1.1.2 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 1.1.2.1 Khái niệm - Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân hàngngân hàng mở thư tín dụng theo yêu cầu của kh
Trang 1Chuyên đ t t nghi p môn ề tốt nghiệp môn ốt nghiệp môn ệp môn
Thanh toán qu c t ốt nghiệp môn ế
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN PHƯƠNG THỨC TÍN
DỤNG CHỨNG TỪ (L/C) 4
1.1 Thanh toán và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) 4
1.1.1 Tổng quan về thanh toán quốc tế 4
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thanh toán quốc tế 4
1.1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế 6
1.1.1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế 7
1.1.1.3.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance) 7
1.1.1.3.2 Phương thức ghi sổ ( Open Account) 7
1.1.1.3.3 Phương thức nhờ thu (Collection of Payment) 9
1.1.1.3.4 Phương thức giao chứng từ trả tiến (Cash against documents CAD) 11
1.1.2 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 12
1.1.2.1 Khái niệm 12
1.1.2.2 Quy trình nghiệp vụ 12
1.1.2.3 Các loại thư tín dụng 13
1.1.2.3.1 Thư tín dụng có thể hủy bỏ (Revocable letter of Credit) 13
1.1.2.3.2 Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable letter of Credit) 14
-1.1.2.3.3 Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable letter of Credit) 14
-1.1.2.3.4 Thư tín dụng không thể hủy ngang miễn truy đòi: (Irrevocable without recource letter of Credit) 15
1.1.2.3.5 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable letter of Credit) 15
1.1.2.3.6 Thư tín dụng giá (Back to back letter of Credit) 16
1.2 Chất lượng thanh toán phương thức tín dụng chứng từ 16
1.2.1 Chất lượng 16
1.2.1.1 Chất lượng là gì 16
1.2.1.1.1 Quan niệm chung về chất lượng 16
1.2.1.1.2 Quản lý chất lượng tại Việt Nam 18
1.2.1.2 Quản lý chất lượng trong lĩnh vực ngân hàng theo quan điểm hiện đại 18
1.2.2 Chất lượng thanh toán phương thức tín dụng chứng từ 21
1.2.2.1 Thế nào là chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ? 21
-CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU TẠI SACOMBANK 27
2.1 Giới thiệu tổng quan về ngân hàng TMCP Sacombank 27
21.1 Lịch sử hình thành 27
2.1.2 Sản phẩm 33
2.1.3 Tình hình hoạt động trong những năm qua 36
2.1.4 Định hướng chiến lược 20082010 40
Trang 3-2.2 Tình hình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và đánh giá chất lượng thanh toán phương thức tín dụng chứng từ đối với hàng nhập khẩu tại
Sacombank 43 2.2.1 Tình hình hoạt động phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sacombank-
43
2.2.2.1 Đánh giá chung về hoạt động thanh toán quốc tế tại Sacombank 43 2.2.2.2 Tình hình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ - 46 - 2.2.2 Đánh giá chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ tại Sacombank theo tiêu chuẩn chất lượng - 48 - 2.2.2.1 Đánh giá chất lượng L/C được mở vào thời điểm hợp lý và có nội dung phù hợp - 49 - 2.2.2.2 Đánh giá chất lượng việc kiểm tra chính xác tính chân thật bề ngoài của L/C
-và nhanh chóng chuyển L/C nhận được từ ngân hàng phát hành cho người xuất khẩu (khi đóng vai trò là ngân hàng thông báo) - 53 - 2.2.2.3 Đánh giá chất lượng về tính hoàn hảo của bộ chứng từ do nhà xuất khẩu lập
và chất lượng công tác tư vấn lập chứng từ của ngân hàng thông báo đối với nhà xuất khẩu - 54 - 2.2.2.4 Đánh giá chất lượng ngân hàng phát hành thực hiện tốt trách nhiệm của mình khi tiếp nhận bộ chứng từ hàng hóa từ phía người xuất khẩu - 56 - 2.2.2.5 Đánh giá chất lượng ngân hàng phát hành nhanh chóng thu được tiền hàng từ phía người nhập khẩu - 57 - 2.2.2.6 Đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn tỷ lệ rủi ro trong thanh toán phải thấp -
58
KẾT LUẬN 78
Trang 4-CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG
THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ (L/C)
1.1 Thanh toán và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C)
1.1.1 Tổng quan về thanh toán quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thanh toán quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, các mối quan hệ kinh tế,chính trị thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ và kết quả là hình thành nên cáckhoản thu và chi tiền tệ quốc tế giữa các đối tác ở các nước khác nhau Các mốiquan hệ tiền tệ này ngày một phong phú, đa dạng với quy mô ngày càng lớn Chúnggóp phần tạo nên tình hình tài chính của mỗi nước, có thể ở trạng thái bội thu haybội chi Trong các mối quan hệ quốc tế, các đối tác ở các nước khác nhau, do vậy có
sự khác nhau về ngôn ngữ, cách xa nhau về địa lý nên việc thanh toán không thểtiến hành trực tiếp với nhau mà phải thông qua các tổ chức trung gian, đó chính làcác ngân hàng thương mại cùng với mạng lưới hoạt động khắp nơi trên thế giới Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh mẽ vàocuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tếngày càng gia tăng, từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngânhàng cũng tăng theo Việc thanh toán qua ngân hàng làm gia tăng việc sử dụng đồng
Trang 5tiền của các nước để chi trả lẫn nhau Thanh toán quốc tế đã trở thành một bộ phậnkhông thể thiếu trong hoạt động của nền kinh tế của các quốc gia hiện nay
Thanh toán quốc tế có thể được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau Ởđây, xin nêu ra hai định nghĩa tiêu biểu về thanh tóan quốc tế:
- Theo giáo trình thanh toán quốc tế của trường Đại học Ngân hàng TPHCM:
“Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ hoạt độngmậu dịch và phi mậu dịch giữa các cá nhân, tổ chức tại quốc gia này với các cánhân, tổ chức ở quốc gia khác hoặc giữa một quốc gia với các tổ chức quốc tếthông qua hệ thống ngân hàng”
- Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006): “Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiệncác khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằmphục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau”
Từ hai định nghĩa trên đây, chúng ta có thể thấy một số đặc điểm của thanh toánquốc tế Trước hết, thanh toán quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ cácgiao dịch thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng thếgiới
Thanh toán quốc tế khác với thanh toán trong nước là ở đây nó liên quan đến việctrao đổi tiền của quốc gia này để lấy tiền của quốc gia khác Vì vậy khi ký kết cáchợp đồng mua bán ngoại thương các bên phải thỏa thuận với nhau về đồng tiền củanước nào sẽ là đơn vị tiền tệ tính toán và thanh toán trong hợp đồng, đồng thời phảitính toán thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro khi tỷ giá hốiđoái biến động
Tiền tệ trong thanh toán quốc tế thường không phải là tiền mặt mà nó tồn tại dướihình thức các phương tiện thanh toán như thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, hốiphiếu, kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ
Thanh toán giữa các nước đều được tiến hành thông qua ngân hàng và khôngdùng tiền mặt, nếu có thì chỉ trong những trường hợp riêng biệt Do vậy thanh toánquốc tế về bản chất chính là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Chúng được hìnhthành và phát triển trên cơ sở các hợp đồng ngoại thương và các trao đổi tiền tệquốc tế
Trang 6Thanh toán quốc tế được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quánthương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia,bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của cácquốc gia tham gia trong thanh toán.
1.1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Trong các mối quan hệ thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian tiếnhành thanh toán Nó giúp cho quá trình thanh toán được tiến hành an toàn, nhanhchóng và thuận lợi đồng thời giảm thiểu chi phí cho khách hàng Với sự ủy thác củakhách hàng, ngân hàng không chỉ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong các giaodịch thanh toán mà còn tư vấn cho họ nhằm tạo nên sự tin tưởng, hạn chế rủi rotrong quan hệ thanh toán với các đối tác nước ngoài Thanh toán quốc tế không chỉlàm tăng thu nhập của ngân hàng, mở rộng vốn, đa dạng các dịch vụ mà còn nângcao uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế
Trong quá trình lưu thông hàng hoá, thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng, do vậynếu thanh toán thực hiện nhanh chóng và liên tục, giá trị hàng hoá xuất nhập khẩuđược thực hiện sẽ có tác dụng thúc đẩy tốc độ thanh toán và giúp các doanh nghiệpthu hồi vốn nhanh Thông qua thanh toán quốc tế còn tạo nên các mối quan hệ tincậy giữa doanh nghiệp và ngân hàng, từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi để cácdoanh nghiệp được các ngân hàng tài trợ vốn trong trường hợp doanh nghiệp thiếuvốn, hỗ trợ về mặt kỹ thuật thanh toán thông qua việc hướng dẫn, tư vấn cho doanhnghiệp, hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thanh toán với các đốitác
Thanh toán quốc tế còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanhxuất nhập khẩu gia tăng qui mô hoạt động, tăng khối lượng hàng hoá giao dịch và
mở rộng quan hệ giao dịch với các nước
Về phương diện quản lý của Nhà nước, thanh toán quốc tế giúp tập trung và quản
lý nguồn ngoại tệ trong nước và sử dụng ngoại tệ một cách hiệu quả, tạo điều kiệnthực hiện tốt cơ chế quản lý ngoại hối của nhà nước, quản lý hiệu quả các hoạt độngxuất nhập khẩu theo chính sách ngoại thương đã đề ra
Trang 71.1.1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế
1.1.1.3.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)
* Khái niệm
- Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng- người trảtiền yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác-người hưởng lợi, ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do kháchhàng yêu cầu
* Quy trình nghiệp vụ
Hình 1.1- Trình tự nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền
(1) Giao dịch thương mại
(2) Người chuyển tiền viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư hoặc điện) cùng ủynhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại Ngân hàng)
(3) Ngân hàng nhận chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình ở nướcngoài chuyển tiền cho người hưởng lợi
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng lợi
* Trường hợp áp dụng
Do phương thức chuyển tiền mức độ an toàn trong thanh toán thấp, nó chỉ nên sửdụng cho các mối quan hệ giữa các đối tác tin cậy lẫn nhau hoặc quy mô thanh toánnhỏ Trong quan hệ thanh toán mậu dịch, không nên sử dụng trong thanh toán hàngxuất khẩu mà chỉ nên sử dụng trong thanh toán hàng nhập khẩu
1.1.1.3.2 Phương thức ghi sổ ( Open Account)
* Khái niệm:
Ngân hàng chuyển tiền Ngân hàng đại lý
Người hưởng lợi
Người chuyển tiền(2)
(3)
(4)
(1)
Trang 8- Là phương thức người bán mở một tài khoản hoặc một quyển sổ để ghi nợ
người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định
kỳ có thể là tháng, quý hoặc năm người mua trả tiền cho người bán
Đặc điểm của phương thức này thể hiện đây là phương thức thanh toán không có
sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản, bên người bánchỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên Nếu người mua mở tàikhoản để ghi, tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh toán giữahai bên
* Quy trình nghiệp vụ
Hình 1 2- Trình tự nghiệp vụ thanh toán ghi sổ.
