Tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo, sự du nhập và tác động đến đời sống chính trị Việt Nam. 1. Tính cấp thiết của đề tài Nho giáo khởi nguồn từ Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, được Việt Nam hóa trong suốt một chặng đường lịch sử, góp phần đáng kể vào việc tạo dựng nền văn hiến Việt Nam. Bao đời từng là hệ tư tưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến con người và xã hội, chính trị và văn hóa, cuộc sống và lẽ sống, hệ tư tưởng và phong tục tập quán Việt Nam. Nho giáo trở thành một bộ phận của truyền thống dân tộc. Dù muốn hay không, Nho giáo vẫn đang chi phối xã hội Việt Nam ngày nay. Con người Việt Nam dù tự giác hay không tự giác, vẫn còn dấu ấn của Nho giáo. Truyền thống văn hóa quá khứ của dân tộc bao gồm sách vở, đền đài, miếu mạo, phong tục tập quán mang sắc thái Nho giáo vẫn còn đó. Một Văn Miếu Quốc Tử Giám với 82 tấm bia tiến sĩ sừng sững uy nghiêm không chỉ được xem là một trong những biểu tượng của văn hóa Thăng Long Hà Nội, mà còn được xem là kỷ vật thiêng liêng, ngưng tụ lại một nền văn hóa truyền thống được nhiều thế hệ Việt Nam trân trọng tự hào. Nhưng truyền thống là do quá khứ để lại, có nhiều điều không phù hợp với xã hội hiện đại. Mặc dù cơ sở kinh tế xã hội của Nho giáo đã bị thủ tiêu, nhưng những tàn dư dai dẳng của nó đã và đang trở thành lực cản của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh sự tăng trưởng về kinh tế, đem lại bộ mặt mới cho xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường cũng đang tạo ra nhiều xáo trộn trong quan hệ xã hội, trong gia đình và phẩm chất cá nhân. Trong cán bộ, nhân dân đã có những biểu hiện tiêu cực, thể hiện ở trong cả nhận thức và hành động: tư tưởng thực dụng, chạy theo đồng tiền làm cho một bộ phận xa rời lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức; nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác đang có chiều hướng gia tăng. Những chủ trương biện pháp khắc phục tình trạng nói trên không thể không đụng chạm tới nhiều vấn đề liên quan đến Nho giáo, nhất là khi Nho giáo đã từng tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta, để lại những căn bệnh trầm trọng như bệnh bảo thủ, quan liêu, giáo điều, chủ nghĩa bình quân. Đến nay những căn bệnh đó vẫn còn tồn tại với nhiều biểu hiện khác nhau. Đường lối đổi mới ở Việt Nam và triển vọng lớn lao của nó không thể tách rời việc khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo và sau đó khai thác những nhân tố tích cực để biến thành truyền thống Việt Nam trên nhiều lĩnh vực của đời sống. Nho giáo là vấn đề quá khứ nhưng cũng là vấn đề hiện tại. Nghiên cứu tư tưởng chính trị Nho giáo để nhìn nhận, đánh giá rõ hơn những yếu tố không còn phù hợp, những phản giá trị cần gạt bỏ, đồng thời kế thừa những tinh hoa của nó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn của chính trị học có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài Tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo, sự du nhập và tác động đến đời sống chính trị Việt Nam làm đề tài tiểu luận của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nho giáo là đề tài được nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước nghiên cứu, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải có sự đi sâu tìm hiểu và khám phá. ở Việt Nam, trong mấy thập kỷ nay, không kể các bài in trên tạp chí, chỉ nói riêng các tác phẩm nghiên cứu về Nho giáo, thì đã có một số lượng đáng kể: + Tác phẩm Nho giáo (2 tập) của Trần Trọng Kim được xuất bản trước năm 1930 và từ đó đến nay đã được tái bản nhiều lần, gần đây nhất là năm 1992. Đây là bộ sách lớn giới thiệu về lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc từ Khổng Tử cho đến đời Thanh, trong đó có một số trang phụ lục, tóm tắt về sự du nhập và phát triển đạo Nho ở Việt Nam; là tác phẩm tiếng Việt đầu tiên trình bày về sự phát triển của đạo Nho một cách có hệ thống. + Tác phẩm Khổng học đăng của Phan Bội Châu, được soạn thảo vào những năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX, xuất bản năm 1957 và được tái bản năm 1998, bàn luận và diễn giải về một số tác phẩm tiêu biểu của nhà Nho cũng như sự nghiệp của họ thuộc các thời ở Trung Quốc. + Nho giáo xưa và nay do giáo sư Vũ Khiêu chủ biên, xuất bản năm 1990 gồm một số bài viết của một số tác giả đề cập tới nhiều vấn đề của Nho giáo từ phương hướng, phương pháp tiếp cận, đến quan hệ của Nho giáo với kinh tế, lịch sử, văn hóa. + Nho giáo xưa và nay của nhà nghiên cứu Quang Đạm, xuất bản năm 1994, phân tích sâu sắc những nội dung cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam. + Đến hiện đại từ truyền thống của cố giáo sư Trần Đình Hượu, xuất bản năm 1994, gồm những bài viết về Tam giáo, đặc biệt là ảnh hưởng của Nho giáo đến truyền thống văn hóa Việt Nam. + Nho học và Nho học ở Việt Nam Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của PGS.TS Nguyễn Tài Thư, xuất bản năm 1997, dưới góc độ triết học đã trình bày nội dung của Nho học và vai trò của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. + Nho giáo và phát triển ở Việt Nam của giáo sư Vũ Khiêu, xuất bản năm 1997, đã nhìn nhận, đánh giá vai trò của Nho giáo trong lịch sử Việt Nam và một số vấn đề của Nho giáo trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. ở nước ngoài, trong tác phẩm Nho gia với Trung Quốc ngày nay, Vi Chính Thông đã vạch rõ những mặt tích cực và hạn chế của Nho giáo trong xã hội Trung Quốc hiện đại... Trên đây là một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về Nho giáo trên các phương diện: giới thiệu tác giả, tác phẩm; đánh giá vai trò của một số nhà Nho tiêu biểu, phân tích những nguyên lý cơ bản của Nho giáo; ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các công trình đều nghiên cứu Nho giáo dưới góc độ triết học, lịch sử, hoặc các vấn đề riêng lẻ. Chưa có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt, dưới góc độ của chính trị học, luận văn này đi sâu nghiên cứu tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo, đồng thời làm rõ ảnh hưởng của Nho giáo đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. 3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu Mục đích Luận văn làm rõ tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, từ đó góp thêm tiếng nói vào việc tìm giải pháp khai thác những giá trị tinh hoa và loại bỏ những hạn chế của nó trong đời sống xã hội nước ta hiện nay. Nhiệm vụ Làm rõ tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo. Chỉ rõ những giá trị tích cực của Nho giáo cần được kế thừa, phê phán những hạn chế, những tàn dư của Nho giáo còn rơi rớt lại trong đời sống xã hội Việt Nam. Bước đầu kiến nghị những giải pháp nhằm khai thác những giá trị tinh hoa trong tư tưởng chính trị của Nho giáo đồng thời loại bỏ những tàn dư của nó trong đời sống xã hội Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Tiểu luận không có tham vọng giải quyết tất cả các vấn đề của Nho giáo mà chỉ tập trung làm rõ tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo, những ảnh hưởng của nó trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phê phán và vận dụng những giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp lôgíc và lịch sử; phân tích và tổng hợp, phương pháp quan sát xã hội, sử dụng kiến thức liên ngành chính trị văn hóa lịch sử... 5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo khởi nguồn từ Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắcthuộc, được "Việt Nam hóa" trong suốt một chặng đường lịch sử, góp phần đáng kể vàoviệc tạo dựng nền văn hiến Việt Nam Bao đời từng là hệ tư tưởng thống trị trong kiếntrúc thượng tầng Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến con người và xã hội,chính trị và văn hóa, cuộc sống và lẽ sống, hệ tư tưởng và phong tục tập quán Việt Nam.Nho giáo trở thành một bộ phận của truyền thống dân tộc Dù muốn hay không, Nhogiáo vẫn đang chi phối xã hội Việt Nam ngày nay Con người Việt Nam dù tự giác haykhông tự giác, vẫn còn dấu ấn của Nho giáo Truyền thống văn hóa quá khứ của dân tộcbao gồm sách vở, đền đài, miếu mạo, phong tục tập quán mang sắc thái Nho giáo vẫncòn đó Một Văn Miếu Quốc Tử Giám với
82 tấm bia tiến sĩ sừng sững uy nghiêm không chỉ được xem là một trong nhữngbiểu tượng của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, mà còn được xem là kỷ vật thiêng liêng,ngưng tụ lại một nền văn hóa truyền thống được nhiều thế hệ Việt Nam trân trọng tựhào Nhưng truyền thống là do quá khứ để lại, có nhiều điều không phù hợp với xã hộihiện đại Mặc dù cơ sở kinh tế - xã hội của Nho giáo đã bị thủ tiêu, nhưng những tàn dưdai dẳng của nó đã và đang trở thành lực cản của sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnhđạo đã đạt nhiều thành tựu quan trọng Nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh sự tăngtrưởng về kinh tế, đem lại bộ mặt mới cho xã hội Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thịtrường cũng đang tạo ra nhiều xáo trộn trong quan hệ xã hội, trong gia đình và phẩmchất cá nhân Trong cán bộ, nhân dân đã có những biểu hiện tiêu cực, thể hiện ở trong cảnhận thức và hành động: tư tưởng thực dụng, chạy theo đồng tiền làm cho một bộ phận
xa rời lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức; nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàubất chính và các tệ nạn xã hội khác đang có chiều hướng gia tăng Những chủ trươngbiện pháp khắc phục tình trạng nói trên không thể không đụng chạm tới nhiều vấn đềliên quan đến Nho giáo, nhất là khi Nho giáo đã từng tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta,
để lại những căn bệnh trầm trọng như bệnh bảo thủ, quan liêu, giáo điều, chủ
Trang 2nghĩa bình quân Đến nay những căn bệnh đó vẫn còn tồn tại với nhiều biểu hiện khácnhau.
