1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người trong một cái nhìn nghệ thuật mới mẻ

45 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Con Người Trong Một Cái Nhìn Nghệ Thuật Mới Mẻ
Tác giả Bảo Ninh
Người hướng dẫn Thạc Sỹ Nguyễn Văn Dơng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Văn Học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 1991
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 212,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Thị thu Hằng với đề tài quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của BảoNinh luận văn tốt nghiệp năm 2003, đã nghiên cứu chuyênsâu hơn vào tiểu thu

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành tiểu luận này ngoài sự cố gắng nỗ lực củabản thân còn có sự giúp đỡ rất nhiệt tình của thầy NguyễnVăn Dơng cùng các thầy cô giáo và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn thạc sỹ Nguyễn văn Dơng đãtrực tiếp hớng dẫn chu đáo tận tình, đồng thời cũng xin cảm

ơn các thầy cô giáo, bạn bè đã đóng góp những ý kiến quý báucũng nh động viên tôi hoàn thành tiểu luận này

Trang 2

Chơng I Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đợc

đánh giá là một tiêu thuyết có nhiều ý tởng cách tân, đợc hộinhà văn Việt Nam trao tặng giải nhất về tiểu thuyết năm

1991 Với tác phẩm này, Bảo Ninh đã có những đóng góp nhất

định trong việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngờicũng nh nghệ thuật trần thuật Và cái mới bao giờ cũng có sứchút mãnh liệt Đây chính là lý do đầu tiên khiến chúng tôi tìm

đến đề tài này

1.2 Bảo Ninh và một số hiện tợng có ý hớng cách tân vănhọc một cách quyết liệt Đã trở thành tâm điểm của các cuộctranh luận Dù tán thành hay phản đối, ngời ta vẫn không thểphủ nhận đợc là có một làn sóng cách tân văn học đang ngàycàng mãnh liệt Qua các cuộc tranh luận, nhiều vấn đề lí luận

và sáng tác đợc đặt ra Bối cảnh xã hội – thẩm mỹ hiện nay đãtạo tiền đề cho giới nghiên cứu phê bình nhìn nhận một cáchkhách quan hơn, dân chủ hơn về một số hiện tợng văn học

Đây cũng là động cơ tôi thúc đẩy tôi thực hiện công trìnhnày

1.3 Phần văn học Việt Nam sau 1975 cũng là một mảngkhá quan trọng đối với chơng trình giảng dạy ở bậc đại học và

phổ thông trung học Do vậy, qua hiện tợng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu

thêm về diện mạo văn học giai đoạn này Công trình này sẽ là

sự gợi mở để chúng tôi nghiên cứu sâu hơn dòng mạch vận

Trang 3

động của văn học Việt Nam hiện đại Đồng thời qua công trìnhnày, chúng tôi cũng muốn góp những lí giải riêng về hiện tợngnỗi buồn chiến tranh cỉa Bảo Ninh và quan niệm văn xuôi thời

kỳ đổi mới

Tóm lại, đề tài “ con ngời trong một cái nhìn nghệthuật mới mẻ “ của Bảo Ninh là một đề tài khá hay vừa mangtính thời sự lại vừa có ý nghĩa về phơng diện lí luận và vănhọc sử

2 Lịch sử vấn đề.

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là tác phẩm có sốphận đặc biệt xuất bản đầu tiên năm 1990 với tiêu đề do biêntập viên nhà xuất bản hội nhà văn lựa chọn: thân phận củatình yêu; chỉ một năm sau đó tác phẩm đuwocj tái bản với tiêu

dề của chính tác giả: Nỗi buồn chiến tranh Cung trong năm đótác phẩm đợc giải thởng của hội nhà văn trao tặng Nhiều cuộctoạ đàm, nhiều bài viết với nhứng ý kiến khen, chê về tác phẩmcho đến nay vẫn còn chữa ngã ngũ

Nỗ buồn chiến tranh đợc đặt trong bối cảnh của vănhọc sau 75 mà bản thân giai đoạn văn học ấy cho đến nayvẫn còn cha có đợc sự thống nhất trong cách nhìn nhận và

đánh giá Có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều độc giả tán thành,khen ngợi và hgi nhận sự cống hiến của giai đoạn văn học nàykhi nó dã có công mang một luồng gió mới cho văn học, bớc đầulàm thay đổi t duy nghệ thuật Song cũng không ít những

đánh giá ngợc chiều cho đây là bớc thụt lùi của nền văn họcViệt Nam Hơn thế nữa tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh củaBảo Ninh chứa đựng trong đó những nghịch lý, những cáinhìn đa chiều về chiến tranh Nó thể hiện một cách cảm thụ,

Trang 4

cắt nghĩa và lí giải mới về đề tài này Tác phẩm cũng chứa

đựng những cách tân về kỹ thuật tiểu thuyết cho nên sự

đánh giá, khẳng định những giá trị của nó khá thận trọng và

dè dặt

Với nỗi buồn chiến tranh, sự đánh giá về tác phẩm cũngxoay quanh hai trạng thái đối lập: ngời khên hết mực, ngời chêhết lời Cụ thể: Đức Trung trong bài viết : “ Chiến tranh nào? nỗibuồn nào?” đã tỏ rõ thái độ không tán thành Cũng có không ítnhà phê bình coi cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh là “ điênloạn”, “ rối bời”, “lố bịch hoá hiện thực” bôi nhọ quân đội ( báovăn nghệ số 43 ngày 26-10-1991) Bên cạnh đó,cũng có nhiều

ý kiến đánh giá cao tác phẩm về nội dung đặc biệt là hìnhthức nghệ thuật Vì là một hiện tợng độc đáo, gây nhiềutranh cãi trong giới phê bình cho nên đến nay vẫn còn nhiềucông trình tiếp tục nghiên cứu về nỗi buồn chiến tranh Songdờng nh gần đây có sự thay đổi trong t duy tiếp nhận của

độc giả và nỗi buồn chiến tranh dần đợc nhìn nhận đúng vớinhững giá trị mà tác giả đã góp công tạo nên Nhiều côngtrình nghiên cứu khoa học, nhiều bài viết đã khẳng định nỗibuồn chiến tranh là một tiểu thuyết tiêu biểu cho văn học thời

kỳ đổi mới Hơn thế, nhiều nhà nghiên cứu còn khẳng định

đây là tiểu thuyết đáng đọc nhất thế kỷ XX, Là tiểu thuyết

mở đầu cho xu hớng tiểu thuyêt mới trong văn xuôi Việt Nam về

kỹ thuật tiểu thuyết

Cũng trong mạch nguồn khám phá, nghiên cứu về nỗibuồn chiến tranh nhieuf công trình khoa học, luận văn, luận án