(1) Người bán giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hóa cho người
mua
(2) Bảo nợ trực tiếp giữa người bán và người mua
(3) Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến định kỳ thanh
toán
* Trường hợp áp dụng
Với đặc điểm của phương thức ghi sổ, nó sẽ phù hợp trong trường hợp nhà nhậpkhẩu khan hiếm ngoại tệ, khi đó họ chấp nhận trả giá cao hơn, đổi lại họ sẽ muađược hàng hoá Nó cũng phù hợp trong các mối quan hệ mua bán hàng đổi hànghoặc hàng bán giao làm nhiều lần Phương thức này chỉ áp dụng giữa các bên cóquan hệ mua bán thường xuyên và tin cậy lẫn nhau, giữa nội bộ các công ty vớinhau, giữa công ty mẹ và công ty con Nó cũng có thể được áp dụng trong các thanhtoán phi mậu dịch
(1)
Ngân hàng bên bán
Ngân hàng bên mua
Người muaNgười bán (2)
Trang 91.1.1.3.3 Phương thức nhờ thu (Collection of Payment)
* Khái niệm:
- Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoànthành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng ủy thác chongân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bánlập ra
* Quy trình nghiệp vụ
Trên thực tế, có hai loại nhờ thu là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ
- Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection)
Nhờ thu phiếu trơn là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu
hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ thì gửithẳng cho người mua không qua ngân hàng
Trình tự tiến hành nghiệp vụ của nhờ thu phiếu trơn phải trải qua các bước sauđây
Hình 1.3- Trình tự nghiệp vụ thanh toán nhờ thu trơn
(1) Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua, lập một hốiphiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ bằng chỉthị nhờ thu
(2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi chỉ thị nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân hàngđại lý của mình ở nước người mua nhờ thu itền, còn gọi là Ngân hàng phục vụ bênmua
Ngân hàng phục vụ bên bán Ngân hàng phục vụ bên bán
Ngân hàng phục vụ bên bánNgân hàng phục vụ bên bán
(2)(4)
(4)(1)
Gửi hàng vàChứng từ
Trang 10(3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu nếu trả tiền ngay hoặcchấp nhận trả tiền hối phiếu nếu mua chịu.
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhậnhối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documnetary Collection)
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy tháccho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còncăn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiềnhoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng chongười mua để nhận hàng
Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ cũng giống như nhờ thuphiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền
Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo, ở khâu (3) làngân hàng đại lý chỉ trao cho người mua nếu như người mua trả tiền hoặc chấp nhậntrả tiền hối phiếu Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoàiviệc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với ngườimua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn Đây là sự khác nhau cơbản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn
Ngân hàng phục vụ bên bán
Người muaNgân hàng phục vụ
bên bán
(2)(4)
(4)(1)
Gửi hàng
Trang 11- Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộtiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua, nhờ đóquyền lợi của người bán được đảm bảo hơn Tuy vậy, nhờ thu kèm chứng từ có một
số mặt yếu Người bán chưa khống chế được việc trả tiền của người mua Ngườimua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể khôngtrả tiền cũng được khi tình hình thị trường bất lợi với họ Trong phương thức nàyngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền hộ còn không có trách nhiệm
về việc trả tiền của người mua
1.1.1.3.4 Phương thức giao chứng từ trả tiến (Cash against
documents- CAD)
* Khái niệm:
Là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tàikhoản tín thác để thanh tóan tiền cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu trình đầy đủnhững chứng từ theo yêu cầu Nhà xuất khẩu sau khi hòan thành nghĩa vụ giao hàng
sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán
* Quy trình nghiệp vụ
Hình 1.5- Trình tự nghiệp vụ thanh toán giao chứng từ trả tiền.
(1) Sau khi ký hợp đồng mua bán ngoại thương, nhà nhập khẩu đến ngân hàngphục vụ mình yêu cầu thực hiện dịch vụ CAD
(2) Sau khi kiểm tra các điều kiện của tài khỏan tín thác, nếu chấp nhận, nhà xuấtkhẩu giao hàng cho người vận tải để chuyển đến nơi nhà nhập khẩu yêu cầu
(3) Nhà xuất khẩu sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ yêucầu
Ngân hàng(4)
(2)
Trang 12(4) Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu, nếu thấy phù hợp sẽ tiếnhành ghi Có cho người xuất khẩu và ghi Nợ tài khoản ký quỹ của người nhập khẩu,sau khi đã thu phí dịch vụ ngân hàng.
(5) Ngân hàng giao chứng từ lại cho nhà nhập khẩu
* Trường hợp áp dụng: Người mua và người bán có mối quan hệ bạn hàng tốt
và thân tín, người nhập khẩu phải đặc biệt tin tưởng ở nhà xuất khẩu Khi bán
những mặt hàng khan hiếm trên thị trường và người xuất khẩu muốn có đảm bảochắc chắn trong thanh toán
Trong các phương thức thanh toán quốc tế thì phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng hầu hết hiện nay nhờ vào tính chặt chẽ và an toàn của
nó cho người mua, người bán, cũng như cho đối tượng trung gian là ngân hàng Vì vậy, phương thức tín dụng chứng từ sẽ được trình bày một cách cụ thể và rõ ràng hơn ở mục lớn tiếp theo.
1.1.2 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.1.2.1 Khái niệm
- Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân hàng(ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thưtín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiềncủa thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi sốtiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợpvới những quy định đề ra trong thư tín dụng
1.1.2.2 Quy trình nghiệp vụ
Ngân hàng mở L/C Ngân hàng thông
báo L/CNgười nhập khẩu Người xuất khẩu
(1)
(2)
(3)(4)
(5)(6)(7)
(8)
(5)(6)
Trang 13Hình 1.6- Trình tự nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ
(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của mìnhyêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng
(2) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập mộtthư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thôngbáo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu
(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho ngườixuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, khi nhận đượcbản gốc thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếukhông đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp vớihợp đồng
(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư tíndụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở thư tín dụng xinthanh toán
(6) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với thưtín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu Nếu thấy không phù hợp, ngânhàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từcho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán
(8) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thìhoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng, nếu không thì có quyền từ chối trảtiền
