Ngay trong ngành Giáo pháp học, phơng pháp dạy học Làm văntrong nhà trờng phổ thông cũng cha đợc quan tâm đúng mức, bằng chứng là sốcông trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này vẫn cha
Trang 1Tài liệu tham khảo
1 Bảo Quyến, (2003), Rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận, NXb Giáo Dục,
Hà Nội
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban chỉ đạo xây dựng chơng trình và biên
SGK THPT, (2003), Tài liệu về đổi mới phơng pháp dạy môn Ngữ văn
5 Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2007), Tài liệu phân phối chơng trình THPT,
môn Ngữ văn, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trờng Đại học Vinh Sở GD và ĐT Nghệ An
-Sở GD và ĐT Hà Tĩnh - -Sở GD và ĐT Thanh Hoá, (2006), Kỷ yếu hội thảo khoa học dạy học Ngữ văn ở trờng phổ thông theo chơng trình và SGK mới,
Nxb Nghệ An,Vinh
7 Bùi Minh Toán, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Ngân Hoa,…, (2006),
T`ài liệu chủ đề tự chọn bám sát chơng trình chuẩn Ngữ Văn 10, Nxb GD, Hà
Nội
8 Diệp Quang Ban, (2005), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (Tái bản lần
thứ hai có sửa chữa bổ sung), Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
9 Đỗ Kim Hồi, (1996), Nghĩ từ công việc dạy Văn, Nxb Giáo Dục, Hà Nội 10.Đỗ Ngọc Thống, (2002), Đổi mới việc dạy học môn Ngữ Văn ở THCS,
Nxb Giáo Dục, Hà Nội
11.Đỗ Ngọc Thống, (2006), Đổi mới chơng trình và SGK Ngữ Văn 10, Tạp
chí Dạy và Học ngày nay, số 5- 2006
12.Huỳnh Thị Thu Ba, (2006), Kiến thức - Kỹ năng cơ bản Tập làm văn
THCS, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
13.Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), (2004), Ngữ Văn 8, tập 1, Nxb Giáo
Dục, Hà Nội
14.Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), (2004), Ngữ Văn 8, tập 2, Nxb Giáo
Dục, Hà Nội
Trang 215.NguyÔn Kh¾c Phi (Tæng chñ biªn ), (2004), Ng÷ V¨n 8, tËp 1, S¸ch gi¸o
viªn, Nxb Gi¸o Dôc, Hµ néi
16.NguyÔn Kh¾c Phi (Tæng chñ biªn ), (2005), Ng÷ v¨n 9 ,tËp 1, Nxb Gi¸o
Dôc, Hµ Néi.
17.NguyÔn Kh¾c Phi (Tæng chñ biªn),(2005), Ng÷ V¨n 9, tËp 2, Nxb Gi¸o
Dôc, Hµ Néi
18.NguyÔn Kim Dung- §ç Kim H¶o…, (2006), Båi dìng Ng÷ V¨n 8, Nxb
Gi¸o Dôc, Hµ Néi
19.NguyÔn Quèc Siªu, (2005), KÜ n¨ng lµm v¨n nghÞ luËn phæ th«ng (T¸i b¶n
lÇn thø t), Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi
20.NguyÔn TrÝ, (2006), D¹y häc TËp lµm v¨n THCS, Nxb GI¸o Dôc, Hµ Néi 21.NguyÔn Xu©n L¹c, (2007), Híng dÉn lµm c¸c kiÓu bµi v¨n ë líp 10 theo
SGK míi, Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi.
22.Phan MËu C¶nh, (2002), Ng«n ng÷ häc v¨n b¶n, Tñ s¸ch trêng §¹i häc
25.Phan Träng LuËn, (Tæng chñ biªn), (2006), Ng÷ V¨n 10, tËp 1, S¸ch gi¸o
viªn, Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi
26.Phan Träng LuËn (Tæng chñ biªn), (2006), Ng÷ v¨n 10, tËp 2, S¸ch gi¸o
viªn, Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi
27.Phan Träng LuËn (Tæng chñ biªn), (2006), Ng÷ v¨n 10 N©ng cao, tËp 1,
Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi
28.Phan Träng LuËn (Tæng chñ biªn), (2006), Ng÷ v¨n 10, N©ng cao, tËp 2,
Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi
29.Phan Träng LuËn (Tæng chñ biªn), (2006), Ng÷ V¨n 10 N©ng cao, tËp 1,
S¸ch gi¸o viªn, Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi
30.Phan Träng LuËn (Tæng chñ biªn), (2006), Ng÷ v¨n 10 N©ng cao,S¸ch
gi¸o viªn, Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi
31.Phan Träng LuËn (Tæng chñ biªn), (2001), Ph¬ng ph¸p d¹y häc V¨n,
Nxb Gi¸o Dôc, Hµ Néi
Trang 332.Robert J.Marzano - Debra J.Pickering,…, (2005), Các phơng pháp dạy học hiệu quả, Hồng Lạc dịch, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
33.Thái Quang Vinh, Thảo Bảo Mi, (2006), Tập làm văn 10, Nxb Đại học
1.1 Trong những năm gần đây, cùng với việc đổi mới chơng trình và SGK, đổi
mới phơng pháp dạy học đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu khôngchỉ của các nhà giáo dục, các cơ quan chức năng mà của toàn xã hội Trongtiến trình đó, do vài trò đặc thù của bộ môn Ngữ văn trong việc hình thànhnhân cách cho học sinh, việc đổi mới phơng pháp dạy học Văn đợc xem là vấn
đề trọng tâm của đổi mới phơng pháp dạy học Có thể nói rằng, những thànhtựu đạt đợc trong lĩnh vực này là hết sức to lớn, mang lại một diện mạo mớicho việc dạy và học bộ môn Ngữ văn trong nhà trờng phổ thông hiện nay.Tuy nhiên, nói nh thế không có nghĩa rằng: việc đổi mới phơng pháp dạyhọc Văn trong nhà trờng đã đợc hoàn thiện và không có gì phải bàn nữa Bởivì trong thực tế dạy học hiện nay, tình trạng học sinh “chán” học văn, “ngại”học văn, thậm chí “sợ” môn Văn vẫn cha phải đã hoàn toàn chấm dứt Và xétriêng trong nội bộ môn Ngữ văn, có vẻ nh Làm văn là hợp phần ít đợc họcsinh quan tâm nhất, bị “ghẻ lạnh” nhiều nhất bởi tính chất “khó, khô và khổ”của nó nh nhiều ngời định kiến Dẫn đến tình trạng này có nhiều nguyên nhân,trong đó có nguyên nhân về mặt phơng pháp Trong nhà trờng phổ thông hiệnnay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ giáo viên Ngữ văn cha có đợc những ph-
ơng pháp dạy học phù hợp với từng đối tợng học sinh, từng bài học cụ thể
Đặc biệt, việc dạy và học Làm văn hiện nay lại càng có nhiều vấn đề cần phải
Trang 4bàn đến Ngay trong ngành Giáo pháp học, phơng pháp dạy học Làm văntrong nhà trờng phổ thông cũng cha đợc quan tâm đúng mức, bằng chứng là sốcông trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này vẫn cha có nhiều.
Mặt khác, từ trớc đến nay, các công trình nghiên cứu dạy học Làm văn đa
số vẫn chỉ chú trọng đến kiểu văn nghị luận, đặc biệt là nghị luận vănhọc.Trong khi đó, với sự ra đời của bộ SGK Ngữ văn mới, một số kiểu văn bảnnhật dụng đã đợc đa vào giảng dạy trong chơng trình phổ thông nh: Văn bảnquảng cáo, văn bản thuyết minh…Việc dạy và học kiểu văn bản này đang thực
sự trở thành một thách thức đối với cả giáo viên lẫn học sinh Thực trạng đó
đòi hỏi phải có những công trình có ý nghĩa phong pháp luận để việc dạy vàhọc các kiểu văn bản này có hiệu quả hơn Đó là một trong những lí do thúc
đẩy chúng tôi đến với đề tài này: góp phần vạch ra hóng đi cho việc dạy họcmột trong những kiểu văn bản đang đợc xem là mới trong chơng trình Ngữvăn THPT
1.2 Việc lựa chọn đề tài này của chúng tôi cũng xuất phát từ vai trò của kiểu
văn bản thuyết minh trong đời sống hiện nay Có thể thấy rằng, dù mới đợc đavào trong chơng trình kể từ bộ SGK Ngữ văn mới, nhng trong thực tế, văn bảnthuyết minh lại rất phổ biến và cần thiết Chúng ta có thể gặp kiểu văn bản nàytrong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, từ đời sống khoa học đến cuộc sốngthờng nhật; từ những nhà trí thức đến ngời lao động, từ nhà khoa học đến ngờinông dân, bất cứ ai cũng có thể gặp và cần đến văn bản thuyết minh
Xét riêng trong nhà trờng phổ thông, văn bản thuyết minh cũng đóng mộtvai trò cực kì quan trọng Trong chơng trình Làm văn bấy lâu nay, do nhấnmạnh “chất văn” một chiều, t duy khoa học của học sinh ít đợc rèn luyện HàVăn Tấn nhận định: “Trong điều kiện kinh tế, xã hội kém phát triển, t duy líluận không phát triển, nhiều tàn d nguyên thuỷ còn tồn tại (đặc biệt trong nếpcảm, nếp nghĩ của mỗi ngời), thì đó là một khó khăn vô cùng lớn, đòi hỏi phải
có nỗ lực phi thờng mới có thể khắc phục đợc, khi muốn biến dân tộc ta thànhmột dân tộc hiện đại”.( Hà Văn Tấn, thông tin khoa học giáo dục, số 12-1987) Để “biến dân tộc ta thành một dân tộc hiện đại” thì ngay từ khi cònngồi trên ghế nhà trờng, mỗi ngời Việt Nam cần phải rèn luyện cho mình một
t duy mang tính khoa học Việc đa văn bản thuyết minh vào chơng trình Ngữvăn phổ thông đã phần nào đáp ứng đợ yêu cầu đó Bởi vì văn bản thuyết minh
Trang 5đòi hỏi một t duy khoa học, và việc dạy học Làm văn thuyết minh cũng là dạy
t duy khoa học, góp phần nâng cao dân trí một cách thiết thực nhất
Từ vai trò quan trọng của văn bản thuyết minh trong đời sống và trongnhà trờng, từ sự thiếu hụt mảng phơng pháp dạy học kiểu văn bản này trongthực tiễn nghiên cứu phơng pháp dạy học Ngữ văn hiện nay, chúng tôi quyết
định tiến hành tìm hiểu đề tài “ Hớng dẫn dạy Làm văn thuyết minh trong
ch-ơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT” Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽtháo gỡ đợc phần nào những vớng mắc trong dạy học Làm văn thuyết minhcho giáo viên Ngữ văn khi dạy phần nội dung này ở lớp 10 THPT
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1 Lịch sử nghiên cứu kiểu văn bản thuyết minh
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản rất thông dụng, đợc sử dụng rộngrãi trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực của đời sống Tuy nhiên, trớc đây,
do chỉ nhấn mạnh chất “văn” một chiều, kiểu văn bản này hầu nh bị bỏ quên,rất hiếm khi đợc đề cập đến trong các tài liệu, các công trình nghiên cứu.Chỉ từ khi đợc đa vào chơng trình Ngữ văn phổ thông (2004) và cùng với
sự thay đổi quan niệm “văn” trong nhà trờng, văn bản thuyết minh mới đợccác nhà nghiên cứu, các nhà soạn sách thuộc chuyên ngành Ngữ văn quan tâmtìm hiểu Tuy nhiên cho đến nay vẫn cha có một công trình nào nghiên cứukiểu văn bản này một cách thực sự bài bản, toàn diện Trong những tài liệu màchúng tôi có đợc, văn bản thuyết minh mới chỉ đợc đề cập đến một cách tơng
đối sơ lợc Có thể điểm qua một số cuốn sách nh sau:
Trớc hết phải kể đến cuốn sách giáo viên Ngữ văn 8 (2004), do ãb GiáoDục ấn hành Đây là cuốn sách có tính chất công cụ, không thể thiếu đối vớigiáo viên Ngữ văn THCS Do kiểu bài văn thuyết minh đợc đa vào chơng trìnhphổ thông bắt đầu từ lớp 8, nên đây cũng là tài liệu đầu tiên trong hệ thốngSách giáo viên đề cập đến kiểu văn bản này Sách giáo viên Ngữ văn 8 đã bàn
đến văn bản thuyết minh trên một số nét khái quát nh sau: Khái niệm văn bảnthuyết minhếuo sánh với một số kiểu (dạng) văn bản khác cùng có mặt trongchơng trình nh văn bản tự sự, miêu tả, nghị luận Tuy nhiên, do đây khôngphải phần trọng tâm của bài học về văn bản thuyết minh nên việc phân biệtvẫn nằm ở mức độ hết sức sơ lợc và cha đa ra đợc một tiêu chí thật cụ thể Vềcác phơng pháp tạo lập văn bản thuyết minh, SGK Ngữ văn 8 cũng chỉ điểm
Trang 6qua trên những nét cơ bản nhất Mặc dù thế, đây vẫn là tài liệu hết sức bổ ích
và có ý nghĩa gợi ý rất lớn cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này
Năm 2006, một loạt cuốn sách tham khảo theo chơng trình Ngữ văn mớicho học sinh THCS và THPT đã ra đời, đáp ứng nhu cầu đổi mới chơng trình
và phơng pháp dạy học bộ môn Trong các tài liệu này, văn bản thuyết minhcũng đợc đề cập đến nh một nội dung quan trọng Chẳng hạn nh cuốn “Bồi d-ỡng Ngữ văn 8” của Nguyễn Kim Dung, Đỗ Kim Hảo…do Nxb Giáo Dục ấnhành năm 2006 Trong cuốn sách này, ở phần Làm văn, các tác giả đã giànhhơn 10 trang để nói về văn thuyết minh: Khái niệm văn bản thuyết minh, đặc
