắng đưa ra những ý kiến khá bao quát về mọi khía cạnh trong

sáng tác của Chu Lai : “Truyện ngắn Chu Lai phần lớn thường viết về những chiến sỹ đặc công” (24, 89)

Lê Tất Cứ trong một bài báo đã cho rằng:

“ Chu Lai xây dựng được cốt truyện hấp dẫn phù hợp với ý đồ tư tưởng

mà anh muốn gửi đến người đọc, đó là số phận của mỗi người trong cuộc chiến

và sau cuộc chiến, những nỗi đau thậm chí là cả sự bất công đến vô lý vẫn ngang nhiên tồn tại” (20, 06).

Trang 3

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về văn của Chu Lai chủ yếu vẫn lànhững nhận xét, đánh giá về các mặt nội dung, tư tưởng, đề tài, bút pháp nghệthuật viết văn, kết cấu tác phẩm…

Số ít trong các công trình nghiên cứu về văn Chu Lai, nếu đề cập đếnphương diện ngôn ngữ với tư cách là nghệ thuật ngôn từ thì cũng chỉ mới chú ýđến đặc điểm sử dụng từ ngữ, câu văn miêu tả… mà chưa chú ý đến phươngdiện cụ thể ở đây là ngôn ngữ tiểu thuyết của ông về đề tài chiến tranh và ngườilính

Tóm lại, tính đến thời điểm hiện nay thì chúng ta chỉ có thể bắt gặp nhữngbài viết nói đến ngôn ngữ văn của Chu Lai trong những công trình nghiên cứu,

lý luận hoặc những nhận định chung có tính khái quát trong các giáo trình, sáchtham khảo, sách giáo khoa Ngữ Văn giành cho sinh viên hoặc học sinh phổthông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đối tượng chúng tôi khảo sát trong đề tài này gồm hai cuốn tiểu thuyết

của Chu Lai, Nắng đồng bằng, Nxb Lao động, 2009 và Ăn mày dĩ vãng Nxb Hội nhà văn, 1995.

3.2 Phạm vi nghiên cứu.

Trong khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi chỉ giới hạn đi vào khảosát và tìm hiểu kĩ từ ngữ và câu văn từ những lời nói của nhân vật trong hai

cuốn tiểu thuyết Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng, để từ đó tìm ra hình thức

và nội dung ngôn ngữ ngôn ngữ tiểu thuyết Chu Lai qua Nắng đồng bằng, Ăn mày dĩ vãng nói riêng và các tiểu thuyết của ông nói chung.

4 Cái mới của đề tài.

Đây là đề tài đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ tiểu thuyết của ChuLai Qua khảo sát cụ thể, khoá luận nhằm chỉ ra những đặc điểm về từ ngữ, vềcâu văn trong tiểu thuyết Chu Lai, đồng thời tìm ra các đặc điểm nội dung docấu trúc đó chuyển tải, qua đó đi đến những nhận xét tổng quát nhất về đặc điểm

Trang 4

phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết của Chu Lai và đóng góp mà ông đưa lại chonền văn học Việt đương đại về đề tài chiến tranh và người lính.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng đồng thời cácphương pháp:

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

Chúng tôi tiến hành khảo sát hai cuốn tiểu thuyết Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, để tìm ra những tác phẩm mà ở đó có sự xuất hiện lời

thoại của nhân vật Sau đó chúng tôi thống kê và phân loại ngôn ngữ của cácnhân vật nhằm khảo sát nội dung ngữ nghĩa của lời và hình thức biểu thị củachúng qua đó khái quát lên đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết của Chu Lai

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu.

Trên cơ sở những vấn đề đã thống kê phân loại, chúng tôi bước đầu sosánh ngôn ngữ tiểu thuyết Chu Lai với các nhà văn khác, so sánh câu văn tronglời nhân vật với lời tác giả…

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài các phần: Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung chính củakhóa luận được triển khai ở 3 chương

Chương 1 : Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 : Đặc điểm về từ ngữ trong Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng.

Trang 5

Chương 3 : Đặc điểm về câu trong Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng.

Chương 1: NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Đặc điểm chung về ngôn ngữ tiểu thuyết

1.1.1 Tiểu thuyết

Khái niệm về tiểu thuyết có nhiều ý kiến khác nhau Theo tác giả M

Bakhtin trong “Lý luận và thi pháp tiểu thuyết”: “ Tiểu thuyết chỉ những tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” (8, 328)

1.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết

Theo M Bakhtin trong "Lý luận và thi pháp tiêủ thuyết": "Ngôn ngữ tiểu thuyết là cả một hệ thống những ngôn ngôn ngữ soi lẫn nhau, đối thoại với nhau Không thể mô tả và phân tích nó như một ngôn ngữ thống nhất Những hình thái ngôn ngữ và phong cách khác nhau là thuộc về những hệ thống khác nhau trong ngôn ngữ tiểu thuyết, giả sử ta xóa đi tất cả mọi sự phân chia bè giọng và phong cách, mọi khoảng cách khác nhau giữa những "ngôn ngữ" được miêu tả với tiếng nói trực tiếp của tác giả thì ta chỉ có được một tập hợp xộc xệch và vô nghĩa những hình thái ngôn ngữ và phong cách khác biệt nhau về chất Ngôn ngữ tiểu thuyết không thể xếp đặt trên một bình diện, kéo nối thành một tuyến Đó là hệ thống những bình diện tương giao." (1, 96-97)

Ngôn ngữ văn học được tái tạo trong tiểu thuyết không phải như một ngônngữ thông nhất đã hoàn chỉnh toàn bộ và không còn phải bàn cãi, mà được táitạo trong trạng thái có nhiều tiếng nói khác nhau sống động trong sự chuyển

Trang 6

biến và đổi mới của nó Ngôn ngữ tác giả luôn cố gắng khắc phục tính "vănchương" hời hợt của các phong cách đã lỗi thời, đang tàn lụi và các ngôn ngữtrào lưu văn học thời thượng, nó đổi mới mình bằng cách tiếp thụ những nhân tốquan trọng của văn học dân gian (nhưng không tiếp thu những vĩ ngữ ngôn dungtục, thô bỉ)

1.2 Hội thoại và các dạng tồn tại của hội thoại

1.2.1 Hội thoại

Hội thoại được xảy ra khi một nhân vật đưa ra lời trao và nhân vật khácđưa ra lời giải đáp bằng ngôn ngữ Đây là hoạt động căn bản, thường xuyên, phổbiến của giao tiếp ngôn ngữ

“ Hội thoại là một trong những hoạt động thường xuyên của ngôn ngữ thành lời giữa hai hay nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định

mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến đích nhất định” (16, 18)

1.2.2 Các dạng tồn tại của hội thoại

Hội thoại thường tồn tại ở hai dạng:

- Lời ăn tiếng nói hàng ngày của con người

- Lời trao đáp của các nhân vật, trong trường hợp này, hội thoại đã được

cá thể nhà văn tái tạo lại trong các tác phẩm văn chương

Trong khoá luận này, chúng tôi khảo sát dạng tồn tại thứ hai

Hội thoại nhân vật có đặc điểm : “ Bên cạnh các yếu tố ngôn từ của các nhân vật tham gia cuộc thoại còn có sự tham gia của các yếu tố phi ngôn ngữ ( điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, ngữ cảnh…) được nhà văn thể hiện bằng lời chú giải thêm, được đặt trước hoặc sau câu nói, nhằm miêu tả cảm xúc chủ quan của người tham gia hội thoại” (8, 15).

Thí dụ:

Trang 7

Trần Hoài Linh – Trung đội trưởng trung đội trinh sát đặc công thuộcD73 Sau khi sống sót trở về sau chuyến chuyển gạo đầy cam go, nguy hiểm còn

bị nghi ngờ là đào ngũ, bị đưa ra tra hỏi

Anh Sáu hỏi Linh:

- Thế này đồng chí Linh nhé! – Cái giọng vừa ấm vừa lạnh vang lên.

- Dạ… - Linh trả lời mà mắt cứ trĩu xuống Nói nhanh đi mà đuối quá rồi”! (12, 72)

Trong đoạn trích trên có 2 loại lời : Lời tác giả, lời nhân vật Lời nhân vậtchính là hội thoại Lời tác giả miêu tả, dẫn dắt, liên kết lời nhân vật…

1.3 Nhân vật và ngôn ngữ nhân vật

1.3.1 Nhân vật trong tác phẩm văn chương

Trong tác phẩm văn chương, mỗi thời có một đề tài, một phạm vi phảnánh khác nhau như : Nông thôn, người nông dân, tình yêu, chiến tranh, giađình…

Với mỗi kiểu phản ánh thì sẽ có những cách thể hiện đặc thù Thiên về cangợi những người anh hùng với những chiến tích lớn lao vĩ đại, gắn với số đôngcộng đồng thì sử thi là mảnh đất màu mỡ nhất để nhà văn xây dựng kiểu nhânvật tương ứng

Trang 8

Thiờn về mơ mộng với những cuộc tỡnh lóng mạn… thỡ bỳt phỏp lóng mạnđược khai thỏc triệt để Trỏi lại, đi sõu vào từng ngừ ngỏch, gúc cạnh của đờisống thường nhật, phơi bày tất cả cỏi xấu cũng như cỏi tốt thỡ bỳt phỏp hiện thựcđược nhà văn khai thỏc đến tận cựng Và theo đú, những kiểu nhõn vật khỏcnhau được xuất hiện tương ứng với cỏc đề tài

Tự lực văn đoàn, sử dụng bỳt phỏp lóng mạn, nhõn vật thường là nhữngngười trớ thức, người nụng dõn, những thế hệ thanh niờn, những người phụ nữvới những lối sống mới, tư tưởng mới ảnh hưởng từ Phương Tõy Sau này, xuấthiện những người anh hựng trận mạc như chị Út Tịch (Nguyễn Thị Út), NguyễnVăn Trỗi, Vừ Thị Sỏu Hay cú loại nhõn vật tuổi trẻ như: Lờ Văn Tỏm, KimĐồng…