đã ra dời nhiều bài viết trên mạng, nhiều công trình quan tâm

đặc biệt đến cảm hứng sáng tạo, nhân đề tác phẩm nh:

Trang 5

Nguyễn Thanh Sơn, nỗi buồn chiến tranh đến từ đâu

( http://www.tanviet.net)

Đỗ Đức Hiểu, thân phận tình yêu của Bảo Ninh ( Thi

Pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, 2000)

• Trần Quốc Huấn, đọc thân phận tình yêu của Bảo Ninh( tạp chí văn học số 3/1991)

Nhìn chung hầu hết các bài viết đã cái nhìn bao quát vềtiểu thuyết nỗi Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh từ nhan đềtác phẩm, cảm hứng sáng tạo của nhà văn Mà đặc biệt, nhiểuluận văn nghiên cứu khá sâu về tác phẩm trên phơng diệnnghệ thuật về con ngời – ngọn nguồn của mọi cách tân nghệthuật

Đặng thị Minh Duyên với đề tài khoá luận tốt nghiệp: “

Sự thể hiện con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam ừthập niên 80 – 2000” đã đi vào nghiên cứu một phơng diện

đổi mới trong tiểu thuyết sau 75 – Biểu hiên của cái “tôi “trong văn học Đặc biệt tác giả đã tập trung nghiên cứu sự thể

hiên con ngời cá nhân qua ba tác phẩm Mùa lá rụng trong vờn,

Thời xa vắng, và Nỗi buồn chiến tranh.

Nguyễn Thị thu Hằng với đề tài quan niệm nghệ thuật

về con ngời trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của BảoNinh ( luận văn tốt nghiệp năm 2003), đã nghiên cứu chuyênsâu hơn vào tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh, tác giả có cáinhìn bao quát hơn trên phơng diên nghẹ thuật về con ngời với

sự tiếp thu nhiều công trình bài viết đi trớc bàn về quan niệmnghệ thuật về con ngời, công trình cũng đã đề cập đến khíacanh nhân vật: Nhân vật ngời lính trong qua trình tự nhậnthức, tự sám hối, nhân vật ngời lính cô đơn, mặc cảm

Trang 6

Gần đây hơn nữa năm 2003 với việc Nỗi buồn chiếntranh đợc tái bản với hai tiêu đề : Nỗi buồn chiến tranh ( NXBhội nhà văn) và Thân phận của tình yêu ( NXB phụ nữ ) thìnhiều công trình lại tiếp tục nghiên cứu để giải đáp nhữngvấn đề còn cha ngã ngũ Với góc nhìn về vấn đề nhân vậttrong tiểu thuyêt Nỗi buồn chiến tranh của Bao Ninh có cáckhóa luận và công trình khoa học, bài viết:

Với đề tài “ Con ngời trong một cái nhìn nghệ thuật mới

mẻ “ tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu một số quan niệm mới mẻ

về con ngời trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh để thấy

đ-ợc sự độc đáo về nghệ thuật trần thuật của Bảo Ninh và cũng

là một sự thể hiện sắc sảo quan niệm nghệ thuật về con ngờicủa nhà văn Sự tác động của chiến tranh đến nhân cách conngời trong tiểu thuyết của Bảo Ninh bằng cách đi sâu phản

ánh đời sống cong ngời cá nhân nhằm khái quát các vấn đềcủa nghệ thuật Tiếp thu những kết quả đạt đợc của côngtrình đi trớc với hớng nghiên cứu trọng tâm về nhân vật, chúngtôi muốn góp thêm một cách đọc tiểu thuyết Nỗi buồn chiếntranh – tác phẩm đợc xem là tiêu biểu của nền văn học đổimới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Tìm hiểu những cơ sở lí luận và thực tiễn chi phối

đến văn học Việt Nam sau 1975 và những thay đổi trongquan niệm nghệ thuật về con ngời

3.2 Tìm hiểu những nét mới trong quan niệm nghệ thuật

về con ngời của Bảo Ninh

3.3 Tìm hiểu một số đặc sắc về nghệ thuật Nỗi buồnchiến tranh

Trang 7

4 Phơng pháp nghiên cứu

Một số phơng pháp đợc vận dụng: Phơng pháp khảo sátthông kê, phơng pháp hệ thống, đặc biết chú trọng phơngpháp so sánh đối chiếu và phân tích tổng hợp

5 Cấu trúc của tiểu luận.

Con ngời trong một cái nhìn nghệ thuật mới mẻ

Nhà văn Nam Cao trong tác phẩm “Đời thừa “ đã từng phátbiểu : “ văn chơng không cần đến những ngời thợ khéo tay,làm theo một vài kiểu đa cho Văn chơng chỉ dung nạp nhữngngời biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn cha aikhơi, và sáng tạo những gì cha có…” Điều đó có nghĩa là vănhọc không chỉ lf sự kế tục truyền thống mà giá trị còn là sự

bổ sung những mới mẻ Mỗi nhà văn khi đến với văn học đề

Trang 8

mong muốn mang đến cho nó một tiếng nói mới mẻ và qua đókhẳng định bản lĩnh của mình Bảo Ninh cũng vậy, Anhthuộc thế hệ cầm bút tre, bớc vào văn học khi nó đã có bóng

đa bóng đề Vì vậy, nhà văn trẻ khoa khát đợc làm một cái gì

đó cho bản thân cung nh cho văn học dân tộc Và Nỗi buồnchiến tranh của anh với một cái nhìn nghệ thuật mới mẻ về conngời trong sự tiếp tục các giá trị truyền thống của văn học đãphần nào nói lên điều đó Con ngời trong một cái nhìn nghệthuật mới mẻ chính là: Con ngời – bình thờng - đời t – cá nhân

Và lịch sử văn học cũng cho thấy, đúng nh lời nhà văn Xô ViếtLêônốp: “ Tác phẩm nghệ thuật đích thực nhất là tác phẩmngôn từ, bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và mộtkhấm phá về nội dung”

I Cơ sở lí luận thực tiễn của cái nhìn nghệ thuật mới về con ngời

“ Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh thể hiện một

quan niệm nghệ thuật về con ngời dới một góc độ mới trong

t-ơng quan với sự tiếp tục một quan niệm nghệ thuật về con

ng-ời đã từng xuất hiện trong văn học, không phải là một sự ngẫunhiên, tuỳ tiện của tác giả mà nó là một sự chuyển biến hợplogic và phù hợp với sự vận động của líc sử văn học và nó đợckhẳng đinh với một cơ sở lí luận vững chắc trong thực tiễnphất triển của văn học Việt Nam qua từng giai đoạn, từng thời

kỳ đi lên của nó

1 Đổi mới xã hội dần đến đổi mới nghệ thuật.