điểm chung của văn bản thuyết minh, giới thiệu một số phơng pháp thuyếtminh, các dạng văn bản thuyết minh,v.v…
Cũng nằm trong hệ thống sách tham khảo Ngữ văn giành cho bậc THCS ,năm 2006, cuốn “Kiến thức - kĩ năng cơ bản Tập làm văn THCS” của tác giảHuỳnh Thị Thu Ba đã đợc Nxb Giáo Dục xuất bản Trong phần hai của cuốnsách, tác giả Huỳnh Thị Thu Ba đã trình bày một số đặc điểm của văn thuyếtminh và các phơng pháp thuyết minh thờng dùng So với cuốn Bồi dỡng Ngữvăn 8, phần trình bày đặc điểm văn bản thuyết minh của cuốn sách này rõràng hơn, khoa học hơn với các tiểu mục: a, Tính tri thức; b, Tính khoa học; c,Tính khách quan; d, Tính thực dụng Tuy việc phân tích các đặc trng văn bảnthuyết minh ở đây cha thật thấu đáo, nhng đây vẫn là một tài liệu tham khảo
bổ ích để chúng tôi hoàn thành tốt chơng 1 của khoá luận này
Một tài liệu khác cũng đề cập đến phần văn bản thuyết minh, đó là cuốnDạy học Tập làm văn ở Trung học cơ sở của tác giả Nguyễn Trí (Nxb Giáodục-2006) Trong cuốn sách này, sau khi giải thích thế nào là văn bản thuyếtminh, tác giả đã đi vào tìm hiểu đặc điểm của văn bản thuyết minh, bao gồm:
a, Văn bản thuyết minh đa dạng về đề tài và nội dung tri thức nhằm thoả mãnnhu cầu tìm hiểu, mở mang tri thức…của ngời đọc; b, Sử dụng phơng thúctrình bày, giới thiệu giảng giải, giải thích với nhiều phơng pháp khác nhau là
đặc trng của phơng pháp viết các đặc trng của văn bản thuyết minh; c, Thôngtin trong van bản thuyết minh phải khách quan, chính xác, chân thực, có ích
và đợc trình bày một cách rõ ràng, chặt chẽ, hấp dẫn [20,104-109]
Nói tóm lại, trong các liệu mà chúng tôi đã su tầm và khảo sát đợc, vănbản thuyết minh đã đợc bàn đến nh một nội dung quan trọng Nhìn chung, các
Trang 7tài liệu này đều thống nhất ở chỗ: Đã đa ra một cách hiểu chung về khái niệmvăn bản thuyết minh, và mặc dù cách diễn đạt có thể khác nhau nhng các tàiliệu đó đều coi tính khách quan, tính khoa học, tính thực dụng là những đặc
điểm nổi bật của văn bản thuyết minh
Tuy nhiên, đây là những tài liệu tham khảo dành cho bậc THCS, hơn nữavăn thuyết minh lại không phải là đối tợng duy nhất đợc đề cập đến Do đó,các tài liệu trên cha có điều kiện tìm hiểu một cách thấu đáo về kiểu văn bảnnày Mặc dù vậy, đó vẫn là những gợi ý hết sức bổ ích cho chúng tôi khi thựchiện đề tài này
2.2 Lịch sử nghiên cứu phơng pháp dạy học Làm văn thuyết minh
Cũng nh lịch sử nghiên cứu văn bản thuyết minh, việc tìm hiểu các phơngpháp, hình thức tổ chức dạy học kiểu văn bản này cũng mới chỉ bắt đầu từnăm 2004, thời điểm văn thuyết minh đợc đa vào chơng trình Ngữ văn lớp 8THCS
Đầu tiên vẫn phải kể đến Sách giáo viên Ngữ văn 8 Trong cuốn sách này,bên cạnh việc trình bày sơ lợc về kiểu văn bản thuyết minh , các nhà biên soạn
đã dành phần lớn thời lợng của kiểu văn này để định hớng cách dạy học nhữngbài Làm văn thuyết minh cụ thể trong chơng trình
Tiếp đó, năm 2005 Nxb Giáo Dục tiếp tục xuất bản cuốn Sách giáo viênNgữ văn 9 do Giáo s Nguyễn Khắc Phi chủ biên Cuốn sách đề cập đến cáchdạy đối với những bài học về văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn 9,chẳng hạn nh: Sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh,
Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
Cùng trong hệ thống Sách giáo viên Ngữ văn, năm 2006, do yêu cầu củachơng trình, Nxb Giáo Dục đã ấn hành hai bộ Sách giáo viên Ngữ văn dànhcho lớp 10 THPT, bao gồm cả Sách giáo viên Ngữ văn 10 và Sách giáo viênNgữ văn 10 nâng cao do Phan Trọng Luận chủ biên
Do đặc thù của loại sách có tính chất công cụ, hai bộ sách giáo viên trên
đây cũng chỉ nêu lên những định hớng dạy học Làm văn thuyết minh chonhững bài cụ thể, còn để có đợc một cái nhìn có tính chất tổng quát về phơngpháp dạy học Làm văn thuyết minh thì tài liệu này vẫn cha có điều kiện đi sâutìm hiểu
Trang 8Bên cạnh Sách giáo viên, hỗ trợ cho việc dạy học Làm văn thuyết minhtrong chơng trình phổ thông còn có những cuốn sách tham khảo.
Đầu tiên, đó là cuốn Dạy học Tập làm văn Trung học cơ sở của tác giảNguyễn Trí (Nxb Giáo Dục-2006) Trong chơng hai của tài liệu này, tác giả
đã dành một phần thời lợng để đề cập đến cách dạy văn bản thuyết minh.Tuynhiên, do đây là cuốn sách viết cho bậc THCS nên nội dung này nói riêng vàtoàn bộ cuốn sách nói chung vẫn chỉ có ý nghĩa phù hợp với chơng trình Tậplàm văn THCS và ít có tính ứng dụng khi dạy học Làm văn thuyết minh ở lớp
10 THPT
Xét riêng những tài liệu có đề cập đến phơng pháp dạy học Làm vănthuyết minh ở lớp 10 THPT thì lại càng hiếm Trớc tiên phải kể đến các tàiliệu bồi dỡng giáo viên Ngữ văn do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành.Những tài liệu này đã tóm tắt lại kiến thức lí thuyết và xác định một số kĩnăng làm văn thuyêt minh cụ thể cần hình thành cho học sinh Đây sẽ là cơ sở
để giáo viên xác định trọng tâm cho từng bài học cụ thể Các nhà biên soạncũng đã bàn đến một số vấn đề phơng pháp chung cho cả chơng trình Ngữvăn, có khả năng áp dụng vào dạy học các nội dung Làm văn thuyết minh.Ngoài ra, cũng cần nhắc đến những cuốn sách tham khảo Ngữ văn chogiáo viên và học sinh lớp 10 THPT Chẳng hạn nh sách hớng dẫn thiết kế giáo
án, thiết kế bài giảng Trong đó, các tác giả đã hóng dẫn một cách cụ thể một
số thao tác để tiến hành một giờ dạy Làm văn, Tuy nhiên, cũng nh Sách giáoviên, các cuốn sách thiết kế bài giảng, thiết kế giáo án thòng chỉ đi vào nhữngbài cụ thể theo một hớng nhất định, cha thể trở thành một tài liệu có ý nghĩachỉ đạo chung về mặt phơng pháp cho việc dạy học toàn bộ phần Làm vănthuyết minh ở lớp 10 THPT
Tóm lại, lịch sử nghiên cứu văn bản thuyết minh và phơng pháp giảngdạy Làm văn thuyết minh trong nhà trờng phổ thông, đặc biệt ở lớp 10 THPTcòn rất mới mẻ Cho đến thời điểm mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tàinày, vẫn cha có một tài liệu nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về vấn đềvăn bản thuyết minh và phơng pháp dạy học làm văn thuyết minh trong chơngtrình lớp 10 THPT Với khoá luận này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần tháo gỡnhững khó khăn, vớng mắc của các thầy cô giáo khi dạy học phần nội dungnày
Chơng 1:
Trang 9Khái Quát về văn bản thuyết minh và đặc điểm phần làm
văn thuyết minh lớp 10 THPT
1.1 Khái quát về văn bản thuyết minh
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản mới trong chơng trình Ngữ văn phổthông Năm 2004, với sự ra đời của bộ SGK Ngữ văn 8, kiểu văn bản này lần
đầu tiên đợc đa vào chơng trình Làm văn THCS và tiếp tục đợc nâng cao, hoànthiện kiến thức, kỹ năng trong chơng trình Làm văn lớp 10 THPT
Tuy nhiên, trong cuộc sống, văn bản thuyết minh lại là kiểu văn bản hếtsức thông dụng và cần thiết, có phạm vi sử dụng rất rộng rãi, phổ biến trongnhiều nghành nghề, nhiều lĩnh vực.Chẳng hạn, khi mua một cái máy vitính,máy bơm, máy giặt chúng ta cần có văn bản thuyết minh để hiểu đợctính năng, cấu tạo , cách sử dụng, cách bảo quản loại máy đó Mua một hộpbánh, trên đó cũng ghi xuất xứ, thành phần các chất làm nên bánh, ngày sảnxuất, hạn sử dụng…Đến một danh lam thắng cảnh,trớc cánh cổng ra vào thếnào ta cũng sẽ bắt gặp một tấm bảng ghi lời giới thiệu lai lịch, sơ đồ thắngcảnh Ra ngoài phố, ta gặp các bảng quảng cáo giới thiệu sản phẩm Cầm mộtquyển sách, bìa sau có thể có lời giới thiệu tóm tắt nội dung.Trong SGK cócác bài trình bày thí nghiệm hoăc trình bày tiểu sử của các nhà văn, giới thiệutác phẩm đợc trích…Tất cả đều là văn bản thuyết minh Nh vậy, đời sốnghằng ngày của chúng ta không thể thiếu các văn bản thuyết minh
Vậy văn bản thuyết minh là gì ? Để trả lời đựoc câu hỏi này, ta phải làm
rõ các khái niệm có liên quan: Khái niệm văn bản và khái niệm thuyết minh.
1.1.3 Thế nào là văn bản thuyết minh ?
1.1.3.1.Khái niệm văn bản
Văn bản là khái niệm xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nghiên cứu ngôn
ngữ học và văn bản học Cũng nh các đơn vị khác của ngôn ngữ (chẳng hạntừ,câu…), văn bản là một trong những đơn vị rất phức tạp Cho đến nay, đã córất nhiều cách hiểu và cách định nghĩa về khái niệm này, xuất phát từ nhữnggóc nhìn và những quan diểm khác nhau Diệp Quang Ban trong cuốn “Vănbản và liên kết trong văn bản” đã nhận xét: “Số lợng các định nghĩa đã nhanhchóng lớn lên đến mức không dễ dàng kiểm nghiệm đợc “ [8,15]
Trang 10Tuy nhiên, nói nh thế không có nghĩa rằng : Ngành ngôn ngữ học đangphải “sở hữu” một tập hợp hỗn độn các định nghĩa về văn bản Ngợc lại,chúng ta vẫn có thể hệ thống hoá các định nghĩa đó theo những góc độ khácnhau Về vấn đề này, chúng tôi xin dẫn ra cách phân loại khái niệm văn bảncủa Phó giáo s -Tiến sĩ Phan Mậu Cảnh trong cuốn “Ngôn ngữ học văn bản”.Trong tài liệu này,tác giả đã hệ thống hoá khái niệm văn bản theo 3 hớng chủyếu:
1 Hớng nhấn mạnh về mặt hình thức Theo hớng này có các ý kiến củacác tác giả nh Cook (1989),R.Hasweg (1968),L.Hjelmslev (1953),N.NuNan(1993)
Chẳng hạn, N.NuNan (1993) cho rằng : “Văn bản là thuật ngữ để chỉ bấtkì cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp” [23,15]
2 Hớng nhấn mạnh cả dạng viết, nội dung và cấu trúc Theo hớng này cócác định nghĩa của M.Halliday (1906), L.M.Loseva (1980), Trần Ngọc Thêm(1985), Nguyễn Quang Ninh (1994)
Nguyễn Quang Ninh cho rằng : “Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hìnhthức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp.Dạng tồn tại điển hình của văn bản là dạng viết” [23,16]
3.Hớng nhấn mạnh hình thức nói
Các tác giả định nghĩa văn bản theo hớng này gọi văn bản là “diễn ngôn”.Tiêu biểu nh định nghĩa của Barth(1970), Kook(1989), Crystl(1992), HồLê(1996)…Có thể dẫn ra một cách định nghĩa văn bản theo hớng này : “Diễnngôn là những chuỗi ngôn ngữ đợc nhận biết trọn nghĩa, đợc hợp nhất lại và
có mục đích” (Cook,1989) [23,16]
Cũng trong tài liệu này, sau khi đã hệ thống hoá các cách hiểu về văn bản
và trên cơ sở kế thừa có phê phán những ý kiến đó, tác giả Phan Mậu Cảnh đã
đa ra một cách hiểu về khái niệm văn bản nh sau:
“Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là đơn vị
đợc tạo lập bởi sự liên kết các câu, các đoạn văn…tạo thành chỉnh thể thốngnhất, một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, mang tính phong cách
và nhằm một mục đích nhất định” [23,18]
Theo chúng tôi, đây là một định nghĩa khá hợp lý bởi đã khái quát đợc
đầy đủ những đặc điểm nổi bật nhất của một văn bản trên mọi khía cạnh của
Trang 11nó: nội dung, hình thức, dạng tồn tại, mục đích….Đó là cơ sở để chúng tôi lựachọn cách định nghĩa này, xem đó nh là một tiền đề để đa ra cách hiểu về đốitợng của đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu, đó là văn bản thuyết minh.
