Chính vì vậy, từ xưa đến nay, ca dao dân ca là một nguồn tư liệu vô cùng hấp dẫn đối với giới nghiên cứu và nócũng chính là đối tượng để các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu từ nhiều góc Đ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO chọn đề tài
1.1 CA DAO dân CA Có vị trí đặc biệt quan trọng trong kho tàng văn
học dân gian cũng như trong lòng độc giả thưởng thức Với nghệ thuật ýnhị, giản dị và hàm súc, ca dao dân ca đã thể hiện sâu sắc trí tụê, tình cảm,văn hoá của con người Việt Nam Chính vì vậy, từ xưa đến nay, ca dao dân
ca là một nguồn tư liệu vô cùng hấp dẫn đối với giới nghiên cứu và nócũng chính là đối tượng để các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu từ nhiều góc
Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của câu ca dao chứa từ sông, nước trong Kho tàng ca dao người Việt.
2 Lịch sử vấn đề
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, từ xưa đến nay, ca dao vốn là đối
tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Đã có nhiều côngtrình nghiên cứu ca dao từ nhiều góc độ khác nhau như: văn học dân gian,thi pháp học, văn hoá học, ngữ dụng học
Việc nghiên cứu biểu tượng trong ca dao Việt Nam đã và đang là vấn
đề được rất nhiều người quan tâm, khám phá, phát hiện nhiều điều mới
mẻ, thú vị từ hệ thống thế giới các biểu tượng của kho tàng ca dao ViệtNam
Vũ Ngọc Phan, tác giả của cuốn sách Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam Trong công trình này tác giả đã bàn đến những từ ngữ chỉ con vật và biểu tượng của nó Tác giả nhấn mạnh "Một đặc điểm trong tư duy hình
tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc đời: đời người với đời con cò vàcon bống"; " Người lao động đã lấy những con vật nhỏ bé để tượng trưngcho cuộc sống lam lũ của mình", hay: "Người dân lao động Việt Nam đemhình ảnh con cò và con bống vào trong ca dao, dân ca là đưa một nhậnthức đặc biệt về một khía cạnh của cuộc đời vào văn nghệ, lấy cuộc đờicủa những con vật trên đây là tượng trưng vài nét đời sống của mình"
Tác giả Đặng Văn Lung trong bài viết Những yếu tố trùng lặp trong
ca dao trữ tình, khi nghiên cứu biểu tượng trong ca dao lại xem nó là
những yếu tố trùng lặp về hình ảnh và ngôn từ
Trang 2Tác giả Đặng Ngọc Hiến với bài viết Hình tượng con cò trong ca dao,
đã kết luận: "Cánh cò là mô típ quen thuộc của ca dao"
Trong hai năm 1991 - 1992, trên tạp chí Văn hoá dân gian, tác giả Trương Thị Nhàn có hai bài viết Giá trị biểu trưng nghệ thuật của một số vật thể nhân tạo trong ca dao và Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một tín hiệu thẩm mỹ, tác giả đã tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của các vật thể như: khăn, áo, giường, chiếu và tín hiệu thẩm mỹ của sông Từ
đó tác giả đi đến kết luận khả năng biểu trưng hoá nghệ thuật của các vậtthể trong ca dao góp phần tạo nên một nét đặc trưng rất cơ bản trong ngônngữ nghệ thuật ca dao tính khái quát cao, tính hàm súc và ý tại ngôn ngoại;
sông là yếu tố mang ý nghĩa thẩm mỹ giàu sức khái quát nghệ thuật, tham gia vào hệ thống biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao, sông có giá trị
của một tín hiệu thẩm mỹ
Năm 1992, trong công trình nghiên cứu về Thi pháp ca dao, tác giả
Nguyễn Xuân Kính giành hẳn một chương để viết về các biểu tượng như:
trúc, mai, hoa nhài và so sánh ý nghĩa biểu tượng đó trong văn học viết.