1.1.2.3 Các loại thư tín dụng.
1.1.2.3.1 Thư tín dụng có thể hủy bỏ (Revocable letter of Credit)
* Đặc điểm: Ngân hàng mở L/C và nhà nhập khẩu có thể sửa đổi, bổ sung hoặc
hủy bỏ L/C bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C
Trang 14* Ưu điểm: Đối với những hợp đồng mua bán không chắc chắn, không đầy đủ thì thư tín dụng có thể hủy bỏ sẽ tạo điều kiện bổ sung, hoàn thiện hợp đồng Đối
với những nhà xuất khẩu không đủ tin cậy, nó sẽ bảo vệ quyền lợi nhà nhập khẩu
* Nhược điểm: Không đảm bảo quyền lợi nhà xuất khẩu vì lúc này L/C chỉ là lời
hứa trả tiền, không phải là sự cam kết, như vậy dễ gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu.Bảo hộ quá nhiều cho nhà nhập khẩu, kể cả trường hợp nhà nhập khẩu không đủkhả năng thanh toán cũng có thể tự động hủy bỏ L/C
1.1.2.3.2 Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable letter
of Credit)
* Đặc điểm: Sau khi thư tín dụng đã được mở và thông báo cho người bán thì
không được sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ nó trong thời gian hiệu lực của thư tíndụng, trừ trường hợp có sự đồng ý của các bên có liên quan
* Ưu điểm: Đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu Ràng buộc trách nhiệm của
các bên liên quan, đảm bảo hợp đồng sẽ được thực hiện
* Nhược điểm: Trường hợp có sai sót khi mở L/C hoặc muốn bổ sung vào L/C
thì phải có sự đồng ý của các bên hoặc mở 1 L/C khác
1.1.2.3.3 Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận
(Confirmed irrevocable letter of Credit)
* Đặc điểm: Là loại thư tín dụng không hủy ngang, đồng thời có thêm một ngân
hàng thứ ba có uy tín đứng ra xác nhận L/C này, đảm bảo thanh toán cho nhà xuấtkhẩu
* Ưu điểm: Đảm bảo lớn nhất quyền lợi của nhà xuất khẩu do có một ngân hàng
uy tín cam kết thanh toán Tăng uy tín cho nhà nhập khẩu và ngân hàng mở L/C để
nhà xuất khẩu yên tâm xuất hàng
* Nhược điểm: Ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí xác nhận rất cao, có thể
lên đến 1% trị giá L/C và đặt cọc tiền ký quỹ có khi tới 100% trị giá L/C cho ngânhàng xác nhận Rủi ro lớn cho ngân hàng xác nhận, ngân hàng này phải kiểm trakhả năng thanh toán, độ tin cậy của ngân hàng mở L/C
Trang 151.1.2.3.4 Thư tín dụng không thể hủy ngang miễn truy đòi:
(Irrevocable without recource letter of Credit)
* Đặc điểm: Sau khi nhà xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không
có quyền đòi lại tiền nhà xuất khẩu trong bất cứ trường hợp nào
* Ưu điểm: Đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu trong trường hợp đã nhận
được tiền
* Nhược điểm: Bảo hộ cho nhà xuất khẩu, khi vô tình xảy ra sai sót trong việc
kiểm tra chứng từ hoặc nhà xuất khẩu dùng thủ đoạn lừa đảo… thì ngân hàng khônglấy lại được tiền đã thanh toán
1.1.2.3.5 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable letter of Credit)
* Đặc điểm: Người hưởng lợi đầu tiên của L/C này có quyền chuyển nhượng
một phần hay toàn bộ số tiền của L/C cho một hay nhiều người nhưng chỉ đượcphép chuyển nhượng một lần mà thôi
* Ưu điểm: Thư tín dụng chuyển nhượng giúp cho những nhà xuất khẩu không
có vốn lớn hoặc không đủ khả năng xuất trực tiếp được hưởng khoản chêch lệch doxuất khẩu gián tiếp, đồng thời với L/C này nhà xuất khẩu trung gian có thể khôngcho bên xuất khẩu trực tiếp và nhập khẩu biết về nhau Đối với những nhà xuấtkhẩu nhỏ, lẻ không tự mình tìm được đối tác thì thông qua L/C này tìm được đơnhàng xuất
* Nhược điểm: Thư tín dụng chuyển nhượng khá phức tạp có nhiều bên liên
quan, và các điều khoản phải quy định rõ trong L/C Nhà nhập khẩu phải trả mộtkhoản tiền lớn hơn và nhà xuất khẩu trực tiếp cũng có thể mất một khoản tiền dophải qua trung gian
Trang 161.1.2.3.6 Thư tín dụng giá (Back to back letter of Credit)
* Đặc điểm: Được nhà xuất khẩu trung gian mở dựa vào 1 L/C gốc khác nhưng
L/C giáp lưng khác L/C gốc ở chỗ: Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơnL/C gốc Trị giá của L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chêch lệch này dongười trung gian hưởng, để trả chi phí mở L/C và phần hoa hồng của họ Thời giangiao hàng của L/C phải sớm hơn L/C gốc
Một số điểm khác biệt của L/C giáp lưng so với L/C thông thường: Ngoài hối
phiếu và hóa đơn ra, các chứng từ không ghi đơn giá và trị giá Một số chứng từ (B/
L, giấy giám định hàng hóa…) phải ghi dẫn chiếu số L/C gốc
* Ưu điểm: Thông qua L/C giáp lưng người trung gian đuợc hưởng khoản chêch
lệch mà không cho người thụ hưởng L/C gốc biết đơn giá, trị giá và phần chêch lệch
đó Rất phù hợp với mua bán qua trung gian
* Nhược điểm: L/C giáp lưng rất phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp khéo léo và chính
xác những điều kiện của L/C gốc và L/C giáp lưng, nhất là các vấn đề liên quan đếnvận đơn và các chứng từ hàng hóa khác
1.2 Chất lượng thanh toán phương thức tín dụng chứng từ
1.2.1 Chất lượng
1.2.1.1 Chất lượng là gì
1.2.1.1.1 Quan niệm chung về chất lượng
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng:
- “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sựviệc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Theo từđiển Tiếng Việt phổ thông)
- “Chất lượng có nghĩa là chất lượng trong công việc, chất lượng trong dịch vụ,chất lượng thông tin, chất lượng của quá trình, chất lượng của các bộ phận, chấtlượng của con người, kể cả công nhân, kỹ sư, giám đốc và viên chức điều hành, chấtlượng của công ty, chất lượng của các mục tiêu Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầuthị trường với chi phí thấp nhất” (Theo Kaoru Ishikawa)
Trang 17- “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhucầu người sử dụng” (Theo tiêu chuẩn Pháp NF X50- 109)
- “Chất lượng là tổng hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thựcthể (đối tượng) đó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”.(ISO 8402, TCVN 5814)
Vấn đề chất lượng là một vấn đề mang xu hướng hiện đại ngày nay, là một nhân
tố không thể thiếu mà bất kỳ tổ chức hay cá nhân kinh doanh nào cũng phải hướngđến nhằm giữ vững vị thế của mình Toàn cầu hóa và hội nhập đã kéo theo nhu cầutrong xã hội ngày càng gia tăng và sự cạnh tranh gay gắt đã trở thành dòng chínhcủa quy luật “thị trường” Hội nhập là một vấn đề tất yếu và không một quốc gianào có thể đứng ngoài cuộc, nhưng càng hội nhập, chúng ta lại càng phải đối đầuvới thách thức về “Chất lượng” Chất lượng ngày nay không còn đơn thuần là mộtvấn đề kỹ thuật mà nó đã trở thành một vấn đề mang tính chiến lược hàng đầu vàliên quan đến sự sống còn của tất cả các tổ chức khác nhau
Vấn đề chất lượng được các quốc gia và tổ chức trên toàn thế giới ngày càngquan tâm nhiều hơn từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay và tiên phong làcác doanh nghiệp Nhật Bản trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao Sản phẩmcủa các doanh nghiệp hàng đầu của Nhật Bản đã được khách hàng trên mọi châu lụctiếp nhận và đánh giá cao vì chất lượng tốt và giá thành hạ Các doanh nghiệp thuộcmọi quốc gia trên thế giới không có lựa chọn nào khác, họ buộc phải chấp nhậncuộc cạnh tranh Muốn tồn tại và phát triển, các tổ chức phải giải quyết khá nhiềuyếu tố, và trong đó, chất lượng là một yếu tố then chốt
Hiện nay, đối với các nước công nghiệp và đang phát triển, các nguồn lực tựnhiên đã không còn là chiếc chìa khóa đem lại sự phồn vinh Lịch sử hiện đại đãchứng tỏ một quốc gia không có lợi thế về tài nguyên vẫn có thể trở thành một quốcgia hàng đầu về chất lượng và quản lý chất lượng
Tại các nước đang phát triển, chất lượng được biết đến vừa là một thách thức vàcũng vừa là một cơ hội Là cơ hội, vì người tiêu dùng ngày nay trên mọi quốc giangày càng quan tâm đến chất lượng hàng hóa và dịch vụ mà họ bỏ tiền ra mua Làthách thức, vì các tổ chức trong các quốc gia phát triển đã tiến rất xa trong việc
Trang 18cung cấp sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt, nó đòi hỏi các tổ chức phải thayđổi cách suy nghĩ, thay đổi cách quản lý đã hình thành từ lâu đời để tiếp cận với nềnvăn minh hiện đại toàn cầu.
1.2.1.1.2 Quản lý chất lượng tại Việt Nam
Hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đang là xu thế tất yếu của mọi nền kinh tế,trong đó có Việt Nam Thách thức lớn nhất trong quá trình hội nhập của Việt Namchính là hiệu quả năng lực cạnh tranh còn yếu kém về năng suất và chất lượng sảnphẩm so với các nước khác trong khu vực
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ngày nay, chất lượng đang trởthành một nhân tố cơ bản để quyết định sự thắng bại trong cạnh tranh, quyết định sựtồn tại của các tổ chức kinh tế
Đầu những năm 1990, các cơ quan nhà nước cũng như các cơ sở sản xuất kinhdoanh đã thực hiện những cải tiến bước đầu về quản lý chất lượng Tuy nhiên quátrình quản lý chất lượng này gặp nhiều khó khăn và trở ngại do cơ sở vật chất- kỹthuật còn thiếu thốn và lạc hậu lúc bấy giờ Qua những giai đoạn khó khăn ban đầu,trong xu thế mới của thời đại mới, tình hình quản lý chất lượng ở Việt Nam đã đượcchú trọng, chất lượng sản phẩm dịch vụ đã được nâng cao đáng kể để chiếm lĩnh thịtrường, được người tiêu dùng tín nhiệm Và có thể nói, chất lượng chính là lời giảiđáp duy nhất cho các tổ chức kinh tế Việt Nam trong xu thế tự do thương mại toàncầu ngày nay
1.2.1.2 Quản lý chất lượng trong lĩnh vực ngân hàng theo quan điểm hiện đại
Theo ông Rene T Domingo, Giáo sư Học viện Quản trị Châu Á (Asian Institute
of Management), Tổng giám đốc Công ty Business Recovery and Turn-around Inc.,tác giả của cuốn sách nổi tiếng trong lĩnh vực quản trị chất lượng “Quality MeansSurvival”
Hầu hết các nhà ngân hàng đều cho rằng ngân hàng là loại công nghiệp tài chính
Trang 19chứ không phải là công nghiệp dịch vụ Vì thế, khuynh hướng cạnh tranh của họdựa trên năng lực về tài chính nhiều hơn là chất lượng dịch vụ Họ dành hết nguồnnhân lực, vật lực, thời gian và hệ thống cho việc quản lý tài chính hơn là quản lýkhách hàng và công tác phục vụ Trong thực tế thì hầu hết các chương trình ứngdụng được thiết kế là để kiểm soát thay vì để thỏa mãn khách hàng Người ta thiết
kế ra sản phẩm ngân hàng và quy trình để tạo sự thuận tiện cho ngân hàng hơn làcho khách hàng Một ngân hàng lớn có thể có đến ba vị phó tổng giám đốc chịutrách nhiệm về việc quản lý tài sản ngân hàng nhưng lại không có ai phụ trách lĩnhvực liên quan đến công tác phục vụ khách hàng và xử lý than phiền Việc tổ chứcphục vụ và làm cho khách hàng hài lòng thường được các ngân hàng xếp vào hàngthứ yếu và do đó, công việc này, nếu có, sẽ phân công cho một người trưởng phòngcấp thấp hoặc lương thấp Hiếm khi thấy được một ngân hàng có được một cơ cấu
tổ chức tinh vi để thực hiện việc phục vụ khách hàng và duy trì quan hệ lâu dài bềnchặt với khách hàng
Mạch sống của mọi ngành nghề kinh doanh chính là khách hàng Lợi nhuận cóđược từ doanh thu trừ chi phí Doanh số được quan tâm trước và chi phí phát sinhliên quan thì sau Khách hàng là người quyết định doanh số dựa trên sự nhận thứccủa họ về chất lượng của sản phẩm và sự phục vụ Nói khác đi, chất lượng quyếtđịnh lợi nhuận và chính khách hàng là người xác định và quyết định chất lượng là gì
và cần phải như thế nào Sau sự thành công của các phong trào quản lý chất lượng,như Quản lý chất lượng toàn diện trong lĩnh vực sản xuất, thì các chuỗi cửa hàngbán thức ăn nhanh, hãng hàng không, khách sạn, siêu thị và các ngành dịch vụ khácbắt đầu nhìn nhận chất lượng là lý do tồn tại của mình Ngân hàng và các định chếtài chính khác như công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư thì tương đối chậm chạp trongviệc chuyển hướng sang mô hình khách hàng là trên hết Về phương diện lịch sử thìngười ta quan niệm ngân hàng là một hệ thống kiểm soát phức tạp vì ngân hàngkinh doanh loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất: tiền mặt Ngân hàng phải duytrì hình ảnh, tiếng tăm và uy tín để thực hiện vai trò của người cầm giữ tiền bạc củangười khác Theo thời gian, các hệ thống quản lý phức tạp và nạn quan liêu hình
Trang 20thành dưới danh nghĩa là tăng cường kiểm soát đã khiến ngân hàng xao nhãng và hysinh việc phục vụ khách hàng trong quá trình giao dịch.