Đường lối đổi mới ở Việt Nam và triển vọng lớn lao của nó không thể tách rờiviệc khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo và sau đó khai thác những nhân
tố tích cực để biến thành truyền thống Việt Nam trên nhiều lĩnh vực của đời sống Nhogiáo là vấn đề quá khứ nhưng cũng là vấn đề hiện tại Nghiên cứu tư tưởng chính trịNho giáo để nhìn nhận, đánh giá rõ hơn những yếu tố không còn phù hợp, những phảngiá trị cần gạt bỏ, đồng thời kế thừa những tinh hoa của nó trong sự nghiệp đổi mới ởViệt Nam hiện nay dưới góc nhìn của chính trị học có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận
cũng như thực tiễn Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài "Tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo, sự du nhập và tác động đến đời sống chính trị Việt Nam" làm đề tài tiểu
luận của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
- Nho giáo là đề tài được nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước nghiêncứu, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải có sự đi sâu tìm hiểu vàkhám phá
ở Việt Nam, trong mấy thập kỷ nay, không kể các bài in trên tạp chí, chỉ nói riêng các tác phẩm nghiên cứu về Nho giáo, thì đã có một số lượng đáng kể:
+ Tác phẩm "Nho giáo" (2 tập) của Trần Trọng Kim được xuất bản trước năm
1930 và từ đó đến nay đã được tái bản nhiều lần, gần đây nhất là năm 1992 Đây là bộsách lớn giới thiệu về lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc từ Khổng Tử cho đến đời Thanh,trong đó có một số trang phụ lục, tóm tắt về sự du nhập và phát triển đạo Nho ở ViệtNam; là tác phẩm tiếng Việt đầu tiên trình bày về sự phát triển của đạo Nho một cách có
hệ thống
+ Tác phẩm "Khổng học đăng" của Phan Bội Châu, được soạn thảo vào những
năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX, xuất bản năm 1957 và được tái bản năm 1998, bànluận và diễn giải về một số tác phẩm tiêu biểu của nhà Nho cũng như sự nghiệp của họthuộc các thời ở Trung Quốc
Trang 3+ "Nho giáo xưa và nay" do giáo sư Vũ Khiêu chủ biên, xuất bản năm 1990
gồm một số bài viết của một số tác giả đề cập tới nhiều vấn đề của Nho giáo từ phươnghướng, phương pháp tiếp cận, đến quan hệ của Nho giáo với kinh tế, lịch sử, văn hóa
+ "Nho giáo xưa và nay" của nhà nghiên cứu Quang Đạm, xuất bản năm 1994,
phân tích sâu sắc những nội dung cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối vớiViệt Nam
+ "Đến hiện đại từ truyền thống" của cố giáo sư Trần Đình Hượu, xuất bản năm
1994, gồm những bài viết về Tam giáo, đặc biệt là ảnh hưởng của Nho giáo đến truyềnthống văn hóa Việt Nam
+ "Nho học và Nho học ở Việt Nam - Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn" của
PGS.TS Nguyễn Tài Thư, xuất bản năm 1997, dưới góc độ triết học đã trình bày nộidung của Nho học và vai trò của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
+ "Nho giáo và phát triển ở Việt Nam" của giáo sư Vũ Khiêu, xuất bản năm
1997, đã nhìn nhận, đánh giá vai trò của Nho giáo trong lịch sử Việt Nam và một số vấn
đề của Nho giáo trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
ở nước ngoài, trong tác phẩm "Nho gia với Trung Quốc ngày nay", Vi Chính
Thông đã vạch rõ những mặt tích cực và hạn chế của Nho giáo trong xã hội Trung Quốchiện đại
Trên đây là một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về Nho giáo trên các phươngdiện: giới thiệu tác giả, tác phẩm; đánh giá vai trò của một số nhà Nho tiêu biểu, phântích những nguyên lý cơ bản của Nho giáo; ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam.Tuy nhiên, hầu hết các công trình đều nghiên cứu Nho giáo dưới góc độ triết học, lịch
sử, hoặc các vấn đề riêng lẻ Chưa có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống tưtưởng chính trị cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp đổi mới
ở Việt Nam hiện nay
- Kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt, dưới góc độ của chính trị học,luận văn này đi sâu nghiên cứu tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo, đồng thời làm rõảnh hưởng của Nho giáo đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trang 43 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
Mục đích
Luận văn làm rõ tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng của nóđối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, từ đó góp thêm tiếng nói vào việc tìm giảipháp khai thác những giá trị tinh hoa và loại bỏ những hạn chế của nó trong đời sống xãhội nước ta hiện nay
Nhiệm vụ
- Làm rõ tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo Chỉ rõ những giá trị tích cựccủa Nho giáo cần được kế thừa, phê phán những hạn chế, những tàn dư của Nho giáocòn rơi rớt lại trong đời sống xã hội Việt Nam
- Bước đầu kiến nghị những giải pháp nhằm khai thác những giá trị tinh hoatrong tư tưởng chính trị của Nho giáo đồng thời loại bỏ những tàn dư của nó trong đờisống xã hội Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận không có tham vọng giải quyết tất cả các vấn đề của Nho giáo mà chỉtập trung làm rõ tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo, những ảnh hưởng của nó trong
sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phê phán vàvận dụng những giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp lôgíc và lịch sử;phân tích và tổng hợp, phương pháp quan sát xã hội, sử dụng kiến thức liên ngành chínhtrị - văn hóa - lịch sử
5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Trang 5- Trình bày một cách có hệ thống tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo theo quan điểm lịch sử - cụ thể.
- Làm rõ ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu cho việc khai thác những giá trị tích cực vàloại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng chính trị Nho giáo trong sự nghiệp đổimới ở Việt Nam hiện nay
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Góp phần giải đáp một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đang đặt ra hiện nay,
đó là kế thừa và loại bỏ những gì trong tư tưởng chính trị của Nho giáo
- Luận văn thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn Lịch sử tư tưởng chính trị - phần Lịch sử tư tưởng phương Đông
7 Kết cấu tiểu luân
Chương I: Tư tưởng chính trị của Nho giáo
Phần II: ảnh hưởng của Nho giáo tới đời sống văn hoá Việt Nam.