1.1.1.2 Khái niệm thuyết minh
Thuyết minh là thuật ngữ đợc sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa
học: toán học, vật lý học, sinh vật học, sử học…Chẳng hạn: Thuyết minh một cách giải toán, thuyết minh một thí nghiệm vật lý, thuyết minh quá trình sinh trởng của một loại cây trồng…
ở đây , “thuyết” có nghĩa là “nói lý lẽ nhằm làm cho ngời ta nghe theo”,còn “minh” nghĩa là “sáng tỏ” (minh xét, chứng minh…) Vậy có thể hiểu
“thuyết minh” là : “nói hoặc chú thích cho ngời ta hiểu rõ hơn về những sự
vật, sự việc hoặc hình ảnh đã đợc đa ra” (Theo Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt )
1.1.1.3 Khái niệm văn bản thuyết minh
Từ cách hiểu các khái niệm văn bản và thuyết minh trên chúng ta có thể
đi đến định nghĩa về văn bản thuyết minh nh sau:
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đờisống nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm ,tính chất , nguyên nhân của các sựvật, sự việc, hiện tợng, giúp cho ngời tiếp nhận văn bản hiểu rõ đối tợng vàbiết cách sử dụng chúng vào trong những mục đích có ích cho con ngời
1.1.2 Đặc trng của văn bản thuyết minh
1.1.2.1 Đặc trng về nội dung
Mỗi kiểu văn bản có những đặc trng riêng về mặt nội dung: Nội dung củavăn bản nghị luận là bàn bạc, phân tích, chứng minh… các vấn đề xã hội hayvăn học, nội dung của văn bản tự sự là câu chuyện, nội dung của văn bản biểucảm là cảm xúc đối với hiện thực…Văn bản thuyết minh cũng có những đặctrng riêng về mặt nội dung Theo chúng tôi, những đặc trng đó là:
a.Tính tri thức
Nh trên đã nói, văn bản thuyết minh là kiểu văn bản đợc viết ra nhằmcung cấp những tri thức về sự vật, sự việc, hiện tợng Bị chi phối bởi mục đích
Trang 12đó, nội dung của văn bản thuyết minh chủ yếu là trình bày tính chất, đặc điểm,cấu tạo, cách dùng cùng lí do phát sinh, quy luật phát triển, biến hoá của dối t-ợng Một bài văn thuyết minh muốn đạt yêu cầu thì trớc hết nó phải cung cấpnhững kiến thức nào đó thật tờng tận cho độc giả Đó chính là tính tri thức củavăn bản thuyết minh.Trong khi đó, với các kiểu văn bản khác nh tự sự haybiểu cảm, tính tri thức không đợc xem nh một vấn đề cốt tử, nghĩa là các kiểuvăn bản này không đợc xem xét trớc hết ở phơng diện tri thức khoa học.
Tuy nhiên, nói nh vậy không có nghĩa là : những kiểu (dạng) văn bảnkhác không mang lại tri thức cho ngời đọc Cần hiểu rằng, với các kiểu vănbản khác, việc truyền thụ tri thức không phải là nhiệm vụ chính Trong vănbản thuyết minh, ngợc lại, nhiệm vụ chính lại là cung cấp tri thức về đối tợng
đợc thuyết minh Để thấy rõ hơn điều này, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu hai ví
dụ sau đây:
Ví dụ 1:
“… ở Bình Định, dừa là chủ yếu, dừa là tất cả Dừa ở đây nh rừng, dừamọc ven sông, men bờ ruộng, leo sờn đồi, rải theo bờ biển Trên nhữngchặng đờng dài suốt 50, 60 km, chúng ta chỉ gặp cây dừa: dừa xiêm thấp lè tè,quả tròn, nớc ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vầng xanh mơn mởn, dừa lửalá đỏ, vỏ hồng…”
(Theo Hoàng Văn Huyền-Những mẫu chuyện địa lý).[12,73]
Ví dụ 2:
Dừa ơi
Tôi lớn lên đã thấy dừa trớc ngõ
Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ
Mỗi buổi chiều nghe dừa reo trớc gió
Tôi hỏi nội tôi: “dừa có tự bao giờ ?”
Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút
Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng
Rễ dừa bám sâu vào lòng đất
Nh dân làng bám chặt quê hơng
(Lê Anh Xuân- trích Hoa Dừa)
Trên đây là hai ví dụ thuộc hai kiểu văn bản khác nhau: Văn bản thuyếtminh (ví dụ 1) và văn bản biểu cảm (ví dụ 2) Hai đoạn văn bản này có cùng
Trang 13chung đối tợng : cây dừa, nhng tính chất tri thức của chúng khác hẳn nhau.
Đoạn thơ trích từ bài thơ Dừa ơi của Lê Anh Xuân cốt không phải giúp cho
ngời đọc hiểu về đặc điểm cây dừa mà ở đây, mục đích chủ yếu là làm rung
động trái tim ngời đọc trớc tinh thần kiên trung, bất khuất của con ngời quêhơng đợc hình tợng hoá dới biểu tợng cây dừa Trong khi đó, đoạn văn thuyếtminh về cây dừa Bình Định lại chủ yếu tập trung vào mục đích cung cấp mộtcách có hệ thống tri thức về loại cây này: sự phong phú, sức phát triển của câydừa, phân loại các loại dừa
Từ hai ví dụ này, ta có thể một lần nữa khẳng định rằng : tính tri thức làmột trong những yêu cầu quan trọng và cũng là đặc trng tiêu biểu nhất về mặtnội dung của văn bản thuyết minh.â
b.Tính khoa học
Bị chi phối bởi mục đích truyền thụ tri thức cho ngời tiếp nhận, văn bảnthuyết minh cần phải đảm bảo tính khoa học ở đây tính khoa học đợc hiểutheo nghĩa: tính khoa học của tri thức Nói một cách cụ thể hơn, các kiến thức
đợc đa vào trong văn bản thuyết minh nhất thiết phải chính xác, phù hợp vớithực tế khách quan.Văn bản thuyết minh không cho phép h cấu, tởng tợng nhtrong văn bản nghệ thuật, mặc dù vẫn có thể sử dụng phơng thức miêu tả hay
tự sự để việc truyền tải nội dung trở nên háp dẫn hơn Tham khảo đoạn vănsau, chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều đó:
“Bà tôi thờng kể cho tôi nghe rằng, chim cú kêu là có ma tới Tôi hỏi vìsao thì bà giải thích: “Thế cháu không nghe tiếng cú kêu thờng vọng từ bãi tha
ma đến hay sao?” Sau này học môn sinh học tôi mới biết là không phải vậy.Chim cú là loài chim ăn thịt, thờng ăn thịt lũ chuột đồng, kẻ phá hoại mùamàng Chim cú là giống vật có lợi, là bạn của nhà nông Sở dĩ, chim cú th ờnghay tới bãi tha ma là vì ở đó có lũ chuột đồng đào hang Bây giờ mỗi lần nghetiếng chim cú, tôi chẳng những không sợ mà còn vui vì biết rằng bạn của nhànông đang hoạt động” [16,15]
Mặc dù đợc thể hiện bằng hình thức kể chuyện, đoạn văn trên vẫn đợcviết theo phơng thức thuyết minh ở đây, câu chuyện “bà tôi” kể chỉ là cái cớ
để ngời viết có cơ hội trình bày những tri thức về đối tợng thuyết minh củamình Rõ ràng, việc sử dụng yếu tố tự sự chỉ làm tăng thêm sức hấp dẫn chovăn bản thuyết minh chứ không hề làm tổn hại đến tính khoa học của tri thức,
cụ thể ở đây là những tri thức về lợi ích của loài chim cú
Trang 14Tóm lại, tính khoa học là một yêu cầu bắt buộc đối với văn bản thuyếtminh Nó đòi hỏi thông tin trong kiểu văn bản này phải phản ánh đúng bảnchất và quy luật của đối tợng một cách chân thật nh vốn có Việc sử dụng cácyếu tố nghệ thuật nh miêu tả hay tự sự không đợc phép làm ảnh hởng đến tínhkhoa học của văn bản thuyết minh.
c.Tính khách quan
Không giống với một số kiểu văn bản nh nghị luận, miêu tả hay tự sự ờng mang tính chất chủ quan, văn bản thuyết minh là kiểu văn bản kháchquan.Tính khách quan ở đây cần đợc hiểu ở hai phơng diện: Một là tính kháchquan trong thái độ của ngời viết, hai là tri thức của bài văn thuyết minh phảiphù hợp với thực tế khách quan nh chúng ta đã đề cập trong tính khoa học
th-ở phơng diện thứ nhất, tính khách quan đợc hiểu là thái độ trung thực,bình thản của ngời viết trớc đối tợng thuyết minh Điều này hoàn toàn khácvới kiểu văn bản tự sự, biểu cảm hay nghị luận vốn đợc viết ra để rhể hiện tìnhcảm, cảm xúc, t tởng…mang tính chủ quan của ngời viết Dĩ nhiên, nói nh thếkhông có nghĩa là, trong văn bản thuyết minh, ngời viết phải tỏ ra vô cảm, thờ
ơ với đối tợng ở đây, tính khách quan trong thái độ của ngời viết cần đợchiểu một cách tơng đối và uyển chuyển hơn Bởi vì trong một số văn bảnthuyết minh, ví dụ về một danh lam thắng cảnh, một tác giả văn học…ngờiviết vẫn có quyền bày tỏ cảm xúc của mình thông qua những cảm nhận về đốitợng đó Tuy nhiên, cách thể hiện thờng kín đáo và gián tiếp; và quan trọngnhất là ở chỗ: việc bày tỏ thái độ của ngời viết không có tác dụng định hớngcho ngời đọc (ngời nghe) có thái độ yêu, ghét về đối tợng đang đợc thuyếtminh
ở phơng diện thứ hai ,tính khách quan thể hiện ở sự phù hợp của tri thứctrong văn bản với quy luật vận động, phát triển của đối tợng Ngời viết có thểthích hay không thích đối tợng mà mình đang thuyết minh, nhng không cóquyền thay đổi , bóp méo thông tin về đối tợng
d Tính thực dụng
Văn bản thuyết minh nằm trong loại văn bản nhật dụng, nghĩa là nó đợc
sử dụng phổ biến trong đời sống thờng nhật của chúng ta, nó đáp ứng nhữngyêu cầu đôi khi thuần tuý mang tính vật chất của con ngời Do đó có thể nóirằng: tính thực dụng, hiểu theo nghĩa ích dụng, là một đặc trng quan trọng củavăn bản thuyết minh
Trang 15Tuy nhiên, nh thế không có nghĩa là: chỉ có văn bản thuyết minh mới cótính thực dụng.Vấn đề là ở chỗ mức độ đậm, nhạt của thuộc tính này trongmỗi loại văn bản nh thế nào Chẳng hạn, văn bản nghệ thuật cũng có tính thựcdụng, nhng nó chỉ dừng lại ở chỗ tác động lên tình cảm của con ngời bằng sứctruyền cảm của hình tợng nghệ thuật, từ đó có thể biến đổi nhận thức của ngờitiếp nhận Còn tính thực dụng của văn bản nghị luận lại thể hiện ở chỗ nó trựctiếp tác động tới trí tuệ, thuyết phục ngời đọc bằng một hệ thông lí lẽ và dẫnchứng.