Trang 9

Ngày 30-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắnglợi Lịch sử dân tộc đã bớc sang một trang mới Đất nớc Việt Namchuyển từ chiến tranh sang hoà bình, xay dựng CNXH trênphạm vi toàn lãnh thổ Trong hoàn cảnh đó, đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI đã diễn ra Đây là đại hội mang nội dung đổimới, dân chủ, định hớng cho sự đi lên của dân tộc trong giai

đoạn mới Đồng chí bí th Nguyễn Văn Linh thay mặt Đảng kêugọi văn nghệ sỹ cũng phải thay đổi cho phù hợp với lịch sử củadân tộc bởi hiên thực cuộc sống đã thay đổi mà “ văn học vốn

là tấm gơng phản chiếu thời đại “ còn nhà văn là ngời th kýtrung thành của nó

Mặt khác, hiện thực cuộc sống đã thay đổi dân đếnnhu cầu thẩm mỹ của bạn đọc, nhu cầu thởng thức văn nghệcủa công chúng đã thay đổi

Cuộc sống hiện thực sau hoà bình hết sức bề bộn, đadạng phức tạp đây khó khăn thử thách đối với con ngời: Con ng-

ời sẽ làm gì sau chiến tranh, liệu tình cảm đông đội đồngchí cùng gắn bó keo sơn trong chiến đấu có còn giữ đợc, ngời

ta sẽ nhìn nhân thế nào về cuộc chiến khi đã sống trong hoàbình ? …Điều đó buộc văn học nghệ thuật phải có sự thay

đổi, buộc các nhà văn phải thay đổi cách nhìn hiện thực vàphản ảnh hiện thực mà trọng tâm của nó là quan niêm nghệthuật về con ngời

Nh vậy, cuộc sống hiện thực bây giờ không chỉ làchiến đấu và lao động trong văn học 1945 - 1975 nữa mà làmọi vấn đề phức tạp của nó Chính vì vậy, bạn đọc của chúng

ta muốn hiểu hiện thực không chỉ có thế mà ngời đọc muốnhiểu toàn bộ hiên thực cuộc sống với bộ mặt đa chiều đa diện

Trang 10

của nó, cũng nh con ngời trong mối quan hệ nhiều chiều, phứctạp chứ không phải theo loiis miêu tả xuôi chiều đơn giản nữa

Văn học vẫn tiếp tục viết về chiến tranh nhng ngời đọcmuốn hiểu mọi vấn đề của cuộc chiến kể cả mặt trái của nó,buộc nhà văn không thể viết theo lối cũ đợc nữa( tức là nóinặng về chiến thắng, về cái anh hùng, vĩ đại của dân tộcViệt Nam) Những tác phẩm vẫn viết theo t duy cũ thì khôngcòn sức hấp dẫn đối với độc giả vì hoàn cảnh lịch sử đã thay

đổi rồi và tâm lí của bạn đọc cũng vậy Lí luận văn họcMacxits đã khẳng định: “ Ngời đọc nh một yếu tố bên trongcủa quá trình sáng tác văn học” ( Lí luận văn học II) Đối với nhàvăn, ngời đọc bao giờ cũng là hiện thân của nhu cầu xã hội>Trong mọi trờng hợp, mỗi khi nói tới ngời đọc nhà văn đề cảmthấy họ “ yêu cầu”, “ đòi hỏi”, “ tin cậy”, “hứng thú”, “ phêbình”, “hồi hộp”, “trông chờ”…Còn nhà văn thì “ đáp ứng”, “

lý giải”, “ tác động”, “lôi cuốn”, “ thuyết phục”, “ truyền đạt”,

“phơi bày”…

Đú chớnh là quan hệ giữa người đọc với nhà văn mà nú cú ảnh hưởng trựctiếp đến cỏc giai đoạn sỏng tỏc văn học và đối với van học sau 1975 cũng vậy.Nhà văn Nguyờn Ngọc đó nhận xột : “sau 1975 bỗng dưng xuất hiện một tỡnhtrạng rất lạ: sự lạnh nhạt hẳn đi trong quan hệ giữa cụng chỳng và sỏng tỏc.Người đọc mới hụm qua cũn mặn mà là thế, bỗng dưng quay lưng lại với anh,

họ khụng thốm đọc anh nữa Sỏch anh viết ra hăm hở, dày cộp, nằm mốc meotrờn cỏc quầy sỏch Người ta bỏ anh, người ta đi đọc sỏch Tõy và đọc NguyễnDu” Cũn Chế Lan Viờn thỡ cho rằng: “Sỏch thỡ nhiều mà khụng cú tỏcphẩm”.Nguyễn tuõn khẳng định “ văn học giai đoạn này hỡnh như cú mộtkhoảng “chõn khụng” văn học”

Tất cả những điều kiện trờn buộc nhà văn, người nghệ sĩ cầm bỳt phảithay đổi từ cỏch viết, cỏch xõy dựng hỡnh tượng nhõn vật và đặc biệt là quan

Trang 11

niệm nghệ thuật về con người…Điều này lí giải tại sao trong van học dân tộcsau 1975 lại xuất hiện các hiện tượng “lạ” như: Nguyễn Huy Thiệp, NguyễnKhắc Trường, Dương Hưóng, Bảo Ninh…

2.Tư duy sử thi chuyển sang tư duy tiểu thuyết:

Tư duy sử thi vốn chiếm ưu thế trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 –

1975 Tư duy này chi phối đặc điểm văn học trên các phương diện: đề tài, conngười, nhà văn, giọng điệu…Nhưng sau 1975, ta thấy trong văn học bắt đầu cóhiện tượng: tư duy sử thi đang dần chuyển sang tư duy tiểu thuyết và đến nay tưduy tiểu thuyết đã khẳng định vị trí của mình trong loại hình nghệ thuật ngôn từnày

