Những biểu tượng này có thể được tạo nên từ các loại hình nghệ thuậtkhác nhau: Hội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh, sân khấu… Điều này cũngcó nghĩa là biểu tượng có thể được hình thà
Trang 1CHƯƠNG 1: KHẢO SÁT, THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI NGUỒN GỐC CỦA BIỂU TƯỢNG SÓNG ĐÔI TRONG CA DAO GIAO DUYÊN XỨ NGHỆ 1.1 Ca dao và ca dao giao duyên xứ Nghệ
1.1.1 Ca dao
Khái niệm ca dao được nhiều tác giả bàn đến trong nhiều công trình
nghiên cứu khoa học Song cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong quan
niệm Trước đây, " người ta gọi ca dao là phong dao, vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại" [ 27, Tr 40].
Nhưng dần dần, cách gọi này ít được sử dụng, nhường chỗ cho từ ca dao:
"Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Theo cách hiểu thông thường thì
ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể" bẻ " thành những làn điệu dân ca"
[ 19, Tr 436]
Như vậy, giữa ca dao và dân ca không có ranh giới rõ rệt Sự phân biệtgiữa ca dao và dân ca chỉ là chỗ khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đếnnhững lời thơ dân gian; còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả làn điệu,những thể thức hát nhất định
Theo tác giả Vũ Ngọc Phan, "Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca" [ 27, Tr
40] Định nghĩa này xem ca dao là một thuật ngữ, chỉ một thể thơ dân gian Ông
cho rằng, nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó
được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nhất định hay
ở những địa phương nhất định Dân ca thường mang tính chất địa phương,
không như ca dao là những bài ít có địa phương tính, dù nội dung ca dao có nói
về một địa phương nào thì cũng vẫn được phổ biến rộng rãi
Trong khi đó, tác giả Nguyễn Xuân Kính lại cho rằng: Ca dao được hìnhthành từ dân ca Khi nói đến dân ca, người ta thường nghĩ đến cả làn điệu vớinhững thể thức hát nhất định Như vậy không có nghĩa là toàn bộ hệ thốngnhững câu hát của một loại dân ca nào đó (như hát trống quân, hát quan họ, hát
Trang 2ghẹo, hát phường vải,…) cứ tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi,… thì
sẽ đều là ca dao Từ cách lập luận đó ông đi đến định nghĩa:
"Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách" [ 20, Tr 79].
Tuy có nhiều cách hiểu và mỗi cách hiểu là một cách tiếp cận khác nhau,nhưng ở đây chúng tôi không bàn về khái niệm ca dao mà chỉ điểm qua các ýkiến để đi đến thống nhất theo một quan niệm nhất định, làm cơ sở nghiên cứu.Theo đó, chúng tôi áp dụng định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán- Trần Đình
Sử- Nguyễn Khắc Phi: "Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu" [ 15, Tr 31].
1.1.2 Ca dao giao duyên xứ nghệ
Văn học dân gian xứ Nghệ có nhiều thể loại khác nhau, mỗi thể loại lạimang những đặc trưng riêng làm cho vườn hoa văn học thêm phong phú, tỏangát hương thơm Tuy nhiên, không phải thể loại nào cũng phát triển như nhau
mà ở Nghệ Tĩnh có một số thể loại văn học dân gian phát triển mạnh, đặc biệt làthơ ca dân gian như hát ví, hát giặm… Điều này cũng dễ hiểu, bởi:
" Người xứ Nghệ thích thơ ca, thích nhạc dân gian, có thể nói còn hơn cả thích kể chuyện Cho nên thơ ca, nhạc dân gian Nghệ Tĩnh có thể ví như một dòng sông bắt nguồn từ những mạch sâu kín qua nhiều thời đại, mang theo tâm
tư, tình cảm, ước mơ con người Việt Nam trên mảnh đất này Nó không ngừng tỏa khí mát bồi bổ mạch hào hứng cho quân chúng cần lao ở các địa phương.
Nó cũng không ngừng đem nước và mầu mỡ đến tưới tắm cho nền thơ ca nhạc dân tộc Chính nguồn thơ ca nhạc dân gian này đã sản sinh không ngớt những nghệ sĩ bình dân nổi tiếng được nhân dân từng vùng, từng thời ca ngợi; đã góp phần bồi dưỡng nhiều tài năng lỗi lạc của dân tộc" [ 10, Tr 252]
Giống với một số địa phương khác, Nghệ Tĩnh có kho tàng ca dao riêngcủa mình " Ca dao xứ Nghệ " là cách nói để chỉ những bài ca dao sưu tầm ở xứNghệ( bao gồm cả nghệ An và Hà Tĩnh), kể cả những câu ca dao phổ biến trongnước mà người Nghệ vẫn quen sử dụng Có thể nói, kho tàng ca dao xứ Nghệ có
Trang 3rất nhiều bài ca dao cổ, nhiều bài ca dao của những vùng khác nhau do nhiềuđời, nhiều nguồn để lại Những bài ca dao như thế đã được thời gian sàng lọc,gọt giũa cho phù hợp với cái" gu" của người Nghệ, mang hơi thở của con ngườitrên mảnh đất Hồng Lam này.