Trong khi đó, tính thực dụng của văn bản thuyết minh rất rộng lớn Nótrực tiếp giới thiệu, cung cấp tri thức nhằm chỉ đạo thực tiễn trong mọi lĩnhvực của đời sống con ngời Chẳng hạn, những cuốn sách dạy nấu ăn sẽ giúpchúng ta dễ dàng chế biến các món ăn, những bài giới thiệu về danh lam thắngcảnh giúp ta hình dung đợc nơi đó dù cha một lần đến, một bản giới thiệu vềthuốc chữa bệnh sẽ cho ta biết phải dùng loại thuốc đó nh thế nào cho hiệuquả Việc văn bản thuyết minh đợc sử dụng rộng rãi trong đời sống nh chúngtôi đã trình bày ở phần đầu chơng I của khoá luận này cũng là một minhchứng cho tính thực dụng của kiểu văn bản này trong thực tế
Từ những điều đã phân tích ở trên, chúng tôi có thể khái quát lại đặc trng
về mặt nội dung của văn bản thuyết minh trên những đặc điểm sau : tính trithức, tính khách quan, tính khoa học và tính thực dụng Những đặc trng nàygóp phần làm nên diện mạo riêng cho văn bản thuyết minh
Tuy nhiên, nội dung bao giờ cũng phải đợc tồn tại dới một hình thức nhất
định Triết học Mác-xít đã chỉ ra rằng: nội dung và hình thức là hai mặt củamột vấn đề mà nằm ngoài nhau, chúng không thể tồn tại Do đó, khi nói đếnnội dung của văn bản thuyết minh thì chúng ta không thể không quan tâm đếnmặt hình thức thể hiện nội dung đó.Vì thế, trong phần sau, chúng tôi sẽ trìnhbày những đặc trng về mặt hình thức của văn bản thuyết minh
1.1.2.2 Đặc trng về hình thức
a Về bố cục
Một văn bản thuyết minh thông thờng cũng có bố cục ba phần nh các loạivăn bản khác, đó là: phần mở đầu, phần triển khai nội dung và phần kết thúc.Tuy nhiên, trên thực tế, có những loại văn bản thuyết minh hết sức ngắngọn, không tuân thủ theo bố cục này, ví dụ : Văn bản hớng dẫn cách sử dụngcác loại đồ dùng, các loại thuốc Chẳng hạn, trên một lọ thuốc chữa bệnh có
Trang 16ghi những thông tin về nơi sản xuất, số lợng thuốc, chỉ định, thành phần, liềulợng dùng thì đây cũng lã một dạngvăn bản thuyết minh.Văn bản này không
có bố cục nh một văn bản thông thờng, mà các thông tin lại đợc trình bày dớihình thức các mục rất ngắn gọn Những văn bản thuyết minh nh thế khá phổbiến trong đời sống Điều này hoàn toàn khác với văn bản tự sự, miêu tả haynghị luận là những kiểu văn bản không cho phép trình bày theo bố cục nhtrên
Ngay cả trong những văn bản thuyết minh sử dụng bố cục ba phần thì nộidung của mỗi phần cũng không giống với kiểu văn bản tự sự, miêu tả hay nghịluận Chẳng hạn, bố cục ba phần của văn bản tự sự là: mở đầu câu chuyện(giới thiệu thời gian,địa điểm,nhân vật ), diễn biến các tình tiết truyện, kếtthúc truyện (kết quả, ý nghĩa câu chuyện ) Hay bố cục của một văn bản nghịluận là: Phần mở đầu nêu lên vấn đề cần bàn bạc, phần triển khai nghị luận,thuyết phục ngời nghe, phần kết thúc khẳng định lại và nêu ý nghĩa vấn
đề.Trong khi đó, ba phần của một văn bản thuyết minh thông thờng là:
-Phần mở đầu: giới thiệu đối tợng, làm cho ngời đọc xác định đợc kiểuvăn bản mà ngời viết đang sử dụng
-Phần triển khai: Thuyết minh về đối tợng
-Phần kết thúc: nêu công dụng, ý nghĩa thực tiễn của vấn đề
Sự khác nhau về nội dung từng phần nh trên giữa văn bản thuyết minh với
các kiểu văn bản khác cũng góp phần làm nên diện mạo riêng cho kiểu văn
bản này
b Về kết cấu
Nội dung của văn bản thuyết minh thờng rất phong phú, chứa hàm lợngthông tin cao Do đó, ngời viết phải biết cách trình bày nội dung theo nhữngtrình tự nhất định Trình tự ấylàm thành kết cấu của văn bản thuyết minh.Nhìn chung, văn bản thuyết minh thờng sử dụng một số kết cấu mang tínhchất ổn định: kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu theo trật tự không gian,kết cấu theo trật tự logic của đối tợng Nếu nh văn bản tự sự thờng sử dụngkiểu kết cấu theo trình tự thời gian sự kiện, văn bản miêu tả thờng kết cấu theotrình tự không gian, văn bản nghị luận đợc kết cấu theo các luận điểm, cáckhía cạnh của vấn đề; thì văn bản thuyết minh lại sử dụng tất cả các kiểu kếtcấu trên Đó chính là điểm độc đáo và cũng là một đặc trng hình thức của kiểuvăn bản này
Trang 17c.Về phơng pháp thuyết minh
Trớc hết cần phải hiểu rằng: khái niệm phơng pháp ở đây đợc hiểu theo ý
nghĩa là những cách thức để tạo lập văn bản thuyết minh Kiểu văn bản thuyếtminh sử dụng phơng thức trình bày, giới thiệu, giảng giải với nhiều phơngpháp khác nhau nh nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, so sánh,… Các phơngpháp này thờng đan xen nhau trong cùng một văn bản thuyết minh nhằm thoảmãn các yêu cầu trình bày hoặc giới thiệu, giảng giải hầu nh không có vănbản thuyết minh nào chỉ sử dụng duy nhất một phơng pháp Hơn các kiểu vănbản khác,văn bản thuyết minh, do yêu cầu nội tại, đòi hỏi sự đa dạng của cácphơng pháp trình bày đây là một đăc trng quan trọng của phơng pháp viết bàivăn thuyết minh
d Về ngôn ngữ
Ngoài những yêu cầu chung nh tính chính xác, trong sáng mà bất cứ vănbản nào cũng phải đạt đợc, mỗi kiểu văn bản còn có những đặc trng riêng vềmặt ngôn ngữ Bởi vì ngôn ngữ của một văn bản bao giờ cũng phải phù hợpvới đặc điểm của kiểu loại văn bản mà trong đó nó tồn tại Chẳng hạn, đối vớivăn bản nghệ thuật (tự sự, miêu tả), văn bản chính luận, ngôn ngữ phải giàumàu sắc cảm xúc chủ quan, giàu tính hình tợng Riêng đối với văn bản thuyếtminh là kiểu văn bản trình bày tri thức khách quan về sự vật hiện tợng thìngôn ngữ phải mang tính khách quan, chính xác và thờng đơn nghĩa để tránh
bị hiểu nhầm
Những đặc trng trên đây của văn bản thuyết minh sẽ là cơ sở giúp chúng
ta có thể phân biệt kiểu văn bản này với các kiểu văn bản khác Vấn đề này sẽ
đợc chúng tôi tiếp tục trình bày ở phần sau
1.1.3 Phân biệt văn bản thuyết minh với một số kiểu (dạng) văn bản khác.
Mỗi kiểu văn bản có những đặc trng riêng về nội dung và hình thức Vàdựa vào đó, ta có thể phân biệt kiểu (dạng) văn bản này với kiểu (dạng) vănbản khác.Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ tiến hành phân biệt vănbản thuyết minh với một số kiểu (dạng) văn bản khác cùng có mặt trong ch-
ơng trình phổ thông nh : Văn bản tự sự,văn bản miêu tả, văn bản nghị luận trên những nét cơ bản nhất
1.1.3.1 Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản nghị luận
Trang 18Hiện nay đã có khá nhiều cách định nghĩa về văn bản nghị luận mà mỗicách định nghĩa đều có những u điểm và hạn chế riêng Trên cơ sở tiếp thu cóphê phán những ý kiến đó, chúng tôi sẽ đa ra cách hiểu của mình về khái niệmnày nh sau:
Văn bản nghị luận là kiểu văn bản trong đó ngời viết (ngời nói) trình bày
ý kiến của mình bằng cách dùng lý luận (bao gồm cả dẫn chứng và lý lẽ) đểlàm sáng rõ một vấn đề nào đó, nhằm làm cho ngời đọc (ngời nghe) hiểu, tin,
đồng tình với ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đềxuất
Nh thế, mục đích của văn bản nghị luận là nhằm xác lập cho ngời đọc,ngời nghe một t tởng, quan điểm nào đó Đối tợng mà văn bản nghị luận hớngtới thể hiện là các vấn đề chính trị-xã hội và văn học.Về nội dung, văn bảnnghị luận thiên về trình bày các ý kiến, các lý lẽ để giải thích, chứng minh,phân tích, bình luận một vấn đề nào đó Những ý kiến, lí lẽ đó đợc tổ chứcthành các luận điểm,l uận cứ Nh thế, điểm mấu chốt của một văn bản nghịluận là ở các luận điểm, luận cứ Không có luận điểm, luận cứ thì khôngthành văn bản nghị luận.Về mặt ngôn ngữ, kiểu văn bản này mang phong cáchngôn ngữ nghị luận Nó chú trọng sự chính xác, chặt chẽ, vì mục đích củadiễn đạt trong văn nghị luận là nhằm phản ánh rõ ràng, chính xác quá trình tduy để đạt đến việc nhận thức chân lí.Tuy nhiên ngôn ngữ của văn nghị luậncũng cần có sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng chính cảm xúc của ngời viết thể hiệntrong đó chứ không chấp nhận sự khô khan, đơn điệu, nhất là khi đối tợngnghị luận là một vấn đề văn học
Từ cách hiểu về văn bản nghị luận nh trên và đặt nó trong sự so sánh vớikiểu văn bản thuyết minh, chúng tôi nhận thấy giữa hai kiểu văn bản này cónhững đặc điểm khác nhau cơ bản Cụ thể là:
Về mục đích, trong khi văn bản nghị luận đợc viết ra nhằm xác lập chongời đọc, ngời nghe một t tởng, quan điểm nào đó về các vấn đề xã hội-chínhtrị hay văn học, thì văn bản thuyết minh lại hớng tới mục đích cung cấp chongời đọc, ngời nghe những tri thức cụ thể, xác thực về đối tợng thuyết minh,giúp họ biết cách sử dụng những đối tợng đó vào mục đích hữu ích cho conngời
Từ sự khác nhau về mục đích đã dẫn tới sự khác nhau về nội dung giữahai kiểu văn bản này Nội dung của văn bản nghị luận là các luận điểm, luận
Trang 19cứ của ngời viết khi bàn bạc về một vấn đề nào đó.Còn văn bản thuyết minhchỉ đơn thuần trình bày tri thức, bao gồm các đặc điểm ,tính chất, nguyên lý,quy luật, quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của đối tợng thuyếtminh.
Do có nội dung và mục đích không giống nhau ,mỗi kiểu (dạng) văn bảnchúng ta đang nói tới ở đây có tính chủ quan - khách quan khác nhau.Tính chủquan - khách quan ở đây đợc hiểu theo nghĩa: thái độ của ngời viết thể hiệntrong mỗi kiểu (dạng) văn bản nh thế nào Đối với văn bản nghị luận, cảm xúcchủ quan của ngời viết đợc xem là một vấn đề có tính nguyên tắc Bởi vì nếungay cả ngời viết (ngời nói) cũng không có tình cảm,cảm xúc, không tin vàonhững t tởng, quan điểm mà mình đa ra trong văn bản thì làm sao có thể khiếncho ngời đọc (ngời nghe) hiểu và tin theo Và nh thế, mục đích của văn bảnnghị luận đã không thể đạt đợc
Trong khi đó nh chúng tôi đã phân tích ở phần trớc, một trong những đặc
điểm của văn bản thuyết minh là tính khách quan, trong đó bao hàm ý nghiãtính khách quan trong thái độ của ngời tạo lập văn bản Ngời tạo lập văn bảnthuyết minh cần phải có thái độ điềm tĩnh, bình thản trớc đối tợng mà mình
đang trình bày, giới thiệu
Tuy nhiên, sự phân biệt tính chủ quan - khách quan của hai kiểu văn bảnthuyết minh và nghị luận cần đợc hiểu một cách tơng đối Trên thực tế, trongnhiều văn bản thuyết minh, đặc biệt là các văn bản thuyết minh văn học, vẫnphần nào chứa đựng trong đó màu sắc biểu cảm và cảm xúc chủ quan của ngờiviết Sự phân biệt của chúng tôi ở đây nằm ở cấp độ khái quát trên những đặctrng lớn của mỗi kiểu văn bản, nhằm vạch ra một ranh giới tơng đối rõ nétgiữa hai kiểu văn bản nghị luận và thuyết minh
1.1.3.2 Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản tự sự
Văn bản tự sự là kiểu văn bản trong đó ngời viết sử dụng phơng thức tự sự
để trình bày một chuỗi các sự việc theo trình tự diễn biến nhất định, tạo thànhmột câu chuyện Qua đó, ngời viết bày tỏ thái độ của mình trớc hiện thựckhách quan đợc tái hiện qua nội dung văn bản
Từ đó, có thể xác định đợc đặc trng của dạng văn bản này nh sau:
Văn bản tự sự có nội dung là câu chuyện đợc kể, đợc viết ra với mục
đích kể lại câu chuyện đó, đồng thời bày tỏ thái độ của ngời viết đối với hiệnthực khách quan Mặt khác, vì là văn bản kể chuyện nên phơng thức biểu đạt
Trang 20chủ yếu ở đây là h cấu, tởng tợng Văn bản tự sự đợc viết bằng ngôn ngữ thuộcphong cách ngôn ngữ nghệ thuật mang tính đa nghĩa, tính hình tợng và tínhthẩm mĩ cao.