Viết về chiến tranh, người lớnh là nhõn vật trung tõm, là linh hồn trongnhững trang viết của cỏc nhà văn, như nhõn vật trong tỏc phẩm của Lờ Lựu,Nguyễn Minh Chõu, Lờ Minh Khuờ… chiến tranh dự đó kết thỳc nhưng đề tàichiến tranh vẫn được tiếp tục trong sỏng tỏc của nhiều nhà văn, nhõn vật ngườilớnh cứ trở đi, trở lại trong nhiều trang viết

Đặc biệt, nhà văn Chu Lai, tiếp tục khai thác đề tài người lớnh ở mọiphương diện Trong chiến tranh, đú là những người anh hựng với những phẩmchất sỏng ngời gắn với những chiến cụng vĩ đại, ở thời bỡnh, đú là những người

lớnh luụn mang những nỗi ỏm ảnh, những day dứt, những “ hoài niệm rừng xanh” Tõm trạng lỳc này cũng thay đổi, cú sự nhỡn nhận lại chiến tranh cũng

khỏc đi, thiờn về suy ngẫm, chiờm nghiệm, triết luận nhiều hơn

Khỏi niệm “nhõn vật văn học” được dựng để chỉ tất cả những con người

được nhà văn miờu tả, thể hiện trong tỏc phẩm văn học

Nhõn vật thể hiện qua từ xưng hụ, qua lời kể của tỏc giả Nhõn vật cú tờnhoặc khụng cú tờn, cú hiện hỡnh rừ nột, chõn thực, sinh động từ ngoại hỡnh, lailịch, đến bản chất, tớnh cỏch Nhõn vật cũng cú thể xuất hiện mờ nhạt trong tỏcphẩm

Trang 9

Nhân vật là cốt lõi của tác phẩm văn học, bởi đó là hình thức cơ bản đểnhờ đó nhà văn phản ánh khái quát thế giới một cách hình tượng Thông quaviệc sáng tạo nhân vật, nhà văn thể hiện nhận thức, quan niệm của mình về mộtkiểu người, một loại người, một vấn đề nào đó trong xã hội Nhân vật trong tácphẩm văn học rất đa dạng, mỗi nhân vật là một thế giới riêng, có hình dáng, suynghĩ, nhận thức, vị thế xã hội, trình độ học vấn, nghề nghiệp không giống nhau

Do đó, khi tham gia giao tiếp, lời nói của nhân vật khác là khác nhau Mỗinhân vật khi giao tiếp, đưa ra nội dung mình định nói, chọn từ xưng hô phù hợp,đặt mình trong mối quan hệ trao qua đáp lại, từ định vị, vị thế phát ngôn củamình với nhân vật giao tiếp, lựa chọn những yếu tố tình thái để thể hiện nhữngsắc thái tình cảm, thái độ ứng xử, xử lý các tình huống hội thoại Đồng thời nhânvật khi tham gia giao tiếp là chủ thể của nhận thức, chủ thể của hành động trongquá trình hội thoại

Vậy nhân vật văn học là: “ Một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” (8, 202)

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của conngười Do tính cách là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử… Trong tácphẩm văn học đặc điểm nhân vật quy định chính ngôn ngữ mà nhà văn vận dụng

để khiến lời nhân vật Nhân vật văn học còn thể hiện chức năng nghệ thuật và lýtưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người, vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ

đề của tác phẩm M Gorki nói: “ Ngôn ngữ là cái áo của mọi tư tưởng” Nếu

ngôn ngữ ví là cái áo của tư tưởng thì nhân vật là hình thù con người mặc cái áo

ấy Chính vì vậy mà khi ta khảo sát về ngôn ngữ nhân vật, không thể không quantâm đến nhân vật

1.3.2 Ngôn ngữ nhân vật

Các phương thức thể hiện nhân vật trong tác phẩm hết sức đa dạng Nhàvăn có thể dùng chi tiết để miêu tả chân dung, ngoại hình, hành động, tâm trạngnhân vật, có khi nhân vật còn được thể hiện qua những mâu thuẫn, xung đột, sự

Trang 10

kiện… và một phương tiện đặc biệt nữa là nhân vật được thể hiện bằng cácphương tiện ngôn ngữ.

“Từ điển thuật ngữ văn học”, Lê Bá Hán (chủ biên) đã khẳng định: “Ngôn ngữ nhân vật là một tổng số các phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính của nhân vật” (8, 214)

Trong các tác phẩm, nhà văn có thể cá thể hóa ngôn ngữ bằng cách nhấnmạnh cách đặt câu, ghép từ, lối phát âm đặc biệt của nhân vật Cho nhân vật lặplại những từ, câu mà nhân vật thích nói, kể cả từ ngoại lai và từ địa phương…

Dù tồn tại ở dạng nào hoặc được thể hiện bằng cách nào, ngôn ngữ nhân vật baogiờ cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa tính cá thể và tình khái quát.Nghĩa là một mặt, mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm riêng, có lời ăntiếng nói riêng Mặt khác, ngôn ngữ ấy lại phản ánh đặc điểm ngôn ngữ của mộttầng lớp người nhất định, gần gũi về nghề nghiệp, tâm lý, giai cấp, trình độ vănhóa… vậy ngôn ngữ nhân vật thường tồn tại ở dạng nào?

Trong tác phẩm tự sự ngôn ngữ nhân vật có hai dạng tồn tại:

+ Dạng thứ nhất: Đó là những lời nói, phát ngôn của tự thân nhân vật, sảnphẩm ngôn từ của chính nhân vật có được khi giao tiếp trong các hoàn cảnh.Dạng này tập trung ở lời thoại nhân vật

Theo các nhà ngữ dụng học trong tác phẩm văn học lời thoại của nhân vật

có những dạng biểu hiện phong phú, nó được thể hiện thành hai loại:

- Loại một: Ngôn ngữ bên ngoài (ngôn ngữ đối thoại – ngôn ngữ thànhtiếng)

Ngôn ngữ đối thoại: “ Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học ” củaNguyễn Như Ý cho rằng: Đối thoại là một trong những dạng thức của lời nói,trong đó có sự hiện diện của người nói đối với người nghe và mỗi phát ngôn dùtrực tiếp hướng đến người tiếp chuyện và xoay quanh một chủ đề hạn chế củacuộc thoại

Trang 11

- Loại hai: Ngôn ngữ bên trong ( ngôn ngữ độc thoại – ngôn ngữ khôngthành tiếng).

Cũng theo “ Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” của Nguyễn NhưÝ: Ngôn ngữ độc thoại là sự thể hiện lời nói trước hết hướng đến bản thân mình

mà không tính đến phản ứng của người đối thoại

Trong tác phẩm văn học, lời thoại của nhân vật được tác giả truyền đạtdưới hình thức nguyên vẹn, trực tiếp được hình thức hóa bởi các dấu câu đểphân biệt với lời tác giả và động từ dẫn vào lời nói trực tiếp, cũng có thể đốithoại mà không cần lời dẫn

Còn lời độc thoại, ở dạng ngôn ngữ này cũng có những hình thức, dấuhiệu nhận biết nhất định

Theo “ Từ điển thuật ngữ văn học”, do Lê Bá Hán (chủ biên): “ Độc thoại

là lời phát ngôn của nhân vật tự nói với chính mình, thể hiện tiếp quá trình tâm

lý nội tâm, mô phỏng hành động, cảm xúc, suy nghĩ của con người trong dòng chảy trực tiếp của nó ”.(8, 49)

Độc thoại nội tâm nhân vật được truyền đạt gần như không có sự canthiệp của tác giả, phản ánh được cả ý thức, lẫn vô thức của nhân vật

+ Dạng thứ hai: Ngôn ngữ nhân vật được thể hiện trong sự miêu tả củanhà văn Nhà văn không để cho nhân vật tự bộc lộ ngôn ngữ của nó mà lại miêu

tả về ngôn ngữ ấy Vì thế qua lời tác giả, ta cũng có thể nhận diện được nhữngđặc điểm của ngôn ngữ nhân vật

Với hai dạng tồn tại trên, ngôn ngữ nhân vật có khả năng cá thể hóa tínhcách nhân vật, làm nổi bật cốt truyện, gián tiếp bộc lộ thái độ và phong cách củatác giả và nó góp phần làm cho giọng điệu tác phẩm thêm đa dạng, phong phú

1.4 Tác giả và ngôn ngữ tác giả

1.4.1 Tác giả văn học

Trang 12

Nhìn bề ngoài, tác giả là người làm ra văn bản ngôn từ: Bài thơ, bài văn,bài báo, tác phẩm văn học Về thực chất tác giả là người làm ra cái mới, ngườisáng tạo ra các giá trị văn học mới.

Xét về mặt xã hội, tác giả văn học là người có ý kiến riêng về đời sống vàthời cuộc Đó là người phát biểu một tư tưởng mới, quan niệm mới, một cáchhiểu mới về các hiện tượng đời sống, bày tỏ một lập trường xã hội và công dânnhất định (8, 194)

1.4.2 Ngôn ngữ tác giả

Ngôn ngữ tác giả là tất cả các hệ thống ngôn từ được tác giả sử dụng bằngtài năng của mình vận dụng vào trong tác phẩm để miêu tả, đánh giá, nhận xétbình luận và thể hiện tư tưởng của mình

Tác giả có khi xuất hiện cái tôi có khi ẩn sau nhân vật tôi, tác giả dẫntruyện…

Trong các tác phẩm văn xuôi, bên cạnh ngôn ngữ tác giả còn có ngôn ngữnhân vật Những nhân vật đó được tác giả gán cho những thứ ngôn ngữ nhấtđịnh

Ngôn ngữ tác giả hay ngôn ngữ người trần thuật theo “Từ điển thuật ngữ

văn học” do Lê Bá Hán (chủ biên) : “Là phần lời văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả)đối với cuộc sống được miêu tả, có những cách thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ" (8, 212)

1.5 Chu Lai và sự nghiệp sáng tác

1.5.1 Tác giả Chu Lai

Chu Lai tên đầy đủ là Chu Văn Lai, ông sinh ngày 05 – 02- 1946 Quêgốc là ở Thôn Tam Nông, xã Hưng Hạo huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Cha ông

là nhà văn Học Phi Gia đình Chu Lai chuyển lên Hà Nội sống từ lâu, bởi vậytrong tâm hồn nhà văn Chu Lai chẳng những có hương vị ngọt ngào của quêhương làng mạc, mà còn có cốt cách lịch lãm của một người con đất kinh kì