Về hình thức, ca dao xứ Nghệ cũng không khác mấy so với ca dao của cảnước Nó cũng sử dụng các thể lục bát, lục bát biến thể, trường đoản cú và rất ítthể song thất lục bát… Có khác chăng là nó có sử dụng phần nào lối hát ví, hátgiặm, ít thấy ở ca dao nhiều nơi khác Ca dao xứ Nghệ, vừa mang phong cách
địa phương độc đáo, vừa tình tứ, sâu lắng, thấm đẫm tâm hồn dân tộc: " Cái tinh thần chung của ca dao xứ Nghệ là ham sống, vui vẻ tranh đấu, lạc quan, tin tưởng vào sức lực của chình mình, tin tưởng vào thiên nhiên, tin tưởng vào tương lai và rất tế nhị, mượt mà, dồi dào tình cảm" [ 14, Tr 14]
Nó không những thể hiện bản sắc của nhân dân trong vùng, mà kỳ diệuthay, nó đã thầm lặng giúp đỡ bao nhiêu nhà thơ cổ điển ở xứ Nghệ xây dựngnên những tác phẩm bất hủ, làm sáng rực lâu đài văn học dân tộc như Nguyễn
Du với Truyện Kiều, Nguyễn Huy Tự với truyện Hoa Tiên, Hồ Xuân Hương với
bao bài thơ độc đáo, táo bạo, Nguyễn Công Trứ với những vần thơ hào phóng,lưu loát bằng thể hát nó và bao nhà thơ nhà văn khác nữa ở thời kì cận- hiện đại
Ca dao xứ Nghệ bao gồm nhiều mảng đề tài khác nhau Đó là những bài
ca dao về đặc điểm địa phương, về lao động sản xuất, về thói hư tật xấu haynhững hủ tục của xã hội phong kiến và một mảng quan trọng, không thể thiếu là
ca dao giao duyên
Tình yêu là thứ đạt đến độ cao nhất, sâu sắc và thiêng liêng nhất của cảmxúc Chẳng thế mà dù ở miền nào thì ca dao tình yêu cũng chiếm tỉ lệ lớn nhất.Trong kho tàng ca dao xứ Nghệ có 1894 bài ca dao giao duyên, chiếm 45% [16,
Tr 17 ] Bộ phận ca dao giao duyên là tiếng nói từ trái tim của nam nữ thanhniên xứ Nghệ- những người đang rạo rực, say đắm trong tình yêu Toàn bộ cadao giao duyên xứ Nghệ giống như một vở kịch thơ dài với trăm hồi ngàn cảnhkhác nhau, góp phần làm phong phú thêm kho tàng ca dao Nghệ và giúp ta hiểusâu hơn về cuộc sống cũng như tâm hồn con người nơi đây
Trang 41.2 Biểu tượng và biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên xứ Nghệ
1.2.1 Biểu tượng và biểu tượng sóng đôi
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học [ 15 ], khái niệm biểu tượng được
giới thuyết như sau:
" Trong triết học và tâm lí học, biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta chấm dứt.
Biểu tượng như là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng, nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng Cho nên, trong nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời" [ 15, Tr 23+ 24].
Hay trong Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt, Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã đưa ra cách hiểu như sau về biểu tượng: " Biểu tượng
là dạng thức dùng một hình ảnh cụ thể để nói lên một ý niệm trừu tượng Đặc điểm nổi bật của biểu tượng là tính quy ước, thể hiện ở nhiều mức độ tùy từng loại biểu tượng cụ thể" [ 2 ].
Hoặc trong Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính cho rằng:
"Biểu tượng được hình thành trong một quá trình lâu dài, có tính ước lệ
và bền vững Biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được Biểu tượng là vật môi giới giúp ta tri giác cái bất khả tri giác Biểu tượng được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng, được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài Nghĩa của biểu tượng phong phú, nhiều tầng bậc, ẩn kín bên trong nhiều khi khó nắm bắt"
[ 20, Tr 309 + 310 ]
Trang 5Biểu tượng nghệ thuật bao gồm mọi dạng thức hình ảnh tĩnh cũng nhưđộng Những biểu tượng này có thể được tạo nên từ các loại hình nghệ thuậtkhác nhau: Hội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh, sân khấu… Điều này cũng
có nghĩa là biểu tượng có thể được hình thành bởi những chất liệu khác nhau:Màu sắc, đường nét, hình khối, điệu bộ, động tác của con người… Trong văn
học, chất liệu để xây dựng nên biểu tượng là ngôn ngữ Với ca dao, " không có ngôn ngữ thì không có biểu tượng" (Bùi Mạnh Nhị).
Biểu tượng trong ca dao là một loại biểu tượng nghệ thuật, được xây dựngbằng ngôn từ với những quy ước của cộng đồng Thế giới biểu tượng này vừamang những đặc điểm của biểu tượng nói chung, vừa mang những nét riêng đặcthù của nó do nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật thi ca dân gian qui định
Có thể khẳng định, biểu tượng ca dao là sự mã hóa các giá trị tinh thầncủa loài người theo suốt chiều dài thời gian Ở đó, những người đi sau khám phá
và tri nhận được lối tư duy và những giá trị tinh thần của những người đi trước,đến lượt họ lại tiếp tục đắp bồi thêm các lớp nghĩa mới
Như vậy, biểu tượng luôn chứa đựng trong mình những giá trị đã đượcvĩnh hằng hóa, song không vì thế mà nó trở thành nơi tồn đọng những giá trị cũmòn, nơi giam giữ các tầng ý nghĩ trong sự xơ cứng Trái lại, biểu tượng là mộtthực thể sống động, luôn luôn có sự luân chuyển nghĩa Nó được nuôi dưỡngbằng những lối tư duy, những tưởng tượng phong phú của con người Đời sốngcủa con người không bao giờ bớt phức tạp và biểu tượng vì thế cũng không baogiờ đơn giản hơn Những phức tạp của cuộc sống dội vào tâm tư con ngườinhững suy tưởng không cùng, để rồi từ đó chúng lại được dồn nén vào hệ thốngbiểu tượng Đó là con đường tất yếu của đời sống và cũng là xu hướng tồn tại,phát triển tất yếu của biểu tượng
Các biểu tượng cũng được hình thành theo những cách cấu tạo khác nhau,phổ biến trong ca dao là 2 loại: biểu tượng đơn và biểu tượng đôi Biểu tượngđơn là biểu tượng chỉ bao gồm một sự vật, một hình ảnh duy nhất Chẳng hạn:
- Đừng lo phận áo không tay Trời kia ngó lại anh may mất rồi.