Từ đó, tác giả gợi lên một vấn đề cần được quan tâm khi xác định nghĩabiểu tượng: Tuy bài viết về một biểu tượng nhưng dòng thơ dân gian vàbác học đã miêu tả khác nhiều
Năm 1995, trong Luận án Tiến sĩ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ không gian trong ca dao, Trương Thị Nhàn tiếp tục nghiên cứu một loạt các từ ngữ biểu tượng không gian như: núi, rừng, sông, ruộng, bến, đình, chùa góp phần đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu ca
dao biểu hiện đời sống tinh thần con người Việt Nam
Đặc biệt, năm 2007, tác giả Trần Thị Diễm Thuý với bài Hình tượng sông trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ in trên
vannghesongcuulong.org.vn đã chỉ ra những nhóm nghĩa cơ bản của hìnhtượng sông trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ: Hình tượng sông gợi liêntưởng về sự xa cách, sự vững bền, về cái lớn lao, vô tận; gợi những liêntưởng khác nhau về thân phận con người, về đời người; mượn hình tượngsông làm biểu tượng về chính con người Tiếp đó chị kết luận: Sông làbiểu tượng nghệ thuật tiềm tàng Sông đặc biệt có vai trò quan trọng trongviệc thể hiện đề tài"Tình yêu thiên nhiên gia đình" Còn tác giả Nguyễn
Thị Thanh Lưu với bài Biểu tượng "nước" trong thơ ca dân gian và thơ ca hiện đại các dân tộc ít người in trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6,
2008 cho rằng: Về các tầng nghĩa của nước, theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới "những ý nghĩa tượng trưng của nước có thể quy về ba chủ đề chiếm ưu thế: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh Khảo sát và tập hợp các câu ca dao có sự hiện diện của biểu tượng nước trong
Trang 3Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, ta thấy biểu tượng nước
thường xuất hiện trong những câu ca dao tình yêu Mà xét đến cùng, tình
yêu cũng chính là một nguồn sống, một phương tiện thanh tẩy, một trung tâm tái sinh Tuy nhiên, để phân xuất ý nghĩa một cách cụ thể hơn, sâu sắc hơn cần thiết phải nhóm các câu câu ca dao mang biểu tượng nước vào
những nhóm có tầng nghĩa đặc trưng của biểu tượng này Và tác giả đã
chia các nhóm nghĩa: Nước là một quyền năng, một giá trị - định giá tình cảm; nước là số mệnh, định mệnh (tr.110 - 114)
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình, bài viết khác có liên quan
đến từ nước, sông trong ca dao như: Bài viết Nhóm từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam Bộ của tác giả Trần Thị Ngọc Lang, Phụ trương Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, 1982 Nước - một biểu tượng văn hoá đặc thù trong tâm thức người Việt và nước trong tiếng Việt của TS - Nguyễn Văn Chiến, in trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 15, 2002, Nước, đặc trưng hình thái của tư - tưởng Việt Nam trong bài Văn hoá và những thách
đố của nó đối với giới trẻ Việt Nam sống trên đất nước Mỹ của tác giả Lê Hữu Mục; Thiên nhiên sông nước trong ca dao dân ca Nam Bộ của Đặng Diệu Trang, in trên Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 11, 2005; Nước - một
từ đặc việt của tác giả Nguyễn Đức Dân, in trên Từ điển học và Bách khoa thư, số 10, 2010 Những bài nghiên cứu đem lại cho người đọc nhiều hiểu
biết thú vị và sâu sắc Đó là những gợi ý quý báu, cơ sở thực tiễn phongphú để chúng tôi có thể tiếp cận, nghiên cứu đề tài của mình
Tuy nhiên, các công trình, các bài viết trên chủ yếu bàn về biểu tượngtrong ca dao, chứ chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào đi sâuvào nghiên cứu một cách cụ thể có hệ thống, toàn diện về vấn đề ngữ pháp
và ngữ nghĩa của từ sông, nước được thể hiện và phản ánh trong Kho tàng
ca dao người Việt Đó là lý do chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ sông, nước trong Kho tàng ca dao người Việt.
3 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn các từ chỉ sông, nước trong
cuốn Kho tàng ca dao người Việt do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng
Nhật (chủ biên), Nxb Văn hoá - Thông tin, Trung tâm văn hoá ngôn ngữĐông Tây để làm đối tượng nghiên cứu
4 Nhiệm vụ đề tài
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Khảo sát sự xuất hiện các từ sông, nước trong Kho tàng ca dao người Việt.
Trang 4- Phân tích miêu tả đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ sông, nước
- Đồng thời chỉ ra một số đặc trưng văn hoá của người Việt phản ánh
qua các từ chỉ sông, nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại:
Chúng tôi khảo sát, thống kê những câu ca dao chứa từ sông, nước trong Kho tàng ca dao người Việt, từ đó phân loại những lời ca dao chứa
từ sông, nước - làm cơ sở để đi sâu phân tích đặc điểm ngữ pháp - ngữ
nghĩa của chúng
5.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa:
Từ mối quan hệ ngữ nghĩa bản thể, nghĩa sự việc và nghĩa biểu tượng
chúng tôi chỉ ra được các nhóm nghĩa chủ yếu của từ sông, nước.