Trang 13

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Chu Lai theo học đại học nhưng hết nămthứ nhất ông tình nguyện nhập ngũ và được điều về đoàn kịch nói của tổng cụcchính trị Sau đó, ông được chuyển về đơn vị đặc công chiến đấu tại Sài Gòn chođến ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng 1975 Cuối năm 1975, ông làm trợ lýtuyên huấn tại quân khu 7 Năm 1976, ông về dự trại sáng tác văn học của tổngcục chính trị, rồi theo học tại trường viết văn Nguyễn Du khóa I Sau khi tốtnghiệp, Chu Lai chuyển về làm công tác biên tập tại Tạp chí Văn nghệ quân độicho tới nay Ông đã nhận được giải thưởng văn học của Hội đồng văn học chiến

tranh cách mạng và lực lượng vũ trang của hội nhà văn (Tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, giải thưởng văn học Bộ quốc phòng 1994), giải thưởng tiểu thuyết của Nhà xuất bản Hà Nội (tiểu thuyết Phố)… hiện nay, ông sinh sống và công tác tại

- Sông xa ( Tiểu thuyết - 1982)

- Út ten ( Truyện thiếu nhi - 1983)

- Gió không thổi từ biển ( Tiểu thuyết - 1985)

- Vòng tròn bội bạc ( Tiểu thuyết - 1990)

- Bãi bờ hoang lạch ( Tiểu thuyết - 1990)

- Ăn mãy dĩ vãng ( Tiểu thuyết - 1992)

Trang 14

- Phố nhà binh ( Truyện ngắn - 1992).

- Nhà lao cây dừa ( Ký sự - 1992)

- Phố ( Tiểu thuyết - 1993)

- Truyện ngắn Chu Lai ( 2003 )

Ngoài ra, ông còn viết một số kịch bản sân khấu và điện ảnh

Mười năm lăn lội và chiến đấu ở một đơn vị đặc công nơi chiến trườngNam Bộ đã đem đến cho Chu Lai nhiều trải nghiệm và một vốn sống thực tếphong phú Đó chính là nguồn cảm hứng chủ đạo chi phối sự nghiệp cầm bútcủa ông, ngay cả khi chiến tranh đã lùi xa

Từ những tác phẩm đầu tay, Kỷ niệm vùng ven, Lửa mắt… đến những tác

phẩm sau này, Chu Lai luôn trung thành với đề tài chiến tranh và người lính.Trong sáng tác của ông, mảng đề tài này luôn được thể hiện một cách chân thựcdung dị với âm hưởng chủ đạo là ngợi ca Càng về sau, ông lại thiên về suyngẫm, triết lý sâu xa Nhiều tác phẩm của Chu Lai có được sức sống lâu bềntrong lòng người đọc bởi ông đã dồn nhiều tâm huyết cho những tác phẩm củamình và có sự tìm tòi đổi mới trong cách viết Ông mượn những câu chuyện bấtngờ và thú vị, với những chi tiết li kỳ ngoạn mục để khắc họa, tái hiện đến tậncùng hiện thực chiến tranh và cuộc sống, đồng thời những tác phẩm này, cùngvới những tình huống gay cấn, ly kì để tạo nên sức hấp dẫn trong những sáng táccủa ông Trong quá trình sáng tác, Chu Lai đã có được những thành công vàđóng góp đáng quý vào văn xuôi đương đại Việt Nam

1.5.3 Tác phẩm Nắng đồng bằng, Ăn mày dĩ vãng

1.5.3.1 Nắng đồng bằng

Nắng đồng bằng là tiểu thuyết đầu tay của Chu Lai, cuốn tiểu thuyết này,

được viết ngay sau những năm đầu hòa bình lặp lại ( 1977) Tác phẩm in đậmmàu sắc sử thi, gam màu lãng mạn nhiều hơn cái trần trụi của chiến tranh Khi

đó vốn sống còn tràn ngập và tươi nguyên cộng với niềm đam mê của sức trẻ,Chu Lai viết cuốn tiểu thuyết đầu đời này chỉ trong vòng hai tháng ở Đà Lạt,

Trang 15

trước khi vào trường viết văn Nguyễn Du Trong tác phẩm còn rất rõ, rất mớidấu ấn của một nhà văn – người lính vừa từ chiến trường bước ra Hơi văn cònnguyên mùi thuốc súng Tác giả như hiện thân vào Linh, nhân vật chính củatruyện sau bao nhiêu tháng ngày ở rừng, sau một cuộc hành quân rồi bị lạc

đường quá lâu, Linh vui sướng vì tìm được lại đơn vị Anh tận hưởng cái “Nắng đồng bằng” một cách háo hức, đam mê Đời lính là vậy, thiếu thốn đủ thứ Thiếu

cả nhứng thứ bất tận, bất cùng mà không một ai phải bỏ tiền mua là không gian.Dưới cái nắng đồng bằng, da thịt Linh như được mơn man, tâm hồn như được

tưới mát bởi trước mặt anh là "Bàu con gái" - “ Linh lại đứng trước bàu con gái Mới gần một tháng mà nước đã ngập lênh láng Thảm cỏ may vẫn vật vờ trước gió, nổ bông trắng xóa Bàu rộng ra, tròn hơn lại càng đìu hiu Chỗ suối lấy măng ở bên kia phải không? Đằng sau đó là “ nhà” rồi! Nửa tiếng lội nước nữa là đến nơi, là gặp lại tất cả Linh rưng rưng” ( 12, 63)

Tâm hồn người lính vẫn là như thế, không chỉ là ý chí sắt đá, lòng quảcảm và gan dạ hay ánh mắt rực lửa mỗi khi vào trận đánh, người lính còn mangtrong mình một trái tim chứa chan tình cảm Đó là tính đồng đội, đồng chí gắn

bó keo sơn như máu mủ ruột rà

Chu Lai luôn quan sát, tìm tòi và phản ánh đúng hai mặt của cuộc chiến

tranh Nhà văn đã tự đánh giá: Nắng đồng bằng tôi viết khi vừa bước qua cuộc

chiến tranh nên cảm xúc còn tươi xanh, vì thế thiếu đi mảng trần trụi mất mát

1.5.3.2 Ăn mày dĩ vãng

Ăn mày dĩ vãng ra đời sau đó mười lăm năm (1992), tác phẩm đã lấy lại được cái mà Nắng đồng bằng chưa phản ánh hết đó là mảng trần trụi và mất mát nhưng tác phẩm vẫn không đánh mất cảm xúc của Nắng đồng bằng đã có Chu Lai đã nhận định: Cho đến bây giờ nhiều người nói rằng: Nắng đồng bằng là tác phẩm hay nhất của tôi, nhưng Ăn mày dĩ vãng làm tôi hài lòng hơn vì nó miêu tả

được hai mặt của cuộc chiến

Trang 16

Ăn mày dĩ vãng, cùng với độ lùi của thời gian cho phép sự chiêm nghiệm

suy tư, chín chắn thể hiện rất rõ trong cách viết của ông Trong tác phẩm này,cuộc chiến được soi ngắm qua nhiều góc độ khác nhau Một điều dễ nhận thấy ở

Ăn mày dĩ vãng là tác giả thực sự quan tâm đến góc độ đời tư của nhiều nhân

vật, đồng thời chú ý đến những nhu cầu mang tính bản năng, rất đời thường, rấtcon người trong những nhân vật của mình

Những suy tư về chiến tranh có lẽ đã đến độ chín Những sự kiện lịch sử

và cả những sự kiện đời thường, được phản chiếu qua tâm hồn của người lính

Ngòi bút Chu Lai đi sâu khai thác những vấn đề rất “ con người ”, những

vấn đề ấy mang đậm sắc màu xương máu

Nắng đồng bằng và Ăn mãy dĩ vãng là hai tiểu thuyết xuất sắc của Chu

Lai viết theo hai gam màu khác nhau, ở hai thời điểm khác nhau Vì thế, ngườilính cũng được khai thác trong hai hoàn cảnh khác nhau, đó là người lính trongtrận mạc và người lính thời hậu chiến Hai gam màu lãng mạn và trần trụi bổsung cho nhau Cùng với biện pháp nghệ thuật đặc sắc, cách sử dụng vốn sốngthực, vốn từ ngữ, vốn hiểu biết của mình, nhà văn Chu Lai đã tạo nên sự thànhcông cho các tác phẩm

Tiểu kết

Trong quá trình khảo sát và nghiên cứu đề tài đặc điểm ngôn ngữ tiểu

thuyết Chu Lai qua Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng, chúng tôi đi vào các

vấn đề lý thuyết có liên quan và thông qua hệ thống lý thuyết đó để làm tiền đềkhảo sát và nghiên cứu đề tài Trong quá trình tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệpsáng tác của Chu Lai cho chúng ta thấy được nhà văn này một cách đầy đủ nhấtqua đó thấy được phong cách sáng tác của nhà văn này và đóng góp của ôngmang lại cho nền văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới sau 1975

Trong khoá luận này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu: Đặc điểm từ ngữ và câu trong hai tiểu thuyết Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, để

thấy được ngôn ngữ đặc sắc độc đáo của tiểu thuyết Chu Lai thể hiện về ngườilính và chiến tranh, trong cái nhìn toàn diện nhất

Trang 17

Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM VỀ TỪ NGỮ TRONG NẮNG ĐỒNG BẰNG

VÀ ĂN MÀY DĨ VÃNG 2.1 Các lớp từ ngữ trong Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng.