Trang 6- Mình em như tấm lụa đào Còn nguyên chẳng xé, vuông nào ai hay.
Biểu tượng sóng đôi ( biểu tượng đôi, biểu tượng cặp đôi) là biểu tượng được tạo thành bởi hai sự vật, hai hình ảnh đi song song với nhau, liên kết bền
vững trong nhiều bài ca dao Cá - nước, loan - phượng, dâu - tằm, bèo - sen, bạc
- vàng, trầu - cau, trăng - sao, rồng - mưa, ong - bướm, thuyền - bến, kim - chỉ, gương - lược, cá - sông, cây đa - bến cũ - con đò, cúc - khuy, là những biểu
tượng sóng đôi, mang những giá trị thẩm mĩ nhất định, tạo nên lối nói riêng cho thể loại trữ tình này
1.2.2 Biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên xứ Nghệ
Đến với kho tàng ca dao Việt Nam, có lẽ khó ai quên được những hình
ảnh sóng đôi như mận- đào, bướm- hoa, trúc- mai, thuyền- bến, rồng- mây, gương- lược, ngọc- vàng, đũa ngọc- mâm thau, rồng- mây, hồ- sen Chúng xuất
hiện trong nhiều bài ca khác nhau:
- Bây giờ rồng mới gặp mây Sao rồng chẳng thở với mây vài lời.
- Bấy lâu còn lạ chưa quen Hỏi hồ đã có hoa sen chưa hồ
Hồ còn leo lẻo nước trong Bấy lâu chỉ dốc một lòng đợi sen.
Nhưng những biểu tượng sóng đôi này không chỉ xuất hiện trong kho tàng
ca dao người Việt mà ca dao mỗi vùng miền khác nhau đều sử dụng, đáng chú ý
là kho tàng ca dao xứ Nghệ với mảng ca dao tình yêu
Nghệ Tĩnh là cả nước thu hẹp lại Theo đó, văn học dân gian xứ Nghệ làmột bộ phận quan trọng làm nên những giá trị tinh thần vô cùng quý báu củanước Việt nghìn năm văn hiến:
" Hình như trên đất nước ta có loại hình văn hóa nghệ thuật gì, phạm vi
đề tài ra sao, nội dung phản ánh những vấn đề gì với mức độ ra sao, bề rộng, bề sâu của nó, thì văn hóa văn nghệ dân gian ở xứ Nghệ cũng có đủ các loại hình, với bấy nhiêu đề tài, nội dung và mức độ phản ánh như vậy Hơn nữa nó lại
Trang 7mang một sắc thái riêng- sắc thái xứ Nghệ…" [ 13, 9] Nghệ Tĩnh từ miền ngược
đến miền xuôi, thời này qua thời khác, cha ông ta đã để lại một gia tài bất tận,một kho văn học dân gian vô cùng phong phú Cụ thể đó là kho tàng ca dao xứNghệ nhiều màu, nhiều vẻ, nhiều dáng điệu Nó cũng bao gồm những thể thơ,những phương thức, những yếu tố như trong ca dao người Việt Bởi thế, trong cadao giao duyên xứ Nghệ, nhân dân đã sử dụng không ít những biểu tượng sóngđôi để diễn tả tâm tư, tình cảm của mình
Đó có thể là những biểu tượng mang tính truyền thống biểu trưng cho
những nhân vật khác nhau trong tình yêu nam nữ: thuyền - bến, bướm - hoa, loan - phượng, cúc - khuy, bút - nghiên, Kim Trọng - Thúy Kiều, Vân Tiên - Nguyệt nga, mây - rồng, dâu - tằm, trúc - mai…Vì ca dao xứ Nghệ là một bộ
phận của ca dao Việt Nam nên nhiều biểu tượng ăn sâu vào tâm thức người dânbao thế hệ, được nhân dân lao động xứ Nghệ đưa vào trong sáng tác của mìnhmột cách phổ biến, rất tình tứ, bay bổng, lãng mạn:
- Chờ em như bướm chờ hoa Chờ duyên chờ phận giang ca đến giừ.