Quản lý chất lượng toàn diện, là công tác phục vụ khách hàng về mọi mặt và liêntục làm thỏa mãn khách hàng, được áp dụng không chỉ ở lĩnh vực sản xuất mà còn ởlĩnh vực dịch vụ, lĩnh vực mà khách hàng cũng quan trọng không kém
Trong thực tế, khách hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ thì nhạy cảm đối với chấtlượng dịch vụ và sự chuyển giao dịch vụ hơn trong lĩnh vực sản xuất vì khách hàngluôn tiếp xúc với nhân viên trực tiếp phục vụ tại quầy, mà điều này không có ở lĩnhvực sản xuất Những tiếp xúc ngay tại điểm bán hàng hay còn gọi là “khỏanh khắc
sự thật” (moments of truth) sẽ quyết định việc khách hàng có trở lại giao dịch haykhông hoặc khách hàng sẽ chuyển qua giao dịch với một đối thủ cạnh tranh bánhàng gần đó Ngân hàng thường là ngành dịch vụ lớn nhất ở mọi quốc gia, đượchưởng lợi từ Quản lý chất lượng toàn diện Chỉ vì một lý do đơn giản là: sự thịnhvượng của các ngân hàng tùy thuộc vào sự thỏa mãn và mức độ gắn bó của kháchhàng, nhưng trớ trêu thay, rất ít ngân hàng quan tâm nhiều đến hoàn cảnh của kháchhàng trước, trong và sau khi bán hàng
Nhiều ngân hàng được các nhà tài chính quản lý, mà nhà tài chính là người ítđược đào tạo hoặc không được đào tạo về công tác phục vụ khách hàng Dịch vụ tốtkhông phải tự nhiên hoặc do tình cờ mà có Dịch vụ chỉ tốt khi nào được hoạch định
và quản lý Không được hoạch định, thì dịch vụ tồi đương nhiên sẽ xảy ra
Một chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực chất lượng, Tiến sĩ W Edwards Deming,nói rằng muốn cải tiến chất lượng phục vụ thì phải có kiến thức sâu về hệ thốngchuyển giao dịch vụ Các ông chủ ngân hàng lại có suy nghĩ rằng tiền bạc chứkhông phải khách hàng mới là quan trọng
Hiện nay, các ngân hàng đang được xếp hạng, so sánh với nhau và được đánh giá
sự thành công thông qua quy mô, nguồn lực tài chính, và những số đo định lượngkhác như tổng tài sản, số lượng máy ATM, số lượng giao dịch, số lượng người gửitiền, số tiền vay đã giải ngân, , vốn rất khó cho thấy chất lượng phục vụ kháchhàng ra sao Các vị lãnh đạo ngân hàng chủ yếu quan tâm đến việc quản lý tài sản
Trang 21(càng lớn càng tốt), quản lý lưu chuyển tiền tệ, quản lý lề sinh lời (càng rộng càngtốt), quản lý tài sản nợ và tài sản có, và phân tích các tỷ số tài chính.
Ở ngân hàng thường thì chất lượng dịch vụ thường khác nhau ở mỗi chi nhánh, ởmỗi điểm cung ứng và ở các vị giám đốc chi nhánh Vấn đề thêm nặng nề khi hội sởlại xếp hạng và thăng tiến cho các vị giám đốc chi nhánh dựa trên công việc kinhdoanh thuần tuý mà chi nhánh đã mang lại: các khoản cho vay đã giải ngân, cáckhoản lãi đã thu được và khoản tiền gửi được huy động Các vị giám đốc này ít khinào được đánh giá dựa trên tiêu chí thỏa mãn của khách hàng, chất lượng phục vụ
và những vụ việc khiếu nại của khách hàng Chẳng có gì phải thắc mắc cả khi các vịgiám đốc chi nhánh này chẳng hề quan tâm đến chất lượng phục vụ khách hàng vì
nó không có một ảnh hưởng nào đến việc đánh giá hoạt động của chi nhánh
Đối với khách hàng, tính thân thiện thì quan trọng không kém gì tính hiệu quả.Rất nhiều ngân hàng đã lơ đi các nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật kinh doanh vàcung cấp dịch vụ: không một lời chào hỏi khi gặp khách hàng, không một lời cảm
ơn sau bất kỳ một giao dịch nào hoặc sau mỗi lần giao dịch, chẳng thèm nhìn kháchhàng, không một lời xin lỗi khi khách hàng buộc phải chờ đợi
Qua những quan niệm trên, ta có thể thấy, chất lượng trong lĩnh vực ngân hàng hiện đại ngày nay, đó chính là chất lượng phục vụ khách hàng Phục vụ khách hàng tốt sẽ góp phần tạo lòng tín nhiệm, thu hút khách hàng về với khách hàng Và trong
đó, việc tiếp tục nâng cao những chất lượng trong nghiệp vụ cũng chính là một phần quan trọng then chốt hướng tới chất lượng chăm sóc khách hàng tốt hơn
1.2.2 Chất lượng thanh toán phương thức tín dụng chứng từ 1.2.2.1 Thế nào là chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ?
Một sản phẩm làm ra được xem là có chất lượng khi nó phải thỏa mãn trước hết
là nhu cầu của khách hàng một cách chính đáng về chất và về lượng và thỏa mãnmột số tiêu chuẩn nhất định về mặt kỹ thuật, sau đó phải đáp ứng đòi hỏi về thunhập của người sản xuất Không một nhà sản xuất nào muốn cung cấp sản phẩmđem lại thu nhập thấp hoặc không có thu nhập trừ những chương trình trợ giúp của
Trang 22Chính phủ Ví dụ, một sản phẩm là bóng đèn, nó sẽ được người tiêu dùng đánh giá
là có chất lượng khi nó có thể được sử dụng trong thời gian dài, độ sáng phù hợp,không làm ảnh hưởng đến mắt người tiêu dùng Ngoài ra còn có các yếu tố khác tácđộng như: giá cả, hình thức sản phẩm, sự thuận tiện trong việc lắp ráp, sử dụng… Thế thì chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ là gì? Chất lượng thanh toán tíndụng chứng từ là những chất lượng trong nghiệp vụ, thỏa mãn nhu cầu cao nhất củakhách hàng đồng thời cũng thu lại giá trị hiện kim cho ngân hàng được thể hiệnxuyên suốt từ khâu ngân hàng phát hành nhận được yêu cầu xin mở L/C từ phía nhànhập khẩu cho đến khi trả tiền xong cho nhà xuất khẩu và thu hồi lại vốn từ phíanhà nhập khẩu
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.2.2.1 L/C được mở vào thời điểm hợp lý và có nội dung phù hợp
Khi nhận được đơn đề nghị mở L/C do người nhập khẩu gửi đến, ngân hàng phục
vụ nhà nhập khẩu (được gọi là ngân hàng phát hành) sẽ xem xét để tiến hành mở L/
C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu
- Về mặt thời gian: ngân hàng phát hành phải đảm bảo mở được L/C vào đúng
thời điểm mà nhà xuất khẩu và nhập khẩu đã thỏa thuận trong hợp đồng thươngmại Điều này không chỉ giúp cho khách hàng của ngân hàng là nhà nhập khẩu tạođược sự tin tưởng đối với nhà xuất khẩu mà ngân hàng phát hành còn gây đượcthiện cảm, tạo được uy tín đối với cả hai bên nhập khẩu và xuất khẩu về trách nhiệmcủa ngân hàng với vai trò là một chủ thể tham gia trong quy trình thanh toán
-Về mặt nội dung: ngân hàng phát hành phải đảm bảo L/C có nội dung dễ hiểu,