Trang 6Chương 1
Tư tưởng chính trị của Nho giáo
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ VII Tr CN, các yếu tố đầu tiên của hệ tư tưởng TrungQuốc đã xuất hiện Một số yếu tố đó được đúc kết và nâng cao thành đạo Nho, một sốtrở thành đạo của Mặc gia, Pháp gia Trong đó đạo Nho xuất hiện sớm nhất (thế kỷ VI
Tr CN) Khổng Tử (551 - 479 Tr CN) là người đầu tiên sáng lập đạo này Những người
kế tục nổi tiếng là Mạnh Tử (372 - 289 Tr CN) và Tuân Tử (298 - 238 Tr CN)
Hơn 2000 năm của chế độ phong kiến Trung Quốc, các triều đại kế tiếp nhauđều xem Nho giáo là cơ sở tư tưởng của đạo trị nước Vì vậy, khi xã hội lâm vào khủnghoảng, người ta quy cho là tại triều đại không sáng suốt, không có vua hiền tướng giỏi,không thực hiện các nguyên lý của đạo Nho Vấn đề đặt ra là thay đổi triều đại chứkhông phải thay đổi học thuyết thống trị Điều đó làm cho Khổng Tử được xem là ôngthầy của muôn đời (vạn thế sư biểu) và Nho giáo được xem là học thuyết thống trịkhông thể thay thế
Là học thuyết của xã hội phong kiến, do xã hội phong kiến sản sinh ra, bản thânNho giáo cũng nêu lên một số nguyên lý, nguyên tắc, đường lối và phương pháp nhằmbảo đảm cho xã hội một sự ổn định để vận hành và phát triển Mục đích lý tưởng củaNho giáo là xây dựng một nhà nước chuyên chế mạnh, duy trì kỷ cương, tông pháp,đẳng cấp; quyền lực tuyệt đối thuộc về vua Người cai trị dùng đạo đức, lễ tiết để làmgương cho dân chúng, dùng pháp luật có mức độ, dân chúng thì tự giác làm tròn bổnphận của mình
Gạn lọc trong chiều sâu tư tưởng của Nho giáo, có thể thấy vấn đề về nhà nước,quyền lực nhà nước và mối quan hệ giữa nhà nước với dân được đề cập khá sâu sắc
1.1 Tư tưởng về nhà nước, quyền lực nhà nước và mối quan hệ giữa nhà nước với dân
1.1.1 Tư tưởng về nhà nước và quyền lực nhà nước
Thời Xuân thu - Chiến quốc là một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử Trung Quốc(thế kỷ VII - thế kỷ III Tr.CN) Đó là thời đại quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ kiểu
Trang 7phương Đông sang chế độ phong kiến Ăngghen đã khẳng định: Các công xã cổ, ở nơinào chúng vẫn tiếp tục tồn tại, thì từ hàng nghìn năm nay đều cấu thành cái cơ sở củahình thức nhà nước thô sơ nhất, tức là chế độ chuyên chế phương Đông Trong điềukiện phương Đông cổ đại, bộ máy chính phủ như Mác chỉ ra gồm ba bộ chính:
- Bộ quốc phòng có chức năng cướp bóc các dân tộc khác
- Bộ tài chính để bóc lột dân sở tại
- Bộ công vụ đảm nhiệm việc xây dựng và phục vụ có liên quan đến nôngnghiệp
Tất cả điều này đã quyết định sự ra đời một hình thức nhà nước đặc biệt - nhànước chuyên chế phương Đông với sự tập trung quản lý rộng lớn, trong đó mọi quyềnlực đều tập trung trong tay một nhà chuyên chế Nho giáo ra đời trên cơ sở tổ chứcchính trị xã hội đặc biệt đó Vì vậy tư tưởng về nhà nước, quyền lực nhà nước của Nhogiáo biểu hiện rõ nét ở chỗ đề cao vai trò của ông vua chuyên chế
Theo Nho giáo, con người sống không thể tách rời nhau mà có muôn ngàn quan
hệ gắn bó với nhau trong phạm vi những cộng đồng nhất định Các cộng đồng đó là nhà(gia), nước (quốc) và thiên hạ Đương nhiên ngoài phạm vi nhà và từ nhà đến nước còn
có hương, quận, châu Nho giáo cố ý đồng nhất ba thực thể nhà, nước, thiên hạ theonguyên lý bao quát Thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà, nhà gốc ở thân mình Rõ ràngNho giáo coi "nước" chỉ là sự mở rộng của nhà Do nước và nhà chung nhau một gốc,cho nên nhiều khi Nho giáo dùng phạm trù quốc và gia đồng nhất với nhau Nho giáocoi mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau giữa nhà và nước là thiêng liêng và sáng tỏ muônđời Nói lên mối quan hệ ấy, Khổng Tử đã nhấn mạnh: muốn trị quốc trước hết phải tềgia Nước thành ra là vật sở hữu của một số người có đức sáng, được mệnh trời, giỏi tềgia Những hiền nhân quân tử đi từ tề gia đến trị quốc có cương vị đứng đầu cả nhà vànước thì được Khổng Tử xác nhận là kẻ có nước, có nhà hoặc là những kẻ có quốc gia
để cai trị Từ bậc thang "tề gia" đi lên, thế lực mạnh nhất, có uy tín và quyền lực lớnnhất trong giai cấp chiếm hữu tư liệu sản xuất dần dần trở thành kẻ trị quốc Con đường
đi từ nhà đến nước như vậy được Nho giáo cho là đúng đắn, hợp với đạo trời đất, đạocủa người Nhà và nước gắn với nhau, lồng vào nhau Nước mà Nho giáo nói ở đây
Trang 8không chỉ là đất nước mà còn được hiểu là nhà nước Nhà nước thời đó - thời có thiên tử
và chư hầu còn có tên gọi tiêu biểu là triều đình và triều - thuộc quyền chuyên chế của
cá nhân vua cùng với gia tộc và tông tộc nhà vua
Nho giáo quan niệm rằng đã là xã hội thì tất phải có quyền tối cao để giữ kỷcương xã hội Quyền ấy gọi là quân quyền Người giữ quân quyền gọi là đế hay vương(vua) Vua phải lo việc trị nước, tức là lo sự sinh hoạt, dạy dỗ và mở mang dân Làngười chủ đất nước, nhà vua Nho giáo thống trị với một quyền uy tối thượng Nhà vuađiều hành mọi công việc của Nhà nước, sử dụng và bãi chức đối với toàn thể giới quýtộc và quan lại Nho giáo nhắc nhở rằng: Dưới gầm trời không chỗ nào chẳng phải đấtcủa nhà vua, trên mặt đất không người nào chẳng phải bề tôi của vua Với tư cách làngười chủ đất đai, nhà vua chỉ đạo việc sử dụng đất đai, quyết định mức thuế và sự đónggóp của nhân dân Nắm kho tàng của Nhà nước, quản lý toàn bộ ngân khố và thóc, nhàvua là người ban ơn cho toàn thể nhân dân, được mọi người phục tùng một cách tuyệtđối Như vậy quyền uy của nhà vua là tuyệt đối Quyền uy ấy thể hiện trên mọi lĩnh vực.Nhà vua vừa là người trực tiếp quản lý kinh tế, tổ chức hành chính, thực hiện pháp luật,chỉ huy quân sự, giáo dục đạo đức và đứng đầu tôn giáo
Để quản lý lãnh thổ rộng lớn, nhà vua sắp xếp một bộ máy quan liêu từ Trungương đến địa phương Lúc đầu bộ máy nhà nước bao gồm những quý tộc thuộc dòng họvua Sau đó các quan chức triều đình được tuyển lựa trong hàng ngũ Nho sĩ đã qua các
kỳ thi Dùng bộ máy quan liêu, lựa chọn khoa cử và đội quân thường trực, ông vuachuyên chế đã tìm ra phương án tối ưu để nắm giữ quyền lực Nho giáo từ trước đến sauluôn luôn đề cao và bảo vệ danh nghĩa, thế lực của ông vua chuyên chế đó Để cho
"chính" các "danh" của người nắm quân quyền, Nho giáo chủ trương thuyết Thiênmệnh Thuyết này coi trời là cha chung, ngôi vua được trời lựa chọn, giao cho cai quảnđất nước và thần dân Vua cũng là cha chung Do mệnh trời mà có mệnh vua NhưngNho giáo cũng nhấn mạnh: mệnh trời không phải cho mãi một người, ai làm điều lànhthì được điều ác thì mất "Duy mệnh bất vu thường, đạo thiện tắc đắc chi, bất thiện tắcthất chi hỹ" [4, tr 27] Vì vậy, người làm đế vương tuy quyền uy rất to, thế lực rấtmạnh, nhưng không được lạm dụng quyền ấy để làm điều tàn bạo
Trang 9Thuyết "Thiên mệnh" với phương châm an phận theo địa vị của mình, khôngmong gì ở bên ngoài đã đè nặng lên đời sống tinh thần, của dân tộc Trung Hoa và cácdân tộc tôn sùng Nho giáo suốt nhiều thế kỷ Đây cũng là một trong những nguyên nhânlàm cho tôn ti, trật tự phong kiến duy trì quá lâu, triệt bỏ sức vươn lên của con người.