Có lẽ không ít người đặt câu hỏi: những biểu tượng trên có gì khác so với
ca dao người Việt? Điểm khác ở đây là ngoài những biểu tượng truyền thống,người dân Nghệ còn mượn ngay những sự vật, sự việc, hiện tượng gắn liền vớicuộc sống khó khăn, khắc nghiệt, lam lũ trên quê hương mình để đưa vào trong
Trang 8mỗi bài ca: ách - cày, trâu( bừa)- chạc mũi, cải - dưa, cà- dưa, nghé - trâu, mật ong - khoai mài, mướp chột - kê tàn, lá hẹ - lá gừng Dù tỏ tình hay giãi bày
những cung bậc khác nhau trong tình yêu thì người Nghệ vẫn viện dẫn nhữngbiểu tượng giản đơn, bình thường, thậm chí tưởng như tầm thường Nó không có
vẻ mĩ miều, mượt mà như xứ Bắc hay nhiều vùng miền khác, nhưng lại chânthật, sâu sắc Những biểu tượng đó thật bình dị, mộc mạc như chính cuộc sốngcon người nơi đây:
- Ai làm cho vịt bỏ đồng Cho cuông( công) bỏ rú, cho rồng bỏ mưa
( Câu 20/ 220)
- Mật ong bấm với khoai mài
…Trái cà bấm với cục dưa trong nồi
( Câu 140/ 237)Tóm lại, có thể thấy, những biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên
xứ Nghệ vừa mang đặc trưng chung cuả biểu tượng sóng đôi trong ca dao ViệtNam, vừa mang sắc thái địa phương độc đáo Trên mảnh đất khắc nghiệt nắnglắm mưa nhiều, gió Lào cát trắng này, cuộc sống nông nghiệp là chủ yếu củangười dân gặp không ít khó khăn, vất vả Tuy vậy, họ vẫn luôn lạc quan và bằng
sự sáng tạo của mình, những sự vật, hiện tượng trong đời sống hàng ngày đãđược đưa vào ca dao một cách độc đáo Cũng nhờ đó mà ca dao giao duyên xứNghệ trở nên ấn tượng, hấp dẫn hơn nhưng vẫn giữ được nét riêng của nó
1.3 Khảo sát, thống kê, phân loại
1.3.1 khảo sát thống kê
Trang 9Hệ thống biểu tượng sóng đôi trong ca dao người Việt nói chung và cadao giao duyên xứ Nghệ nói riêng rất đa dạng, phong phú Theo Nguyễn Thị
Ngọc Điệp, trong 286 biểu tượng trong ca dao người Việt thì số biểu tượng sóng đôi đã chiếm gần phân nửa, gồm 114/ 286 biểu tượng [ 2, Tr 53 ] Điều này cho
thấy biểu tượng sóng đôi có vị trí, vai trò không nhỏ trong việc giãi bày tâm tư,tình cảm của nhân dân lao động Nó góp phần làm cho mỗi bài ca dao thêm hay,thêm đẹp, giàu sức biểu cảm, tứ độc đáo mà ý tình cũng sâu sắc, thiết tha
Nếu ca dao người Việt sử dụng biểu tượng sóng đôi gần phân nửa trongnhững bài ca của mình, thì ca dao xứ Nghệ cũng không thua kém Theo thống kê
của chúng tôi, trong 1894 bài ca dao giao duyên ở xứ Nghệ, có tới 373 bài xuất hiện biểu tượng sóng đôi (chiếm 19,69 %), với 206 biểu tượng, tần số lặp lại là
475 lần.
Nhìn vào số liệu trên có thể thấy, mặc dù ca dao giao duyên xứ Nghệ chỉ
là một mảng nhỏ của ca dao người Việt, nhưng tần số biểu tượng sóng đôi xuất
hiện nhiều hơn hẳn: Người Việt chỉ có 114 biểu tượng sóng đôi, trong khi đó ca dao giao duyên xứ Nghệ có tới 206 biểu tượng sóng đôi (gấp 1,8 lần) Điều này
một lần nữa khẳng định sự phong phú, đa dạng của ca dao giao duyên xứ Nghệ
và khả năng tư duy, sự vận dụng tài tình hiện thực cuộc sống vào trong sáng táccủa người dân Nghệ
1.3.2 Phân loại
Hệ thống biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên xứ Nghệ tồn tạithành các tiểu loại, các hệ thống nhỏ dựa trên các tiêu chí khác nhau Nếu dựavào dạng hình ảnh (chất liệu để xây dựng nên biểu tượng là cái biểu đạt) có cácdạng: Biểu tượng sóng đôi tương đồng, biểu tượng sóng đôi đôi lập Nếu dựavào nguồn gốc hình thành nên biểu tượng có các tiểu loại: Biểu tượng sóng đôi
là các sự vật và hiện tượng tự nhiên, biểu tượng sóng đôi là các vật thể nhân tạo,biểu tượng sóng đôi là con người
Biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên xứ Nghệ rất phong phú, dựavào nguồn gốc hình thành nên các biểu tượng đó có thể phân thành những tiểuloại sau:
Trang 101.3.2.1 Biểu tượng sóng đôi là các sự vật, hiện tượng trong môi trường tự nhiên
Tiểu loại này có 109/ 206 biểu tượng sóng đôi( chiếm 52,91%) Tỉ lệ này trong ca dao người Việt là 166/ 286 biểu tượng, bao gồm cả biểu tượng đơn và
đôi [ 2 ] Trong 113 biểu tượng kể trên gồm các nhóm:
- Biểu tượng sóng đôi là hiện tượng tự nhiên: rồng - mây, trăng - sao, trăng - cuội, gió - mây, nước - non, sao hôm - sao mai, sông - nước, mây - mưa…
- Biểu tượng sóng đôi là thực vật: hoa lý - hoa lài, liễu - đào, cây - lá, trúc - mai, hòe - quế, dâu cỏ - dâu tàu, thiên lý - mẫu đơn, sen - bèo…
- Biểu tượng sóng đôi là động vật: tằm - nhện, nghé - trâu, bướm - tằm, phượng - loan, én - nhạn, cá - chim, rắn - rồng, phượng - rồng, trâu- bò, ong - bướm, quạ - cò…
1.3.2.2 Biểu tượng sóng đôi là các vật thể nhân tạo
Theo khảo sát của chúng tôi, tiểu loại này có 76/ 206 biểu tượng sóng đôi( chiếm 36,89%) ( Ca dao người Việt là 102/ 286 biểu tượng, gồm cả biểu tượng
đơn và đôi [2] ) Trong đó gồm:
- Biểu tượng sóng đôi là các đồ dùng cá nhân và dụng cụ sinh hoạt gia
đình: chăn - gối, nồi đồng - nồi đất, quạt - lài, cửa - then, kim - chỉ, nút - khuy, bát sứ - bát đàn, khóa - rương, bút - nghiên, màn - chiếu, sáo - nhị, sách - bìa…
- Biểu tượng sóng đôi là các công cụ, phương tiện sản xuất: ách - cày, thuyền - bến, ván - đò, cuốc - thuổng, sào - nước, thuyền chài - lưới đăng, bừa - chạc mũi…
Biểu tượng sóng đôi là các công trình kiến trúc: chợ đình, nhà ngói nhà tranh, sông - cầu, cầu ván - cầu tre, giếng - bàu…