2.1 Trước hết, trong phương diện đề tài ta thấy, tư duy sử thi hướng vănhọc đến các sự kiện trọng đại của dân tộc, gắn liền với số phận và vận mệnh củadân tộc, cộng đồng, đại diện cho ước mơ và lý tưởng của tập thể, thời đại (Núp,Tnú, Út Tịch…); ngược lại tư duy tiểu thuyết hướng ngòi bút của nhà vănngiêng về phán ánh những ván đề đời tư, đời thường , thế sự, đạo đức…,ngiêng

về phản ánh đời sống của từng số phận cá nhân con người Văn học thời kì này

ra đời một loạt tác phẩm nói về vấn đề đó Ta gặp cô thợ nhuộm tóc trong “thợnhuộm tóc”, người tàn tật hát rong trong “người đàn ông duy nhất”, người thầytrong “ông giáo trường làng”…Tất nhiên đề tài chiến đấu và xây dựng vẫn đượcphản ánh nhưng nó không còn là đề tài chính của văn học sau 1975 nữa và nếu

có viết thì nó cũng được viết khác theo sự nhận thức lai hai cuộc khángchiến,cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta trong những năm tháng đãqua Và bảo Ninh với tư cách là một nhà văn chủ yếu sau 1975 không thể khôngchịu ảnh hưởng của điều đó Tác phẩm “Thiên đường mù”của Dương ThuHương là một ví dụ Nguyên Ngọc đã có một ý kiến nhận xét rất xác đáng : “Cómột điều thú vị, hành trình văn học ta mấy năm qua từ cố gắng rút ra khỏi đề tài

số phận chung của cộng đồng đồng nhất để đi đến hiện thực xã hội ngổn ngangvới nhiều tính chất tả thực vội vã rồi tiếp tục đi sâu vào thế giới bên trong củatừng con ngưòi Cuộc hành hương vô tận, cuộc tìm kiếm khó nhọc bên trong thế

Trang 12

giới riêng từng con người – hành trình ấy không phải là một hành trình thu hẹpdần phạm vi quan tâm của văn học Ngược lại đó là hành trình mở ra ngày càngrộng hơn, phong phú đa dạng hơn của văn học” Tất cả những điều đó làm vănhọc đời hơn, thật hơn và mỗi con người là một yiêủ vũ trụ để nhà văn thoả sức

khám phá,tìm hiểu và thể hiện thành những tác phẩm đặc sắc “Nỗi buồn chiến tranh”của Bảo Ninh cũng là một minh chứng.

2.2 Con người là đối tượng khám phá và tái hiện trung tâm của văn họcchân chính Văn học 1945- 1975 ưu tiên và hướng tới ca ngợi, khẳng định conngười mới, con người anh hùng của thời đại Dưới ngòi bút của nhà văn họ đượcmiêu tả đẹp một cách hoàn thiện hoàn mĩ Con người trong văn học có sự phânranh giới rạch ròi, dứt khoát, không thể có sự lẫn lộn nhập nhằng giữa: cái cao

cả - thấp hèn, cái thiện – ác, cái tiên tiến - lạc hậu, cái mới – cũ…(các nhân vậttrong “Hòn đất” (Anh Đức), “Mảnh trăng cuối rừng (Minh Châu) và trong thơ

Tố Hữu…) Ngược lại, trong văn học sau 1975, hầu như bỏ quên Con ngườitrong văn học bây giờ được soi rọi nhiều hướng nhiều chiều, hết sức bí ẩn vàphức tạp trong đó có sự chen lẫn giữa nét đẹp thiên thần và biểu hiện quỷ dữ,giữa cái cao cả với cái tầm thường, giữa rồng phượng với rắn rết Các nhân vậtnhư lão Khúng, Quỳ , Lực, anh hoạ sĩ trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu,hai Hùng của Chu Lai, Quang Trung, Trương Chi, Nguyễn Huệ của NguyễnHuy Thiệp…đều được xây dựng nhìn nhận như vậy Điều đó cho ta thấy mộtđièu rằng: nhân vật Kiên của Bảo Ninh không phải là một “quái thai”, hay mộthiện tượng “dị thường”, “không có thật” của hiện thực cũng như của văn học

2.3 Nhà văn với tư cách là chủ thể thẩm mĩ nên có một vai trò rất quantrọng đối với sự phát triển của một giai đoạn, một thời kì văn học nói riêng vàlịch sử văn học nói chung Trong giai đoạn văn học 1945-1975, nhà văn cầm bútvới tư cách là nhà văn chiến sĩ cách mạng và “vóc nhà thơ đứng ngang tầmchiến luỹ” (Chế Lan Viên) Nhưng văn học sau 1975 lại tạo ra một thế hệ cầmbút mới – nhà văn cá nhân - với quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng củavăn học: Trong quan niệm của các nhà văn sau này, văn học sau 1975 không tư

Trang 13

bỏ vai trò của nó là vũ khí đấu tranh tư tưởng nhưng nó còn nhấn mạnh trước hét

ở sức khám phá thực tại va thức tỉnh ý thức về sự thật, ở vai trò dự báo dự cảmcảu nó Văn học vận động theo xu hướng dân chủ hoá là một phương tiệncầnthiết để tự biểu hiện, bao gồm cả việc phát triển tư tưởng, quan niệm, chính kiếncủa mỗi văn nghệ sĩ về xã hội và con người Văn học không chỉ là tiếng nóichung của dân tộc, thời đại, cộng đồng mà còn có thể là phất ngôn của mỗi cánhân nhà văn.Và Bảo Ninh không nằm ngoài quy luật này của văn học 1975

2.4 Giọng điệu là một trong những yếu tố làm nên âm hưởng chủ đạo của

tác phẩm văn học cũng như cả một giai đoạn văn học Ở giai đoạn 1945 – 1975,

do một trong những đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn này là văn học đượcviết theo khuynh hướng sử thi và lãng mạn, cho nên giọng văn ở các tác phẩmchủ yếu là hào hùng, sảng khoái Nhà văn nhân danh cộng đồng mà ngợi ca, tựhào về những con người, về những thế hệ làm rạng rỡ lịch sử dân tộc Ngược lạivăn học sau 1975 có nét mới Nếu trước đây giọng văn nặng về kể - tả thì bâygiờ nó lại nặng về lí giải, phân tích đánh giá cuộc sống , đánh giá tâm lí tínhcách con người…và giọng văn lí giải, phân tích, đánh giá lại chiếm ưu thế trongcác sáng tác sau này Bởi nhà văn đi sâu vào phân tích lí giải nội tâm con người.Lúc này, nội tâm con người trở thành một trong nhữngđối tượng khám phá chủyếu của văn học

Mặt khác, văn học sau 1975 còn có giọng trầm tĩnh hơn, sâu lắng hơn khinói về sự mất mát của hciến tranh gây ra cho người mẹ, người vợ…và bản thânngười lính

Như vậy, tư duy tiểu thuyết đã dành vị trí chủ đạo trong văn học sau 1975,

và trở thành một trong những yếu tố ảnh hưởng đén các sáng tác văn học trongthời kì này