Phong cách ngôn ngữ của nhà văn phải được thể hiện trên mọi cấp độngôn từ của tác phẩm Tuy nhiên, sự biểu hiện đó ở mỗi tác giả lại không giốngnhau.Trong mỗi cấp độ mỗi yếu tố của cấp độ, cá tính của nhà văn in dấu đậmnhạt khác nhau.Ở đây chúng tôi sẽ tập trung cố gắng chỉ ra những nét đặc sắctrong sử dụng ngôn từ của Chu Lai Tuy nhiên, trước khi tìm hiểu một cách cụthể sâu sắc, cặn kẽ bản chất thẩm mĩ của ngôn từ trong tác phẩm văn học cũng

như phong cách ngôn ngữ của nhà văn, nhất thiết phải gắn bó với thể loại “bởi mỗi thể loại đòi hỏi một thứ ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ của thể loại” (19, 257)

Từ ngữ trong văn tự sự có những đặc trưng riêng bởi văn xuôi tự sự cókhả năng tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lý con người trong sự sâu rộng, đachiều vốn có của nó Nó bất chấp mọi lớp từ, mọi biến thái mọi chiều kích thậmchí cả sự xô bồ , phồn tạp đến cực độ, không phải văn xuôi không cần sự trauchuốt về từ ngữ, mà sự trau chuốt từ ngữ của một nhà văn rất khác với sự trauchuốt từ ngữ của một nhà thơ, đối với nhà văn, mục tiêu rõ nhất là làm sao từngữ lột tả được đối tượng một cách chính xác nhất qua cách nhìn của anh ta Docách tổ chức khá phóng túng, ngôn ngữ tự sự sẵn sàng dung nạp mọi lớp từ ngữ,mọi cách nói, không phân biệt sang hèn, thanh tục, cao thấp, miễn sao nó thểhiện tốt nhất dụng ý nghệ thuật của người viết Chính vì vậy, trong văn học hiệnđại những từ ngữ thuộc các lớp từ khác nhau như : Từ hội thoại, từ nghề nghiệp,

từ địa phương, từ láy…đều trở thành một trong các phương tiện tu từ từ vựng rấthiệu quả Chu Lai là một trong số ít các tác giả sử dụng phương tiện tu từ đạthiệu quả nhất Tạo nên những cách thể hiện độc đáo trong ngôn ngữ nhân vật,đặc biệt là nhân vật người lính trong chiến tranh và thời hậu chiến

Trang 18

2.1.1.Thống kê, phân loại từ được sử dụng trong “Nắng đồng bằng”

và “Ăn mày dĩ vãng”

2.1.1.1 Khái niệm từ

Bàn về khái niệm “Từ”, từ trước tới nay, có khá nhiều ý kiến ở những

góc độ khác nhau Chẳng hạn: Khái niệm từ đầu tiên do nhà ngôn ngữ học

Ấn Âu đưa ra Một vài ý kiến tiêu biểu như sau:

Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa : “Từ Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết hoặc một “chữ viết rời” (5, 72).

Đỗ Hữu Châu xác định: “Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết

cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong Tiếng Việt và nhỏ nhất trong cấu tạo câu”.(4, 139)

Định nghĩa về từ theo tác giả, Đỗ Thị Kim Liên: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết có ý nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu”.(16, 18)

Nhìn chung, các ý kiến về định nghĩa từ còn nhiều nhưng ở đây chúng tôichỉ nêu những định nghĩa có tính chất tiêu biểu

2.1.1.2 Khảo sát từ trong hai tiểu thuyết Nắng đồng bằng và Ăn mày

dĩ vãng về mặt cấu tạo.

a Từ đơn

Từ đơn là từ được tạo ra theo phương thức từ hóa hình vị (1 âm tiết,1tiếng) được sử dụng trong câu Nó có cấu tạo đơn giản, không có cấu trúc bêntrong, là lớp từ cơ bản, đóng vai trò quan trọng trong Tiếng Việt, chúng có khảnăng tham gia cấu tạo ra hàng loạt từ phức

Khảo sát đặc điểm từ ngữ và câu trong tiểu thuyết Chu Lai thể hiện trongcác đoạn thoại, ta thấy đa số đối thoại giữa các nhân vật thường có cấu tạo câu

Trang 19

ngắn gọn, có tính khẩu lệnh, vì vậy từ đơn xuất hiện với tần số cao Từ đơnnhằm để truyền đạt thông tin dễ nghe, dễ hiểu, ngắn gọn và một nghĩa.

Thí dụ :

Đoạn thoại giữa Tám Tính, Ba Thành:

- Má thằng Hùng! Bắc Kì mà nóng dữ vậy mày? Cha chả là lạnh!

Có thuốc, đốt cho điếu hút bậy coi Má mày!

Ba Thành nhét điếu thuốc rê vào cặp môi tái nhợt của hắn.

- Hết cơn chưa con ?

nó đúng với phong cách nói của những người lính

Hay đoạn thoại giữa Ba Sương và Hai Hùng cũng vậy

- Nếu một ngày nào đó…

- Anh….

- Sao em ?

- Không ! Chị Hai với anh Tám liệu có (11, 54)

Trong đoạn thoại này, nhân vật Ba Sương và Hai Hùng chỉ sử dụng từ đơn

để nói, thể hiện nội dung thông tin về chuyện tình cảm giữa Hai Hợi và TámTính trong suy nghĩ của hai người với việc sử dụng các từ đơn tạo cách nói gầngũi, ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

b Từ ghép

Từ ghép là những từ cấu tạo phương thức ghép trong đó có các hình vị kếthợp với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa nhất định Có hai loại quan hệ:quan hệ đẳng lập và quan hệ chính phụ

Trang 20

Từ ghép là loại từ được sử dụng trong ngôn ngữ tiểu thuyết Chu Laichiếm số lượng không nhiều, thường thiên về thuật ngữ quân sự Theo thống kê

của chúng tôi, loại từ này xuất hiện trong Nắng đồng bằng xuất hiện 32 lần, còn trong Ăn mày dĩ vãng xuất hiện 28 lần.

Các nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai thường là người lính, hoàncảch sinh hoạt là chiến trường hay những môi trường khác, nhưng đều nằmtrong “tư tưởng” người lính, vậy nên ngôn ngữ nhân vật có hướng thiên về đề tàichiến tranh Các từ ghép cũng đã góp phần minh định điều này

Thí dụ:

Kiêu nhìn nhanh tiểu đoàn trưởng:

- Tôi xài chưa thạo bản đồ địa bàn, anh Sáu !

- Chả ai thạo hết ! Trợ lý tham mưu phát biểu ngon vậy mày !

Ráng đi Linh nó cắt khá đấy !

- Còn công việc tác chiến ở nhà…?

- Rồi vậy đó ! – Giọng Sáu Hóa lại chùng xuống – Tôi đi !

Cả tiểu đoàn trông vào mấy hạt gạo đó thôi (12, 36)

Chỉ một đoạn thoại ngắn đã xuất hiện 8 từ ghép mà trong đó 5/8 là thuậtngữ quân sự Chứng tỏ, khi sử dụng từ ghép trong lời nói của mình, người línhluôn sử dụng từ ghép thuật ngữ quân sự

Lời Hai Hùng khi nói đến bọn ngụy bao vây địa bàn:

Ai đời, một khoảnh rừng bé xíu chưa đầy hai sào ruộng mà chúng đùng

đùng án ngữ tới ba tầng, cả bộ binh, thám kích và cơ giới (11, 192)

Qua hai tác phẩm chúng tôi khảo sát, số lượng từ ghép trong ngôn ngữtiểu thuyết Chu Lai chiếm số lượng không cao, theo như khảo sát phía trên của

chúng tôi thì ở Nắng đồng bằng chiếm khoảng 13% so với các loại từ khác, còn trong Ăn mày dĩ vãng từ ghép chiếm 10%, từ ghép thường xuất hiện khi các nhân vật nói đến các thuật ngữ quân sự như: Tác chiến, tham mưu, du kích, bộ

độ, vũ khí…

Trang 21

Loại từ ghép này, chiếm đến 75% so với các từ ghép thuộc các chuyênngành khác Chúng tôi nhận thấy, những từ ghép này thường là từ ghép đẳnglập, loại từ ghép chính phụ xuất hiện rất ít Qua hai tác phẩm chúng tôi khảo sát,

từ ghép thường xuất hiện ở ngôn ngữ gián tiếp – ngôn ngữ tác giả, khi bình luận

về một vấn đề gì hay một nhân vật một sự kiện nào đó trong ngôn ngữ của tácgiả

Trong vốn từ Tiếng Việt, từ láy là lớp từ nhiều về số lượng và đáng quantâm khảo sát về nhiều mặt: Cấu tạo, ngữ nghĩa và giá trị sử dụng Khi tiếp xúcvới các văn bản thuộc các phong cách chức năng khác nhau của Tiếng Việt cómột điều dễ nhận thấy là: Từ láy hầu như chỉ được dùng trong phong cách ngônngữ nghệ thuật, nhất là trong ngôn ngữ thơ Điều này giả định rằng, phải có một

sự tương hợp nào đó giữa đặc trưng và yêu cầu của tác phẩm văn chương vớinhững đặc điểm hình thức và phẩm chất ngữ nghĩa của từ láy Chính sự tươnghợp đó đã tạo truyền thống lâu đời và đắc dụng trong sáng tác văn học bằngTiếng Việt – truyền thống sử dụng từ láy

Tác dụng từ láy mang lại cho lời nói và trong sáng tác văn học là rất quantrọng Nó tạo ấn tượng mạnh cho người nghe, người đọc bởi không chỉ là tínhnhạc do ngữ âm hài hoà của nó mang lại mà còn bởi những hình ảnh, nhữnghoạt động, những tình cảm, thái độ đi kèm với từ láy sẽ có một sắc thái riêng

Trang 22

khác với từ đơn, từ ghép có nghĩa tương đương Chính vì vậy mà từ láy là lớp từđược xếp vào một trong số những phương tiện tu từ từ vựng nổi bật.

Từ láy là lớp từ độc đáo cả về âm thanh lẫn ngữ nghĩa, trong sáng tác vănchương, từ láy là lớp từ có tần số xuất hiện cao và trở thành một phương tiệnngôn ngữ quan trọng trong việc tạo dựng tính hình tượng biểu cảm

Chu Lai là một nhà văn ý thức được khá hiệu quả ngôn từ mà từ láy manhlại Chính vì vậy, trong các sáng tác của ông nhất là thể loại tiểu thuyết ấn tượngmạnh nhất và dễ thấy nhất là cách sử dụng từ láy như một biện pháp nghệ thuật

để truyền tải ý đồ nghệ thuật của mình Ta có cảm giác như Chu Lai đã buộc từláy phải làm việc hết công suất để mang lại cho những trang viết của mình hiệuquả cao như vậy

* Từ láy trong Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng.