Tuy nhiên, có thể thấy tư tưởng tôn quân, thuyết Thiên mệnh đã đáp ứng đượcđòi hỏi bức thiết của lịch sử Trung Hoa thời bấy giờ, đó là thống nhất dân tộc, xây dựngchính quyền Trung ương tập quyền
1.1.2 Tư tưởng về dân và mối quan hệ giữa dân với nhà nước
Tư tưởng về dân
Tư tưởng về dân của Nho gia được hình thành rất sớm, trải qua quá trình đấutranh gay gắt với Mặc gia và Pháp gia, được ổn định và được chế độ chuyên chế thừanhận làm đạo lý, làm tinh thần lập pháp
Khái niệm "dân" theo Khổng Tử bao gồm: sĩ, nông, công, thương Sự phân chianày không dựa trên tiêu chuẩn sở hữu mà theo ngành nghề Đây cũng là bậc thang giá trị
xã hội Nó phản ánh một nền kinh tế tiểu nông khép kín, tự cấp tự túc, công thươngnghiệp chưa phát triển
Khái niệm "dân" của Mạnh Tử lại gồm: kẻ sĩ, người cày ruộng, người buôn bán
và người đi đường Kẻ sĩ là trí thức, muốn theo đuổi địa vị để kiếm bổng lộc, ngườibuôn bán và người đi đường thì phần đông là thương nhân kiêm địa chủ Còn hạng màMạnh Tử gọi là "người cày ruộng" thực ra không còn là nhà nông mà chủ yếu là bọn địachủ mới có nông sản đem bán Cho nên khái niệm dân của ông chủ yếu là hạng trí thức,địa chủ và thương nhân
Như vậy theo quan niệm của Nho giáo, dân thông thường là những người không
có địa vị gì, công vụ gì trong bộ máy thống trị, cũng có khi bao gồm cả mọi người trongmột nước, trong thiên hạ nói chung Trong kinh điển Nho gia, ta còn gặp những danh từnhư: "Thứ dân", "lê dân", "thảo dân", "xích tử", "thương sinh" cũng là để chỉ đông đảongười dân lao động
Mối quan hệ giữa dân với nhà nước
Trang 10Trong mối quan hệ với nhà nước, quyền lực nhà nước mà người đứng đầu làvua, dân có vai trò rất lớn Nho giáo đã sớm nhận thức được vai trò của dân tới sự tồnvong của triều đình Trong ba yếu tố để triều đình bền vững thì dân là yếu tố quyết định.
Ba yếu tố đó là: đất đai, nhân dân và chính sự Về chính sự, Nho giáo lại nhấn mạnh bađiểm: túc thực, túc binh, dân tín (nghĩa là lương thực phải đủ để nuôi dân, binh lực phảimạnh để bảo vệ dân, lòng tin của dân, trong đó lòng tin của dân là điều quyết địnhnhất)
Không phải ngẫu nhiên và tùy tiện mà Nho giáo đi tới chỗ coi dân là trời: "Vualấy dân làm trời" Lịch sử cho thấy mặc dù vua là "thiên tử", là "đấng chí tôn" vângmệnh trời để bình thiên hạ, là cha của muôn nhà, mẹ của muôn dân, là kẻ chăn người(nhân mục), nhưng vua cũng chỉ là một con người Dân rất hiền lành, những thảo dân, lêdân, xích tử hiền như nước nhưng lại có sức mạnh to lớn Vua chúa muốn sống đượcphải nhờ đến dân Dân "lao lực" làm ra lương thực, vua chúa "lao tâm" để trị người thìphải ăn của người, cụ thể là ăn ở dân, do dân nuôi Nếu áp bức dân tàn bạo để dân phảivùng lên thì vua - người nắm giữ trong tay quyền lực nhà nước chỉ đi tới chỗ diệt vong
Mạnh Tử đã nêu lên một quan điểm nổi tiếng về mối quan hệ giữa vua, xã tắc
và dân: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" Đây là tư tưởng tiến bộ, đặc biệt làđối với một xã hội mấy ngàn năm sống dưới sự ngự trị của các triều vua Đem dân racân nhắc với vua, nêu rõ vai trò của dân trong thời loạn lạc, khẳng định dân là quý,Mạnh Tử đã thể hiện rõ tư tưởng lấy dân làm gốc của mình Mạnh Tử và các nhà Nhođều mong muốn có một cuộc sống hữu đạo, một cảnh nước thịnh trị và thiên hạ tháibình với những quan hệ tốt đẹp giữa người và người Trong phạm vi cả nước, cả thiên
hạ, mối quan hệ được nêu lên trước hết là mối quan hệ "quân thần" Quan hệ giữa vuavới dân là phần mở rộng của mối quan hệ ấy
Mạnh Tử cho rằng, quan trọng nhất là được dân hay mất dân, mà sở dĩ đượcdân là vì được lòng dân và mất dân là vì mất lòng dân Ông so sánh và giải thích rằng:được lòng dân thì làm đến ngôi thiên tử; được lòng thiên tử chẳng qua làm đến chư hầu;được lòng với vua chư hầu chẳng qua làm đến quan đại phu; vua Kiệt, vua Trụ mấtthiên hạ vì mất dân, mất dân là vì mất lòng dân Chính vì vậy, Mạnh Tử rất chú trọngđến dân Ông yêu cầu những người cầm quyền phải biết lo đến hạnh phúc của dân, cùng
Trang 11dân hưởng phú quý, cùng dân chịu sự lo lắng, như thế dân sẽ một lòng một dạ đi theo:
"Người vui cái vui của dân, thì dân cũng vui cái vui của mình; người lo cái lo của dânthì dân cũng lo cái lo của mình Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo, thế mà không làmvương thì chưa có vậy" [26, tr 248]
Ông coi trọng việc cải thiện đời sống của dân là "điều gốc", là trách nhiệm củangười cầm quyền: "Đáng minh quân chế định tài sản của dân, ắt là khiến cho ngửng lên
đủ thờ cha mẹ, cúi xuống đủ nuôi vợ con, năm được mùa thì no luôn, năm mất mùakhông đến nỗi chết Được như thế rồi mới bắt dân làm điều lành, thì dân làm điều lành
Tuân Tử khi nói về sức mạnh của dân đối với nhà nước đã chỉ rõ: vua là thuyền,thứ dân là nước Nước chở thuyền, nước có thể lật thuyền
Khổng Tử khi nói về dân và chính sách trị dân đã nhấn mạnh các điều: dưỡngdân, giáo dân và chính hình; trong đó dưỡng dẫn là yếu tố quan trọng Bất kỳ chính thểnào, nhà cầm quyền nào cũng phải coi trọng việc dưỡng dân Nếu khéo dưỡng dân thìnước trị, nhà cầm quyền được dân quý, ngược lại thì nước loạn, dân sẽ bỏ đi nơi kháchoặc nổi loạn, chính quyền sớm muộn cũng bị lật đổ Dưỡng dân để làm cho dân no đủ,giàu có; đánh thuế nhẹ dân; khiến dân làm việc hợp thời; phân phối bình quân để dânkhông bị bóc lột mà được no đủ
Điều đó cho thấy Nho giáo đã sớm nhận thức được vai trò to lớn của dân đốivới nhà nước và quyền lực nhà nước, song họ đã không vượt qua được hạn chế về mặt
Trang 12giai cấp và thời đại, do đó đối với Nho giáo không có tư tưởng dân chủ thực sự, tất cảđều nhằm nắm chặt lấy dân để dễ bề sai khiến, cai trị.