3 Cá tính sáng tạo của nhà văn.

Văn học là một trong những lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật gắn liền với cátính sáng tạo của nhà văn - chủ thể thẩm mĩ Cá tính sáng tạo của nhà văn làđộng lực thúc đẩy sự phát triển của văn học Tuy nhiên cá tính sáng tạo của nhà

Trang 14

văn bao giờ cũng đựoc soi sáng bởi một nguyên tắc tư tưỏng nào đó phù hợp vớiquy luật phát triển của văn học Nhà văn Bảo Ninh cũng không nằm ngoài quyluật này Cá tính của lớp nhà văn trẻ như anh đưa lại cho văn học một bộ mặtmới phù hợp với hiện thực cuộc sống M.B khrapchencô trong tác phẩm “cá tínhsáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học” có nói đại ý rằng: những nhàvăn lỗi lạc thường xuyên nhấn mạnh đến vai trò to lớn của tư tưởng sáng tạo,của nguyên tắc tư tưởng văn học T.Sêkhốp đã viết: “nếu phủ nhận vấn đề và ý

đồ trong sáng tạo thì cần phải thừa nhận rằng người nghệ sĩ sáng tác một cáchkhông có chủ tâm, không có ý định, dưới ảnh hưởng của sự kích động, bởi vậynếu có một tác giả nào đó khoe khoang với tôi rằng anh ta đã viết một thiêntruyện mà không có dự định được cân nhắc từ trước thì tôi gọi anh ta là thằngrồ” Trên ý nghĩa ấy, chúng ta có thể khẳng định rằng: vấn đề con người trong

một cái nhìn nghệ thuật mới mẻ trong “Nỗi buồn chiến tranh” là một sản phẩm

của cá tính sáng tạo của nhà văn và nó cũng là một trong những đóng ghóp của

Bảo Ninh đối với sự phát triển của văn học dân tộc sau 1975 “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh đã có một cách viết “lạ” khiến nhiều độc giả vốn quen với

lối tư duy cũ “khó chịu” Tuy nhiên X.Sêđin đã vạch rõ: “tư tưởng và sự sángtạo tuyệt nhiên không thù địch với nhau Tư tưởng là một nhân tố chủ yếu vàkhông thể tránh khỏi của mọi hành động con người, cón sự sáng tạo là sự thểhiện tư tưởng trong những hình tượng sinh động…Rút cục, đã đến lúc cần phảithấy rõ rằng ở đây hoàn toàn chẳng có thù địch nào cả”

Hơn nữa, thế hệ nhà văn lớp sau này như bảo Ninh trưởng thành khi đấtnước đã thống nhất Đội ngũ của họ rất đông đảo nhưng phải nói chỉ 10 năm gầnđây tác phẩm của lớp tác giả mơi được chú ý , kể cả trường hợp Bảo Ninh Họlàm nhiều nghề, nhiều việc để kiếm sống Lâu đai văn chương đối với họ đa sốkhông còn vẻ quá thiêng liêng như đối với thế hệ cha chú Vui thì nhập cuộc,không vui thì nhẹ nhàng ra đi Lòng chung thuỷ không đặt ra ở đây, văn chươngcũng như nghệ thuật chỉ là nơi thể hiện bộc lộ mọi phương diện của bản ngã,một ý tưởng của mình Có lẽ nhờ thế mà sáng tác của họ hồn nhiên, giàu giọng

Trang 15

điêu, sắc thái, giàu những cách biểu hiện nghệ thuật Đó là cái được của vănchương gắn liền với cá tính sáng tạo của nhà văn.

Chính cá tính sáng tạo của nhà văn đã giúp cho họ sáng tác một cách say

mê, luôn có ý thức tạo cho mình một giọng điệu riêng, lối diễn đạt mới mẻ, lạhoá và nó cũng là một trong những yếu tố đảm bảo cho sức sống lâu dài của tácphẩm Từ đó, văn chương của lớp nhà văn trẻ sau này co nét riêng Đằng sau từ

“văn chương” không chỉ có nghệ thuật ngôn từ mà còn thấy vị thế, cách nhìn,tầm nghĩ và cả lòng dạ của nhà văn Vì thế, bạn đọc có thể không đồng tình,thậm chí bất bình với một vài cách nhìn, cách nghĩ thiên lệch lúc này, lúc kháccủa họ nhưng ai cũng phải thấy rằng đến với những tác phẩm văn chương củanhững nhà văn này là đến với một thứ văn chương có ma lực, nó lôi cuốn vàchứa nhiều tầng ý nghĩa Lần đầu tiên đọc “Mảnh đất lắm người nhiều ma”,

“Mùa lá rụng trong vườn”…Và cả “Nỗi buồn chiến tranh” nữa, người đọc có

thể chưa tiếp nhận được và chưa thấy thích thật sự nhưng về sau càng đọc tacàng thấy bị cuốn hút, hấp dẫn bởi những lối viết mạnh dạn, táo bạo của nhà văn

và càng thấm thía hơn những giá trị nội dung tư tưởng của nó

Như vậy, con người trong một cái nhìn nghệ thuật mới mẻ của nhà vănBảo Ninh còn là kết quả của cá tính sáng tạo của nhà văn, gắn liền với sự xuấthiện của lớp nhà văn tre mới xuất hiện sau này Người cầm bút lúc này ngàycàng thức tỉnh sâu sắc hơn về ý thức cá nhân và trách nhiệm của cá nhân đối với

xã hội và lịch sử Vai trrò chủ thể sáng tác được khẳng định và phát huy mạnh

mẽ Đối với hiện thực họ muốn là người nghiền ngẫm có tư tưởng, đối với độcgiả họ không muốn áp đặt một cái gì mà muốn đối thoại trên tinh thần bìnhđẳng, dân chủ Đối với bản thân mình, họ muốn soi tìm những trải nghiệm riêng

để từ đó có những khám phá riêng và phát biểu những tư tưởng riêng với côngchúng Ai nấy đều muốn khẳng định cá tính, giọng điệu, bút pháp, phong cáchriêng của mình

Trang 16

II NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CON NGƯỜI TRONG MỘT CÂI NHÌN NGHỆ THUẬT MỚI MẺ TRONG “ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”