thể hiện được hết những thỏa thuận trong hợp đồng thương mại, đồng thời nhữngđiều khoản và điều kiện của L/C cũng phải hết sức chặt chẽ, không có kẽ hở để nhàxuất khẩu không thể lợi dụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nhập khẩu và
có thể cả quyền lợi của chính ngân hàng Mặt khác, các điều kiện đưa ra đối với nhàxuất khẩu cũng không nên quá khắt khe, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà xuấtkhẩu hoặc đến uy tín của ngân hàng
Trang 231.2.2.2.2 Ngân hàng thông báo kiểm tra chính xác tính chân thật bề ngoài của L/C và nhanh chóng chuyển L/C nhận được từ ngân hàng phát hành cho người xuất khẩu
Sau khi phát hành L/C, ngân hàng phát hành sẽ chuyển L/C cho ngân hàng phục
vụ người xuất khẩu (gọi là ngân hàng thông báo) Khi nhận được L/C do ngân hàngphát hành chuyển tới, ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/Ctrước khi thông báo cho người xuất khẩu Nếu L/C không chân thật mà ngân hàngthông báo không xác minh được sẽ đẩy nhà xuất khẩu đến rủi ro giao hàng màkhông được thanh toán Sau khi kiểm tra xong, ngân hàng thông báo phải nhanhchóng chuyển nguyên trạng L/C cho nhà xuất khẩu, tạo điều kiện để nhà xuất khẩu
1.2.2.2.4 Ngân hàng phát hành thực hiện tốt trách nhiệm của mình khi tiếp nhận bộ chứng từ hàng hóa từ phía người xuất khẩu
Nhận được bộ chứng từ từ phía nhà xuất khẩu, ngân hàng phát hành phải nhanhchóng kiểm tra kỹ bộ chứng từ Việc kiểm tra cẩn thận bộ chứng từ sẽ giúp ngân
Trang 24hàng phát hiện ra sai sót của bộ chứng từ và từ đó quyết định tới việc có thanh toáncho nhà xuất khẩu hay không Nếu ngân hàng kiểm tra không cẩn thận, không pháthiện ra sai sót của bộ chứng từ sẽ làm thiệt hại tới quyền lợi của nhà nhập khẩu,thậm chí trong trường hợp nhà nhập khẩu phát hiện ra sai sót khi kiểm tra bộ chứng
từ mà trước đó ngân hàng đã thanh toán cho người xuất khẩu thì ngân hàng pháthành sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc thanh toán đó của mình Nhà nhậpkhẩu có quyền từ chối trách nhiệm thanh toán cho bộ chứng từ đó
Việc kiểm tra bộ chứng từ phải được thực hiện cẩn thận, kỹ càng nhưng phảikhẩn trương trong thời hạn 5 ngày làm việc của ngân hàng (theo quy định của UCP600) Nếu để quá thời hạn trên, cho dù phát hiện bộ chứng từ không phù hợp vớicác điều khoản và điều kiện quy định trong L/C, nhưng ngân hàng phát hành khôngthông báo kịp cho ngân hàng thông báo/ nhà xuất khẩu thì ngân hàng phát hành sẽmất quyền từ chối thanh toán bộ chứng từ đó
Sau khi kiểm tra và phát hiện ra lỗi của bộ chứng từ, ngân hàng phát hành thôngbáo những bất hợp lệ cho nhà xuất khẩu và từ chối thanh toán Ngân hàng phát hànhkhông có quyền trao chứng từ cho nhà nhập khẩu nếu như không có sự đồng ý củanhà xuất khẩu Nếu ngân hàng phát hành vi phạm điều này, người xuất khẩu hoàntoàn có thể kiện ngân hàng phát hành và ngân hàng phát hành sẽ phải đền bù thiệthại kinh tế cho người xuất khẩu nếu người xuất khẩu chứng minh được điều đó đãgây thiệt hại cho họ Chính vì vậy, sau khi từ chối thanh toán cho nhà xuất khẩu,ngân hàng phát hành phải giữ nguyên trạng bộ chứng từ, thông báo cho nhà nhậpkhẩu biết bộ chứng từ bất hợp lệ và thực hiện theo chỉ thị của nhà nhập khẩu
Nếu như bộ chứng từ không có sai sót hoặc trong trường hợp có sai sót nhưng đãđược nhà nhập khẩu chấp nhận, ngân hàng phát hành phải nhanh chóng tiến hànhthanh toán cho phía xuất khẩu và trao bộ chứng từ cho bên nhập khẩu bởi vì sau khi
đã giao hàng thì nhà xuất khẩu mong sớm nhận được tiền hàng, còn nhà nhập khẩuthì mong nhận được chứng từ để đi nhận hàng
1.2.2.2.5 Ngân hàng phát hành nhanh chóng thu được tiền hàng từ phía người nhập khẩu
Trang 25Rõ ràng quá trình thanh toán có hiệu quả hay không thể hiện ở chỗ sau khi trảtiền cho nhà xuất khẩu, Ngân hàng phát hành có thu lại được tiền từ nhà nhập khẩuhay không Ngoại trừ những trường hợp mất khả năng thanh toán hay cố tình lừagạt ngân hàng, còn lại các nhà nhập khẩu đều thực hiện thanh toán theo đúng quyđịnh.
1.2.2.2.6 Tỷ lệ rủi ro trong thanh toán phải thấp
Rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ là những mất mát thiệt hại xảy ra chocác ngân hàng do không thu hồi được vốn đã thanh toán cho nước ngoài hoặc lànhững khoản chi phí phát sinh một cách vô ích Các ngân hàng tham gia thanh toántín dụng chứng từ có thể gặp các rủi ro sau:
- Với Ngân hàng phát hành: khi nhận được yêu cầu phát hành L/C do nhà nhập
khẩu gửi đến, Ngân hàng phát hành phải tiến hành thẩm định và phân loại kháchhàng để quyết định có mở L/C hay không, và nếu mở thì tỉ lệ kí quỹ là bao nhiêu.Nếu đồng ý mở L/C có nghĩa là ngân hàng đã cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu,ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nếu nhà xuất khẩu xuất trình được bộchứng từ hoàn hảo Vì vậy, ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro khi không thu hồi đượcvốn từ nhà nhập khẩu nếu chẳng may nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán Rủi
ro này xảy ra do Ngân hàng phát hành không đánh giá được uy tín và khả năngthanh toán của khách hàng, hoặc do trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà nhậpkhẩu gặp rủi ro dẫn đến thua lỗ, thậm chí bị phá sản
Mặt khác, Ngân hàng phát hành cũng có thể gặp rủi ro do không làm đúng theoUCP mà L/C đã dẫn chiếu: Theo UCP, ngân hàng phát hành được miễn trách nhiệmthanh toán nếu chứng từ xuất trình có khác biệt với các điều kiện và điều khoản củaL/C Tuy nhiên, nếu ngân hàng phát hành không hành động đúng theo những quyđịnh tại điều 14 UCP 600, ngân hàng phát hành gặp rủi ro trên chính những bộchứng từ có lỗi đó, như: Thông báo từ chối nhưng không nói rõ sự bất hợp lệ củachứng từ, hoặc những bất hợp lệ này bị ngân hàng chiết khấu phủ nhận và trở nênkhông có giá trị, hoặc thông báo những bất hợp lệ và từ chối những chứng từ sau 5ngày làm việc của ngân hàng kể từ thời điểm nhận chứng từ, hoặc đã chuyển giao
Trang 26chứng từ cho người xin mở; hoặc làm mất không trả lại cho người xuất trình nguyênvẹn như khi nó nhận được, hoặc không giao chứng từ đó cho bên thứ ba do ngườixuất trình chỉ định…Trong những trường hợp này, ngân hàng phát hành có thểkhông thu hồi được tiền từ nhà nhập khẩu mà vẫn phải thanh toán cho phía xuấtkhẩu.