Từ láy là lớp từ xuất hiện khá nhiều trong ngôn ngữ tiểu thuyết Chu Lai,

đặc biệt là qua Nắng đồng bằng, Ăn mày dĩ vãng Đây là lớp từ thiên về cụ thể

gần gũi, quen thuộc, gợi hình trong cách nói của nhân vật trong tiểu thuyết Chu

Lai nói chung và hai tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và Nắng đồng bằng nói riêng.

Từ láy được sử dụng trong ngôn ngữ nhân vật qua Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng chiếm một số lượng khá nhiều và có giá trị biểu đạt cao Nó thiên

về thể hiện thái độ đánh giá chủ quan của người nói ở mức độ cao

Theo thống kê của chúng tôi, trong tác phẩm Nắng đồng bằng riêng khảo sát ở ngôn ngữ nhân vật có 95 từ láy, Ăn mày dĩ vãng có 198 từ láy.

Những từ láy này thường chủ yếu là láy bộ phận và trong láy bộ phận thì

láy phụ âm đầu là chiếm đa số Nắng đồng bằng láy hoàn toàn xuất hiện 25 lần, láy bộ phận xuất hiện 70 lần Còn ở Ăn mày dĩ vãng láy hoàn toàn có 30 lần, láy

bộ phận xuất hiện 168 lần

Thí dụ:

- Trật rồi, cha ! Chắc như nằm…

Trang 23

- Bậy bạ nào - Anh ta chau mày trợn mắt nhưng cái miệng lại rộng toác ra - Mình rón rén mò tới êm re như mèo và ngồi xuống tựa

chiếc lá rớt (12, 68)

Thấy nét mặt Linh sa sầm anh ta vội đứng dậy

- Ông ở tiểu đoàn đặc công hả? Ngồi xuống ! Ngồi xuống ! Làm

sao mặt mày vêu vao vậy? Làm bậy hớp trà đi (12, 69)

- Cái gì? Nói to lên ! Sao cậu lúc nào cũng khẽ khàng như tỏ tình

thế ? Liều B41 thối à ? (11, 74)

+ Kết hợp từ láy với danh từ

Danh từ là lớp từ có ý nghĩa khái quát sự vật, đó là những từ chỉ vật thể(người, động vật, thực vật, đồ vật) những hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội

và những khái niệm trừu tượng… được con người nhận thức và phản ánh nhưcác vật thể tồn tại trong hiện thực Để làm cho sự vật hiện lên một cách sinhđộng, có hồn trong lối diễn đạt ngôn ngữ của mình, chúng tôi nhận thấy Chu Laithường đặt từ láy bên cạnh các danh từ

Sự kết hợp từ láy với danh từ khá phổ biến và lặp lại nhiều lần trong tiểu

thuyết của Chu Lai qua Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng Trong những cách

kết hợp giữa từ láy với danh từ, Chu Lai thường sử dụng cách kết hợp, đặt từ láysau danh từ cần bổ nghĩa

Chu Lai miêu tả một người lính Mỹ trong cách nhìn của Tám Linh

Linh thoáng thấy rõ cái mặt đỏ bự, bộ ngực loang lổ, cái bụng phúng phính, cũng đỏ như tôm chín của thằng Mỹ đứng ở cửa sổ máy bay (12, 55)

Cách kết hợp: Bộ ngực loang lổ, cái bụng phúng phính khi miêu tả thằng

Mỹ ngoài việc thể hiện hình dáng của thằng Mỹ còn thể hiện cách nghĩ của nhânvật khi nhìn người Mỹ đó là sự no đủ trong cuộc sống và sự tàn bạo trong tínhcách

Chu Lai miêu tả cảm giác của Linh

Trang 24

Anh đưa lên mũi: Thơm sực cái vị ngầy ngậy, béo béo của hành, của tỏi

(12, 55)

Một mùi hôi như cùng một lúc theo gió cuộn vào Linh nín thở Một

cảm giác rờn rợn chạy dọc sống lưng anh (12, 58)

Cách miêu tả kết hợp: Cái vị ngầy ngậy, một cảm giác rờn rợn thể hiện

suy nghĩ của nhân vật Tám Linh một cách cụ thể hình tượng nhất cảm giác về sựvật anh nói đến

Cách đặt từ láy ngay sau danh từ và cụm danh từ của Chu Lai đã làm dáng

vẻ sự vật được miêu tả trở nên rõ nét, sinh động trước mắt người đọc

Ngoài ra, ta còn thấy một vài trường hợp ông đặt từ láy đứng trước danh

từ để một lần nữa nhấn mạnh thêm sắc thái hình ảnh mà mình cần miêu tả Cáchnày tuy có nhưng không nhiều, chỉ bắt gặp ở một số trường hợp Nhưng giá trịnghệ thuật mà nó đưa lại thì rất lớn Hình ảnh được miêu tả như đập vào cácgiác quan của người đọc, ta cảm nhận đựơc không chỉ bằng mắt mà ta như cònđang chạm vào chúng, dường như Chu Lai muốn người đọc cũng có được cáicảm giác mà ông đang có hay nhân vật của ông đang có khi đứng trước sự vậtđó

Sau đây là miêu tả cảm giác của Hai Hùng khi đứng trước nhà hàng sangtrọng mà Quân dẫn ông đến:

Ngay từ giây phút đầu tiên bước xuống xe, toàn thân ngợp choáng trong các ngọn đèn các cỡ, trong muôn vàn âm thanh các loại, vừa gợi chút bồng lai

vừa bảng lảng mùi địa ngục (11, 58)

- Tất cả đều thoáng đãng, tất cả đều chan chứa nắng (12, 25)

Cách miêu tả: Bảng lảng mùi địa ngục, chan chứa nắng, cách nói bảng lảng mùi địa địa ngục thể hiện suy nghĩ của Linh khi đi lượm xác tử sĩ anh như

có cảm giác cái chết đang vây lấy anh Còn cách kết hợp chan chứa nắng thể

hiện cái nắng tràn ngập lan toả ra không gian rộng lớn trong suy nghĩ cảm nhậncủa Tám Linh khi anh cảm nhận cái nắng của đồng bằng

Trang 25

Chu lai đã đặt từ láy bên cạnh những danh từ, cụm từ danh từ cần miêu tả

đã mang lại hiệu quả nghệ thuật không nhỏ khi thông qua hình thức ngôn ngữthể hiện nội dung Khi đặt cạnh danh từ ông muốn người đọc cảm nhận được cácsắc thái, đặc điểm của sự vật Qua đó, để người đọc dự cảm được một phần vềtính cách nhân vật, nếu như đó là câu miêu tả về nhân vật

+ Kết hợp từ láy với tính từ

Tính từ là những từ có nghĩa chỉ tính chất, màu sắc Khi kết hợp các từ láybên cạnh tính từ sẽ làm tăng thêm tính sinh động cho những đặc trưng của sựvật

Kiểu kết hợp này cũng khá phổ biến trong tiểu thuyết Chu Lai và mang lạihiệu quả nghệ thuật cao Sau khi đi vào phân tích một vài trường hợp chúng ta

sẽ thấy rõ điều này:

Ví dụ :

Sau một thân cây to, một nòng súng AK và một quả đạn B40, tròn trùng trục trong bóng đêm đều giàn về một hướng (12, 57)

Thật xa nữa, những mái tôn trăng trắng, hàng tre, con đường, cụm cao

su, cái chuồng cu cao ngất nghểu… (12, 61)

Bây giờ gặp chắc chả ai nhận ra… cái thằng Linh bò rào không biết mệt,

cành thức đêm càng tươi hơn hớn (12, 61)

Cách kết hợp các tính từ với từ láy: tròn trùng trục, cao ngất nghểu, tươi hơn hớn thể hiện rõ nét cụ thể các đặc điểm tính chất của sự vật được nói đến

trong miêu tả của nhân vật hoặc của tác giả tạo cho cách thể hiện thêm phần sinhđộng đầy màu sắc cuốn hút người đọc

Cách thể hiện từ láy đi trước tính từ cũng thể hiện một tài năng nghệ thuậtđộc đáo và chứa nội dung thể hiện sâu sắc

Đội hình đánh giặc ngang tàng năm xưa giờ đây, trừ vài thằng may mắn

khôn ngoan, chẳng hiểu vì nguyên cớ nào đều bị cuộc đời dồn chung vào một

Trang 26

cục hẩm hiu, méo mó, chẳng may chỉ nhúc nhích chút xíu con ngươi đờ đẫn

màu chì (11, 20)

Những từ láy đựơc Chu Lai đặt cạnh tính từ, hoặc phía trước hoặc phíasau làm cho đặc điểm tính chất sự vật hiện lên một cách sinh động và có hồnhơn Ngoài ra, Chu Lai còn đặt từ láy cạnh động từ để tạo ra những giá trị mớitrong việc sử dụng từ láy

+ Kết hợp từ láy với động từ

Động từ là những từ miêu tả hoạt động có quá trình, đặt những từ láy bêncạnh động từ hoặc những cụm động từ là cách kết hợp nhằm mang lại những sắcthái ý nghĩa cần biểu đạt cho những hoạt động đang miêu tả đồng thời qua đóthể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn

Đọc những câu văn có những hành động, trạng thái được bổ nghĩa bằngnhững từ láy chúng ta sẽ thấy được sự sinh động mà nó mang lại Không chỉ tạo

sự sinh động mà nó góp phần tạo nên một sắc thái mới cho các hành động trạngthái đang được miêu tả, ý nghĩa mà nó tạo nên mang nghĩa sắc thái hoá, hànhđộng theo các chiều hướng khác nhau như : Cách thức, trạng thái, mức độ … cóthể chứng minh bằnh các ví dụ sau:

Anh bươn theo con đường trăn bò Đường suối chảy róc rách, khe khẽ

(12, 63)

Anh ăn háo hức không cần nhả hột Cắn nhẹ một miếng vào cái vỏ vàng

vàng đo đỏ nứt ra rồi dùng hai ngón tay bóp nhẹ (12, 65- 66)

Lon HENIKEN mở rôm rốp như đại liên, Ba Con Năm xé roàn roạt như

xé vải (11, 10)