5.3 Phương pháp phân tích tổng hợp:
Phương pháp này luôn được chúng tôi vận dụng trong suốt quá trình
xử lý tư liệu, miêu tả, phân tích mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa của từ sông nước
5.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu:
Chúng tôi so sánh đối chiếu các từ ngữ chỉ sông với từ nước trong Kho tàng ca dao người Việt để thấy được sự giống nhau và khác nhau
trong cấu tạo, tần số xuất hiện, khả năng thể hiện nghĩa giữa các bài ca dao
với nhau Bên cạnh đó chúng tôi còn so sánh đối chiếu với từ sông, nước
trong tục ngữ, thơ ca Việt Nam
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài có những đóng góp sau:
Có thể xem đây là đề tài đầu tiên đi sâu tìm hiểu từ Sông, nước trong Kho tàng ca dao người Việt trên hai phương diện ngữ pháp và ngữ nghĩa.
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài
- Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của từ sông, nước trong Kho tàng ca
dao người Việt.
- Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ sông, nước trong Kho tàng
ca dao người Việt
CHƯƠNG 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI
1.1 Về vấn đề từ trong tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm từ
Trang 5Bàn về khái niệm từ, từ trước đến nay có khá nhiều ý kiến đứng trên ởnhiều góc độ khác nhau Trên cơ sở phân tích các định nghĩa từ tiếng Việtcủa các tác giả đi trước, chúng tôi chọn cho mình một định nghĩa cụ thể về
từ của tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt: "Từ là
đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có ý nghĩa nhỏ nhất,
có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu" [tr 18]
1.1.2 Những đặc điểm của từ
a Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, có âm thanh được biểu thị bằng một số âm tiết, có ý nghĩa nhỏ nhất.
b Từ có cấu tạo hoàn chỉnh
c Từ có khả năng vận dụng tự do để tạo nên câu
1.1.3 Nghĩa của từ
Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tượng Bởi thế nghĩa của
từ cũng không phải chỉ có một thành phần, một kiểu loại Khi nói về nghĩacủa từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau đây:
Nghĩa biểu vật: là nghĩa phản ánh mối liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc
hiện tượng, thuộc tính, hành động, ) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiệntượng, thuộc tính, hành động, đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểuvật Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có
bản chất hoặc phi bản chất Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thần, thiên đường, địa ngục,
Nghĩa biểu niệm: là nghĩa phản ánh mối liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý
nghĩa, ý niệm - nếu chúng ta không cần phân biệt nghiêm ngặt mấy tên gọinày) Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánhcác thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người)
Nghĩa ngữ dụng (Pragmatical meaning) còn được gọi là nghĩa biểu
thái, nghĩa hàm chỉ (connotative meaning), là nghĩa phản ánh mối liên hệgiữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói
Nghĩa cấu trúc (structual meaning) là nghĩa phản ánh mối quan hệ
giữa từ với các từ khác trong hệ thống từ vựng Quan hệ giữa từ này vớicác từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị (paradigmatical exis) và trụcngữ đoạn (syntagmatical exis) Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác địnhđược giá trị của từ, khu biệt từ này với từ khác, còn quan hệ trên trục ngữđoạn cho ta xác định được ngữ vị (valence) - khả năng kết hợp của từ Tóm lại, khi tìm hiểu vấn đề từ trong tiếng Việt chúng ta cần xemxét, tìm hiểu đặc điểm của từ cấu tạo của từ và đặc biệt là nghĩa của từ Đó
là căn cứ để chúng tôi tìm hiểu đặc diểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ
sông và từ nước trong Kho tàng ca dao người Việt.
1.2 Những đặc điểm của ca dao
Trang 61.2.1 Khái niệm ca dao
Có nhiều cách hiểu khác nhau và mỗi cách hiểu cho thấy một cáchnhìn riêng, nhưng ở đây chúng tôi chỉ chọn một quan niệm nhất định làm
cơ sở khảo sát Chúng tôi sử dụng khái niệm ca dao của Từ điển văn học Việt Nam: Ca dao (hay còn gọi là phong dao) là danh từ chung chỉ toàn bộ
những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúcđiệu
1.2.2 Đặc điểm của ca dao
1.2.2.1 Đặc điểm về nội dung
Ca dao hết sức phong phú về nội dung, phản ánh chân thực khí sắc
dân tộc thể hiện trong tình yêu trai gái, yêu xóm làng, yêu gia đình, yêuđồng ruộng, yêu đất nước, yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hoà bình Vìvậy, ca dao được xem là pho bách khoa thư đời sống mọi mặt của nhândân Qua ca dao không những làm cho người ta thấu hiểu tình cảm thắmthiết mặn nồng của họ mà còn thấy được phẩm chất đẹp đẽ của họ Bởi
thế, người ta nói: Nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình
1.2.2.4 Đặc điểm về biện pháp tu từ
Ca dao thường dùng các biện pháp tu từ: Dùng biện pháp ẩn dụ; Dùng
biện pháp so sánh; Dùng biện pháp nói quá.