- Với Ngân hàng thông báo: khi ngân hàng này thông báo nhầm một L/C giả
( hoặc sửa đổi giả ) mà không có ghi chú gì theo thông lệ quốc tế, phải hoàn toànchịu trách nhiệm với bên liên quan
- Với ngân hàng xác nhận: là khi không nắm được năng lực tài chính của ngân
hàng phát hành mà xác nhận theo yêu cầu của họ, không yêu cầu ký quỹ để rồi cuốicùng, ngân hàng xác nhận phải nhận trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàngphát hành do ngân hàng phát hành thiếu thiện chí hay mất khả năng thanh toán.Việc xác nhận L/C thường xảy ra đối với những L/C có giá trị lớn mà ngân hàngphát hành là ngân hàng xa lạ, ít có tiếng tăm, hoặc do nhà xuất khẩu chưa tin tưởngnhà nhập khẩu cũng như ngân hàng phát hành Do vậy, việc xác nhận nhằm ràngbuộc trách nhiệm của ngân hàng xác nhận vào nghĩa vụ thanh toán L/C khi có tranhchấp giữa hai bên
- Với ngân hàng chiết khấu: rủi ro xảy ra phần lớn phụ thuộc vào thiện chí của
ngân hàng phát hành và nhà nhập khẩu Theo UCP 600, ngân hàng phát hành đượcmiễn trách nhiệm trong trường hợp bộ chứng từ có lỗi, mà hầu như trong nhiềutrường hợp, NHPH từ chối thanh toán hay không là tùy thiện chí của nhà nhậpkhẩu Mặc dù điều khoản chiết khấu có truy đòi cho phép ngân hàng chiết khấuđược phép truy đòi lại nhà xuất khẩu nhưng nếu nhà xuất khẩu không có đủ khảnăng thanh toán thì ngân hàng chiết khấu gặp rủi ro Đồng thời, ngân hàng chiếtkhấu cũng có thể gây ra rủi ro cho chính mình do không hành động đúng theo nhưquy định của UCP 600 Ngân hàng chiết khấu cũng có thời hạn 5 ngày làm việc đểkiểm tra tính hợp lệ của chứng từ và đòi tiền Rủi ro xảy ra khi ngân hàng chiếtkhấu không tuân thủ đúng quy định này, làm mất quyền đòi tiền trong thời hạn đượcphép, vì thế bị ngân hàng phát hành từ chối trả tiền trong khi đã tiến hành chiết khấucho nhà xuất khẩu
Trang 27TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Thanh toán quốc tế ngày nay đóng một vai trò khá quan trọng đối với nền kinh tếthế giới nói chung và đặc biệt đối với nền kinh tế đang phát triển Việt Nam nóiriêng Trong đó, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã nổi bật lên như mộtphương thức an toàn, chặt chẽ và được sự tín nhiệm của người sử dụng
Bên cạnh đó, trong xu hướng hiện đại ngày nay, vấn đề chất lượng chính là yếu tốthen chốt hàng đầu để một tổ chức kinh doanh có thể tồn tại và phát triển
Ở chương này, thông qua một số lý luận cơ bản về phương thức thanh toán và chấtlượng về thanh toán, em xin đề ra một số tiêu chuẩn cơ bản nhằm đánh giá chấtlượng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Sacombank:
- L/C được mở vào thời điểm hợp lý và có nội dung phù hợp
- Ngân hàng thông báo kiểm tra chính xác tính chân thật bề ngoài của L/C và nhanhchóng chuyển L/C nhận được từ ngân hàng phát hành cho người xuất khẩu
- Tính hoàn hảo của bộ chứng từ do nhà xuất khẩu lập và chất lượng công tác tư vấnlập chứng từ của ngân hàng thông báo đối với nhà xuất khẩu
- Ngân hàng phát hành thực hiện tốt trách nhiệm của mình khi tiếp nhận bộ chứng
từ hàng hóa từ phía người xuất khẩu
- Ngân hàng phát hành nhanh chóng thu được tiền hàng từ phía người nhập khẩu
- Tỷ lệ rủi ro trong thanh toán phải thấp
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THANH TOÁN TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ VÀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU TẠI
SACOMBANK
2.1 Giới thiệu tổng quan về ngân hàng TMCP Sacombank
21.1 Lịch sử hình thành
Sacombank- ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được thành lập
và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 21/12/1991 trên cơ sở hợp nhất giữa ngân
Trang 28hàng kinh tế Gò Vấp với ba hợp tác xã tín dụng: Tân Bình, Thành Công và Lữ Giatrong một bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế đất nước Ngay từ ban đầu,Sacombank ra đời với nhiệm vụ chính là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiệncác dịch vụ về ngân hàng khá đơn điệu, khi xuất phát điểm chỉ là một ngân hàngnhỏ với số vốn điều lệ không quá 3 tỷ đồng và số lượng nhân viên không thực mạnh(không vượt qua con số 80), bao gồm 1 hội sở và 3 chi nhánh chủ yếu hoạt động ởvùng ven thành phố Hồ Chí Minh Những sự khắt khe trong quy định về tài chínhlúc bấy giờ của chính phủ đã buộc Sacombank phải phát hành cổ phiếu đại chúngnếu không muốn rơi vào tình trạng sát nhập như những đơn vị khác Đây cũng làgiai đoạn mà các hợp tác xã tín dụng đang lâm vào tình trạng khủng hoảng với hàngloạt hợp tác xã mất khả năng chi trả, vỡ nợ, niềm tin của công chúng đối với cácđịnh chế tài chính ngoài quốc doanh sụp đổ Sacombank đã có những bước đi đầutiên đầy cam go và thử thách: khi nguồn nhân lực còn thấp và nợ quá hạn khó đòichuyển giao sang đã lên đến gấp hai lần vốn tự có.
Xuất phát thấp về vốn điều lệ, mang lưới, nhân lực và công nghệ ngân hàng,nhưng trong suốt 16 năm qua, Sacombank vẫn luôn quyết tâm củng cố, chấn chỉnhhoạt động, kiên trì theo đuổi các mục tiêu và chiến lược phát triển kinh doanh để cóđược vị thế như ngày hôm nay Nhìn lại chặng đường 16 năm đã đi qua, Sacombank
tự hào khi đã có những bước tiến dài trên con đường phát triển và bền vững
- 2/3/1993: Sacombank khai trương chi nhánh Sacombank Hà Nội (Sacombank
là ngân hàng thương mại cổ phần có hội sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh đầutiên mở chi nhánh tại Hà Nội) Đồng thời là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiênthực hiện nghiệp vụ phát hành kỳ phiếu có mục đích để huy động vốn và dịch vụchuyển tiền nhanh từ Hà Nội đi Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại Điều nàygóp phần làm giảm tình trạng sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế tại hai đô thị lớnnhất nước ta là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời cũng giúp choSacombank thêm tự tin để tiếp tục mở rộng mạng lưới chi nhánh và tăng nhanhnguồn vốn của mình
- 7/5/1995, Sacombank tiến hành đại hội đại biểu cổ đông cải tổ Đây là mộtbước ngoặc quan trọng kể từ ngày thành lập Sacombank Trong đại hội này đã có
Trang 29một cuộc cải tổ lớn trong hội đồng quản trị: Ông Đặng Văn Thành giữ chức vụ chủtịch hội đồng quản trị Đồng thời thành lập nhóm hoạch định chính sách để tậptrung xây dựng chiến lược phát triển giai đoạn 1996- 2010 Đây là một bước ngoặc
có ý nghĩa lớn đối với quá trình phát triển của Sacombank bởi vì nếu như không cócuộc cải tổ này thì Sacombank khó có thể tồn tại và phát triển được như ngày hômnay
- 7/1995 hình thành bộ phận thường trực hội đồng quản trị (Chủ tịch, phó Chủtịch, Ban kiểm soát làm việc theo chế độ thường trực) và thành lập các ban chuyêntrách trực thuộc hội đồng quản trị: Ban thu hồi nợ, Ban lập quy, Nhóm hoạch địnhchính sách, Ban chấn chỉnh, Ủy ban quản lý rủi ro Đây chính là phương thức quảntrị đặc trưng của Sacombank từ năm 1995 Và sáng kiến này đã giúp cho hội đồngquản trị Sacombank thực hiện được đầy đủ chức năng quản trị của mình: Hoạchđịnh, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra, góp phần vào hoàn thành kế hoạch và chiến lượckinh doanh của toàn ngân hàng (Xem phụ lục 1 về sơ đồ tổ chức hoạt động)
- 10/1995, quan điểm chỉ đạo chiến lược về định hướng phát triển tín dụng củaSacombank sau thời kỳ cải tổ là cho vay phân tán theo đề án và kết hợp với cho vaytập trung có trọng điểm Đề án thực hiện thành công tại chi nhánh Gò Vấp là cơ sởcho Sacombank nhân rộng phạm vi thực hiện trên toàn hệ thống và trở thành tiền đềcho định hướng phát triển tín dụng ngày nay Đây là tiền đề và cơ sở cho mục tiêuxây dựng Sacombank trở thành một ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam theo nhưchiến lược đã đề ra
- 3/1996, sáng kiến phát hành cổ phiếu đại chúng để tăng vốn điều lệ đã được rađời Đại hội đại biểu cổ đông Sacombank đã đồng thuận với sáng kiến của ôngĐặng Văn Thành trong việc phát hành cổ phiếu đại chúng để tăng đủ số vốn điều lệ
là 70 tỷ đồng theo đúng quy định của chính phủ, và nó đã mở đường cho quá trìnhtăng nhanh năng lực tài chính của Sacombank trong những năm về sau Ngày nay,Sacombank đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có vốnđiều lệ lớn nhất tại Việt Nam khởi đầu từ sáng kiến này ( Xem phụ lục 2)
- 3/5/1999, Sacombank đã khánh thành trụ sở chính tại 278 Nam Kỳ Khởi NghĩaQuận 3 Thành phố Hồ Chí Minh, là một trụ sở khang trang, bề thế đầu tiên trong hệ
Trang 30thống các ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam Nó như một bức thôngđiệp khẳng định nên thương hiệu của Sacombank sẽ là người bạn đồng hành thủychung và lâu dài đối với các tổ chức kinh tế và dân cư trên địa bàn Sự kiện này đã
mở ra một thời kỳ mới, một bước phát triển mới nhảy vọt của Sacombank, là cơ sở
để thể hiện sức mạnh tài chính, là sự tự tin cho những bước đi dài trong lĩnh vực đốingoại của Sacombank sau này
- 1999, Sacombank trở thành thành viên của Hiệp hội Viễn thông liên ngân hàngtoàn cầu (SWIFT), tiếp theo sau đó là gia nhập Hiệp hội Thẻ quốc tế Visa, Master
và tiếp nhận được ủy thác tín dụng và tài trợ kỹ thuật của nhiều tổ chức kinh tế tàichính nước ngoài Điều này đã mở đường cho quá trình đẩy mạnh các hoạt độngkinh tế đối ngoại mà nhờ đó thương hiệu Sacombank đã từng bước được củng cố vànâng cao trong khu vực cũng như trên thế giới
- 2001, tập đoàn tài chính Anh Quốc (Dragon capital) tham gia đóng góp vào10% vốn điều lệ Sacombank, mở đường cho việc tham gia góp vốn cổ phần củacông ty tài chính Quốc tế IFC (2002) và ngân hàng ANZ (2005), nâng tổng số vốn
cổ phần của các cổ đông nước ngoài lên gần 30% vốn điều lệ Nhờ vào những sựkiện này mà Sacombank đã sớm nhận được những sự hỗ trợ về kinh nghiệm quản
lý, về công nghệ ngân hàng, về quản lý rủi ro cũng như đào tạo và phát triển nguồnnhân lực từ các cổ đông chiến lược của mình (Xem phụ lục 3)
- 2002, thành lập các tổ chức tín dụng ngoài địa bàn ở những nơi chưa có chinhánh, từ việc thử ngiệm thành công đầu tiên là việc thành lập tổ chức tín dụng tạihuyện Bết Cát tỉnh Sông Bé (Bình Dương ngày nay) trực thuộc chi nhánh Gò Vấp.Đây là một bước đột phá trong quản trị điều hành, nó tạo cơ sở giúp cho các chinhánh hoạt động có hiệu quả ngay từ thành lập chủ trương của ngân hàng nướcngoài
- 7/2003, học bổng: “Ươm mầm cho những ước mơ” của Sacombank được xâydựng, hàng năm sẽ trích 1% lợi nhuận thuần để xây dựng quỹ học bổng Sacombank
để trao cho học sinh, sinh viên nghèo học giỏi trong cả nước, nơi mà Sacombank cóchi nhánh trú đóng Học bổng này giờ đây đã trở thành một hình ảnh thân thương và
Trang 31đầy ấn tượng trong con mắt của công chúng cả nước, và đặc biệt là đối với nhữnghọc sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhưng thành tích học tập xuất sắc.