Cách kết hợp các từ láy đi cạnh những động từ: chảy róc rách gợi lên cái

âm thanh của tiếng suối trong đêm yên tĩnh càng gợi lên sự thinh vắng củakhông gian khi Linh bò vào quan sát đồn giặc, dường như trong đêm tiếng suối

càng trở nên rõ ràng có sức vang xa hơn bao giờ hết Hay cách kết hợp ăn háo hức, mở rôm rốp, xé roàn roạt cũng vậy Ăn háo hức thể hiện cách ăn của một

Trang 27

người sau bao ngày chịu đói khi có được cái ăn thì sung sướng hạnh phúc vôcùng, trong cách thể hiện của Chu Lai, khi miêu tả cách ăn của Linh vừa cho tathấy rõ hành động và trạng thái người được nói tới đồng thời thể hiện rõ thái độ

của ông trong đó Hay cách ông miêu tả xé roàn roạt thể hiện hành động xé

nhưng vừa nhấn mạnh âm thanh mà hành động đó đưa lại với mức độ mạnh

Chúng tôi nhận thấy, Chu Lai sử dụng cách kết hợp từ láy đi sau động từ

nó thường gợi lên hệ quả của hành động hoặc thể hiện thái độ của nhân vật khithể hiện hành động đó

Cách kết hợp từ láy với danh từ, động từ, tính từ tạo cho ngôn ngữ tiểuthuyết Chu Lai một cách thể hiện mới đưa lại thành công cho tác phẩm đồngthời thể hiện tài năng sử dụng ngôn từ độc đáo của Chu lai

2.1.2 Khảo sát từ ngữ trong Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng về mặt phong cách

2.1.2.1 Sử dụng những từ ngữ giàu sắc thái khẩu ngữ

Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong “Ngữ nghĩa lời hội thoại” thì : Do lờithoại là lời trao trực tiếp có tính thường nhật giữa người nói và người nghe, lànhững suy nghĩ được thể hiện thành lời một cách trực tiếp nên thiếu sự gọt giũa.Chính vì thế, sắc thái khẩu ngữ của các lời thoại thường nổi lên rất rõ qua khảo

sát đặc điểm từ ngữ và câu trong hai tiểu thuyết Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai.

Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ mang tính chất chuẩn mực,hơn thế nữa là thứ ngôn ngữ mang tính văn hóa Đó là thứ ngôn ngữ trau chuốt,chọn lọc, mang tính thẩm mỹ được nâng cao Đó còn là thứ ngôn ngữ loại bỏ cácyếu tố địa phương, các tiếng lóng, các từ ngữ thông tục…

Thế nhưng, trong xu thế văn học gần đây, nhiều nhà văn, nhiều tác phẩmkhông ngại nói đến những gì phức tạp, bí ẩn trong xã hội, trong tâm hồn conngười không có chỗ nào là địa hạt để nhà văn kiêng kị nữa, kể cả trong sử dụngngôn từ Như vậy, từ ngữ trong tác phẩm văn học, được dùng mang phong cách

Trang 28

ngôn ngữ gọt giũa (phong cách viết), nhưng mặt khác, từ ngữ cũng có thể đượcdùng trong một số hoàn cảnh giao tiếp, nhất là trong hội thoại mang phong cáchkhẩu ngữ (phong cách nói)

Để nhất quán trong việc thống kê dẫn chứng và phân tích về sau, trước hết

chúng ta hãy đồng nhất một cách hiểu về từ “khẩu ngữ”

Theo “Từ điển tiếng Việt” của viện ngôn ngữ học do NXB Đà Nẵng ấn

hành năm 2004 thì “Khái niệm khẩu ngữ được hiểu như là ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc sống hằng ngày, có đặc điểm đối lập với phong cách viết” (29, 496)

Như vậy, chúng ta có thể xác định rằng, khái niệm khẩu ngữ mà phạm vi

đề tài đề cập đến là những từ ngữ đề cập đến trong cuộc sống hằng ngày, đối lậpvới phong cách viết Tuy nhiên ta cũng thừa nhận rằng, Chu Lai không phải lànhà văn đầu tiên và duy nhất đưa thứ ngôn ngữ này vào trong sáng tác của mình

a Sử dụng một số từ ngữ trong ngôn ngữ nói hàng ngày.

Sử dụng những từ ngữ có tính chất đệm vào, chêm vào hoặc yếu tố đưa

đẩy hằng ngày trong lời nói nhằm nhấn mạnh: đấy, thật, quá, thế, vậy đó, gì, này, ghê à…

- Báo cáo anh Hai, có một chiếc nón bị thủng nằm bên cạnh vết

máu, chắc có thằng bị thương rồi ! – Tiếng một thằng trả lời lưu loát (12,

212)

Kiêu vội cười dẻo miệng :

- Đừng nóng anh Sáu cho ý kiến khắc phục khó khăn thôi mà…

(12, 36)

Trang 29

Vịnh Ba Kỳ kia rồi ! Sắp về tới nhà rồi! Anh Linh ơi !

Lúc nào nước dừng, cho em đánh một trái kiếm cá ăn nhé ! Trúng đàn cá bống tha hồ mà nấu cháo Một trái nhỏ chút xíu thôi (12, 222)

Lời của Hai Hùng:

- Nết - Rao của Úc ư ? – Úc đại lợi - Đại Úc …Chao ! Mới ngày

nào còn nện nhau chí chạp mà giờ đây tiếng Úc đã vang lên mới trong

nể làm sao! (11, 25)

Kiêu phẩy tay

- Khỏi ! Khỏi ! Uống nhiều sình bụng (12, 266)

Tư Hạnh cái tên nghe hiền nhỉ ? Chắc nó to lớn, cầm đại liên bắn một tay hả?

- Đâu có ! Nó đã từng thi hoa hậu hoa hoẹt gì đó !

- Ái chà ! … Bây giờ nó làm gì ?

- Sắp thi tú tài toàn phần toàn phiếc gì đó… (12, 262)

Hoặc dòng suy nghĩ của Hai Hùng về Tuấn:

Đứa ưu tú ngon lành thì thi nhau chết rụi Thằng dở người dở ngợm lại cứ sống nhăn Nói cho cùng vị trí cái chuôi đạn màu xanh dương kia

đáng lẽ phải nằm ngược trong bụng mày chứ không phải bụng thằng Bảo đâu Tuấn ạ! (11, 137)

Mười Đảnh sử dụng cách nói “iếc hoá” trong cách nói hằng ngày để thể

hiện thái độ chê trách Tư Hạnh

Cách nói dở người dở ngợm, sống nhăn, chết rụi là những từ thường sử

dụng trong cách nói hàng ngày nhưng được nhân vật Hùng sử dụng để thể hiệnthái độ khinh rẻ đối với Tuấn – một kẻ tham sốmg sợ chết

Qua các lời thoại trên ta thấy rằng: Ngôn ngữ nhân vật ở đây sử dụng cácyếu tố chêm xen của ngôn ngữ hằng ngày rất tự nhiên và sinh động, làm cho sắcthái khẩu ngữ của nhân vật càng rõ rệt hơn Và sử dụng những cách nói cùngkiểu kết hợp độc đáo mang tính chất khẩu ngữ đặc biệt

Trang 30

b Sử dụng các yếu tố tục

Hầu hết các đoạn thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai, ôngthường cho nhân vật của mình sử dụng loại ngôn ngữ của lời ăn tiếng nói hằngngày thiên về yếu tố tục Đây là hiện tượng rất thông thường ở những ngườilính

Theo khảo sát của chúng tôi ngôn ngữ nhân vật trong Nắng đồng bằng và

Ăn mày dĩ vãng, có hiện tượng nói tục thường xuyên xuất hiện các từ: Đ mẹ,

mẹ nó, mấy cha…

Tám Linh và Mười Đảnh soát nhà Tư Hạnh

- Bay đâu ! – Linh cất giọng hách dịch – Không chịu mở cửa là dứt khoát có người trốn lính M72 bắn nó cho tao !

Mấy ông là …ở đâu đó ? Trong nhà có ai đâu.

- Không có cũng mở ! Cảnh sát kêu cửa không mở hay chờ Việt

Cộng mới mở? Đ mẹ (12, 286)

Ba thành dẫn Hai Hùng gặp Tuấn Hai Hùng ngồ ngộ không nhận ra Ba

Thành nói: - Đ mẹ ! Thằng Tuấn đó chứ ai (11, 280)

Có gì đâu cũng là chuyện khích bác nhau Bắc Nam thông thường Thằng

này nói: Về má chúng mày đi ở trong này hoài , đem theo cái nghèo, cái lạnh vào theo” Thằng kia nổi sùng :Đ mẹ ! vậy thì hồi chiến tranh mày rúc vào l… con đĩ ngựa nào để bây giờ ngu si hưởng thái bình lại còn nhảy ra nói láo (11,

Trang 31

- Chắc ăn rồi ! Bọn lính ỉa tùm lum Hướng nào cũng đụng cứt

(12, 139 )

Hai Hùng tự thốt lên khi hai trăm bạc cuối cùng cũng bị mất cắp :

Thế là vô sản Tuyệt đối vô sản Vô sản đến tận dái (11, 55)

Đoạn thoại Ba Thành và Hai Hùng

- Ngủ à? Giấc ngủ ngàn năm à? Khóc à ? Hay táo bón, kiết lị không ỉa ra được ? (11, 230)

Việc sử dụng lối so sánh và cách sử dụng từ ngữ khẩu ngữ tạo cho cáchnói của nhân vật có cái gì đó vừa hóm hỉnh, sắc cạnh lại vừa rất thông tục

- Mẹ! Dòm cái miệnh nó cười sướng chưa? Răng như răng trâu dám nhai cả thịt lẫn xương con nhỏ ra lắm…(11, 25)

- Lạ cái cóc khỉ! Ngủ đi bắt đầu lên cơn đó hả?