Mặc dù vậy, tư tưởng của Nho giáo về dân, về mối quan hệ giữa dân với quyềnlực nhà nước vẫn hàm chứa nhiều giá trị mà người cầm quyền xưa và nay không thểkhông chú ý Đó là:
- Phải biết tranh thủ dân và nắm lấy dân
Dân là quý, dân như nước, vừa chở thuyền vừa lật thuyền, cho nên muốn làmvua chúa, muốn cầm quyền thì phải tranh thủ dân và nắm lấy dân Tranh thủ được dânchúng thì làm thiên tử, được dân là được cả thiên hạ Người làm vua phải theo lòng dân,phải thuận lòng dân, phải biết thích cái thích của dân, ghét cái ghét của dân Người cầmquyền theo lòng dân mà trị tất sẽ được dân yêu mến
- Giữ gìn sinh mệnh và dè xẻn tài sản của dân
Người cầm quyền phải biết sử dụng sức người, sức của cho phù hợp tránh sựlạm dụng, phí phạm sức dân và tài sản của dân Có như vậy lòng dân mới yên, xã tắcmới bền vững
Tư tưởng của Nho giáo về vai trò của dân sau này được các nhà tư tưởng ViệtNam kế thừa, cải biến và sáng tạo phù hợp với dân tộc Trên thực tế, các khái niệm cóhình thức Khổng giáo nhưng nội dung bên trong lại chứa đựng tư tưởng, tình cảm, tínngưỡng và tâm lý Việt Nam
Thời Lý - Trần, sự quan tâm đến đời sống và nguyện vọng của nhân dân đượcxem là việc hàng đầu của đạo trị nước, "ý dân", "lòng dân" đã trở thành căn cứ, mụcđích cho những chủ trương chính trị lớn
"Chiếu dời đô" nổi tiếng của Lý Công Uẩn đã khẳng định: Trên vâng mệnh trời,dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồnthịnh
Trần Quốc Tuấn với tư tưởng "khoan thư sức dân để làm kế sâu bền gốc rễ", coi
đó là "thượng sách để giữ nước" đã nhìn rõ nhân dân là nơi chứa chất tiềm lực về kinh
tế và quốc phòng, bảo đảm cho sự vững chắc của nền độc lập và chủ quyền đất nước
Trang 13Nguyễn Trãi xem dân là gốc của nước, dân có quan hệ tới sự yên nguy của triềuđại Dân là số đông, là cơ sở của xã hội, là lực lượng có vai trò quyết định đến sự ủng hộhoặc phế truất nền thống trị của một triều đại, một ông vua Vì vậy, theo ông, "việc nhânnghĩa cốt ở yên dân".
Thấy được vai trò của dân không phải là ngẫu nhiên đối với các nhà tư tưởngViệt Nam Mặc dù lập trường phong kiến đã hạn chế nhãn quan của họ, nhưng là nhữngnhà yêu nước lớn, đứng ở đỉnh cao của phong trào yêu nước lúc bấy giờ, họ đã thấyđược yêu cầu phải cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh của dân tộc nên đã vượt quađược những hạn chế giai cấp vốn có của mình
Đến Hồ Chí Minh, quan niệm về dân đã phát triển đến một tầm cao mới Dân là
số đông, là làm cho số đông đó ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Lấydân làm gốc ở Hồ Chí Minh không phải chỉ xem dân là lực lượng dời non lấp biển màcòn là mục đích, xem mọi hoạt động chính trị đều vì dân, xây dựng nền chính trị củadân, do dân, vì dân Điều quan trọng ở đây là Người đã đưa truyền thống yêu nướcthương dân và hệ thống hoạt động của dân, do dân, vì dân thành một nội dung cơ bản đểxây dựng Đảng cộng sản và chế độ chính trị xã hội ở Việt Nam
1.2 Đường lối trị nước
Nho giáo vạch rõ thực chất của việc cai trị: Cai trị con người, xã hội không phảichủ yếu dựa vào vũ lực, thần quyền, của cải mà cai trị bằng giáo dục, giáo dưỡng, bằngthu phục nhân tâm Nho giáo vừa là một hệ tư tưởng, vừa là các phép tắc có tính chấtquy chế làm chuẩn mực để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống Các khái niệm tưởngchừng thuần túy đạo đức lại mang tính chính trị cao "Nhân", "Lễ", "Chính danh",không chỉ là khái niệm, là nguyên lý đạo đức cơ bản mà còn là hạt nhân trong họcthuyết chính trị của Nho giáo, là đường lối trị nước của Nho giáo
1.2.1 Nhân trị và Lễ trị
Nhân trị
Chữ nhân gồm chữ nhân và chữ nhị hợp lại Theo Trần Trọng Kim, nhân có nghĩa là mọingười với nhau như một Theo Nguyễn Hiến Lê, nhân là tình người này đối với ngườikhác
Trang 14Chữ nhân trong học thuyết của Khổng Tử có ý nghĩa rất rộng, bao hàm nhiềumặt trong đời sống con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tùy theo trình độ, hoàncảnh mà ông diễn đạt nội dung của nó một cách khác nhau.
Khổng Tử cho rằng do sự chi phối của "thiên lý", của "đạo", các sự vật hiệntượng trong vũ trụ luôn biến hóa không ngừng Sự sinh thành, biến hóa của vạn vật baogiờ cũng nhờ sự "trung hòa" giữa âm dương, trời đất Con người là kết quả bẩm thụ tinhkhí của âm dương trời đất mà thành, tuân theo "thiên lý", hợp với đạo "trung hòa" Đạosống của con người là phải "trung dung", "trung thứ", nghĩa sống đúng với mình vàđúng với người - đó là nhân
Ông còn quan niệm: "Người nhân không xa rời nhân dù chỉ trước sau một bữa
ăn, vì nhân đâu phải xa, bởi bản tính con người là thiện, nhưng vì con người quen thóiđời, mê vật dục nên thấy nhân xa mình đó thôi" [3, tr 115]
Khổng Tử nói nhiều về "nhân", nhưng tóm lại, có thể thấy nhân là Người, làlòng người, là thương người Đạo nhân là cái trời phú cho con người, ở cái tâm của conngười, đó là lòng thương người Điều đó được thể hiện ra ở hai điều cốt yếu: "Ngườinhân là mình muốn lập thân thì cũng mong muốn giúp người lập thân, mình muốn thôngđạt thì cũng muốn giúp người thông đạt" và "điều gì mình không muốn thì chớ đem đối
xử với người", "phải suy xét mình để suy xét người"
"Nhân" là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người nên nhân chính
là đạo làm người Đức nhân bao gồm tinh túy của tất cả các đức khác Trong bất kỳ mốiquan hệ nào, nếu hỏng về đức riêng thuộc mối quan hệ ấy thì đồng thời cũng là trái vớiđức nhân, chẳng hạn như: không trung thực với người khác, không nghiêm khắc với kẻsai trái lầm lỗi, không cung kính với bề trên đều trái với đức nhân
Người muốn đạt nhân, theo Khổng Tử phải là người có "trí", "dũng" Nhờ có lýtrí, con người mới sáng suốt minh mẫn để hiểu được đạo lý, xét đoán sự việc, phân biệtphải trái, thiện, ác để trau dồi đạo đức và hành động hợp với "thiên lý" Nếu không còn
Trang 15trí sáng suốt nữa thì chẳng những không giúp được người mà còn hại đến thân mình Tríkhông phải ngẫu nhiên mà có, nó chỉ có được trong quá trình người ta học tập tu dưỡng.Mục đích cao nhất của việc học không chỉ để biết "đạo", "khắc kỷ phục lễ vi nhân" mà
để ra làm quan, tham gia việc chính trị quốc gia
Muốn đạt "nhân", còn phải có "dũng" Người có "dũng" không phải là kẻ ỷ vàosức mạnh, hành động bất chấp đạo lý mà là người quả cảm, xả thân vì nghĩa; khi thiếuthốn không nao núng làm mất nhân cách của mình; khi đầy đủ sung túc không ngảnghiêng xa rời đạo lý