Qua việc xác lập một cách hiểu về văn bản tự sự nh trên, đồng thời từ quátrình tìm hiểu đặc trng của văn bản thuyết minh, chúng tôi nhận thấy giữa haikiểu văn bản này có khá nhiều điểm khác nhau:
Trớc hết, về nội dung và mục đích,nếu nh văn bản tự sự đợc viết ra nhằm
kể lại câu chuyện và qua đó, gửi gắm thái độ của ngời viết; thì văn bản thuyếtminh lại chủ yếu trình bày tri thức, làm cho ngời đọc (ngời nghe) hiểu thấu
đáo về đối tợng Mặt khác, văn bản thuyết minh không có nhân vật, cốttruyện, diễn biến các tình tiết nh văn bản tự sự mà chỉ có tri thức khách quan.Một điểm khác nhau nữa, nh chúng tôi đã nói ở trên, h cấu tởng tợng là
đặc điểm nổi bật của văn bản tự sự Trong khi đó, đối với tri thức mà văn bảnthuyết minh trình bày, thì h cấu tởng tợng là yếu tố tuyệt đối bị loại trừ Bởi vìmột trong những đặc trng và cũng là yêu cầu thiết yếu của văn bản thuyếtminh là tính khoa học, nghĩa là tri thức thuyết minh phải chính xác, phản ánh
đúng quy luật của thực tế khách quan
Đặc điểm ngôn ngữ của hai kiểu văn bản này cũng khác nhau: Văn phongthuyết minh là văn phong khoa học với những yêu cầu về tính chặt chẽ ,lô gic,
đơn nghĩa; khác với văn phong tự sự vốn hết sức linh hoạt, giàu hình tợng vàthờng đa nghĩa
1.1.3.3 Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản miêu tả
Văn bản miêu tả đã trở nên rất quen thộc đối với học sinh phổ thông.Ngay từ bậc tiểu học, các em đã đợc làm quen với kiểu văn bản này SGK Ngữ
văn 6, tập 2 đã định nghĩa kiểu văn bản này nh sau: Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp ngời đọc, ngời nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con ngời, phong cảnh…làm cho những cái đó nh hiện lện trớc mắt của ngời đọc, ngời nghe.
Nh vậy, nói cách khác, văn bản miêu tả đợc viết ra nhằm giup ngời đọc,ngời nghe cảm nhận đợc cái “hồn” của đối tợng Nó không giống với văn bảnthuyết minh đợc viết ra với mục đích để con ngời hiểu đối tợng
Hai kiểu văn bản trên đợc viết ra với 2 mục đích khác nhau Nhng cũngkhông thể phủ nhận rằng: Văn bản miêu tả là kiểu văn bản có nhiều điểmgiống và dễ bị nhầm lẫn với văn bản thuyết minh hơn cả Do đó, để tạo ra một
Trang 21sù khu biÖt gi÷a hai kiÓu v¨n b¶n nãi trªn, chóng t«i sÏ hÖ thèng ho¸ nh÷ng
®iÓm kh¸c nhau gi÷a chóng theo b¶ng sau:
• Cã h cÊu tëng tîng kh«ng nhÊt
thiÕt ph¶i trung thµnh víi sù vËt
• Dïng nhiÒu so s¸nh, liªn tëng
•Mang nhiÒu c¶m xóc chñ quan
cña ngêi viÕt
•Ýt dïng sè liÖu cô thÓ, chi tiÕt
•Thêng theo mét sè yªu cÇugièng nhau (mÉu)
Trang 22 Phân loại văn bản thuyết minh dựa trên tiêu chí đặc trng của nó Đây làcách phân chia của Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập 2, chơng trình nângcao Theo hớng này, các tác giả đã chia văn bản thuyết minh thành ba loại:
- Loại văn bản thuyết minh trình bày, giới thiệu sự vật là loại thông dụng
và cơ bản
- Loại văn bản thuyết minh có tính chất thực dụng, chủ yếu chỉ cung cấpthông tin cô đọng, chính xác nh bản giới thiệu thuốc, giới thiệu đồ điện tử,…loại này nói chung rất ngắn gọn, theo mẫu sẵn.Ví dụ: tờ giới thiệu thuốc cócác mục: thành phần, công dụng, liều dùng,
-Loại văn bản thuyết minh có tính nghệ thuật Tác giả dùng hình thức nghệthuật, xây dựng hình tợng để ngời đọc tỉếp thu nhẹ nhàng, vui vẻ.Ví dụ: Dulịch theo hệ hô hấp hay hệ tuần hoàn trong cơ thể con ngời
Hai loại sau thực ra là biến thể của loại trớc Trong chơng trình, học sinhchỉ học loại thứ nhất [30,12]
Cách phân chia này đã tạo ra một kết quả tơng đối rõ và bám sát chơngtrình Ngữ văn 10 Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy tiêu chí phân chia ở đâythiếu sự nhất quán: Nếu loại thứ nhất và loại thứ hai đợc phân chia theo tiêuchí đặc trng về mặt nội dung thì loại thứ hai và loại thứ ba lại đợc phân chiatrên cơ sở hình thức thể hiện
Phân loại văn bản thuyết minh dựa trên hình thức kết cấu mà chúng sửdụng Theo cách này,văn bản thuyết minh có thể đợc chia thành nhiềudạng, tơng ứng với các hình thức kết cấu Có bốn dạng chủ yếu:
- Dạng văn bản thuyết minh kết cấu theo trình tự thời gian
- Dạng văn bản thuyết minh kết cấu theo trình tự không gian
- Dạng văn bản thuyết minh kết cấu theo lô gíc của đối tợng
- Dạng văn bản thuyết minh có kết cấu hỗn hợp
Cách phân chia này tơng đối hợp lí nhng ít khi đợc sử dụng, bởi vì muốnbiết đợc một văn bản thuyết minh thuộc dạng nào, ngời đọc buộc phải tìmhiểu hình thức kết cấu của nó Việc làm này tốn không ít thời gian, công sức
và nhiều khi rất phức tạp bởi đa số các văn bản thuyết minh sử dụng không chỉmột hình thức kết cấu
Phân loại văn bản thuyết minh theo đối tợng Tiêu chí này đã đợc SGK ngữvăn 8 sử dụng để phân chia văn bản thuyết minh thành các dạng: Thuyếtminh một phơng pháp, thuyết minh một đồ dùng, thuyết minh một tác
Trang 23phẩm văn học…Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy rằng: Cách phân chia nàychỉ phù hợp với đối tợng học sinh THCS và vẫn cha bao quát đợc phạm vi
đối tợng hết sức rộng lớn mà văn bản thuyết minh thể hiện
Theo chúng tôi, có thể sử dụng tiêu chí đối tợng để phân chia văn bảnthuyết minh, nhng theo một hệ thống khác mà chúng tôi cho là hợp lí hơn.Dựa theo tiêu chí này chúng tôi chia văn bản thuyết minh thành các dạng nhsau:
-Dạng văn bản thuyết minh về các hiện tợng, vấn đề thuộc tự nhiên
-Dạng văn bản thuyết minh về các hiện tợng, vấn đề của đời sống xã hội-Dạng văn bản thuyết minh văn học
Để làm rõ hơn điều này, phần tiếp sau của khoá luận sẽ giành để trìnhbày các dạng văn bản thuyết minh theo hệ thống mà chúng tôi đã xác lập.1.1.4.1 Thuyết minh về các sự vật hiện tợng, vấn đề của tự nhiên
Thuộc dạng này là các văn bản thuyết minh về loài vật, cây trồng, cácdanh lam thắng cảnh…Đây là dạng văn bản thuyết minh rât phổ biến và đã đ-
ợc rèn luyện cho học sinh ngay ở bậc THCS
Để viết tốt dạng văn bản thuyết minh này, ngoài việc su tầm các tài liệu,
điều quan trọng là ngời viết phải trực tiếp quan sát, mắt thấy tai nghe đối tợng.Chẳng hạn, để thuyết minh một danh lam thắng cảnh thì phải trực tiếp đến nơithăm thú quan sát danh thắng đó Bài văn thuộc dạng văn bản thuyết minh nàythờng kèm theo yếu tố miêu tả để làm nổi bật đặc điểm của đối tợng và hấpdẫn ngời đọc (ngời nghe)
1.1.4.2 Thuyết minh về các sự vật hiện tợng, vấn đề thuộc đời sống xãhội
Thuộc dạng này là các văn bản thuyết minh về một phơng pháp (cáchlàm), thuyết minh về một loại đồ dùng, về một nhân vật lịch sử…
Để viết đợc dạng văn bản này điều cần thiết là su tầm đợc các tài liệu
đáng tin cậy, kết hợp với quan sát, thực nghiệm (đối với bài thuyết minh
ph-ơng pháp)
1.1.4.3 Thuyết minh về một hiện tợng văn học
Thực chất, văn học cũng là một vấn đề của đời sống xã hội.Tuy nhiên đây
là một vấn đề đặc biệt, do đó, chúng tôi tách các văn bản thuyết minh về đối
Trang 24t-ợng này ra khỏi dạng văn bản thuyết minh về các hiện tt-ợng của đời sống xãhội để dễ khảo sát và tìm hiểu.