- Chửi tục như ranh, chân tay lông lá thô kệch lại chỉ có cai đèn măng sông, vài ba cái kéo từ thời Khang Hy còn sót lại, vài ba miếng bông gạc bẩn như thứ đồ lót tháng của đàn bà mà mổ ai được nấy, lần nào cũng suôn sẻ không nhiễm trùng, không sưng tấy gì hết ráo (11, 252)

Dường như, trong cách nói của người lính có một lối so sánh rất đặc biệt,những cái được đem ra so sánh rất gần gũi thân thuộc, thậm chí trong cách nóihằng ngày người ta cũng kị nói đến vậy mà, nó đi vào ngôn ngữ nhân vật trongtiểu thuyết của Chu Lai thật tự nhiên, thoải mái

2.1.2.2 Sử dụng lớp từ ngữ mang đậm sắc thái địa phương

Trong các tác phẩm văn học, xuất hiện hệ thống các không gian, thời gian

cụ thể Tương tự như vậy tác giả cũng xây dựng nên những nhân vật gắn vớimỗi địa danh miền quê cụ thể

Trong các tác phẩm của Chu Lai, ông thường viết về đề tài chiến tranh mà

đã là chiến tranh thì không riêng ở một miền quê nào Vì vậy trong các tác phẩmcủa mình, Chu Lai thường để nhân vật bộc lộ một cách tự nhiên, tùy theo mỗi

Trang 32

vùng đất cụ thể nên trong tác phẩm của ông ngôn ngữ người lính mang đậm màusắc địa phương.

Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, từ ngữ địa phương là những từ ngữ chủyếu được lưu hành, sử dụng trong một phạm vi hẹp, gắn với một hoặc một số địaphương nào đó Nó là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày ở một địaphương nhất định

Trong các sáng tác của mình, Chu Lai thường đặt bối cảnh ở Nam Bộ nêntrong sáng tác của ông thường xuất hiện phương ngữ Nam Bộ là chủ yếu

a.Từ địa phương Bắc Bộ

Trong các tác phẩm của mình, Chu Lai thường cho xuất hiện những nhânvật người lính đến từ Hà thành với những cách nói rất nhẹ nhàng, dễ mến, quen

thuộc như: Hai Hùng, Ba Sương, Hai Hợi… trong Ăn mày dĩ vãng, Tám Linh, Năm Thúy, Tùng…trong Nắng đồng bằng.

Thí dụ:

Anh bấm Hài lùi lại một đoạn thì thào:

- Ngồi đây nhé! Có gì bắn yểm hộ Nếu không ra được, cậu cứ nhảy trước

đừng chờ (12, 55)

- Thế này đồng chí Linh nhé !- Cái giọng vừa ấm, vừa lạnh vang lên (12,

72)

- Em nói xạo !

- Tôi nhắc lại: Tôi không hề yêu anh, và tôi sẽ không đi đâu cả (12, 287)

Lang ló đầu ra khỏi mép võng :

- Em đã ngủ đâu Em đùa chị Năm đấy ! Bây giờ lính về bót ăn cơm (12,

138)

Các lời thoại trên ta nhận thấy rằng : Người Bắc Bộ thường sử dụng từ

ngữ địa phương đặc biệt dễ nhận ra như : đâu, nào, chứ, nhé, đấy, nè, nha…

Từ xưng hô: Ông / tôi, mình / cậu, anh / em, tớ / cậu…và đa số từ địa

phương Bắc Bộ nói với ngữ điệu rất nhẹ nhàng, nó khác với địa phương Nam

Trang 33

Bộ và Trung Bộ Cách sử dụng từ địa phương Bắc Bộ trong hai tác phẩm củaChu Lai mà chúng tôi khảo sát, thấy xuất hiện các từ ngữ thể hiện sắc thái địaphương Bắc Bộ trong lời thoại của nhân vật thường có ý nghĩa thể hiện thái độ

và trong ngôn ngữ nhân vật trong hai tác phẩm Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng thì loại từ địa phương Bắc Bộ xuất hiện rất ít so với địa phương Nam Bộ.

b Địa phương Trung Bộ

Vùng Trung Bộ là một vùng đất tồn tại tiếng địa phương phổ biến nhất,

mỗi người dân sinh ra ở vùng đất được coi là “đòn gánh” của cả nước đều có

một tính cách cũng như ngôn ngữ rất đặc biệt Không chỉ ở hệ thống từ ngữ màgiọng điệu thể hiện cũng rất khác lạ

Thí dụ:

Đoạn thoại giữa Hai Hùng và Tuấn:

- Sao thế Tuấn ? Rút chứ? Muốn ăn phản pháo à ?

- Kệ mẹ tôi Anh rút trước đi (11, 153)

Theo khảo sát, chúng tôi thấy ở Chu Lai một điều, ông xây dựng nhân vậtngười lính đến từ Trung Bộ rất ít và cũng không cho nhân vật thể hiện rõ ngônngữ của mình, khác với ngôn ngữ nhân vật người lính Bắc Bộ và Nam Bộ

Qua khảo sát hai tác phẩm cụ thể, chúng tôi nhận thấy có sự giống nhaugiữa địa phương Trung Bộ và Nam Bộ ở một số từ ngữ

Thí dụ như từ xưng hô : đứa, con, thằng, bay…

Những từ : kệ, hè, mần…thường được sử dụng ở miền Trung nhưng trong

tác phẩm của mình Chu Lai để cho các từ ngữ này được sử dụng ở cả hai miền

Rổn nghÓnh đầu về phía người đó, hỏi chú Một :

- Ai vậy hè ! Coi bộ phách lối dữ quá ta !

- Tác chiến tỉnh đội đó ! kệ họ (12, 178)

Trong Nắng đồng bằng thì nhân vật chú Một và Rổn - cậu bé liên lạc đến

từ Nam Bộ nhưng hai nhân vật này cũng sử dụng các từ ngữ của địa phương

Trung Bộ hay dùng như: Kệ, hè…

Trang 34

c Địa phương Nam Bộ

Có thể nói rằng, mười năm lăn lộn và chiến đấu ở một đơn vị đặc côngnơi chiến trường Nam Bộ đã đưa đến cho Chu Lai nhiều trải nghiệm và một vốnsống thực tế khá phong phú Vì thế ông đã thông hiểu thói quen cũng như ngônngữ của người dân nơi đây, từ đó ông sử dụng một cách thành thạo tiếng nói củangười Nam Bộ có chọn lọc và nâng cao vào trong những tác phẩm của mình.Đặc biệt, có khi một từ địa phương Nam Bộ đặt vào cửa miệng của nhân vật đãtạo ra cái duyên, cái đặc biệt, cái riêng của nhân vật Chu Lai Điều Chu Laimang đến cho người đọc khi ông dùng những từ địa phương Nam Bộ là khôngkhí Nam Bộ, không gian mà câu chuyện xảy ra Chúng ta thấy rằng, đa phầnnhững truyện có sự xuất hiện của các từ địa phương đều có bối cảnh ở Nam Bộ

Đó là chuyện về những gì xảy ra ở trong hay bên lề của cuộc chiến ác liệt củanhân dân ta Đó là cái cảm giác về một vùng đất với những con người dũng cảmnhưng cũng rất ngang tàn

Điều đáng nói là mật độ từ địa phương mà Chu Lai cho xuất hiện trongnhưng truyện ngắn của ông không hề làm cho người đọc, đặc biệt là những độcgiả ở những địa phương khác cảm thấy khó hiểu và khó chịu khi thưởng thứccác tác phẩm của ông Nếu như Nguyễn Minh Châu trong sáng tác của mìnhthường sử dụng địa phương Trung Bộ, Lê Lựu thường khai thác địa phương Bắc

Bộ thì đến Chu Lai trong việc sử dụng vốn từ địa phương, thì địa phương Nam

Bộ được ông sử dụng nhiều nhất và khai thác thành công nhất Thể hiện trongtác phẩm ta thường thấy:

Từ xưng hô : Mầy, tao, má, tụi…

Từ tình thái : nghen, hoài, nghe, nhen…

Động từ, tính từ: thiệt, nhậu, giỡn, làm bậy, xài.

Danh từ : bay

Thí dụ :Đám người òa lên, cười nói ồn ào !

Trang 35

- Dóc tổ cha nội ! Bộ nó là gộc thiệt sao mà ông ró ráy hoài vậy?

- Thiệt chớ! Anh ta vươn cổ lên cãi.

- Vậy nó có bá vai, hôn miệng ông không?

- Giỡn hoài (11, 69)

Lời Sáu Hóa khi phục kích bắt thằng Xầm

- Còn thằng Mĩ… Nó không ra hè ! (12, 212)

Lời của Ba Thành khi nghe Tám Tính nói về chuyện vợ con;

- Cha trời ! Thăng Tám cọp coi ra tu nhân tích đức dữ ! Vẫn Ba Thành

sồn sồn

- Thế con cái đi đâu hết ? (11, 293)

Ba Sương khi nói với Hai Hùng

- Em về trước đây Bữa nào có dịp ghé qua cứ tụi em chơi Mấy anh bên

đó có ghé cả chỉ trừ anh Chỉ cách nhau có một con suối cạn mà…Nhen ! (11,

Lời của Út “cò ngẳng” khi nói với Linh:

- Ngoong ! – Út “cò ngẳng” vỗ hai tay vào nhau, mặt lộ vẻ cực kì khoái

trá - Mình tìm thấy rồi (12, 167)

Lời Sáu Hóa

- Nè ! cấp tớ là tiểu đoàn bậc phó, giống như cái gì ngoải ?

- Thượng úy ! Bằng đại úy hoặc thiếu tá bên nó !