Nhân còn bao hàm cả "nghĩa" Theo "nghĩa" là việc gì đáng làm thì làm, không
hề tính lợi cho mình
Một điều cần chú ý là Khổng Tử quan niệm: chỉ có người quân tử mới có
"nhân" Trong kinh điển Nho giáo, những gì tốt đẹp, tiêu biểu của con người đều quyvào người quân tử Còn đám đông tiểu nhân là những người không có trí tuệ, không cóđạo đức, vất vả chân lấm tay bùn để cung đốn cho người quân tư thì không có "nhân"
Phải chăng đây là hai dạng tha hóa con người tồn tại lâu nhất trong lịch sử loàingười từ những thời thịnh vượng của hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ cho đếnngày suy tàn của hình thái kinh tế - xã hội phong kiến ở khu vực á Đông rộng lớn, dưới
sự thống trị tinh thần của Ngũ kinh, Tứ thư? Tất nhiên, các Nho gia đều không có ýniệm gì về những hiện tượng tha hóa, nhưng nếu xét về nội dung, hình thức của phạmtrù "quân tử" và "tiểu nhân", ta có thể thấy rõ thực chất hai dạng tha hóa đó Chắc chắnrằng chỉ khi chủ nghĩa Mác ra đời, vấn đề con người mới được xem xét một cách nhấtquán, đầy đủ và sâu sắc Mác đã vượt qua quan niệm trừu tượng về con người để nhậnthức con người hiện thực Mác đã chỉ rõ nguyên nhân sâu xa của tình trạng tha hóa bảnchất con người, nhờ đó mà nhận thức đúng con đường giải phóng con người, giải phóngnhân loại
Trở lại đức Nhân mà Khổng Tử đề cập trong học thuyết chính trị của ông, tathấy rõ "nhân" hoàn toàn khác với thuyết "kiêm ái" của Mặc Tử, "đức" của Lão Tử, lạicàng khác với "bác ái" của Ki tô và "từ bi" của Đạo phật
Trang 16Nhân khác "kiêm ái" vì: Nhân phân biệt mình và người, lấy mình làm khởi điểmrồi mới tới người; kiêm ái thì coi ai cũng như mình, người thân của người cũng nhưngười thân của mình Nhân còn phân biệt người tốt, kẻ xấu; kiêm ái không phân biệtnhư vậy mà chủ trương một tình yêu thương rộng khắp, chỉ lấy con người làm điều kiện;người nhân chú trọng đến sự xúc tiến đạo đức của người khác, còn kiêm ái chú trọngđến sự cứu giúp vật chất nhiều hơn Nhân khác với đức của Lão Tử và bác ái của Kitô vìkhông "dĩ đức báo oán", không xem kẻ thù như bạn.
Nhân khác với từ bi của đạo Phật bởi Phật thương người và thương cả vạn vật,nhưng lòng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn cho sự mê muội của sinhlinh, tìm cách giải thoát cho mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử Nhân củaKhổng Tử giúp con người ta sống tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn ngay chính trên mảnh đấthiện thực của mình
Đề cập đến đạo Nhân với tính cách là trung tâm trong toàn bộ học thuyết chínhtrị, đạo đức của mình, các nhà Nho nâng lên thành đường lối trị nước: Nhân trị - tức trịdân bằng đức nhân Đức nhân là một đòi hỏi bắt buộc, nghiêm khắc nhất đối với kẻ làmquan cai trị dân Những người làm quan, các bậc vua chúa đều phải có đức nhân - đó làyêu cầu tối thượng Nho giáo chú trọng lấy đạo đức để thực hành chính trị Kẻ trị dânphải tu thân, sửa mình, làm gương cho dân, hướng theo điều thiện Nhờ đó cảm hóađược dân chúng, dân chúng phục mà nghe theo, chứ không dùng bạo lực thô bạo để épbuộc Đức nhân không phải tự nhiên mà có Muốn có được nó phải tu thân Tu thân đểlàm cho cái đức của kẻ cai trị thêm sáng, để đủ điều kiện trị nước một cách tốt nhất.Người cai trị phải sửa mình để trị người Tu được chữ nhân là điều căn bản nhất củangười làm quan cai trị bởi tinh thần của lễ, nhạc ở cả trong đức nhân Khổng Tử nóinhiều về đạo và đức của người làm quan cai trị nước Cũng vì lẽ đó, ông rất chú trọngviệc giáo dục con người theo đạo và đức Mục tiêu của ông là đưa xã hội trở về trạngthái "hữu đạo", nhờ đó thứ dân trở nên có tôn ti trật tự, dễ sai bảo dưới trưởng của nhàcầm quyền Chính vì vậy, kẻ trị dân phải nghiêm khắc với mình, rèn luyện tu thân để cóđạo và đức, để củng cố ngôi trên, ru ngủ dân chúng Sách Đại học viết: "Đức là gốc, của
là ngọn" chính cái gốc sinh ra cái ngọn Người cầm quyền phải trọng cái đức của mình
Trang 17Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu dưỡng đạo đức, Khổng Tử đồng thờicũng đề cao yêu cầu về cái tài của kẻ trị dân Ông cho kẻ trị dân ngoài đức ra phải có tài(trí) Cái tài đó nhằm giúp họ làm việc sáng suốt và biết tu dưỡng đức nhân một cách tốtnhất Nếu kẻ cai trị chỉ có lòng thương dân thuần túy thì không đủ Phải có tài (trí) thìmới có sự sáng suốt trong khi làm việc, ít sai lầm trong việc trị nước.
Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử khi bàn về tu đức cũng nhấn mạnh sự tu dưỡng bảnthân Đó chính là "tận tâm", "dưỡng tính", "dưỡng khí hạo nhiên" Xuất phát từ nhân tínhtrong thuyết tính thiện, ông cho rằng con người sinh ra vốn có tính thiện, có lòng trắc ẩn,lòng hổ thẹn, lòng cung kính, lòng phân biệt thị phi Bốn tâm tính đó được coi là bốn mốicủa nhân, lễ, nghĩa, trí, đòi hỏi con người phải nuôi dưỡng nó, làm cho nó phát triển lớnmạnh Có như vậy mới có thể tu dưỡng mình trở thành bậc quân tử nhân đức Ông viết:
Tấm lòng trắc ẩn, ai ai cũng có; tấm lòng hổ thẹn, chẳng có ai không;nỗi lòng cung kính, mọi người đều sẵn; tấm lòng phân biệt thị phi, khôngngười nào thiếu Lòng trắc ẩn thuộc về nhân, lòng hổ thẹn thuộc về nghĩa,lòng cung kính thuộc về lễ, lòng phân biệt thị phi thuộc về trí Nhân lễ nghĩatrí này chẳng phải người nào đem đến cho ta, mà là có sẵn ở nơi bản tính củamình vậy Chẳng qua là ta không tưởng nghĩ đến nó mà thôi [6, tr 153].Ông còn chỉ rõ mục đích của việc tu dưỡng đạo đức, tu dưỡng không phải để
mà tu dưỡng mà là vì sự yên ấm, ổn định và phát triển của xã hội, làm cho thiên hạ tháibình: "Người quân tử cốt giữ tiết tháo, bắt đầu từ tu dưỡng bản thân mình, sau đó gâyảnh hưởng đến người khác, từ đó làm cho thiên hạ thái bình" [5, tr 275]
Tóm lại, từ nhân đến nhân trị đó chính là tư tưởng về đường lối trị nước củaNho giáo Nét độc đáo và sâu sắc của tư tưởng này là ở chỗ: Nho giáo đã đặt đạo đứcvới chính trị trong mối quan hệ hết sức chặt chẽ Đạo đức là nền tảng của chính trị.Chính trị là sự tiếp tục của đạo đức, phải lấy đạo đức làm gốc Đây cũng là điểm độcđáo của triết lý phương Đông so với các học thuyết phương Tây
Do ảnh hưởng của tư tưởng này mà thực tiễn chính trị phương Đông đã hìnhthành nên mẫu người cai trị với phong cách đặc trưng Đó là những con người đức độ
và tài năng
Trang 18Tuy nhiên, điểm hạn chế ở đây là: xây ngôi nhà chính trị trên nền đạo đức mộtcách thái quá, Nho giáo đã duy trì xã hội phương Đông trong trạng thái trì trệ, bảo thủsuốt mấy ngàn năm lịch sử.