1.3 Phân biệt ca dao với tục ngữ
Chúng ta có thể phân biệt ca dao và tục ngữ trên các tiêu chí: hìnhthức, nội dung, chức năng như sau:
Trang 7- Đặc điểm về hình thức: Ca dao thường có dạng hai dòng 6/ 8 ( còngọi là thể lục bát, gồm 14 âm tiết) hoặc có dạng từ 8 đến 16 dòng thơ Giữahai dòng lục và dòng bát luôn bị quy định chặt chẽ bởi vần chân và vầnlưng Còn tục ngữ thường có số lượng lớn nhất là 23 âm tiết, ít nhất là 4
âm tiết, như: nòi nào giống ấy (4 âm tiết); thậm chí có cả 23 âm tiết: Một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một đống ông nghè, một bè Tiến sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn Tục ngữ cũng có sự quy định về
vần nhưng chủ yếu là vần liền hay vần cách
- Đặc điểm về nội dung: Nội dung của ca dao thường hướng đến tâm
trạng, cảm xúc cá nhân Ví dụ: Chiều chiều ra đứng bờ sông / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều Nội dung của tục ngữ là những kinh nghiệm
nhận thức về tự nhiên hay kinh nghiệm nhận thức xã hội, mang tính quy
luật, khái quát cho nhiều trường hợp Ví dụ: Nhận thức về tự nhiên: Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa
Nhận thức về xã hội: Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình
- Đặc điểm về ý nghĩa: ý nghĩa của ca dao là ý nghĩa biểu cảm, ca daobiểu hiện một cách cô đúc nhất tư tưởng tình cảm của con người thôngqua ngôn ngữ hàng ngày Còn ý nghĩa của tục ngữ chủ yếu là nghĩa đen,nghĩa bóng, đa nghĩa Tục ngữ đã biểu hiện được cái hay, cái đẹp của ngônngữ dân tộc
- Về đích tác động: Tục ngữ đuợc xem là một kiểu hành động nói tác
động đến nhận thức (Được ăn cả, ngã về không), còn ca dao thường gồm ít
nhất hai hành động nói tác động đến tâm trạng, cảm xúc
- Về cấu trúc: Tục ngữ có cấu trúc Đề - Thuyết đơn (Cái khó bó cáikhôn Nước đổ đầu vịt Nước đổ lá khoai) hoặc có cấu trúc Đề - Thuyếtsóng đôi (Ông thầy ăn một, bà cốt ăn hai; Trách người một, trách ta mười;Khôn ba năm, dại một giờ) Ca dao có cấu trúc hoàn chỉnh thường gồm haiphần: phần thứ nhất nêu hoàn cảnh khách quan (thiên nhiên, con người),phần thứ hai ngụ tình:
Ví dụ: - Hôm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện chăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
1.4 Về sự tồn tại của từ sông, nước trong Kho tàng ca dao người Việt
Trong hệ thống từ ngữ mà Kho tàng ca dao người Việt sử dụng, từ sông và nước xuất hiện với tần số cao gồm 1203 bài Có khả năng tham
gia cấu tạo: từ ghép, ngữ cố định; Nó có thể kết hợp linh hoạt với các động
từ, tính từ, số từ, đại từ, danh từ đi sau nó, ; có khả năng làm thành phần
Trang 8chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ , định ngữ của câu Trong Kho tàng ca dao người Việt, các bài ca dao thường phản ánh được mọi biểu hiện, sắc
thái, cung bậc của tình yêu, những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnhmay mắn hạnh phúc, với những niềm mơ ước, với những nỗi nhớ nhung dadiết, hoặc cảm xúc nảy sinh trước những tình huống rủi ro, ngang trái, thấtbại đau khổ với những lời than oán trách
1.5 Tiểu kết chương 1
Qua phần trình bày trên, chúng tôi rút ra những kết luận chính sau:
1 Chúng tôi chọn cho mình một định nghĩa cụ thể về từ và nêu cácđặc điểm nhận diện từ
2 Chúng tôi cũng đã phân tích rõ ca dao có những những đặc điểm vềnội dung, hình thức, cấu trúc, đặc điểm về biện pháp tu từ Mỗi đơn vị cadao ít nhất cũng phải có hai dòng Đại đa số ca dao được sáng tác theo thể