Biểu tượng sóng đôi liên quan tới ẩm thực: cơm canh, rượu nem, mật ong - khoai mài, trầu - rượu, trầu - thuốc…
1.3.2.3 Biểu tượng sóng đôi là con người
Trang 11Tiểu loại này ít hơn cả, chỉ có 21/ 206 biểu tượng sóng đôi( chiếm 10,20%) ( Ca dao người Việt là 18/ 286 biểu tượng, gồm cả biểu tượng đơn và
đôi) Trong tiểu loại này lại gồm có:
- Biểu tượng sóng đôi là các nhân vật lịcch sử, văn học, nghệ thuật: Kim Trọng - Thúy Kiều, Ngưu Lang - Chức Nữ, Ông Tơ - Bà Nguyệt, Tấn - Tần, Châu - Trần, Phạm Công - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Lưu Bình - Dương
một cách cụ thể, rõ nét trong bảng phân loại biểu tượng sóng đôi dưới đây
Bảng phân loại biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên xứ Nghệ
I: Biểu tượng sóng đôi là các sự vật, hiện tượng trong
môi trường tự nhiên
Nhóm biểu tượng Biểu tượng sóng đôi Số lần xuất hiện
Trang 12Cây cả bóng cao - cây cả lá thưa 1
Trang 13Cau già - cau hoa 1
Hoa lí - hoa chiêng chiểng 1
Trang 14Ong - bướm 3
Phượng hoàng - cây ngô đồng 1
II : Biểu tượng sóng đôi là các vật thể nhân tạo
Nhóm biểu tượng Biểu tượng sóng đôi Số lần xuất hiện
Đồ dùng cá nhân
và dụng cụ sinh
hoạt gia đình
Chăn - gốiNồi đồng - nồi đấtNồi đồng/ kiềng sắt - than lim
511
Trang 15131
Trang 163 Các công trình
kiến trúc
Chợ - đìnhCâu đối - đình
11
III: Biểu tượng sóng đôi là con người
Tiểu loại Biểu tượng sóng đôi
Bá Nha - cầmAnh hùng - thuyền quyên
3126
Trang 17Sơn Bá - Anh Đài 1
Thục nữ - anh đào/ trượng phu 1Các bộ phận
cơ thể người
Môi - răngRuột - gan
11Tổng: 50 lần/ 21biểu tượng
Nhận xét:
Nhìn vào bảng phân loại trên có thể thấy, biểu tượng sóng đôi trong cadao giao duyên xứ Nghệ muôn hình, muôn vẻ Tất cả các sự vật, hiện tượngtrong thế giới tự nhiên cũng như trong đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất củanhân dân đều được đưa vào trong ca dao Ngay cả những nhân vật trong các tácphẩm văn học cổ, nhờ trí tưởng tượng phong phú và cách vận dụng linh hoạtcũng được người Nghệ vận dụng vào thơ ca dân gian của mình, làm cho ca dao
xứ Nghệ vừa bình dị, mộc mạc, vừa đài các, sang trọng
Các biểu tượng sóng đôi được sử dụng hàng loạt, trong đó có một số biểu
tượng xuất hiện với tần số cao Tiêu biểu như: ong (bướm )- hoa (24 lần), cau (21 lần), liễu- đào (13 lần), thuyền- bến (14 lần), trúc- mai (10 lần), Kim Trọng- Thúy Kiều (7 lần), rồng- mây (9 lần)…
trầu-Trong một số trường hợp sự phân loại có tính chất tương đối Vì biểutượng sóng đôi gồm hai hình ảnh đi liền nhau, có khi hình ảnh này là một hìnhảnh về hiện tượng tự nhiên nhưng hình ảnh kia hình ảnh về vật thể nhân tạo hoặc
Trang 18con người Chẳng hạn: Tiên - rồng, cú - rồng, hạc - hương án, Bá Nha - cầm…Tuy nhiên người viết vẫn hi vọng rằng nó sẽ cung cấp cho chúng ta cái nhìn hệthống về các biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên xứ Nghệ.
1.4 Nguồn gốc của biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên
xứ Nghệ
Hệ thống biểu tượng sóng đôi trong ca dao xứ Nghệ đa dạng như chính bản thân cuộc sống- nguồn cội ban đầu đã sinh ra biểu tượng Theo nghiên cứu
bước đầu của chúng tôi, 206 biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên xứ
Nghệ được hình thành từ 3 nguồn chính: Biểu tượng sóng đôi có nguồn gốc từ tín ngưỡng, phong tục, tập quán; Biểu tượng sóng đôi có nguồn gốc từ văn học
cổ Việt Nam và văn học cổ Trung Quốc; Biểu tượng sóng đôi có nguồn gốc từ các sự vật, con vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày của nhân dân
1.4.1 Biểu tượng sóng đôi có nguồn gốc từ tín ngưỡng, phong tục, tập quán của nhân dân
Trước hết là biểu tượng trầu- cau xuất hiện 21 lần, trầu- thuốc (7 lần), trầu- vôi (3 lần)…có nguồn gốc từ tục ăn trầu, mời trầu, dùng trong giao tiếp,
hôn nhân, cúng tế…Hầu hết trong mọi công việc( hiếu hoặc hỉ) không thể thiếumiếng trầu Nó chính là khởi nguồn của mọi của mọi khởi nguồn Đặc biệt, biểu
tượng này xuất phát từ truyện cổ "Sự tích trầu cau" - một câu chuyện tình để nói
về sự thủy chung, son sắt, và khát vọng hạnh phúc lứa đôi của con người
-Bây giờ trầu lại gặp cau Cũng mong tu ở với nhau một nhà
Trang 19cúng vật tổ, tục xăm mình…) Đây chính là những con vật quý, được gọi là "tứ linh", bao gồm long - ly - quy - phượng Nó là biểu tượng cho sự tốt đẹp, may
mắn, thịnh vượng trong đời sống tinh thần của người Việt
Trong bài Rồng trong quan niệm phương Đông và phương Tây có viết:
" Yếu tố sông nước quan trọng với người phương Đông, vì vậy họ đã sáng tạo ra rồng với ý nghĩa đầu tiên là biểu tượng cho nước- sự phóng đãng, mùa màng bội thu Ở Trung Hoa xưa, rồng là thần linh bảo hộ bốn phương, có khả năng hô gió, gọi mưa, có thể đội sóng lật bể, gọi mây che mặt trời Đối với người Nhật, rồng là con vật chủ yếu trong những con vật lý tưởng Đối với người Triều Tiên, rồng là một trong bốn con vật siêu tự nhiên có phép lạ Nó là hiện thân của mọi sức di động, thay thế năng lực để tiến công, về mùa xuân nó bay lên trời, về mùa thu nó náu mình dưới nước sâu Đối với người Việt Nam, trong kí ức dân gian thần mưa và thần nước mang hình thái một con rồng to thường xuyên ra biển Đông hút nước mang vào đất liền tưới tắm cho đất đai Được xem là vua của tạo sinh động vật, rồng hay loan, phượng đều là biểu tượng của điềm lành, của sự may mắn và tốt đẹp".