Lễ trị
Chữ Lễ trước tiên dùng để chỉ việc thờ cúng, tế lễ, sau dùng rộng ra nó bao gồm
cả phong tục tập quán mà xã hội thừa nhận, sau cũng chữ Lễ còn có nghĩa rộng: nó làthể chế, là quyền uy Lễ là một công cụ chính trị mạnh mẽ và là vũ khí của một phươngpháp trị nước đắc lực mà Nho giáo đã cống hiến cho nhiều triều đại đế vương Phươngpháp ấy là phương pháp lễ trị
Lễ là một phần rất quan trọng trong toàn bộ Khổng học Riêng về lễ, có cả mộtkinh gọi là Lễ ký Trong suốt thời Tây Chu, từ Chu Công Đán về sau, những quy định
về lễ rất nhiều, rất tỉ mỉ và chặt chẽ Trong gia đình, làng mạc, đất nước và thiên hạ,thậm chí trong trời đất, con người đã bị đặt trong bao nhiêu mối quan hệ thì cũng phải
có bấy nhiêu "mạng lưới" quy định cụ thể Cái mạng lưới mênh mông bao trùm lên toàncõi gọi là lễ
Trước bối cảnh "lễ hư nhạc hỏng", Khổng Tử muốn dùng lễ để khôi phục lạitrật tự phép tắc, luân lý xã hội, đưa xã hội trở về với đạo
Lễ quy định một cách nghiêm ngặt các mối quan hệ giữa vua tôi, cha con,chồng vợ, anh em, bè bạn (Ngũ luân) Trong năm mối quan hệ ấy, có ba mối quan hệ cơbản (Tam cương): vua tôi, cha con, chồng vợ Trong các mối quan hệ đó, mỗi ngườiphải theo địa vị, danh phận của mình làm theo lễ đó là "vua dùng tôi nên theo lễ, tôi thờvua theo đạo trung", "cha đối với con phải nhân từ, con thờ cha theo đạo hiếu", "anh emvới nhau phải giữ chữ đễ" tức là phải yêu thương nhường nhịn nhau, "vợ chồng đối vớinhau cũng phải giữ lễ", "bạn bè phải giữ chữ tín"
Trong sách Luận ngữ, cái gọi là "lễ" của Khổng Tử còn có những điều sau:
- "Nén hết thèm muốn riêng tư cho lễ trở lại, đó là có đạo nhân Một khi đã nén được thân mình cho lễ trở lại thì thiên hạ sẽ quay về với đạo nhân" [3, tr 181]
Trang 19- "Trái với lễ thì không nhìn, trái với lễ thì không nghe, trái với lẽ không nói, trái với lễ không làm" [3, tr 181].
- "Người trên yêu chuộng lễ thì dân nào dám không tôn kính Người trên yêu chuộng đạo nghĩa thì dân nào không dám không phục tùng" [3, tr 201]
Như vậy, "lễ" mà Khổng Tử nói tới không những là một thứ nguyên tắc vềchính trị, một văn bản nghi tiết mà còn là một thứ chế độ Trong các tầng lớp do chế độđẳng cấp tạo ra thì có một loại thước đo để phân biệt họ, do đó mà có danh để đặt ra đạonghĩa, đạo nghĩa để đặt ra lễ Đó chính là nguồn gốc của cái gọi là "dùng lễ để cai trị"
Mạnh Tử, đối với đức lễ, cũng như đối với các đức nhân, nghĩa, trí đã tìm ra đầumối của nó trong tâm con người Đầu mối ấy là lòng từ nhượng Do đầu mối ấy mà trêncon đường hành đạo, người ta có những "sở đắc" như cung kính, khiêm tốn, nhườngnhịn gồm chung cả một đức lớn là lễ
Bàn về lễ, Tuân Tử còn đi xa hơn cả Khổng Tử và Mạnh Tử
Khi nói về khởi nguyên của Lễ, ông cho rằng:
Lễ có ba cái gốc: trời đất là cái gốc sự sinh, tiên tổ là cái gốc chủngloại, vua và thầy là cái gốc của sự trị Không có trời đất thì ở đâu mà sinh,không tiên tổ thì ở đâu mà ra, không có vua có thầy thì lấy đâu mà trị Bađiều ấy mà thiếu đi một là người ta không yên được Cho nên trên thờ trời,dưới thờ đất, tôn tổ tiên, trọng vua và thầy, ấy là ba gốc của lễ vậy [26, tr.319]
Tuân Tử cho rằng, bản tính con người là ác, do vậy thánh nhân phải dùng Lễ đểuốn nắn, cải hóa cái ác Ông giải thích nguồn gốc sinh ra lễ:
Người ta sinh ra là có lòng mong muốn, muốn mà không được thìkhông thể không tìm, tìm mà không có chừng mực, giới hạn thì không thểkhông tranh Tranh thì loạn, loạn thì khốn cùng Tiên vương ghét cái loạncho nên chế lễ nghĩa để phân ra trật tự, để nuôi cái muốn của con người, cấpcái tìm của con người [26, tr 318]
Trang 20Theo ông, lễ là đối với kẻ quý thì kính, đối với kẻ già thì hiếu thảo, đối với kẻlớn thì thuận, đối với người trẻ thì từ thiện, đối với kẻ hèn thì có ân huệ.
Khi nói về vai trò của lễ đối với quốc gia, ông cho rằng: lễ đối với việc quốc gianhư quả cân và cán cân đối với sự nặng nhẹ, như dây và mực đối với đường thẳngđường cong Cho nên người mà không có lễ thì không sinh, việc không có lễ thì khôngnên, quốc gia không có lễ thì không yên Là người trọng lễ, Tuân Tử cho là bất kỳ việc
gì hễ không có lễ là hỏng Đặc biệt đối với người cai trị, thì:
Lễ là cái cùng cực của sự trị và sự biện biệt, cái gốc của sự làm chonước mạnh, cái đạo của sự uy hành, cái cốt yếu của công danh Bậc vươngcông theo đó mà được thiên hạ, không theo đó thì làm hỏng xã tắc Cho nên
áo giáp bền, ngọn giáo nhọn không đủ để thắng trận, thành cao hào sâukhông đủ lấy làm bền vững, lệnh nghiêm hình nhiều không đủ lấy làm uy.Dùng lễ thì việc gì cũng thi hành được [26, tr 321]
Vì vậy phải học đến lễ mới thôi, không kể dân thường hay người
cai trị
Trong hệ thống lý luận của Tuân Tử, cái lễ còn mang nội dung của pháp luật.Cho nên giải quyết hai việc: Cái lễ của nội bộ tầng lớp thống trị và pháp luật để thống trịtiểu nhân - đó là cái mà Tuân Tử gọi là pháp độ Trong chương "khuyến học" ông nói:
"Lễ tức là cái phận lớn của pháp luật vậy" Lý luận ấy của Tuân Tử thực sự làm nhịpcầu cho sự quá độ từ chủ nghĩa cai trị bằng lễ của Khổng Mạnh đến chủ nghĩa cai trịbằng pháp luật của Hàn Phi, Lý Tư sau này
Có thể nói, lễ là một cái lưới bủa ra rất rộng và xiết lại hết sức chặt chẽ Chỗtinh vi của Nho giáo là đã đóng khung ý nghĩ và hành động của con người vào phạm vithực hiện những quy tắc nghiêm ngặt của cuộc sống Trải qua hàng ngàn năm lịch sử,các xã hội theo Nho giáo đã giữ được sự ổn định trong gia đình và trật tự ngoài xã hội
Lễ trở thành điều kiện quan trọng bậc nhất trong việc trị quốc, tề gia Lễ trị của Nhogiáo xiềng xích con người từ khi lọt lòng cho đến chết, từ trong chiếc nôi gia đình rađến đất nước, thiên hạ Nếu Pháp trị của Thương Ưởng, Hàn Phi táo bạo một cách lộliễu thì Lễ trị của Nho giáo lại xiềng xích con người trong cái vỏ êm dịu, khoan hòa,
Trang 21trang trọng Đó chính là điều mà các thế lực phong kiến thống trị sau Khổng Tử, từ nhàTần đến nhà Thanh ở Trung Quốc, cũng như đời Lý, Trần đến Lê, Nguyễn ở Việt Namtìm thấy để gò chặt cả dân, cả nước trong vòng tôn ti trật tự, kẻ cai trị cứ việc sai khiến,