Thuộc về dạng này là các văn bản thuyết minh về những vấn đề văn họcnh: tác giả, tác phẩm,giai đoạn, trào lu, thể loại văn học…Trong chơng trìnhphổ thông, ta có thể dễ dàng bắt gặp dạng văn bản thuyết minh này dới hìnhthức những bài giới thiệu ngắn trong phần tiểu dẫn, hoặc các bài thuyết minh
về thể loại văn học trong phần Tri thức đọc- hiểu v.v…
Để làm tốt dạng văn bản thuyết minh này, yêu cầu ngời viết không chỉcần hiểu đối tợng cần đợc thuyết minh, mà còn phải có một vốn kiến thức sâurộng về các vấn đề văn hoá, lí luận văn học và đời sống xã hội
1.2 Đặc điểm phần Làm văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn lớp
10 THPT
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày đặc điểm chơng trình Làm văn lớp
10 THPT, trong đó đặc biệt chú ý đến phần Làm văn thuyết minh
Với sự ra đời của bộ SGK Ngữ văn mới dành cho bậc THPT, Làm văn đãtrở thành một hợp phần, cùng với Tiếng Việt và Văn tạo nên một bộ mônthống nhất: môn Ngữ văn Cách biên soạn này đã thể hiện quan điểm tích hợprất rõ
Tinh thần tích hợp của hợp phần Làm văn biểu hiện chủ yếu ở quan hệgắn bó với Tiếng Việt và Đọc-hiểu văn bản Cụ thể: Kiến thức, kĩ năng sửdụng từ ngữ, câu, phong cách ngôn ngữ đợc vận dụng và rèn luyện trong nộidung thực hành tạo lập văn bản Ngữ liệu trong bài Làm văn chủ yếu đợc lấy
từ các văn bản của phần Đọc hiểu Ví dụ: Văn bản Truyện An Dơng Vơng và
Mỵ Châu- Trọng Thuỷ (Ngữ văn 10, tập 1) học ở tuần thứ ba trong phần Văn,
đến tuần sáu, văn bản này lại đợc sử dụng làm ngữ liệu để học sinh rèn luyệnthao tác chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự
Trang 25Tinh thần tích cực cũng đợc thể hiện rất rõ trong chơng trình Làm văn lớp
10 THPT Đó là việc rút ngắn, bỏ bớt những kiến thức nặng nề, thuần líthuyết, thay vào đó là các bài tập thực hành Các nội dung lí thuyết chủ yếu đ-
ợc trình bày theo hớng quy nạp (nhất là ở chơng trình chuẩn), học sinh rút ra líthuyết qua việc thực hành phân tích ngữ liệu và trả lời câu hỏi gợi ý Rõ ràng,
đây là cách làm có thể phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh ở mức độcao nhất Học sinh không chỉ lĩnh hội tri thức từ thầy mà còn tự mình tìm ra trithức và chiếm lĩnh nó
Mặt khác, việc SGK Ngữ văn 10 đa vào nội dung văn bản nhật dụng cũng
là một biểu hiện của tinh thần tích cực Học sinh học tập môn Ngữ văn theoSGK mới sẽ đợc làm quen và thực hành tạo lập những kiểu văn bản mà các emthờng gặp và có nhu cầu sử dụng cao trong thực tiễn đời sống: văn bản quảngcáo, đơn từ, trình bày một vấn đề bằng miệng…
1.2.1.2 Chơng trình Làm văn là một hợp phần quan trọng của môn Ngữ vănlớp 10 THPT
Tính chất quan trọng của hợp phần Làm văn trong chơng trình Ngữ vănlớp 10 THPT đợc thể hiện rõ ở tơng quan giữa số tiết của nó so với tổng sốtiết Ngữ văn mà học sinh lớp 10 THPT đợc học Trong chơng trình chuẩn( ban cơ bản), học sinh đợc học 105 tiết Ngữ văn/ 35 tuần/ năm Trong đó sốtiết Làm văn là 34 tiết, chiếm 32,4% Đó là cha kể 4 bài viết học sinh làm ởnhà
Trong chơng trình Ngữ văn 10 nâng cao, học sinh đợc học 140 tiết Ngữvăn/ 35 tuần/ năm Trong đó có 44 tiết Làm văn, chiếm 31,4%
1.2.1.3 Các nội dung chính trong chơng trình Làm văn 10 THPT (bao gồm cảchơng trình chuẩn và chơng trình nâng cao)
a Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản
Phần này nhằm hệ thống hoá những kiến thức chung đã học ở THCS.Theo truyền thống, phần kiến thức và kỹ năng liên quan đến văn bản đợc đặttrong môn Tiếng Việt (Ngữ pháp văn bản) Xuất phát từ quan niệm cho rằng,công việc chủ yếu của làm văn là tạo lập các loại văn bản, chơng trình Ngữvăn mới từ THCS đến THPT chủ trơng chuyển phần này sang phần Làmvăn.Ví dụ ở THCS, học sinh đợc học: văn bản và đặc điểm văn bản, tính thốngnhất về chủ đề văn bản, đoạn văn, liên kết câu trong đoạn và cách thức chuyển
Trang 26ý, chuyển đoạn ở lớp 10 THPT, học sinh đợc tiếp tục hoàn thiện kiến thức vềvăn bản, về nội dung hình thức của văn bản và về văn bản văn học…
Tính nhất quán trong việc quán triệt quan điểm này đợc thể hiện trongtoàn bộ chơng trình ngữ văn 10 THPT
b Các kiểu văn bản và phơng thức biểu đạt
Nhiệm vụ của chơng trình Làm văn 10 chủ yếu là ôn tập, hệ thống hoá,nâng cao thêm các kiến thức và kỹ năng của học sinh, tạo điều kiện để mởrộng, nâng cao và hoàn thiện ở các lớp 11,12 tiếp theo Theo tinh thần đó, ch -
ơng trình Làm văn 10 gồm một số nội dung cơ bản sau đây:
Nếu so với chơng trình Làm văn 10 chỉnh lí hợp nhất 2000 , ta thấy
ch-ơng trình Ngữ văn mới có nhiều điểm khác biệt Sở dĩ có thể nói nh vậy là bởivì: chơng trình Làm văn cũ chỉ học về kiểu bài văn nghị luận (nghị luận xãhội và nghị luận văn học).Trong khi đó, chơng trình Ngữ văn mới đa vào hợpphần Làm văn nhiều kiểu văn bản mới: văn bản quảng cáo, kế hoạch cá nhân,văn bản thuyết minh Văn nghị luận trong chơng trình mới chỉ chiếm một vịtrí khiêm tốn để dành chỗ cho văn bản tự sự và thuyết minh
1.2.1.4 Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, các tiết học cụ thể trong chơng trìnhLàm văn lớp 10 THPT đợc triển khai và sắp xếp theo các cụm bài:
- Văn bản tự sự:
+Lập dàn ý bài văn tự sự
+Chọn sự việc chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự
+Miêu tả biểu cảm trong văn tự sự
+Luyện tập viết đoạn văn tự sự
+Tóm tắt văn bản tự sự
- Văn bản thuyết minh:
+Các hình thức kết cấu bài văn thuyết minh
+Lập dàn ý bài văn thuyết minh
+Tính chuẩn xác, hấp dẫn của bài văn thuyết minh
Trang 27chẳng hạn, về văn bản tự sự chỉ có hai bài: Tóm tắt văn bản tự sự và Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài tự sự Về văn bản thuyết minh cũng chỉ có ba bài: Các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh, Luyện tập vận dụng các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh và Tóm tắt văn bản thuyết minh,…Thêm vào
đó, trong chơng trình Làm văn của bộ sách Ngữ văn 10 nâng cao, các tác giảSGK đã đa thêm vào một số bài có tính chất nâng cao và mở rộng kiến thức,
chẳng hạn nh: Phân loại văn bản theo phơng thức biểu đạt, Thực hành lập ý
và viết đoạn văn theo những yêu cầu khác nhau, Đọc tích luỹ kiến thức, Liên tởng, tởng tợng…
Ngoài ra, toàn năm học có 7 bài viết (cả chơng tình chuẩn và chơng trìnhnâng cao): một bài ôn tập kiểu bài phát biểu cảm nghĩ, 2 bài văn tự sự, 3 bàivăn thuyết minh và 1 bài văn nghị luận Chỉ riêng với điều này cũng đủ cho tathấy đợc tầm quan trọng của văn thuyết minh trong chơng trình Làm văn lớp
Trang 28thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT, chúng tôi sẽ trình bàythành hai tiểu mục: Đặc điểm của phần Làm văn thuyết minh trong chơngtrình Ngữ văn lớp 10 THPT - ban cơ bản và Đặc điểm phần Làm văn thuyếtminh trong chơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT nâng cao.
1.2.2.1 Đặc điểm phần Làm văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn lớp
10 THPT-ban cơ bản
Trong chong trình Ngữ văn THCS, văn bản thuyết minh đã đợc đa vào
nh một nội dung trọng tâm để học sinh rèn luyện
ở lớp 8, học sinh đã đợc tìm hiểu khá kĩ về văn bản thuyết minh, baogồm các vấn đề: Khái niệm văn bản thuyết minh, phơng pháp thuyết minh, đềvăn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh, một số dạng văn bản thuyếtminh cụ thể
Lên lớp 9 các em tiếp tục đợc bổ sung kiến thức và kĩ năng về văn thuyếtminh thông qua các bài học: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong vănbản thuyết minh, Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh, các tiếtluyện tập…( Về vấn đề này, xin xem thêm phụ lục 1)
Trong chơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT, văn bản thuyết minh vẫn là mộttrong những vấn đề trọng tâm Có thể nói rằng, phần Làm văn thuyết minh ởlớp 10 THPT vừa là sự củng cố, vừa là sự tiếp nối, hoàn thiện các kiến thức và
kỹ năng mà học sinh đã đợc học ở bậc THCS Chẳng hạn, ở lớp 8, học sinh đã
đợc tìm hiểu một số phơng pháp thuyết minh nh: phơng pháp nêu định nghĩa,giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích Lênlớp 10, học sinh tiếp tục đợc học về các phơng pháp thuyết minh.Trong bàihọc này, học sinh vừa đợc ôn lại các phơng pháp đã học, vừa đợc làm quen vớimột số phơng pháp thuyết minh khác, nh: thuyết minh bằng cách giảng giảinguyên nhân-kết quả, thuyết minh bằng cách chú thích Một câu hỏi đặt ra là:Tại sao không cho học sinh lớp 8 THCS tìm hiểu luôn hai phơng pháp thuyếtminh này? Câu trả lời ở đây là: So với nhng phơng pháp thuyêt minh nh nêu
ví dụ,dùng số liệu, phân tích, phân loại… Thì hai phơng pháp này có độ “khó”cao hơn đối với học sinh kể cả trong việc tiếp thu kiến thức và vận dụngchúng trong quá trình viết bài văn thuyết minh
Bên cạnh việc hoàn thiện, nâng cao hơn kiến thức và kĩ năng thì phầnLàm văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT so với phầnLàm văn thuyết minh ở lớp 8 THCS còn có một đặc điểm khác biệt rất lớn: Do
Trang 29đối tợng học sinh lớp 8 THCS vốn kiến thức cha nhiều, mới bắt đầu làm quenvới kiểu văn bản thuyết minh nên phần Làm văn thuyết minh ở lớp 8 THCSgắn bó chặt chẽ với chơng trình Đọc- hiểu văn bản Chẳng hạn, trong khi ch-
ơng trình Tập làm văn học về văn bản thuyết minh (Tìm hiểu chung về văn thuyết minh, Phơng pháp thuyết minh thì chơng trình đọc hiểu cũng có các bài học tơng ứng: Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch thuốc lá, Bài toán dân số…là những văn bản sử dụng rất nhiều các yếu tố thuyết minh và
phơng pháp thuyết minh
Còn trong chơng trình Ngữ văn 10 THPT, phần Làm văn thuyết minh ítgắn bó hơn với phần Đọc - hiểu văn bản Có thể giải thích điều này nh sau: đốitọng học sinh lớp 10 THPT là đối tọng học sinh lớn hơn, đã đợc tiếp xúc vớinhiều văn bản thuyết minh trong đời sống và đã có vốn kiến thức về kiểu vănbản này từ THCS
Tóm lại, trong cái nhìn đối sánh với phần Làm văn thuyết minh trong
ch-ơng trình Ngữ văn THCS, phần Làm văn thuyết minh trong chch-ơng trình Ngữvăn lớp 10 THPT là sự củng cố, hoàn thiện và nâng cao hơn về kiến thức và kĩnăng trong các đơn vị bài học
Còn xét trong chơng trình Làm văn ở bộ SGK Ngữ văn 10 - chơng trìnhchuẩn, phần Làm văn thuyết minh có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, nó chiếm một phần lớn trong toàn bộ thời lợng giành cho hợpphần này Trong 34 tiết Làm văn mà học sinh đợc học tại lớp (kể cả các tiếtviết bài ở lớp) thì có 10 tiết giành cho văn thuyết minh (kể cả hai tiết viết bài
ở lớp ), chiếm 30,3%.Còn nếu tính riêng số lợng các bài làm văn viết thìthuyết minh chiếm 3/7 bài trong toàn bộ năm học của học sinh lớp 10 THPT,chiếm 42,9%
Thứ hai, các tiết học về văn thuyết minh đợc sắp xếp thành một cụm bài,
đợc bố trí trong các tuần học liên tục từ tuần 18 đến tuần 26 của nămhọc.Trong 10 tiết học tại lớp của phần Làm văn thuyết minh, có 6 tiết dànhcho việc hình thành tri thức lí thuyết và rèn luyện kĩ năng lập dàn ý dựng
đoạn, tóm tắt văn bản thuyết minh Cụ thể nh sau:
Tuần 18: - các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh
- Lập dàn ý bài văn thuyết minh
Tuần 20: Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh
Tuần 23: Phơng pháp thuyết minh
Trang 30Tuần 24: Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh
Tuần 25: Tóm tắt văn bản thuyết minh
Việc bố trí các bài học về văn bản thuyết minh thành một cụm bài manglại nhiều lợi ích: Đảm bảo tính hệ thống, giúp cho học sinh có điều kiện đi sâutìm hiểu về kiểu văn bản này và có những kĩ năng tổng hợp để viết đợc mộtbài văn thuyết minh đúng yêu cầu
Thứ ba, trong các bài học về văn bản thuyết minh thuộc chơng trìnhchuẩn, kiến thức đợc trình bày theo con đờng qui nạp, đợc cung cấp chủ yếu
qua hình thức phân tích ngữ liệu (Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh, phơng pháp thuyết minh, tóm tắt văn bản thuyết minh) Từ sự phân
tích các ngữ liệu đợc đa ra trong SGK, học sinh tự rút ra các tri thức lý thuyếtcần thiết
ở một số đơn vị bài học khác nh Lập dàn ý bài văn thuyết minh, Luyện
tập viết đoạn văn thuyết minh thì kiến thức và kĩ năng lại đợc hình thành cho
học sinh thông qua con đờng vấn đáp, cụ thể ở đây là trả lời câu hỏi SGK.Việc hình thành tri thức trên đây đợc thực hiện theo con đờng quy nạp,
“Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng”, phù hợp với sự phát triển t duycủa cấu trúc của một đơn vị bài học thuộc chơng trình Ngữ văn10, ban cơ bản
1.2.2.2 Đặc điểm phần Làm văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn lớp
10 THPT nâng cao
Phần Làm văn thuyết minh trong bộ sách Ngữ văn lớp 10 nâng cao vẫn là
sự tiếp nối, củng cố và hoàn thiện kiến thức về kiểu văn này mà học sinh đã
đ-ợc học ở bậc THCS Tuy nhiên, do đối tợng học sinh của bộ sách này là những