Tiếp thu tinh hóa văn hóa của cha ông từ ngàn đời, ca dao xứ Nghệ cũng
sử dụng nhiều biểu tượng này với mong muốn thể hiện những khát vọng về mộtcuộc sống tốt đẹp, mưa thuận gió hòa, không còn cảnh lam lũ, đói kém trênmảnh đất Lam Hồng sỏi đá Đó còn là ước mơ về những điều may mắn, hạnhphúc, sự tương xứng trong tình yêu lứa đôi
Trang 20Biểu tượng cây đa - bến cũ - con đò gắn với tục thờ Thành Hoàng, thờ thần cây "Thần cây đa, ma cây gạo", gắn với thực tế cây đa cổ thụ là chứng nhân của biết bao kỉ niệm đối với mỗi người nơi làng quê Cây đa, bến đò là tín
hiệu nghệ thuật, là biểu tượng nghệ thuật gắn liền với quê hương đất nước từxưa đến nay Cây đa cổ thụ là biểu tượng về sự sinh tụ, trường thọ của cộngđồng, làng xã Cây đa vừa có ý nghĩa thực tiễn, vừa có ý nghĩa xã hội và tâm
linh cho nên nó là niềm hãnh diện của cả xóm làng: sợ ông thần phải sợ cây đa.
Còn bến nước( khi gắn với con đò thành bến đò), là cửa ngõ giao lưu của cộngđồng làng xóm với xã hội bên ngoài
Xa hơn thế, Cây đa, bến đò còn là biểu tượng cho tình yêu của các chàng
trai cô gái Đây chính là nơi chờ đợi, hẹn hò của lứa đôi trong những đêm trăng thơ mộng Cây đa trường tồn cùng thời gian và là biểu tượng cho tình yêu thủy chung, không bao giờ đổi thay Chẳng thế mà ca dao Việt Nam nói chung, ca dao giao duyên xứ Nghệ nói riêng đã sử dụng không ít biểu tượng này trong sáng tác của mình
- Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ, con đò khác đưa
( Kho tàng ca dao người Việt)
- Cây đa bến cũ năm xưa Chữ tình ta cũng đón đưa cho trọn đời
( Câu 195/ 244)
- Cây đa bến nước con đò Biết rằng bạn cũ còn chờ ta không
( Câu 196/ 244)
Biểu tượng xôi-gà gắn với tục thờ cúng ông bà tổ tiên của người dân Việt
nói chung và người Nghệ nói riêng:
- Ước chi em hóa ra xôi Anh như gà cộc lại ngồi lên trên
( Câu 1777/ 430)
Trang 21Nói tóm lại, các biểu tượng thuộc nhóm này đều có nền tảng văn hóa tinhthần bền vững của lịch sử - văn hóa - xã hội lâu đời, kết tinh trong nó nhiều giátrị văn hóa dân tộc.
1.4.2 Những biểu tượng sóng đôi có nguồn gốc từ văn học cổ Việt Nam
và văn học cổ Trung Quốc
Đầu tiên phải kể đến các biểu tượng bắt nguồn từ văn học cổ Việt Nam.Một số nhân vật trong các tác phẩm văn học cổ Việt Nam có sức phổ biến sâurộng trong quần chúng đã trở thành biểu tượng cho những con người, những
cảnh đời: Thúy Kiều- Kim Trọng (Truyện Kiều - Nguyễn Du), Vân Tiên- Nguyệt Nga (Truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu), Phạm Tải- Ngọc Hoa (Truyện thơ Nôm Phạm Tải- Ngọc Hoa), Phạm Công- Cúc Hoa (Truyện thơ Nôm Phạm Công- Cúc Hoa), Lưu Bình - Dương Lễ (Truyện thơ Nôm Lưu Bình-
Một số điển cố- biểu tượng vẫn giữ nguyên nghĩa gốc: Ngưu Lang- Chức
Nữ (xuất phát từ chuyện tình Ngưu- Chức); Châu- Trần (hai họ Châu - Trần thời xưa đời đời kết làm thông gia với nhau); Tấn- Tần (chuyện năm đời liền con
Trang 22cháu của vua Tấn, vua Tần được cưới gả cho nhau); Sơn Bá- Anh Đài (câu
chuyện tình giữa Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài) Hay hàng loạt các biểu tượng
như Hán- Hồ, Bá Nha- cầm, Lưu Linh- rượu, Phan- Trần, Tần- Sở, ông Tơ- bà Nguyệt …đều là những biểu tượng bắt nguồn từ các điển tích trong văn học cổ
- Phượng hoàng vỗ cánh bay cao Quyết tìm cho thấy được cây ngô đồng
(Câu 1273/ 373)
- Muốn cho đào mận vợ chồng Đào yêu mận nhớ não nùng thương thay
(Câu 1091/ 351)
Trang 23- Trồng trúc xin đừng trồng mai
Đã thương anh, không dám nghe ai dỗ dành
(Câu 1752/ 427)Việc sử dụng nhiều biểu tượng có nguồn gốc từ văn học cổ như trên gắnvới tinh thần hiếu học, ham chữ nghĩa của người Nghệ Dù ăn không no, mặckhông đủ ấm nhưng họ luôn sẵn sàng chịu khó chịu khổ, chắt chiu dành dụm đểnuôi con ăn học Ham học, hiếu học, người dân Nghệ thuộc nhiều văn thơ Đặcbiệt, đây còn là mảnh đất có nhiều ông đồ hay chữ, mê hát dân ca, thường thamgia vào các cuộc hát dân gian Chính những lý do trên đã làm cho ca dao xứNghệ giàu màu sắc chữ nghĩa, mang tính bác học Việc sử dụng nhiều biểutượng có nguồn gốc từ văn học cổ trong ca dao cũng đã phần nào thể hiện đặctrưng đó của người Nghệ