“Câc nhă văn dù lớn đến đđu cũng chỉ có một vùng đề tăi ưa thích nhất vẵng ta chỉ có thể viết hay về những đề tăi ấy mă thôi Khi vì một kí do năo đó,ông ta hướng ngòi bút ra ngoăi khu vực đề tăi ấy, thì ông ta không còn sắc sảonữa, tâc phẩm trở nín nhạt nhẽo, hình tượng thiếu sức sống, thiếu linh hồn”(Nguyễn Đăng Mạnh – “Phương phâp luận nghiín cứu một nhă văn”) Đọc “Nỗibuồn chiến tranh của Bảo Ninh hấp dẫn nhất đối với người đọc lă khi tiếp cậnvới tâc phẩm dưới gọc độ con người trong một câi nhìn nghệ thuật mới mẻ củanhă văn Bởi Bảo Ninh dường như dồn cả “tinh lực” của mình cho vấn đề năy

Vă nhă văn đê viết hay, hấp dẫn, đầy sự sâng tạo để thể hiện điều đó Con ngườitrong câi nhìn nghệ thuật mới mẻ của Bảo Ninh được tâc giả gửu gắm ẩn dấumột câch sinh động, thông qua: Nhan đề của thiín tiểu thuyết, câh phât triểnhình tượng câc nhđn vật đặc biệt lă nhđn vật chính của tâc phẩm, qua thời gian –không gian nghệ thuật của nó

1 “Nhan đề của một tâc phẩm thường chứa đựng chủ đề của nó”

(Vưgốtxki – “tđm lí học nghệ thuật”) Tiểu thuyết của Bảo Ninh cũng vậy: dù

lúa đầu tâc giả đặt tín tâc phẩm lă “Nỗi buồn chiến tranh” vă sau năy đổi lại thănh “Thđn phận tình yíu” đi chăng nữa thì nó cũng vẫn lă một hiện tượng

ngôn từ lạ lùng, có sự kết hợp mới độc đâo, mang tính đa thanh, tính đối thoại,

lă tiểu thuyết mở nảy sinh một phần từ trực giâc, vô thức (không laọi trừ ý thức

vă lí trí) Đó lă cuộc hănh trình của những mộng du, tỉnh mí huyền bí “viết đểnhớ lại”, gợi ta nhớ đến “Đi tìm thời gian đê mất” của M.Proust lă một điểm gặp

gỡ (có ý thức hay không có ý thức) của Bảo Ninh với lí luận hiện đại về vănhọc

1.1 Với nhan đề “Thđn phận tình yíu”, Bảo Ninh đê cho người đọc thấy

rõ tâc giả đê tiếp cận con người ở một góc độ khâc – con người trong nỗi đautình yíu vă từ đó tâc giả đê đi đến những triết lí về số phận, tình yíu của conngười trong một hoản cảnh lịch sử đặc biệt Trong văn học Việt Nam mấy chục

Trang 17

năm nay có thể “Thân phận tình yêu” là cuốn tiểu thuyết hay về tình yêu, cuốn

tiểu thuyết tình yêu xót thương nhất; Có thể Phương là nhân vật phụ nữ đẹp nhất

trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam Có nhan đề “Thân phận tình yêu” thật phù

hợp với ý nghĩa của tác phẩm dưới góc nhìn tình yêu vừa là hạnh phúc vừa lànỗi đau của con người

1.2 “Nỗi buồn chiến tranh” lại thể hiện một điểm nhìn mới của nhà văn

về con người - người lính trong cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm của dân tộc Sựnhìn nhận mới mẻ về con người ấy gắn liền với những cảnh tả chiến tranh,những định nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác phẩm Tất cả những suy nghĩ,

chiêm nghiệm của nhà văn về con người gắn liền với “Nỗi buồn chiến tranh”

đều được thể hiện qua những “Hồi tưởng đen”, qua quá khứ, giấc mê, qua ảogiác của nhân vật Kiên Nó mãi ám ảnh người đọc, ám ảnh con người, bám riếtkhông gian và thời gian

1.3 “Nỗi buồn chiến tranh” và “Thân phận tình yêu” thấm vào nhau,

hoà lẫn vào nhau, da diết, xót xa, huỷ diệt, đó là hai nhịp mạnh của quyển tiểuthuyết, làm nên sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Đó là những mảnh cắt, nhữngkhía ạnh khác nhau của nhà văn khi xây dựng nhân vật trong cái nhìn nghệ thuậtmới mẻ về con người Ngay cách kết hợp ngôn từ “nỗi buồn”, “thân phận” cũngcho ta thấy nhà văn đã có ý định đi sâu vào đời tư, đời thường của con người đểkhám phá những “ốc đảo” trong tâm hồn họ Tác phẩm còn có nhịp mạnh thứ ba

đó là một “Tiểu thuyết trong tiểu thuyết” làm nên “nỗi buồn sáng tạo” của “nhàvăn Kiên” Tình yêu, chiến tranh, viết tiểu thuyết, ba nhịp đó xen kẽ, đan chéo,gây chóng mặt, bàng hoàng, nhức nhối đối với ai đã từng đọc nó

“Thân phận tình yêu” nhan đề ấy nhập thân với tiểu thuyết ấy, những

“Nỗi buồn chiến tranh” lại là một cái tên mang ý nghĩa khái quát bao trúm lên tất cả Trong “Nỗi buồn chiến tranh” đã có cả “Thân phận tình yêu” trong đó

“Nỗi buồn chiến tranh” là một “Nỗi buồn nguyên khối” vỡ thành ba mảnh, ba

nhịp của một bài ca, làm nên sức sống của tiểu thuyết

Trang 18

2 Cũng giống như khi thể hiện con người qua sự tiếp tục một quan niệm

nghệ thuật về con người, nhà văn Bảo Ninh đã gửi gắm một cái nhìn nghệ thuậtmới mẻ về con người qua hệ thống nhân vật của mình Nếu như ở khía cạnhtrước, con người được đặt trong mối quan hệ xuôi chiều, đơn giản, gia đình -cộng đồng – nhân loại thì ở đây con người lại đặt trong nhiều mối quan hệphong phú và phức tạp: quan hệ xã hội, quan hệ về đời tư, quan hệ lịch sử, quan

hệ đời thường Con người với những niềm vui và nõi buồn, trong sự phấn khởi

và nỗi đau khổ, trong niềm tin và hoài nghi chính đáng Họ đẹp trong chất thép

và trong cả sự mềm yếu…Các nhân vật “Nỗi buồn chiến tranh” đặc biệt là

nhân vật Kiên được xem xét khám phá và thể hiện trong các mối quan hệ với

chiến tranh cộng đồng, và với mối quan hệ này nhân vật mang nặng “Nỗi buồn chiến tranh”; Trong mối quan hệ với tình yêu (cá nhân) thì nhân vật lại gắn với nỗi đau về “Thân phận tình yêu”; còn trong mối quan hệ với nghệ thuật (đam