Sáu Hóa tẽn mặt ra một lúc rồi cười lỏn lẽn:

- Dữ hung ! Đại úy Sáu còi ! Ngoong quá ta hé ! (12, 116)

Trang 36

Đọc tác phẩm Nắng đồng bằng, ta đều biết Út “cò ngẳng” và Kiêu là

người Bắc Bộ còn Sáu Hóa là người Nam Bộ nhưng các nhân vật này sử dụng

các từ địa phương giống nhau: nè, dữ , ngoong, nghen…

Trong khảo sát, chúng tôi còn nhận thấy, trong cách xưng hô của ngườiNam Bộ rất khác

Trước tên gọi luôn có “thứ” (con thứ mấy trong nhà), nên khi gọi tên là

biết người đó là con thứ mấy trong gia đình Những người lính khi hoạt động ởđịa bàn Nam Bộ đều sử dụng cách gọi này: Mười Đảnh, Tám Linh, Hai Hùng,

Ba Thành, Hai Thanh, Năm Thúy…

Việc sử dụng từ ngữ mang sắc thái địa phương còn ở dạng y nguyên như

nó vốn có của các nhân vật người lính trong tác phẩm của Chu Lai đã tạo ra mộtchất thơ, mộc mạc thấm đượm màu sắc dân gian của ngôn ngữ Chu Lai

2.1.2.3 Sử dụng từ xưng hô với tần số xuất hiện cao

a Khái niệm từ xưng hô

Từ xưng hô có nhiều định nghĩa khác nhau như của: Nguyễn Văn Chiến,

Đỗ Hữu Châu… nhưng ta có thể hiểu một cách khái quát: từ xưng hô là những

từ thuộc nhiều lớp từ loại của ngôn ngữ được dùng để xưng (tự quy chiếu) và hô(quy chiếu vào người khác) trong giao tiếp

b Các lớp từ xưng hô trong ngôn ngữ tiểu thuyết Chu Lai

* Đại từ nhân xưng

Trong tiếng Việt thì đại từ nhân xưng cực kì quan trọng, thể hiện thái độchủ quan của người nói rất lớn

Tùy theo sự xác định quan hệ mà xác định cách xưng hô khác nhau để bảođảm tính lịch sự trong giao tiếp Đặc biệt, người Việt có thói quen xưng khiêm

hô tôn và danh từ thân tộc được sử dụng một cách khá triệt để trong xưng hôngoài xã hội

Khái niệm đại từ nhân xưng, theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong “Bài tập

ngữ pháp Tiếng Việt”, đại từ nhân xưng là những từ dùng để xưng

Trang 37

hô trong giao tiếp Tùy theo vai giao tiếp, ta có các ngôi thứnhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba Gồm các đại từ đích thực sau:

Ngôi thứ nhất, số ít (người nói) Tôi, tao, tớ, mình

Ngôi thứ nhất số nhiều Chúng tôi, chúng tao, chúng tớ, chúng mình,

mình, bọn mìnhNgôi thứ hai, số ít (người nghe) Mày, mi

Ngôi thứ hai, số nhiều Chúng mày, chúng bay, bay, tụi bay, tụi màyNgôi thứ ba, số ít (người được nói đến) Nó, hắn, y (cô ta, anh ta, ông ta, bà ta…)

Ngôi thứ ba, số nhiều Chúng nó, tụi nó, họ, chúng, bọn nó

Dựa vào lý thuyết này, chúng tôi đi vào khảo sát ngôn ngữ tiểu thuyết

Chu Lai trong hai tác phẩm Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng Chúng tôi thấy

rằng, trong tiểu thuyết Chu Lai, xuất hiện khá nhiều đại từ nhân xưng thuộc cả

lớp từ văn hoá: Tôi, tao, ta, mày, mình, chúng tôi chúng ta, chúng mày… và cả

từ địa phương cũng được xuất hiện như: Mầy, bay, tụi bay…

Khảo sát cụ thể vào hai cuốn tiểu thuyết Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng, ta thấy nhân vật đã sử dụng một số lượng đại từ nhân xưng khá lớn với tần

số xuất hiện như sau:

Khảo sát tác phẩm Ăn mày dĩ vãng.

Trang 38

Chúng nó 6 7,1

Theo điều tra khả sát, việc sử dụng đại từ nhân xưng trong hai tiểu thuyết

của Chu Lai Nắng đồng bằng và Ăn mày dĩ vãng, chúng tôi nhận thấy, đại từ nhân xưng tôi thường chiếm tỷ lệ cao xuất hiện thường xuyên trong ngôn ngữ

của nhân vật

Qua khảo sát Nắng đồng bằng, ta thấy: Đại từ “tôi” được sử dụng nhiều nhất với 40 lần xuất hiện chiếm tỷ lệ 36,6% tiếp đó đại từ “tao” cũng xuất hiện

với tần số cao với 32 lần xuất hiện chiếm tỷ lệ 29,4% Đai từ xuất hiện ít nhất là

chúng nó chỉ xuất hiện 6 lần trong tác phẩm và chiếm tỷ lệ 5,5%

Trong tác phẩm Ăn mày dĩ vãng, chúng tôi nhận thấy: Đại từ nhân xưng xuất hiện với tần số lớn nhất là đại từ tôi với 36 lần xuất hiện chiếm 21,6%, tiếp

đó đại từ tao xuất hiện 16 lần chiếm 19,0%, đại từ xuất hiện ít nhất là chúng nócó 6 lần xuất hiện chiếm 7,1%.

Qua khảo sát, đại từ tôi được sử dụng nhiều hơn cả.

Xưng hô theo cặp : Tôi/anh, tôi/em, tôi/ông, tôi/ tên riêng, tôi/chị.

Tiếp đó, đại từ anh cũng chiếm số lượng lớn, ít nhất là đại từ chúng nó,xuất hiện 6 lần trong xưng hô của nhân vật.

Thí dụ:

Đoạn thoại giữa Tám Linh và Út “cò ngẳng”:

- Anh khuyên tôi Tám Linh như bị nắng soi vào gáy.

- Mình có thể chứng thực cho cậu.

- Với danh nghĩa bác sỹ trạm xá trưởng

- Cậu hơi tò mò đấy (12, 166)

Nhưng ở đoạn tiếp theo đoạn này thì nhân vật Út “cò ngẳng” lại có cách xưng hô khác Từ mình chuyển sang tôi.

Cậu cũng đừng nổi nóng kiểu trèo me, trèo sấu Hà Nội nữa nghen ! Tôi

có thể lại trong tích tắc làm cái xương của cậu rời nhau ra được đấy (12, 167)

Trang 39

Cùng hai nhân vật đối thoại vối nhau trong từng hoàn cảnh thời điểm khácnhau thì có cách xưng hô khác nhau.

Tương tự như vậy cách xưng hô giữa Ba Sương và Hai Hùng

Hai Hùng ban đầu xưng : Tôi/cô.

Khi đã thân thiết xưng : Anh/ em.

Khi hai người hiểu lầm nhau : Tôi/em, tôi/đồng chí.

Sau này gần 20 năm gặp lại : Tôi/bà.

Rõ ràng, cách xưng hô biến đổi rất linh hoạt, phù hợp trong từng hoàncảnh khác nhau trong đối thoại của nhân vật

Đoạn thoại giữa Thúy và Kiêu khi Kiêu có ý định rủ Thúy bỏ trốn

- Khốn nạn ! Kiêu rít qua kẽ răng và giơ tay định tát.

Thúy gạt mạnh tay hắn ra khiến Kiêu mất đà ngã giụi vào gốc cây Chị nhặt chiếc nón khinh bỉ nói :

- Tôi cũng đã có ít ngày ở biệt động thành đó đồng chí đại đội phó ạ !

(12, 288)

Năm Thúy ban đầu khi Kiêu chưa lộ mặt là tên phản hồi thì chị xưng là:

Thúy/anh Kiêu hoặc anh Chín.

Còn khi Kiêu lộ mặt thì chị xưng: Tôi/đồng chí đại đội phó.

*Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, các nhân vật người lính đối thoại vớinhau không có sự tương ứng

Đặc biệt, cặp đại từ này không chỉ dùng cho những người cùng địa vị mà

có thể giữa những người lớn tuổi và ít tuổi hơn, hoặc địa vị khác nhau

Như giữa nhân vật Ba Thành và Hai Hùng, Tuấn, với đoạn thoại sau:

Ngày đăng: 08/09/2021, 01:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, NXBĐH và THCN, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXBĐH và THCN
Năm: 1985
7. Cao Xuân Hải, Các hành động nhân vật qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai, Luận văn thạc sỹ Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh, Nghệ An, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hành động nhân vật qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai
Tác giả: Cao Xuân Hải
Nhà XB: Trường Đại học Vinh
Năm: 2004
8. Lê Bá Hán (chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXBĐHQG, HN, 2000 9. Nguyễn Thúy Huệ, Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Chu Lai, Luận văn thạc sỹ Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh, NA, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2000
18. Lê Thị Luyến, Sự thể hiện người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Chu Lai, Luận văn thạc sỹ Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh, 2006 19. Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều, NXBGD, HN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thể hiện người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Chu Lai
Tác giả: Lê Thị Luyến
Nhà XB: Trường Đại học Vinh
Năm: 2006
20. Nhiều tác giả, Trao đổi về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Báo Văn nghệ, số 29, ngày 18.7.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 1999
21. Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB ĐH và THCN, HN, 1980 22. Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, 2, NXB KHXH, Hà Nội, 1963, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB ĐH và THCN
Năm: 1980
23. Lê Xuân Thại, Các kiểu cấu trúc C – V trong tiếng Việt, NXB Ngôn ngữ, 1978, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kiểu cấu trúc C – V trong tiếng Việt
Tác giả: Lê Xuân Thại
Nhà XB: NXB Ngôn ngữ
Năm: 1978
24. Bùi Việt Thắng, Bình luận truyện ngắn, NXB Văn học, HN, 1999 25. Bùi Việt Thắng, Phản ánh chân thực một hiện thực cách mạng,TC Vănnghệ quân đội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận truyện ngắn
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
26. Phạm Đình Trọng, Đóng góp của người đi tìm dĩ vãng, Báo Văn nghệ, số 7, ngày 19.2.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng góp của người đi tìm dĩ vãng
Tác giả: Phạm Đình Trọng
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 1995
27. Xuân Thiều, Những trang viết trầm tĩnh và sâu sắc về anh bộ đội Cụ Hồ, Báo Văn nghệ quân đội, số 7, ngày 21.5.1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trang viết trầm tĩnh và sâu sắc về anh bộ đội Cụ Hồ
Tác giả: Xuân Thiều
Nhà XB: Báo Văn nghệ quân đội
Năm: 1994
28. Lý Hoài Thu, Tập truyện ngắn Phố nhà binh, TCVN QĐ, số 7, 1993 29. Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB, Đà Nẵng, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập truyện ngắn Phố nhà binh
Tác giả: Lý Hoài Thu
Nhà XB: TCVN QĐ
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w