Trang 31học sinh theo chơng trình phân ban Khoa học xã hội -nhân văn nên so với
ch-ơng trình chuẩn, phần Làm văn thuyết minh trong chch-ơng trình Ngữ văn nângcao có một số điểm khác biệt cần phải làm rõ
Thứ nhất, số tiết dành cho việc hình thành kiến thức lí thuyết và rèn luyện
kĩ năng ở trên lớp của phần làm văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn 10nâng cao ít hơn so với chơng trình chuẩn Nếu nh số tiết Làm văn thuyết minhcủa chơng trình chuẩn là 10 tiết thì ở chơng trình nâng cao chỉ có 5 tiết Trừ 2tiết viết bài và trả bài thì số tiết học còn lại của phần này là 3 tiết, bao gồm các
đơn vị bài học:
- Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh (1 tiết)
- Luyện tập vận dụng các hình thức kết cấu trong văn bản thuyết minh (1tiết)
- Tóm tắt văn bản thuyết minh (1 tiết)
Số bài viết rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản thuyết minh trong chơngtrình nâng cao cũng ít hơn trong chơng trình chuẩn cụ thể: Chơng trình chuẩn
có 3 bài viết văn thuyết minh (bài viết số 4, số 5, số 6), còn trong ch ơng trìnhnâng cao chỉ có 2 bài (bài viết số 5, số 6)
Bên cạnh đó, nội dung kiến thức của một đơn vị bài học về văn thuyếtminh trong chơng trình nâng cao cũng đợc trình bày theo phơng pháp khác
Nh trên đã phân tích, kiến thức của các đơn vị bài học Làm văn thuyết minhtrong chơng trình chuẩn chủ yếu đợc phát hiện bằng con đờng quy nạp, còn ởchơng trình nâng cao, kiến thức lí thuyết đợc trình bày chủ yếu theo hớng diễndịch,trực tiếp, ngắn gọn trong một mục của SGK Phần còn lại dành cho việcluyện tập Việc trình bày nh thế là phù hợp với đối tợng học sinh Ban khoahọc xã hội - nhân văn, vì đây là đối tợng học sinh tơng đối khá, có khả năngtiếp thu những kiến thức mang tính chất trừu tợng hơn
Cấu trúc của một đơn vị bài học Làm văn thuyết minh trong chơng trìnhnâng cao cũng có điểm khác so với cấu trúc của một đơn vị bài học Làm vănthuyết minh thuộc chơng trình chuẩn: Cụ thể, một đơn vị bài học Làm vănthuyết minh trong chơng trình nâng cao bao gồm các phần sau:
- Kết quả cần đạt
- Nội dung
- Luyện tập
Trang 32Nh thế, có thể dễ dàng nhận thấy rằng các đơn vị bài học Làm văn thuyết
minh trong chơng trình nâng cao không có phần Ghi nhớ Sở dĩ có điều đó là
bởi vì phần Ghi nhớ trong các đơn vị bài học Làm văn thuyết minh thuộc
ch-ơng trình chuẩn đợc dùng để hệ thống lại kiến thức cơ bản của bài, mà cáckiến thức này đã đợc trình bày rất ngắn gọn và rõ ràng trong phần nội dung ởcác đơn vị bài học thuộc chơng trình nâng cao
2, chơng trọng tâm của khoá luận này: Tìm hiểu những phơng pháp và hìnhthức dạy học phù hợp trong việc tổ chức dạy học các nội dung lí thuyết và rènluyện kĩ năng Làm văn thuyết minh cho học sinh lớp 10 THPT
Chơng 2
Hớng dẫn dạy học Làm văn thuyết minh trong
ch-ơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT
Trong chơng 1, chúng tôi đã trình bày đặc điểm của văn bản thuyết minh
và đặc điểm của phần Làm văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn lớp 10THPT Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng,văn bản thuyết minh là kiểu văn bảnrất quan trọng trong đời sống hiện đại, và văn thuyết minh cũng là một kiểu
Trang 33bài rất quan trọng của chơng trình Làm văn lớp 10 THPT Bởi vậy, việc dạyhọc nội dung này thế nào để đạt hiệu quả cũng là một vấn đề cần phải đợc đặt
ra Trong khuôn khổ khoá luận này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu một số phơngpháp và hình thức dạy học Làm văn thuyết minh, nhằm giúp cho các giáo viênphần nào bớt đi những khó khăn, vớng mắc khi dạy phần này trong chơngtrình Ngữ văn lớp 10 THPT
2.1 Các nội dung lí thuyết và kĩ năng Làm văn thuyết minh cần hình thành cho học sinh lớp 10 THPT
2.1.1 Các nội dung lí thuyết Làm văn thuyết minh cần hình thành cho học sinh trong chơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT
Không giống các hợp phần khác nh văn học sử, Lí luận văn học là nhữnghợp phần cung cấp lí thuyết theo kiểu đầu ra, tri thức Làm văn là tri thức đợccung cấp cho học sinh theo kiểu đầu vào Nghĩa là, việc dạy học Làm vănkhông dừng lại ở chỗ học sinh nắm bắt đợc tri thức lí thuyết mà quan trọnghơn là phải làm sao cho nguời học biết cách vận dụng lí thuyết đã học vào cáchoạt động thực hành, đặc biệt là thực hành tạo lập văn bản Nói cách khác, líthuyết Làm văn là lí thuyết có tính chất công cụ, lí thuyết kĩ năng, lí thuyết cótác dụng hớng dẫn và chỉ đạo hoạt động thực hành Việc dạy học các nội dung
lí thuyết không ngoài mục đích của hoạt động làm văn: giúp học sinh biếtcách vận dụng kiến thức đã học về các kiểu bài, các mô hình, qui trình, thaotác thực hiện …vào việc tạo lập, nhận diện các loại văn bản và có khả năng tựkiểm tra, đánh giá năng lực làm văn của bản thân mình
Xét riêng trong phần làm văn thuyết minh, dạy các nội dung lí thuyếtcho học sinh trớc hết là dạy lí thuyết về kiểu bài, các mô hình kết cấu, các ph-
ơng pháp tạo lập văn bản thuyết minh, lí thuyết về cách viết đoạn văn trongvăn bản thuyết minh, cách lập dàn ý cho kiểu bài này,v.v…Trong đó, lí thuyết
về kiểu bài, về một số phơng pháp thuyết minh…học sinh đã đợc học từ bậcTHCS.Trong chơng trình lớp 10, những tri thức này đợc củng cố lại, nâng cao
và hoàn thiện hơn bên cạnh đó, phần Làm văn thuyết minh ở lớp 10 THPTdành phần lớn thời lợng cho việc cung cấp lí thuyết về các kĩ năng thực hành
cụ thể: kĩ năng viết đoạn văn trong bài văn thuyết minh, kĩ năng lập dàn ý, kĩnăng tóm tắt văn bản thuyết minh
Trang 34Không nằm ngoài mục tiêu của việc dạy lí thuyết Làm văn, việc dạy cáctri thức lí thuyết Làm văn thuyết minh cho học sinh lớp 10 THPT cũng nhằmgiúp các em có khả năng vận dụng chúng vào thực hành dựng đoạn, lập dàn ý,tóm tắt văn bản thuyết minh…Và mục đích cuối cùng là biết cách tạo lập mộtvăn bản thuyết minh chuẩn xác, hấp dẫn.
Những nội dung lí thuyết Làm văn thuyết minh cụ thể cần trang bị chohọc sinh lớp 10 THPT rất phong phú Cụ thể là:
2.1.1.1.Lí thuyết về các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh
ở nội dung này, trớc hết, giáo viên phải giúp học sinh hiểu khái niệm kết
cấu văn bản SGK Ngữ văn 10 đã viết rất rõ: Kết cấu văn bản là sự tổ chức, sắp xếp các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa Ngời viết có thể chọn các hình thức kết cấu khác nhau nhng dù cách nào cũng phải phù hợp với mối liên hệ bên trong của các đối tợng, quan hệ giữa đối tợng với môi trờng xung quanh và quá trình nhận thức của con ngời [24,165]
Tiếp đó, cần tổ chức cho học sinh tìm hiểu các hình thức kết cấu của vănbản thuyết minh, bao gồm các hình thức chủ yếu sau đây:
- Kết cấu theo trình tự thời gian: trình bày sự vật, vấn đề theo quá trìnhhình thành, vận động, phát triển của chúng
- Kết cấu theo trình tự không gian: trình bày sự vật, vấn đề theo cấu tạovốn có của nó: bên trên, bên dới, bên ngoài, bên trong; hoặc theo trật tự quansát, từ xa đến gần, từ trung tâm đến các bộ phận xung quanh
- Kết cấu theo trật tự lô gíc: trình bày sự vật, vấn đề theo các mối quan hệnhân - quả, chung - riêng,hiện tợng - bản chất; theo thứ tự từ thấp lên cao, từquan hệ vật này với vật khác, từ cái đã biết đến cái cha biết
- Kết cấu hỗn hợp: trình bày sự vật với sự kết hợp nhiều trình tự khácnhau
Trong quá trình dạy các tri thức lí thuyết về hình thức kết cấu của vănbản thuyết minh, giáo viên cũng phải tạo cho học sinh ý thức lựa chọn hìnhthức nào cho phù hợp với từng đề văn và biết cách vận dụng nó trong quá trìnhlàm bài văn thuyết minh
2.1.1.2 Lí thuyết về tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh
ở nội dung này, trớc hết, học sinh phải hiểu đợc thế nào là tính chuẩn xác
và tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh Quan trọng hơn, giáo viên cần giúp
Trang 35học sinh biết cách tạo lập đợc một văn bản thuyết minh chuẩn xác và hấp dẫn.Chẳng hạn, để đạt đợc sự chuẩn xác, khi viết văn bản thuyết minh, ngời viếtcần phải chú ý nhiều điểm: Phải tìm hiểu thấu đáo vấn đề cần thuyết minh, thuthập đầy đủ tài liệu tham khảo về đối tợng, nhất là các tài liệu có giá trị và
đáng tin cậy, phải cập nhật những thông tin mới và những thay đổi của đối ợng (nếu có),v.v hoặc để tạo ra đợc một văn bản thuyết minh hấp dẫn thì ng-
t-ời viết có thể sử dụng một số biện pháp nh: Đa ra những chi tiết cụ thể, sinh
động, những con số chính xác để bài văn không trừu tợng, mơ hồ; So sánh đểlàm nổi bật sự khác biệt, khắc sâu vào trí nhớ ngời đọc; Kết hợp sử dụng nhiềukiểu câu để làm cho bài văn thuyết minh biến hoá linh hoạt, không đơn điệu,v.v…Tất cả những vấn đề lí thuyết trên đây là nội dung của bài học về tínhchuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thyết minh mà giáo viên cần tổ chức cho họcsinh chiếm lĩnh
2.1.1.3 Lí thuyết về cách lập dàn ý cho bài văn thuyết minh
ở nội dung này, giáo viên nên hớng dẫn học sinh ôn tập lại kiến thức vềdàn ý và cách lập dàn ý cho một đề văn Tuy nhiên, đây không phải là vấn đềtrọng tâm và không nên chiếm quá nhiều thời gian của tiết học
Thông qua việc hớng dẫn học sinh tìm hiểu hệ thống câu hỏi trong SGK,giáo viên cần giúp học sinh nhận ra một số nội dung lí thuyết về cách xác định
đề tài, cách lập dàn ý cho một bài văn thuyết minh Chẳng hạn trong khâu lậpdàn ý, phần mở bài cần nêu đợc một số nội dung nh: Vấn đề đợc thuyết minh,
đồng thời phải làm cho ngời đọc nhận ra kiểu văn bản của bài làm là thuyếtminh chứ không phải miêu tả hay tự sự Mặt khác, ngay từ khâu lập dàn ý,trong phần mở bài, học sinh phải có ý thức tạo ra sự lôi cuốn đối với ngời đọc,ngời nghe bằng những cách thức khác nhau
2.1.1.4 Lí thuyết về một số phơng pháp thuyết minh
Trong nội dung này, trớc hết, giáo viên cần cho học sinh thấy đợc vai tròcủa phơng pháp thuyết minh - hiểu theo ý nghĩa là các biện pháp, cách thức
để tạo lập một văn bản thuyết minh
Tiếp đó, vì ở bậc THCS, học sinh đã đợc làm quen với một số phơng phápthuyết minh nh: Nêu dịnh nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, so sánh,…nên khi dạy họcnội dung này, giáo viên cần hớng dẫn tổ chức học sinh ôn tập lại một số vấn
đề lí thuyết và nhận diện đợc các phơng pháp thuyết minh đã học đợc sử dụngtrong ngữ liệu mà SGK đa ra
Trang 36Quan trọng hơn, trọng tâm của bài học về phơng pháp thuyết minh ở lớp
10 THPT là giới thiệu một số phơng pháp thuyết minh mới nh: Thuyết minhbằng cách chú thích, thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên nhân - kết quả
Đồng thời, qua bài này, học sinh cũng cần ý thức đợc yêu cầu đối vớiviệc vận dụng phơng pháp thuyết minh: việc lựa chọn, vận dụng và phối hợpcác phơng pháp thuyết minh cần tuân thủ nguyên tắc: Không xa rời mục đíchthuyết minh; làm nổi bật bản chất và đặc trng của sự vật, hiện tợng; làm chongời đọc, ngời nghe tiếp nhận dễ dàng và hứng thú
2.1.1.5 Lí thuyết về cách viết đoạn văn thuyết minh
Để dạy học nội dung này, giáo viên cần tổ chức cho học sinh ôn tập, hệthống hoá lại kiến thức về đoạn văn và đoạn văn thuyết minh Sau đó, giáoviên hớng dẫn học sinh tìm hiểu cách thức để viết một đoạn văn thuyết minh
và những yêu cầu cần có để viết tốt một đoạn văn thuyết minh: Nắm vữngkiến thức về đoạn văn thuyết minh; có đủ những tri thức cần thiết và chuẩnxác để làm rõ ý chung của đoạn, sắp xếp hợp lí các tri thức đã có theo mộttrình tự rõ ràng rành mạch
2.1.1.6 Lí thuyết về cách tóm tắt văn bản thuyết minh
ở nội dung này, giáo viên cần giúp học sinh xác định đựoc mục đích yêucầu của việc tóm tắt văn bản thuyết minh Đồng thời học sinh cũng phải nắm
đợc phơng pháp chung để tóm tắt một văn bản thuyết minh : Đọc văn bản gốc
để nắm vững đối tợng thuyết minh, tìm bố cục văn bản, viết tóm lợc ý chính
để hình thành văn bản tóm tắt
2.1.2 Các kĩ năng Làm văn thuyết minh cần rèn luyện cho học sinh trong chơng trinh Ngữ văn lớp 10 THPT
2.1.2.1 Kĩ năng tìm ý cho bài văn thuyết minh
ở lớp 8 THCS, học sinh đã đợc tìm hiểu khá kĩ về văn thuyết minh và đãthực hành tạo lập một số văn bản thuộc kiểu bài này Do đó, trên thực tế, kĩnăng tìm ý cho bài văn thuyết minh đã đợc chú ý rèn luyện cho học sinh ngay
từ lúc này Tuy nhiên, ở lớp 10 THPT, do yêu cầu cao hơn của chơng trình đốiviệc học tập và thực hành tạo lập văn bản thuyết minh, kĩ năng tìm ý cho bàivăn thuyết minh vẫn cần đợc giáo viên chú trọng Để rèn luyện kĩ năng này,cần cho học sinh thấy rõ tầm quan trọng của việc quan sát, nghiên cứu, su tầmtài liệu về đối tợng cần thuyết minh; chẳng hạn, để thuyết minh về một di tích
Trang 37lịch sử hay một danh lam thắng cảnh, ngòi viết cần phải đến tận nơi để quansát, ghi chép về nơi đó, đồng thời phải su tầm đợc những tài liệu bổ ích, đángtin cậy, từ đó chọn lọc và sắp xếp thành các ý của một bài văn.