Qua trên có thể thấy, những biểu tượng là các điển cố này khi đi vào cadao, đặc biệt là ca dao giao duyên xứ Nghệ thì trường nghĩa của chúng đã có sựthay đổi cho phù hợp Đó là lời của những nam thanh nữ tú thể hiện tình cảm,cảm xúc của mình trong mỗi bài ca.Qua đó, quá trình dân tộc hóa, dân gian hóacác ngữ liệu của văn học cũng được thể hiện rõ
1.4.3 Những biểu tượng sóng đôi có nguồn gốc từ các sự vật, con vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày của nhân dân
Các biểu tượng thuộc nhóm này chiếm số lượng hơn hẳn so với các nhómkhác do cái nôi lớn nhất của văn học dân gian vẫn là hiện thực đời sống sinhhoạt của nhân dân Nhiều sự vật từ cuộc sống đời thường đã bước vào thơ ca
nhờ tư duy liên tưởng và sự sáng tạo nghệ thuật của người xưa: Thuyền - bến là
công cụ sản xuất, phương tiện đi lại, nơi sinh sống, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật,
nơi ngóng đợi mòn mỏi chờ người thân trở về trên; Sông - cầu: cuộc sống của
người dân Việt Nam nói chung và xứ Nghệ nói riêng gắn chặt với môi trường
sông nước: sông Lam, sông La… Còn cầu là phương tiện quen thuộc ở vùng sông nước để đi lại, giao lưu; cá - lừ / đó là sản vật đặc trưng vùng sông nước.
Rồi đến các loại cây, hoa, trái hay động vật hoặc những vật dụng hàng ngày của
Trang 24người Nghệ : cải - gừng, muối- gừng, cam - quýt -bòng, sen - bèo, vịt - đồng, công - rú, bướm - hoa, dâu - tằm, nút - khuy, kim - chỉ, gương - lược…Tất cả
đều quen thuộc, hữu dụng
Đó còn là những biểu tượng được hình thành từ những hiện tượng tự
nhiên trong vũ trụ: gió - mây, trăng - sao, sao hôm - sao mai, trăng - mây, mưa, trăng- cuội, non- nước…
mây Ai làm cho đó xa đây Cho trăng xa cuội cho mây xa trời
Ai làm cho bến xa thuyền Cho trăng xa cuội, bạn hiền xa ta.
(Câu 28/ 221)
-Chữ rằng nhất nhật đôi ta Gió với trăng là bạn, bướm với hoa tình
(Câu 380/ 265)
- Đôi ta như cúc với khuy Như kim với chỉn( chỉ) may đi cho rồi
( Câu 557/ 286)
Thực ra, việc phân chia ba nhóm như trên chỉ mang tính chất tương đối
mà thôi Một số biểu tượng có nguốn gốc khá phức tạp, là sự đan xen của nhiều
quan niệm, ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau (trầu - cau, cây đa - bến đò, rồng - mây, trúc - mai…)
Như vậy, con đường hình thành của các biểu tượng trong nhóm này là từ thực tế cuộc sống đến với tâm thức dân gian, rồi đi vào ca dao Tất cả đều bắt nguồn từ đời sống lao động bình dị của người Nghệ Dù đói nghèo nhưng họ vẫngiàu ước mơ hoài bão Cuộc sống và tâm tình người Nghệ đã được gửi gắm vào những biểu tượng sóng đôi trong những câu hát giao duyên tình tứ Mộc mạc thôi nhưng lại chứa chan tình cảm thiết tha của con người nơi đây
Tiểu kết chương 1
Trang 25Ở chương này, chúng tôi đã trình bày khá bao quát về biểu tượng sóng đôitrong ca dao giao duyên xứ Nghệ Trong 1894 bài ca dao giao duyên có tới 373 bài sử dụng biểu tượng sóng đôi Những biểu tượng này rất phong phú, đa dạng, gồm 206 biểu tượng khác nhau, tồn tại thành nhiều tiểu loại và được hình thành
từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là từ đời sống sinh hoạt của người dân Nghệ Cũng chính nhờ những biểu tượng này mà ca dao giao duyên nói riêng, cadao xứ Nghệ nói chung vừa gần gũi vừa mang tính chữ nghĩa, bác học
CHƯƠNG 2: KẾT CẤU PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG CHỨC NĂNG
NGHỆ THUẬT CỦA BIỂU TƯỢNG SÓNG ĐÔI TRONG
CA DAO GIAO DUYÊN XỨ NGHỆ 2.1 Kết cấu của biểu tượng sóng đôi trong ca dao giao duyên xứ Nghệ
Như đã biết, biểu tượng sóng đôi được tạo thành bởi hai sự vật, hai hìnhảnh đi song song, liên kết bền vững với nhau Mỗi sự vật, hình ảnh có khi nó
được biểu hiện bằng một từ: rồng- mây, cúc- khuy, trăng- sao, sen- hồ, mai, mận - đào, cam - quý, chăn - gối; thuyền - bến; rượu - nem…
trúc Muốn cho phượng múa loan dồn Muốn cho tiếng nhị lên đờn hòa chung
(Câu 1101/ 352)
Trang 26- Chàng mười lăm, thiếp cũng mười lăm, Chàng như con bướm bạch, thiếp như trăng rằm mới lên.