- 6/2004, Sacombank lại tiếp tục tổ chức chạy việt dã “vì sức khỏe của cộngđồng” từ các ngày lễ khai trương, kỷ niệm ngày thành lập các chi nhánh trong cảnước và ngày từ thiện vào mỗi đầu năm âm lịch Những ngày này dần dần đã trởthành ngày truyền thống của Sacombank và trở thành những hoạt động có tinh thần
xã hội hóa cao của Sacombank
- 6/2004, Sacombank ký kết hợp đồng triển khai hệ thống Corebanking T- 24 vớicông ty TEMENOS (Thụy Sỹ), khởi đầu cho quá trình hiện đại hóa công nghệ ngânhàng của Sacombank trong tiến trình phát triển và hội nhập Nó mở ra một giai đoạnphát triển mới của Sacombank nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, chất lượngquản lý và phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng quốc tế
- Cũng vào năm 2004, Sacombank đã thành lập công ty liên doanh quản lý quỹđầu tư chứng khoán Việt Nam (VFM)- liên doanh với Dragon Financial Holdings,
và thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín(AMC)
- 8/3/2005, Sacombank khai trương hoạt động chi nhánh Sacombank 8/3 tạithành phố Hồ Chí Minh đã gây ấn tượng và thu hút được nhiều khách hàng nữ trong
và ngoài nước Đây là một sáng kiến độc đáo hầu như chỉ có duy nhất trên phạm vitoàn cầu, dành cho phái đẹp nhiều ưu đãi hơn mức thông thường và có kèm theonhững dịch vụ về chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp, thời trang Nó không những thể hiện
sự quan tâm đặc biệt đến phụ nữ mà đây còn là một phong cách riêng đầy ấn tượngtrên thương trường trong và ngoài nước
- 12/7/2006, ngân hàng nhà nước và ủy ban chứng khoán nhà nước đã chọnSacombank là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được niêm yết cổ phiếu trênthị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh với số vốn niêm yết là 1900 tỷđồng Đây là một cơ hội để Sacombank tập trung cao hơn nữa trong quá trình nângcao giá trị doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận, năng lực cạnh tranh cũng như tính côngkhai, tính minh bạch trong quản trị ngân hàng trước sự theo dõi, giám sát và đánh
Trang 32giá của công chúng và các nhà đầu tư tài chính trong và ngoài nước Vốn điều lệ củaSacombank đã lên đến 130 triệu USD
- Trong năm 2006, Sacombank cũng tiếp tục thành lập thêm các công ty conkhác: Công ty kiều hối ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacomrex), Công ty chothuê tài chính ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SacomLeasing), Công ty chứngkhoán ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacom Securities)
Không dừng lại ở đó, sang năm 2007 và 2008, thương hiệu Sacombank vẫn tiếptục khẳng định mình trên thị trường tài chính ngân hàng trong nước và đã có nhữngbước tiến vươn rộng ra thị trường thế giới, một bước ngoặc cho sự đột phá củaSacombank
- Cuối năm 2007, sau 16 năm hoạt động, đến nay Sacombank đã trở thành Ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam với những con số đáng tự
hào:
+ Vốn điều lệ 4.449 tỷ đồng
+ Trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch tại 44 tỉnh thành trong cả nước, 9700đại lý thuộc 250 ngân hàng tại 91 quốc gia và vùng lãnh thổ
+ Khoảng 6000 cán bộ nhân viên trẻ, năng động và tâm huyết và sáng tạo
+ Hơn 37.000 cổ đông đại chúng
+ Kết thúc năm tài chính 2007, Sacombank đã đạt được những thành quả to lớn,đạt tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ
+ Năm 2007, Sacombank tiếp tục nhận được những giải thưởng danh giá và uy tín trong
và ngoài nước, khẳng định tầm cao vượt bậc của Sacombank trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng (“ Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2007 ” do Euromoney bình chọn, “ Ngân hàng bán lẻ của năm tại Việt Nam 2007 ” do Asian Banking and Finance bình chọn,
“ Ngân hàng tốt nhất Việt Nam về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 2007” do
Cộng Đồng Các Doanh Nghiệp vừa và nhỏ Châu Âu (SMEDF) bình chọn, “ Ngân hàng
có hoạt động ngoại hối tốt nhất Việt Nam năm 2007 ” do Global Finance bình chọn,
được đánh giá và xếp loại A (loại cao nhất) trong bảng xếp loại của Ngân hàng Nhànước cho năm 2006 và xếp thứ 4 trong ngành tài chính ngân hàng tại Việt Nam do
Trang 33chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP đánh giá cho năm 2007, Bằng khencủa Thủ tướng chính phủ dành cho các hoạt động từ thiện trong suốt các năm qua.
- Những tháng đầu năm 2008, Sacombank cũng đã không ngừng đạt được nhữngthành tựu đáng nể:
+ 8/1/2008, khai trương văn phòng đại diện Trung Quốc tại thành phố NamNinh- tỉnh Quảng Tây- Trung Quốc Sự ra đời của văn phòng đại diện này có một ýnghĩa quan trọng nhằm tạo một chiếc cầu nối giao thương cho doanh nghiệp giữahai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam
+ 24/1/2008, Sacombank đã chính thức ký kết biên bản ghi nhớ (MOU) vớiBaruch Education Group Ltd BVI (BEG)- đại diện của City University of NewYork (CUNY) tại Châu Á về các vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cao cấp, có chấtlượng Đây là lần đầu tiên, một ngân hàng nội địa liên kết với một trường đại họcnước ngoài nhằm đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhânlực cho ngành ngân hàng
+ 7/3/2008, Sacombank trở thành cổ đông chiến lược của trường đại học Yersin
Đà Lạt, góp phần đầu tư và thúc đẩy cho ngành giáo dục của Việt Nam ngày càngphát triển
+ 15/3/2008, khánh thành trung tâm dữ liệu Data Center tại khu công nghiệp ViệtNam- Singapore Bình Dương, Sacombank là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam xâydựng hệ thống quản lý hạ tầng công nghệ thông tin chuyên nghiệp với tổng chi phílên đến 5 triệu USD
Chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm mà Sacombank đã có những sự kiện đột phánâng thương hiệu Sacombank lên tầm cao vượt bậc so với các ngân hàng khác Vàđiều này sẽ hứa hẹn cho những sự kiện nổi bật hơn, bất ngờ hơn nữa về Sacombankvào 9 tháng còn lại của năm
2.1.2 Sản phẩm
Với một quá trình hình thành lâu dài và hoạt động bền bỉ, cho đến nay,Sacombank đã không ngừng tung ra thị trường nhiều dòng sản phẩm mới lạ và độcđáo, đa dạng cho nhu cầu sử dụng của khách hàng cá nhân lẫn doanh nghiệp Các
Trang 34sản phẩm đó không chỉ là thế mạnh về cạnh tranh cho phía ngân hàng mà còn manglại khá nhiều tiện ích và thuận lợi cho người sử dụng Chính điều đó đã góp phầnlàm cho Sacombank lớn mạnh lên từng ngày và càng thôi thúc những đội ngũ nhânviên của Sacombank phải nỗ lực hơn nữa để có được những sáng tạo mới, sáng kiếnmới, độc đáo phục vụ cho người dân Việt Nam nói riêng và cho mọi người dân trênkhắp thế giới nói chung trong bối cảnh toàn cầu
Hiện nay, Sacombank có một hệ thống các sản phẩm khá đa dạng và quy mô, đápứng nhiều nhu cầu tiện lợi từ các dịch vụ cho vay, tiền gửi, tiền tệ, chuyển tiền,thanh toán quốc tế và các dịch vụ khác cho đối tượng khách hàng cá nhân lẫn doanhnghiệp
Về khâu thanh toán quốc tế, Sacombank có các sản phẩm chủ yếu:
* Nhờ Thu Kèm Chứng Từ
Nhờ thu gửi đến (Inward Collection):
- Nhận được bộ chứng từ nhờ thu gửi đến, Sacombank thông báo bằng văn bảncho quý khách (đơn vị nhập khẩu)
- Ðối với nhờ thu trả ngay: (Document against Payment - D/P): khách hàng cóthể thanh toán bằng tài khoản ngoại tệ, nếu không đủ số dư sẽ được Sacombank bánngoại tệ để thanh toán Giao bộ chứng từ nhờ thu để quý khách nhận hàng
- Ðối với nhờ thu trả chậm: (Document against Acceptance - D/A): khách hàng
ký chấp nhận thanh toán lên hối phiếu và nhận bộ chứng từ để nhận hàng
- Ðến hạn thanh toán, khách hàng có thể thanh toán bằng tài khoản ngoại tệ, nếukhông đủ số dư sẽ được Sacombank bán ngoại tệ để thanh toán
Nhờ thu gửi đi (Outward Collection)
- Khách hàng là đơn vị xuất khẩu lập chứng từ nhờ thu để Sacombank gửi đi đểthu tiền
- Bộ chứng từ nhờ thu được Sacombank gởi đến ngân hàng nước ngoài ngaytrong ngày
Trang 35- Sacombank đôn đốc, theo dõi tiền chuyển về và báo Có ngay vào Tài khoản củakhách hàng khi nhận được tiền.