lục bát Nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình
3 Tục ngữ phân biệt với ca dao ở những tiêu chí như: hình thức, chứcnăng, nội dung, ý nghĩa, đích tác động, cấu trúc
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TỪ SÔNG, NƯỚC TRONG
KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT
2.1 Đặc điểm ngữ pháp của từ sông trong Kho tàng ca dao người Việt
2.1.1 Về vị trí và tần số xuất hiện
a Về vị trí
Từ sụng trong Kho tàng ca dao người Việt có thể xuất hiện ở nhiều
vị trớ khỏc nhau: đầu dũng, giữa dũng hay cuối dũng Khi từ sông xuất
hiện hai lượt, ba lượt, bốn lượt hay hơn năm lượt trong một bài ca dao thìchúng được dùng kết hợp ở nhiều vị trí khác nhau
b Về tần số xuất hiện
Qua khảo sỏt trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt chỳng tụi thấy
cú 540 bài dựng từ sụng Trong số 540 bài ca dao ấy có đến 694 lượt từ sông Điều đó cho thấy từ sông xuất hiện trong ca dao trở thành một hiện ngôn ngữ độc đáo cần được tìm hiểu Từ sông không chỉ xuất hiện một
lượt mà có thể xuất hiện hai lượt, ba lượt, bốn lượt hay hơn năm lượt trongmột bài ca dao
2.1.2 Đặc điểm về cấu tạo
Xét về mặt cấu tạo, từ sông trong Kho tàng ca dao người Việt được phân thành hai bộ phận từ và cụm từ Ví dụ : Đi ra sông cạn đá mòn; Sông sâu sóng cả em ơi Số liệu được lập thành bảng như sau:
Trang 9TT Đặc điểm cấu tạo của từ sông Tần số xuất hiện Tỉ lệ (%)
2.1.3.1 Khả năng kết hợp với danh từ
Từ sông trong Kho tàng ca dao người Việt có khả năng kết hợp phong
phú và linh hoạt với nhiều từ loại khác nhau Đặc biệt, chúng có khả năngkết hợp với nhiều tiểu nhóm danh từ Số liệu cụ thể như sau:
STT Các tiểu loại danh từ Số lượt Tỉ lệ (%)
về ; Có khi từ sông đứng trước động từ, số lượng này không nhiều chẳng
hạn như: Bên này sông có trồng bụi sả ; Nước nghìn sông chảy hội
một dòng
2.1.3.3 Khả năng kết hợp với tính từ
Từ sông trong Kho tàng ca dao người Việt chủ yếu là đứng trước tính
từ: sâu, trong, xanh, rộng, dài chẳng hạn như: Sông sâu có chỗ, đất bằng có nơi; Có khi tính từ đứng trước: Cạn sông Tô Lịch mới quên lời chàng;
Trang 102.1.3.4 Khả năng kết hợp với số từ
Trong Kho tàng ca dao người Việt, từ sông có khả năng kết hợp với số
từ chỉ thứ tự, số từ chỉ số nhiều Nước nghìn sông chảy hội một dòng ; Thứ nhất sông cái chảy ra ;
2.1.3.5 Khả năng kết hợp với đại từ
Trong Kho tàng ca dao người Việt từ sông có khả năng kết hợp với các đại từ nhân xưng: ai, ấy ; các đại từ chỉ định: kia, kìa, này, nọ,
nào chẳng hạn : Sông Ngân, sông Cả, sông Đào / Ba con sông ấy đổ vào sông Thương ; Vì ai sông Nhị núi Nùng phân li;
Tóm lại, từ sông trong Kho tàng ca dao người Việt có khả năng kết hợp dồi dào với nhiều từ loại và tiểu nhóm từ loại danh từ Từ sông còn là
phương tiện hữu hiệu để con người bày tỏ bộc bạch nỗi lòng, hoàn cảnhcủa mình
2.1.4 Khả năng đảm nhận thành phần câu
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy từ sông trong ca dao giữ nhiều
chức vụ ngữ pháp khác nhau như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ, trạngngữ:
2.1.4.1 Từ sông được dùng làm chủ ngữ:
Con sông kia // nước chảy đôi bờ
C V
2.1.4.2 Từ sông được dùng làm bổ ngữ
Từ sông trong Kho tàng ca dao người Việt làm bổ ngữ, chiếm số
lượng cao thứ hai (29%) sau chủ ngữ, nó thường thể hiện các nhóm nghĩasau:
- Chỉ vị trí mà người, vật hoạt động: Cây cả // trôi sông không