mê của chính mình) thi thì nhân vật lai mang biệt danh gắn với khao khát sángtạo “nhà văn phường” Từ những mối quan hệ này, nhà văn đã thể hiện được sựgiằng xé, đan chéo, sự âm u, tan nát và có khi méo mó trong thế giới nội tâm củanhân vật Kiên Từ sự vận động bên trong phức tạp đó của nhân vật mà ngườiđọc cũng bị giằng xé, khắc khoải, mâu thuẫn nhau, tranh luận với nhau, đặt ranhững vấn đề cuộc sống, con người , những vấn đề triết lí, yêu thương, sángtạo…Đây chính là thứ ma lực của những tác phẩm văn chương hay , độc đáo sau1975; Là cách nói riêng của Bảo Ninh nhưng không hề lạc lõng với hành trìnhphát triển của văn học Việt Nam sau chiến tranh mà độc giả ghi nhận Đúng như

Đ Đêmirchian đã nói: “cái riêng của mình dù nó là nỏ bé nhưng là của riêngmình – đó chính là cái có giá trị lớn trong văn học và đem lai sự thích thú chođộc giả”

2.1 Nếu như để khẳng định con người anh hùng, gắn với số phận của

cộng đồng nhà văn đã xây dựng kiểu con người hành động thì ở đây, để bộc lộquan điểm của mình về con người đời tư, cá nhân và con người với thế giới bêntrong phức tạp của nó, Bảo Ninh đã xây dựng một kiểu nhân vật mới: “Con

Trang 19

người tự sám hối, con người tự thú trước toà án lương tâm của chính mình” sámhối và tự thú là một hành động tâm lý “ăn năn”, “hối hận”, tự nói ra những việcmình làm và thông thường có ảnh hưởng không tốt đối với người khác Kiên đãkhông biết bao lần tự đối diện với chính mình để rồi trong anh có những aan hận

ăn năn về những việc mình đã làm trong chiến tranh và những việc ấy đã gâycho đồng đội anh không ít mất mát thậm chí cả tính mạng mình Từ hành đôngtâm lí đó mà trong nhân vật đã diễn ra những cung bậc, sắc thái khác nhau củatình cảm: đau đớn, buồn, day dứt…Và nhà văn đã nắm bắt chớp lấy những đề tài

để xây dựng nên một hình tượng nhân vật mang đầy cá tính riêng của mình:nhân vật Kiên chính là phát ngôn của nhà văn về cách nhìn con người dưới mộtgóc độ mới - nạn nhân của chiến tranh, bất hạnh trong tình yêu, bất lực trongnghệ thuật Valentinktaev đã từng khẳng định “trong mỗi nhân vật đều có mộtphần tâm hồn của nghệ sĩ tạo ra nó” và “ nhà văn trong khi xây dựng những hìnhtượng của các nhân vật của mình, tự mình lần lượt hoá thân thành những nhânvật một”

Việc xây dựng kiểu nhân vật đi từ con người anh hùng đến kiểu nhân vật

con người tự thú, con người sám hối trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo

ninh là một lẽ tự nhiên hợp với quy luật phát triển của văn học sau 1975 Cáchxây dựng này không hề có sự mâu thuẫn nhau và ta vẫn có thể tự khẳng địnhrằng: con ngưòi anh hùng và con người tự thú trong nhân vật Kiên vẫn là một, lànhững mảnh khác nhau trong diễn biến nội tâm của nhân vật và cuối cùng đượcthể hiện ra thành các hành động bên ngoài sự đa dạng, phức tạp trong cách xâydựng nhân vật Kiên của Bảo Ninh vẫn đảm bảo tính thông nhất trong tính cáchcủa nhân vật, là sự phát triển bình thường, hợp quy luật logic của con người.Gorki đã từng nói: “ tôi rất thích theo dõi con người lớn lên như thế nào” vàNguyễn Minh Châu trong tác phẩm “Bức tranh” cũng đã cho rằng: “cuộc chiếnđấu cho tự do của mỗi con người sẽ còn lâu dài và khó khăn hơn cả cuộc chiếnđấu tự do cho mỗi dân tộc

Trang 20

Một điều người đọc dẽ nhận thấy trong “Nỗi buồn chiến tranh” đó chính

là việc tác giả đã xây dựng kiểu con người sám hối, tự thú trong tất cả mối quan

hệ với chiến tranh, tình yêu và ddam mê nghệ thuật và chính ở đaay nhân vậtđặc biệt là Kiên đã bộc lộ hết những suy nghĩ tình cảm của mình trước đồng đội,Phương và trước văn chương Cũng qua đây ta hiểu một nào đó con người trongmột cái nhìn nghệ thuật mới mẻ của Bảo Ninh và đây cũng là một trong nhữngyếu tố làm cho tác phẩm thành một tiểu thuyết hay

2.1.1 Có thể nói rằng Bảo Ninh đã mạnh dạn, dám “phiêu lưu” khi đã để

cho nhân vật Kiên có những phát biểu thông qua “Hồi tưởng đen” về cuộc chiếntranh và người lình cách mạng Có thế nói nhà văn đã dám đi vào mặt trái cuảtấm huy chương để nói lên những chiêm nghiệm của mình về số phận con ngườitrong cuộc chiến Sự khốc liệt và nghiệt ngã của chiến tranh đối với số phậnngười lính đã được trình bày một cách nghiêm túc và khá đầu tư Nếu như trongvăn học 45- 75, sự gian khổ hy sinh, mất mát xảy ra trong chiến tranh được nhắcđến để ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, làm nảy sinh cái đẹp, cái cao quýcủa con người thì trong văn học sau 1975, đặc biệt trong sáng tác của NguyễnMinh Châu, Bảo Ninh…Nhà văn lại muốn nói đến sự sàng lọc phẩm giá của conngười đến mức đau xót Ngọn lửa chiến tranh tàn khốc đã giúp người đọc phânbiệt đâu là những phẩm xhất tốt đẹp những anh hùng, đâu là những kẻ phản bộihèn nhát