Có hai con đờng để tìm ý cho một bài văn thuyết minh: gián tiếp (quasách báo, truyền hình, lài liệu nghiên cứu…), trực tiếp ( quan sát trực tiếp đốitợng) Để chuẩn bị cho việc viết một bài văn thuyết minh, giáo viên cần gợi ý
để các học sinh có sự chuẩn bị chu đáo, công phu trớc đó
Trong chơng trình Làm văn lớp 10 THPT không có tiết học giành choviệc tìm ý cho bài văn thuyết minh Tuy nhiên, kĩ năng này vẫn rất cần đợcrèn luyện, củng cố cho học sinh trong mỗi bài văn viết Công việc này có thể
đợc tiến hành khi ra đề văn, trong giờ trả bài cho học sinh hoặc ngay trongcác tiết học về nội dung khác Trong trờng hợp sau, có thể cho học sinh thấy
đợc cách tìm ý qua việc phân tích các ngữ liệu
2.1.2.2 Kĩ năng vận dụng các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh
Về thực chất, việc vận dụng các hình thức kết cấu để viết một văn bảnthuyết minh cũng chính là tìm cách săp xếp bố cục cho bài văn một cách hợp
lí Văn thuyết minh có nhiều kiểu kết cấu, ngời viết có thể lựa chọn một hoặcmột số kiểu kết cấu vào trong bài văn của mình Chẳng hạn: nếu ngời viết lựachọn kiểu kết cấu theo trình tự thời gian thì các ý trong bài văn sẽ đợc sắp xếptheo trình tự ấy: việc nào diễn ra trớc thì nói trớc, sự việc nào diễn ra sau thìnói sau
Rèn luyện cho học sinh vận dụng các hình thức kết cấu của văn bảnthuyết minh tức là phải làm sao để các em căn cứ vào yêu cầu đề ra và đối t -ợng thuyết minh có thể xác định đợc với yêu cầu ấy, đối tợng ấy thì nên sửdụng hình thức kết cấu nào.Chẳng hạn: nếu thuyết minh một danh lam thắngcảnh, một di tích lịch sử thì nên kết cấu theo trình tự không gian, còn khithuyết minh về một lễ hội, một sự kiện có diễn biến bắt đầu - kết thúc thì nên
sử dụng hình thức kết cấu theo trình tự thời gian, v.v…
2.2.1.3 Kĩ năng lập dàn ý cho bài văn thuyết minh
Muốn viết một bài văn đủ ý, mạch lạc, chuẩn xác thì ngời viết không thể
bỏ qua khâu lập dàn ý.Do đó,kĩ năng lập dàn ý là một kĩ năng quan trọng màkhi dạy một kiểu văn bản nào, giáo viên cũng cần rèn luyện cho học sinh.Riêng đối với văn bản thuyết minh là kiểu văn bản đòi hỏi cao ở tính khoahọc, tính tri thức khi khâu lập dàn ý càng trở nên cần thiết
Trang 38Việc lập dàn ý đã trở thành một việc làm quen thuộc đối với học sinhngay từ bậc tiểu học Do đó, ở lớp 10 THPT, giáo viên không cần phải dạy lại
từ đầu lí thuyết về dàn bài và các bớc lập một dàn bài mà cần chú trọng hơnvào việc hớng dẫn học sinh lập một dàn ý phù hợp với kiểu bài thuyết minh và
đáp ứng đợc một cách tốt nhất những yêu cầu đã đợc đặt ra ở đề bài
2.2.1.4 Kĩ năng sử dụng các phơng pháp thuyết minh
ở cấp THCS, học sinh đã đợc học một loạt phơng pháp thuyết minh: Nêu
định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích.Lênlớp 10 THPT, các em đợc bổ sung thêm hai phơng pháp thuyết minh nữa:Thuyết minh bằng cách chú thích, thuyết minh bắng cách giảng giải nguyênnhân-kết quả…Và chắc chắn đấy cha phải là tất cả những cách thức trong hệthống phơng pháp có thể dùng để thuyết minh Tuy nhiên, vấn đề không phải
ở chỗ học sinh nắm đợc bao nhiêu phơng pháp, mà ở chỗ các em vận dụngnhững phơng pháp ấy nh thế nào trong việc tạo lập văn bản thuyết minh
Để giải thích vấn đề trên, trong khi tổ chức cho học sinh ôn tập và tiếpnhận kiến thức về các phơng pháp thuyết minh, giáo viên đồng thời phải rènluyện cho các em biết cách vận dụng những phơng pháp đó vào từng trờnghợp, từng đề văn cụ thể
Kĩ năng sử dụng các phơng pháp thuyêt minh của học sinh đợc thể hiện ởchỗ: Đứng trớc yêu cầu của một đề văn và trớc một đối tợng thuyết minh, các
em biết phải lựa chọn phơng pháp nào cho phù hợp và biết cách sử dụng hiệuquả phơng pháp ấy Thông thờng, hầu nh không có văn bản nào chỉ sử dụngmột phơng pháp thuyết minh Do đó, kĩ năng này còn thể hiện ở sự phối hợpcác phơng pháp khác nhau trong cùng một bài văn thuyết minh
2.1.2.3 Kĩ năng viết đoạn văn thuyết minh
Trong dạy học Làm văn, đoạn văn đợc xem là đơn vị trung tâm để rènluyện cách viết một bài văn Có thể khẳng định điều này xuất phát từ banguyên nhân sau đây: Thứ nhất, một bài văn thờng do nhiều đoạn hợp thành,
do đó muốn viết tốt một bài văn thì phải viết tốt từng đoạn văn trớc đã Thứhai, mỗi đoạn văn là một “tiểu văn bản” thờng có ba phần: mở đoạn ,thân
đoạn, kết đoạn Bởi vậy, nếu thực hành cách viết từng đoạn văn thật tốt sẽ cócơ sở để viết tốt cả bài văn Thứ ba là lí do về mặt thời gian: để có thể thựchành viết xong cả một bài văn thì mất một thời gian tơng đối lớn Nhng thờigian dành cho chơng trình Làm văn lại có hạn, cho nên ngời ta đi vào thực
Trang 39hành cách viết đoạn văn, vì mỗi đoạn văn học sinh có thể viết xong trong vòng15-20 phút.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của đoạn văn - đơn vị trung tâm để rèn luyệncách viết một bài văn, chúng tôi muốn khẳng định một điều: Kĩ năng viết
đoạn văn là một kĩ năng cực kì quan trọng mà giáo viên cần giúp học sinh rènluyện trong quá trình dạy thực hành Làm văn nói chung và dạy thực hành Làmvăn thuyết minh nói riêng
Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn thuyết minh cho học sinh tức giúp chocác em thành thạo trong các bớc viết một đoạn văn, viết đợc đoạn văn đúng
đặc trng kiểu loại, đồng thời đáp ứng đợc những yêu cầu đối với đoạn văntrong văn bản nói chung
2.1.2.4 Kĩ năng tóm tắt văn bản thuyết minh
Tóm tắt văn bản là việc làm không hề xa lạ đối với học sinh lớp 10THPT Tuy nhiên, đối với văn bản thuyết minh - kiểu văn bản có hàm lọngthông tin cao, thuyết minh nh thế nào để vừa ngắn gọn mà vẫn làm rõ đợc đặctrng chủ yếu của đối tợng, là một việc không hề dễ dàng Do đó, trong quátrình dạy học Làm văn thuyết minh, giáo viên cũng cần phải rèn luyện chohọc sinh kĩ năng tóm tắt kiểu văn bản để sử dụng vào những mục đích khácnhau
Kĩ năng tóm tắt văn bản thuyết minh của học sinh đợc thể hiện ở chỗ:
Đứng trớc văn bản cần tóm tắt, các em nhanh chóng xác định đợc:1, mục đích,yêu cầu của việc tóm tắt văn bản đó; 2, các ý chính của văn bản gốc; 3, biếtcách dùng lời của mình tóm lợc các ý chính thành văn bản tóm tắt
2.2 Các phơng pháp và hình thức dạy học Làm văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT
Dạy học Làm văn nói riêng và dạy học nói chung là một quá trình phứctạp và lâu dài, với sự tham gia của nhiều nhân tố khác nhau, nh: mục đích vànhiệm vụ dạy học, nội dung, chủ thể dạy học, phơng tiện dạy học …Trong đó,phơng pháp dạy học là một thành tố tham gia vào quá trình dạy học, và hơnnữa lại là một thành tố vô cùng quan trọng Bởi vì, nói nh viện sĩ Liên Xô Mikhan cốp: “Điều quan trọng không phải là dạy cái gì mà là dạy nh thế nào.Diện mạo tinh thần của đất nớc ra sao tuỳ thuộc vào việc nhà trờng giảng dạy
nh thế nào” [32,21]
Trang 40Vậy phơng pháp dạy học thực chất là gì? Đó chính là Một hệ thống các thao tác và cách thức để tiến hành một giờ dạy theo một mục đích nhất
có hình thức tơng ứng là làm bài tập, đàm thoại, …Khi tổ chức một hình thứcdạy học, chúng ta cũng có thể sử dụng nhiều phơng pháp dạy học Ví dụ: hìnhthức tổ chức nhóm thờng gắn với phơng pháp phân tích mẫu, phơng pháp nêuvấn đề, phơng pháp gợi mở,v.v…
Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày một số phơng pháp và hình thức dạy học
có khả năng áp dụng hiệu quả trong dạy học những nội dung cụ thể của phầnLàm văn thuyết minh ở lớp 10 THPT Mỗi phơng pháp đều có những u điểm
và nhợc điểm riêng Do đó hiệu quả của chúng phụ thuộc ở cách chúng ta sửdụng nh thế nào, vào những nội dung nào để phát huy những u điểm và hạnchế những nhợc điểm đó Nói cách khác, hiệu quả của các phơng pháp dạyhọc đều phụ thuộc chủ yếu vào ngời sử dụng, bởi vì nói nh Đỗ Ngọc Thống
“phơng pháp dạy học(…) chỉ tồn tại có ý nghĩa với từng cá nhân cụ thể, không
có một phơng pháp chung cho tất cả mọi ngời.” [10,125]
Trong đời sống giáo dục hiện nay, việc phân loại phơng pháp dạy học rấtphức tạp Trong khuôn khổ khoá luận này, chúng tôi không đi sâu vào vấn đề
đó mà chỉ giới thiệu một số phơng pháp có khả năng ứng dụng vào dạy họccác nội dung Làm văn thuyết minh trong chơng trình Ngữ văn lớp 10 THPT:phơng pháp thông báo- giải thích, phơng pháp gợi mở, phơng pháp phân tíchmẫu, và một số hình thức dạy học cụ thể nh: hình thức tổ chức nhóm, hìnhthức sử dụng SGK, hình thức tổ chức cho học sinh làm bài tập,sử dụng đồ
dùng trực quan,v.v…
2.2.1 Phơng pháp thông báo - giải thích
2.2.1.1 thế nào là phơng pháp thông báo - giải thích?