( Câu 296/ 255)
- Năm canh trông bạn cả năm Ruột khô gan héo như tằm rối tơ.
( Câu 1132/ 356)Các biểu tượng sóng đôi phần nhiều được hình thành trên cơ sở liên kết
những biểu tượng đơn Bướm- hoa được hình thành từ biểu tượng bướm và biểu tượng hoa; trầu- cau được hình thành từ biểu tượng trầu và biểu tượng cau; sen-
hồ, gió- mây, liễu- đào, tùng- cúc, khóa- dương, bút- nghiên, bấc- dầu, gương…đều được hình thành theo cách như thế Quá trình kết hợp các biểu
lược-tượng đơn để tạo nên biểu lược-tượng đôi không ngừng diễn ra trong sinh hoạt ca hátdân gian Vì vậy, sự kết hợp này cũng không phải hoàn toàn cố định
Chẳng hạn Trầu có khi kết hợp với cau thành trầu- cau; có khi kết hợp với thuốc thành trầu- thuốc; có khi kết hợp với vôi thành trầu- vôi; cũng có khi kết hợp với rượu thành trầu - rượu…Biểu tượng rồng có khi kết hợp thành rồng- tiên, có khi kết hợp với mây thành rồng- mây, lại có khi kết hợp với trăng thành rồng- trăng…Hay biểu tượng hoa cũng được kết hợp với nhiều biểu tượng khác tạo thành các biểu tượng đôi: bướm- hoa, ong- hoa, hoa- mưa… Rất nhiều
biểu tượng khác nữa cũng kết hợp như vậy để tạo nên sự đa dạng cho các biểutượng sóng đôi
Tuy nhiên, sự kết hợp giữa hai hình ảnh trong biểu tượng sóng đôi luôn dựa trên một mối qua hệ nhất định Quan hệ này nhằm tạo nên sự liên kết khá bền vững trong cấu trúc của biểu tượng Khảo sát biểu tượng sóng đôi trong ca
Trang 27dao giao duyên xứ Nghệ, chúng tôi thấy có hai kiểu quan hệ trong kết cấu của biểu tượng: Kết cấu theo quan hệ tương đồng hoặc kết cấu theo quan hệ đối lập
Sự lựa chọn các kiểu quan hệ này nhắm phù hợp với nội dung biểu đạt của bài
ca dao
2.1.1 Biểu tượng sóng đôi có kết cấu theo quan hệ tương đồng
Biểu tượng sóng đôi có kết cấu theo quan hệ tương đồng là những biểutượng trong đó có hai thành tố tạo nên, chúng tương xứng với nhau về phẩmchất, thuộc tính hoặc có quan hệ gần gũi, đi liền nhau, cùng kết hợp với nhau tạonên một tín hiệu thẩm mĩ mang nội dung cảm xúc nhất định Thành tố này bổsung, nhấn mạnh, khơi gợi thành tố kia Các thành tố tương đồng nâng nhau lên,làm thành một cặp hoàn chỉnh
Các biểu tượng lan - huệ, ong - bướm, đũa ngọc - mâm vàng, điếu đèn đồng, thiên lí - mẫu đơn, Kim Trọng - Thúy Kiều, anh hùng - thuyền quyên, thục nữ - anh đào, tiên - rồng…đều là những cặp biểu tượng sóng đôi có kết cấu
bạc-tương đồng
Những biểu tượng này biểu thị cho các nhân vật nam- nam, nữ- nữ haynam- nữ, thường xuất hiện trong những bài ca dao thể hiện sự xứng đôi vừa lứa,niềm vui, niềm hạnh phúc của con người trong tình yêu:
- Đôi ta như Kim Trọng với Thúy Kiều
Đã ghe lúc đắng, lại nhiều lúc cay.
Hoặc là chúng xuất hiện trong những bài ca dao thể thiện sự gắn bó thủy
chung son sắt của đôi lứa: cá- nước, mây- rồng, trầu- cau, kim- chỉ, Châu- Trần, Tần- Tấn…
Trang 28- Nhớ ai như sách nhớ bìa Như kim nhớ chỉ( chỉn), canh khuya nhớ chàng.
2.1.2 Biểu tượng sóng đôi có kết cấu theo quan hệ đối lập
Biểu tượng sóng đôi có kết cấu theoquan hệ đối lập là biểu tượng trong
đó các sự vật, hình ảnh đi cùng với nhau nhưng lại tương phản, mâu thuẫn về
phẩm chất, thuộc tính, không tương xứng với nhau về hình thức: bèo- sen, bát sứ- bát đàn, nồi đồng- nồi đất, nhà ngói- nhà tranh, hoa gạo- cỏ may, hoa lý - hoa khoai, hoa lý- hoa chiêng chiểng…
Loại biểu tượng này thường được sử dụng trong các bài ca dao thể hiệnnhững mối tình eo le, ngang trái,…với những nỗi giận hờn lo lắng, đau khổ, bấthạnh, xót xa, ngậm ngùi tiếc nuối…
- Muốn chơi hoa lý cho cao Chơi hoa chiêng chiếng bờ ao thiếu gì.
mang giá trị tương phản cao để chỉ ra sự không cân xứng giữa đôi lứa: Tiên- cú, quạ- cò, cây quế- đất xấu, cỏ héo- mưa rào, gỗ lim- bìm bìm, hoa gạo- cỏ may…