Kiên khi nhớ về chiến tranh, điều trước hết ám ảnh anh đó là Kiên khôngthể nao quên “chiến tranh với bộ mặt ghớm guốc của nó, với những móng vuốtcủa nó…Bất kì ai đã trải qua đều mãi mãi bị ám ảnh, mãi mãi mất khả năng sốngbình thường, mãi mãi không thể tự tha thứ cho mình” (tr227) Lúc này kiên đã

có sự suy nghĩ về cuộc chiến, về thân phận của những người lính trong chiếntranh “Chiến tranh là sự che chở đùm bọc, được cứu rỗi trong tình đồng đội bácái” những đồng đội thời đó cũng là “gánh nặng chém giết, gánh nặng bạo lực màthân phận con sâu cái kiến của người lính, cõng trên lưng đời đời kiếp kiếp”(tr227) Nhân vật đã phải thốt lên rằng: “trong chiến tranh, chính nghĩa thắng.,

Trang 21

lòng nhân thắng nhưng cái ác, sự chết chóc và bạo lực phi nhân cũng thắng Quanhững suy ghĩ của Kiên về chiến tranh ta thấy rõ một điều: bao nhiêu năm quangười ta cố tô điểm về chiến tranh có một bộ mặt dễ coi và con người sinh ratrong chiến tranh cũng chỉ bình thường và ai cũng có thể trở thành anh hùng Vànếu cứ như vậy mãi thí sẽ đến một ngày, các thế hệ trẻ kháccủa Việt Nam sẽ chỉbíêt đến chiến tranh với những hồi kèn chiến thắng, tiếng đại bác ghầm thét, đồnthù sụp đổ, lớp lớp chiến binh ào ào xông lên…Họ sẽ không bao giờ biết đếnthảm hoạ mà dân tộc mĩnh đã phải gánh chịu suốt 30 năm, họ sẽ không bao giờcòn nhớ đến những mất mát đau thương của dân tộc Có lẽ vì vậy những suynghĩ của Kiên qua cách viết của Bảo Ninh là một điều táo bạo: khơi dậy quá khứđau thương để khơi tỉnh hiện tại và tương lai – cho đến khi nào con người chưabiết sợ bộ mặt khủng khiếp của chiến tranh.

Ở nhân vật Kiên, ta thấy có một nghịch lý đau đớn Mặc dù chiến tranh đãkết thúc được một thời gian dài thì chiến trường câm lặng trong lòng nhữngngười lính như Kiên vẫn chưa một ngày im tiếng súng và ngày chiến thắng vẫncòn xa lắm Trong lòng Kiên, chiến tranh không mang bộ mặt phụ nữ, khôngmang khuôn mặt trẻ em và nói chung không có bộ mặt con người nhưng lại mãimãi ám ảnh anh Vì sao lại như vậy? Nhà văn Bảo Ninh đã có những lí giải vôcùng sâu sắc khi nói đến những diễn biến tâm lí vô cùng phức tạp này trong thếgiới nội tâm của kiên: “Dằng dặc trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn nhữnghồn ma thân thiết, lẳng lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau buồnchiến tranh” (tr26) Và đó cũng chính là nỗi đau do sự hồi tưởng của Kiên vềnhững hành động của mình trong quá khứ có khi làm hy sinh tính mạng đồngđội Bảo Ninh đã thật sự đã không chỉ dừng lại ở thực tại được tái hiện trong đầuKiên mà nhà văn đã dùng ngòi bút của mình để mổ xẻ, phân tích và kí giải tâm lícủa nhân vật qua các hiệntượng sự kiện ấy Không biết bao lần Kiên đã tự thú, tựsám hối với chính lương tâm của mình khi nghĩ đến Hoà, Từ…những người đã

vì sự nhút nhát, hèn hạ pháut chốc trong anh làm cho phải hy sinh tính mạng:

“vào ngày 30/4, tức là vào thời khắc cuối cùng của cuộc chiến, khi cùng đội

Trang 22

quân thọc sâu của trung đoàn tấn công dãy lầu lăng cha cả, đã có một giây Kiênchần chừ Và một giây ấy của Kiên đã lấp bằng tính mạng của Từ, người độiviên trinh sát cuối cùng…”.Anh mãi day dứt về hành động của mình, nó làm chotinh thần anh sau hoà bình vẫn còn tiếng súng của chiến trường: “Kiên chần chừkhi từ khung cửa sổ hình vòm của tầng trệt toà lầu vang lên những tràng súngmáy…khựng lại và hơi né tránh, Kiên chậm bước trong một phần tích tắc khôngcảm thấy được Nhưng, thế là Từ đã thoát lên trước áp tới khung cửa dành choKiên”và kết quả là “ loạt đạn của tên lính không thể trúng Kiên được nữa dù anhchỉ sau Từ nửa bước chân…(tr212) Như vậy là, sự hy sinh của đồng đội dotrạng thái chần chừ và hèn nhát của Kiên đã thành nỗi đau trong ạnh, và hômnay Kiên dám nhìn thẳng vào sự thật đó, dám nói lên cái tôi của mình đó là mộtđiều đáng quý Việc làm của Kiên cho ta thấy rõ một khía cạnh trong quan niệm

về con người của Bảo Ninh lúc này đó là trong con người không chỉ có anh hùng

mà còn có cả tiểu nhân nhưng điều đáng nói đáng trân trọng ở đây là họ dámnhìn thẳng vào sự thật đó để sửa mình sống cho tốt đẹp hơn Điều này cũng thểhiện sự vững tay của Bảo Ninh trong việc nám bắt và khai thác tâm lí nhân vật.Nhà văn Thạch lam đã cho rằng: “Một nhà văn phải biết quan sát, tất nhiênngười ta thường hiểu sự quan sát bề ngoài về cái tài chụp hình và ghi nhớ các sựvật sự quan sát ấy không đủ và chỉ khiến cho tác phẩm trở nên khô khan và có

vị khôi hài cần hơn là sự quan sát bề trong khién nghệ sĩ có thể hiểu được cái ýnghĩa dấu kín của sự vật, các trạng thái tâm lý của một cử chỉ hay lời nói Vàđiều đó thật đúng với trường hợp của nhà văn Bảo Ninh lúc này

Không chỉ một lần Kiên hối hận về sự nhút nhát có phần ham sống sợchết bản năng của mình mà khi nghĩ đến Cừ, Oanh, Hoà…trong anh cũng dấylên bao điều an hận, xót xa.cũng gần giống như thế, trên tầng 3 của nhà cảnh sátBuôn Ma Thuật, Oanh đã che chắn cho Kiên, Khôi hứng phải loạt đạn của kẻbắn lén mặc váy mà hai người để cho sống hay cũng giông như Cừ đã nổ súngbắn chặn cả một trung đội địch cho nhóm trinh sát của Kiên thoát thân Sau cúđột nhập không thành vào sở chỉ huy lữ dù 3 Phượng Hoàng…” (tr213) Tuy

Ngày đăng: 08/09/2021, 01:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w