Chiết khấu bộ chứng từ D/P xuất khẩu
- Chiết khấu đến 95% trị giá Bộ chứng từ bằng ngoại tệ thỏa mãn các điều kiệntài trợ theo quy định của Sacombank
- Tùy theo tình trạng bộ chứng từ, uy tín và năng lực của khách hàng sẽ quy định
tỷ lệ chiết khấu phù hợp
* Dịch vụ thanh toán Xuất khẩu
Thông báo, chuyển bộ chứng từ, chiết khấu bộ chứng từ L/C xuất khẩu, tài trợ xuất khẩu có tín dụng thư
- Thông báo L/C xuất khẩu: Sacombank kiểm tra nội dung L/C xuất khẩu và tưvấn cho khách hàng tu chỉnh L/C nếu phát hiện có bất lợi cho nhà xuất khẩu Thôngbáo để khách hàng nhận L/C trong vòng 1 ngày làm việc kể từ khi Sacombank nhậnđược L/C từ nước ngoài
- Chuyển chứng từ đòi tiền L/C xuất khẩu: Kiểm tra và gởi bộ chứng từ L/C xuất đòi tiền phía nước ngoài ngay trong ngày Theo dõi, đôn đốc và báo Có ngay vào
Tài khoản của khách hàng khi nhận được tiền thanh toán từ ngân hàng nước ngoài
- Chiết khấu bộ chứng từ L/C xuất khẩu: Chiết khấu đến 95% trị giá Bộ chứng từ
bằng ngoại tệ nếu bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với những điều khoản của L/Cxuất khẩu với lãi suất chiết khấu phù hợp (Tùy theo tình trạng bộ chứng từ, uy tín
và năng lực của khách hàng sẽ quy định tỷ lệ chiết khấu phù hợp)
- Tài trợ xuất khẩu: Tài trợ đến 70% trị giá L/C xuất khẩu Có chính sách ưu đãi
về lãi suất và tài sản thế chấp đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, chế biến
và gia công hàng xuất khẩu
Nhờ thu trơn
Sacombank sẽ gửi hối phiếu của quý khách đến Ngân hàng thanh toán để thu hộtiền cho quý khách bằng chính phương tiện chuyển phát do quý khách lựa chọn
Trang 36* Dịch Vụ Thanh Toán Tiền Hàng Nhập Khẩu
Chuyển tiền (T/T)
- Phục vụ mọi đối tượng khách hàng có nhu cầu chuyển tiền mậu dịch cũng nhưphi mậu dịch trên phạm vi toàn cầu
- Chuyển tiền sau khi nhận hàng (TTr trả sau)
- Chuyển tiền trước trước khi nhận hàng (TTr trả trước)
- Thực hiện chuyển tiền: việc chyển tiền được thực hiện ngay trong ngày làmviệc
Phát hành thư tín dụng L/C
- Khách hàng chuẩn bị hồ sơ đề nghị mở L/C nhập khẩu
- Thanh toán L/C nhập khẩu: Ðối với L/C trả ngay: ký chấp nhận bất hợp lệ bộchứng từ (nếu có) Kiểm tra có đủ ngoại tệ trong tài khoản của khách hàng hoặckhách hàng nộp đủ tiền để Ngân hàng bán ngoại tệ thanh toán Nhận bộ chứng từ
- Ðối với L/C trả chậm: khách hàng ký cam kết thanh toán hối phiếu và ký chấpnhận bất hợp lệ bộ chứng từ (nếu có) Nhận bộ chứng từ Có đủ ngoại tệ trong tàikhoản hoặc nộp đủ tiền để Ngân hàng bán ngoại tệ thanh toán khi đến hạn
Nhờ thu kèm chứng từ NK: (Inward Collection)
- Nhận được bộ chứng từ nhờ thu gửi đến, Sacombank thông báo bằng văn bảncho quý khách (đơn vị nhập khẩu)
- Ðối với nhờ thu trả ngay: (Document against Payment - D/P): khách hàng cóthể thanh toán bằng tài khoản ngoại tệ, nếu không đủ số dư sẽ được Sacombank bánngoại tệ để thanh toán Giao bộ chứng từ nhờ thu để quý khách nhận hàng
- Ðối với nhờ thu trả chậm: (Document against Acceptance - D/A): khách hàng
ký chấp nhận thanh toán lên hối phiếu và nhận bộ chứng từ để nhận hàng Ðến hạnthanh toán, khách hàng có thể thanh toán bằng tài khoản ngoại tệ, nếu không đủ số
dư sẽ được Sacombank bán ngoại tệ để thanh toán
Trang 372.1.3 Tình hình hoạt động trong những năm qua
Được thành lập vào ngày 21/12/1991, sau 16 năm hình thành và phát triển,những thành quả đạt được của năm 2007 vừa qua có thể được xem là ấn tượng và làtiền đề quan trọng cho những kế hoạch chiến lược phát triển đến năm 2010 củaSacombank Với mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ, hiện đại, đa năng hàng đầu tạiViệt Nam, Sacombank đã và đang thực hiện các chiến lược trọng tâm: tăng cườngnăng lực tài chính, mở rộng mạng lưới hoạt động, phát triển hệ thống sản phẩm dịchvụ,… Từ ngày 16/08/2007, Sacombank chính thức tăng vốn điều lệ từ 2.340 tỷđồng lên 4.449 tỷ đồng và tăng vốn tự có lên 5.948,7 tỷ đồng, trở thành 1 trong 5ngân hàng thương mại Việt Nam có nguồn lực tài chính mạnh nhất
Khép lại năm hoạt động 2007, Sacombank đã đạt được kết quả kinh doanh rấtkhả quan với sự tăng trưởng vượt bậc của tất cả các chỉ tiêu tài chính, đặc biệt là kếtquả lợi nhuận: 1.452 tỷ đồng, gấp hơn 2,5 lần so với kết quả năm 2006 (543 tỷđồng) và tăng 21% so với chỉ tiêu kế hoạch của Đại hội đồng cổ đông đề ra (1.200
tỷ đồng) Đồng thời, các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu khác cũng đều có sự tăngtrưởng mạnh, vượt hơn 100% so với năm trước Cụ thể: Tổng huy động là 54.041 tỷđồng, tăng 151% so với năm 2006; tổng dư nợ cho vay là 34.317 tỷ đồng, tăng136% so với năm 2006; và tổng tài sản là 63.364 tỷ đồng, tăng 156% so với năm
2006 Các chỉ số kinh doanh trên đây là của riêng Sacombank, chưa bao gồm cáccông ty trực thuộc và liên doanh Với định hướng kinh doanh “lợi nhuận là nhấtthời, thị phần là vĩnh viễn”, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập của Việt Nam với lộtrình thực hiện cam kết trong lĩnh vực tài chính đối với Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) đang dần được thực hiện kể từ sau ngày 01/04/2007, Sacombank khôngngừng đẩy mạnh hoạt động mở rộng mạng lưới giao dịch đến mọi vùng miền đấtnước Từ 132 điểm giao dịch ở thời điểm cuối năm 2006, đến nay, số lượng Chinhánh, Phòng giao dịch của Sacombank trên khắp cả nước đã đạt con số 211 điểmvới sự kiện phủ kín 13/13 tỉnh thành miền Tây Nam Bộ vào tháng 10/2007 và tiếptục giữ vững vị trí hàng đầu khối thương mại cổ phần về hoạt động này (Xem phụlục 4) Đặc biệt trong chiến lược mở rộng mạng lưới này là mô hình ngân hàngchuyên biệt dành cho phụ nữ được nhân rộng ra vùng đất Hà thành với sự ra đời của
Trang 38Sacombank - Chi nhánh 8/3 Hà Nội vào ngày 08/03/2007 và sự thành lập mô hìnhchi nhánh dành riêng cho kiều bào người Hoa đang sinh sống và làm việc tại ViệtNam: Sacombank - Chi nhánh Hoa Việt ngày 08/10/2007 tại TP Hồ Chí Minh.Không chỉ dừng lại ở thị trường nội địa, ngày 26/10/2007 Sacombank là ngân hàngViệt Nam đầu tiên được Ủy ban Giám sát ngân hàng trung ương Trung Quốc cấpgiấy phép hoạt động tại thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc Bướckhởi đầu thuận lợi này làm tiền đề cho việc thành lập văn phòng đại diện tại TrungQuốc của Ngân hàng trong Quý I/2008 Song song đó, các thủ tục pháp lý và hànhchính cho công tác thành lập chi nhánh tại hai nước vùng Đông Dương là Lào vàCampuchia vẫn đang được xúc tiến theo kế hoạch hiện diện tại hai nước này trongquý II/2008.
Không những thế, trong quá trình hình thành, đổi mới và phát triển Ngân hàngtheo định hướng hội nhập nền kinh tế toàn cầu của đất nước, vấn đề mà Sacombankđặc biệt quan tâm chính là việc thiết lập và duy trì các mối hợp tác- liên minh- liênkết với các đối tác chiến lược trong cũng như ngoài nước Bởi nhận thức của Ngânhàng: sức mạnh tổng hợp từ các mối hợp tác- liên minh- liên kết chính là đòn bẩyvững chắc cho sự phát triển ổn định và bền vững, đặc biệt là với các đơn vị có quy
mô và thương hiệu lớn ở Việt Nam sẽ là xu hướng tất yếu trong giai đoạn cả nềnkinh tế Việt Nam đang tăng tốc bước vào hội nhập Điều này sẽ tạo cho các doanhnghiệp Việt Nam nói chung có cơ hội nâng cao vị thế cạnh tranh để phát triển vữngchắc Trong năm 2007 vừa qua, Sacombank đã ký kết hợp tác với nhiều doanhnghiệp lớn của Việt Nam như: hợp tác kinh doanh vàng cùng SJC, hợp tác trên lĩnhvực bảo hiểm với Tổng công ty Bảo Minh, đầu tư vào lĩnh vực xây dựng với HữuLiên Á Châu, kinh doanh xe cùng Auto Trường Hải,… hay hợp tác toàn diện vớihai ngân hàng bạn là: Habubank và Military Bank, cùng nhiều dự án đầu tư chiếnlược khác Từ đầu năm 2007, Sacombank đã xác định công tác tái cấu trúc bộ máyhoạt động là một chương trình trọng điểm, là giải pháp lớn trong việc triển khaithực hiện kế hoạch năm 2008, đồng thời là giải pháp căn cơ cốt lõi cho các kế hoạchhành động của Ngân hàng đến năm 2010 Vì thế, từ giữa năm 2007, Sacombankthực hiện đồng bộ việc tái cấu trúc bộ máy quản trị điều hành, cơ chế chính sách-