kẻ phụng sự cứ việc phụng sự Hàm ý sâu xa của Lễ là ở đó Một khi các tầng lớp bêndưới đều "chuộng lễ", không bao giờ làm mất tôn ti trật tự, đặc biệt là "dễ sai" thì bềtrên càng dễ bề cai trị Trong việc trị nước trị dân, lễ hay hơn hình pháp ở chỗ lễ ngăncấm việc chưa xảy ra, còn hình pháp cấm sau cái đã xảy ra; lễ giúp người ta xa điều ác
từ khi chưa nảy mầm để ngày càng gần với điều thiện Tuy nhiên, cũng phải thấy Lễ trịcủa Nho giáo đã kìm hãm cuộc sống của con người một cách dai dẳng, đặc biệt là đốivới phụ nữ và đông đảo nhân dân lao động dưới thời phong kiến Đúng như nhà nghiêncứu Quang Đạm đã nhận xét: "Một chữ lễ, bao nhiêu xiềng xích kìm hãm sức vươn lêncủa con người" [9, tr 153]
1.2.2 Chính danh
Cuối thời Xuân Thu - Chiến quốc, tình hình xã hội hết sức rối loạn Trước mắtcác nhà Nho là những vấn đề:
- Sự hỗn loạn về quan niệm đẳng cấp và danh phận
- Các chư hầu xâm lấn và thôn tính lẫn nhau
- Sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấp: giữa nông dân với lãnh chúa phong kiến; địa vị của bọn chúa phong kiến bị lung lay
- Quan hệ tông pháp rối loạn
Trước tình hình đó, các nhà Nho chủ trương lấy thuyết "chính danh" làm vũ khí
để củng cố trật tự nội bộ phong kiến, ổn định xã hội
Theo Khổng Tử, sự hỗn loạn của quan niệm danh phận, đẳng cấp, sự sa sút củathiên tử nhà Chu, sự suy yếu của các chư hầu địa phương, sự "tiếm ngôi việt vị" tất cảnhững tình trạng đó không chỉ phá hoại trật tự xã hội phong kiến mà còn là mối nguy cơchính trị rất lớn thời bấy giờ Vì thế Khổng Tử cho rằng muốn cứu vãn nguy cơ chính trịthời đó, trước hết phải khôi phục uy quyền của lãnh chúa tối cao (tức là thiên tử), phảingăn chặn những việc vượt quyền; mỗi người phải biết giữ danh phận của mình mới có
Trang 22thể gây lại nền chính trị có đạo; phải "chính danh" để xác định lại danh phận, đẳng cấp
Đó là vấn đề căn bản của chính trị thời bấy giờ
"Danh" là tên gọi, là danh vị, nghĩa là cương vị, quyền hạn "Chính danh" là sựquy định rõ cương vị và quyền hạn
Khi bàn về chính danh, Khổng Tử giải thích: Chính danh là làm cho mọi việcngay thẳng Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận của người đó, trên dưới vuatôi, cha con trật tự phân minh, vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi thờ vua theo đạo trung, vua ravua, tôi ra tôi Đó chính là một nước thịnh trị, lễ nghĩa, nhân đức, danh phận vẹn toàn.Thực ra quan niệm "trên ra trên, dưới ra dưới" đã có trong lịch sử Trung Hoa Các sử giaTrung Hoa từng ghi lại những hành vi tốt xấu của các vị vua quan một cách công tâmcũng hàm ẩn cái ý chính danh Nhưng lý luận, giảng giải, đặt nó thành một quy tắc vàcao hơn nữa là thuật trị nước thì mãi tới thời Khổng Tử mới có
Theo Khổng Tử, danh và thực phải hợp với nhau, nếu không hợp nhau thì gọitên ra người ta sẽ không hiểu, lý luận không xuôi, mọi việc không thành, lễ nhạc, hìnhpháp không định được mà xã hội sẽ hỗn loạn
Vậy làm thế nào để thực hiện chính danh?
Trước hết mọi người phải tự giác giữ lấy danh phận của mình, từ Thiên tử, chưhầu, đại phu đến kẻ sĩ phải tu dưỡng đạo nhân để có sự tự giác đó
- Đối với người cai trị, Khổng Tử quan niệm: ông vua là người được trời giaophó cho nhiệm vụ lo cho dân đủ ăn, đủ mặc, làm gương cho dân, dạy dỗ dân để dânđược sống yên ổn Làm tròn nhiệm vụ đó là danh xứng với thực Đó cũng là biểu hiệntài đức của ông vua chính danh Muốn danh được chính thì thân phải chính: "Thân mình
mà chính thì không phải hạ lệnh, mọi việc vẫn tiến hành; thân mình mà không chínhđược thì dù hạ lệnh cũng chẳng ai theo" [3, tr 201] Ông còn nói "Nếu thân mình đãchính được rồi, thì đối với việc chính sự còn có gì khó? Không thể chính được thânmình thì chính người khác thế nào?" [3, tr 205]
Như vậy, đối với người cai trị, bản thân phải ngay thẳng Có như vậy mới chỉđạo, giúp đỡ và ảnh hưởng một cách có hiệu quả đối với người khác Bên cạnh đó,
"ngôn" cũng phải chính: Lời nói với việc làm phải hợp nhau, không được nói nhiều làm
Trang 23ít, không được nói lời kính cẩn mà trong lòng thì rỗng không, lời nói phải thận trọng.Làm được như thế mới đúng cái danh là vua, nếu không, không đáng gọi là vua (mấtdanh và mất cả ngôi).
Nói về nguyên nhân hỗn loạn của thời Xuân Thu, Khổng Tử cho là tại thiên tửnhà Chu không làm tròn trách nhiệm, để quyền lọt vào tay chư hầu; chư hầu cũng khônglàm tròn trách nhiệm để quyền lọt vào tay bồi thần, khắp thiên hạ đều vô đạo, muốn chothiên hạ hữu đạo thì phải chính danh, áp dụng đúng tiêu chuẩn của xã hội thời VănVương, Chu Công Thiên hạ mà loạn, lỗi trước hết là ở vua chúa, bởi "vua không ra vua,
bề tôi không ra bề tôi"
Yêu cầu chính danh đối với người cai trị là hết sức tích cực, nhưng trong điềukiện chính trị xã hội thời đó, khó có thể thực hiện Do đó đối với bọn vua chúa phongkiến thích vượt quyền, không chịu giữ danh phận của mình, không tự giác, Khổng Tửchủ trương đánh dẹp, do thiên tử chủ trì, thậm chí mọi người đều có thể đánh dẹp
Nguyên tắc chính danh của Khổng Tử là: ai ở địa vị nào cũng phải làm tròntrách nhiệm ở địa vị ấy, danh phận ấy, không được việt vị nghĩa là không được hưởngquyền lợi cao hơn địa vị của mình; không được việt vị còn có một nghĩa nữa là: "Không
ở chức vị nào thì đừng mưu tính việc của chức vị đó" (Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính).Đây là điều mà Khổng Tử chú trọng: Ai giữ phận nấy, cứ theo đúng tổ chức xã hội cótôn ti, chặt chẽ của Chu Công thì nước sẽ trị, thiên hạ sẽ có đạo ở đây còn thể hiện tưtưởng điều hòa giai cấp của Khổng Tử, cho nên ông chủ trương "bất tại kỳ vị, bất mưu
kỳ chính", mặt khác, buộc người cầm quyền phải có tài đức xứng đáng với danh vị củahọ
Chính danh là mối quan hệ hai chiều: Quân trung thì thần trung, phụ từ thì tửhiếu Để có được cái đạo đức xã hội ấy thì phải giáo dục Giáo dục chính là cái gốc lâubền tạo ra cái đức, để con người có được đức nhân, sống theo lễ và trở về với chínhdanh
Thuyết chính danh của Khổng Tử là ảo tưởng vì đương thời danh và thực mâuthuẫn nhau sâu sắc Cái thực là đời sống xã hội, trật tự xã hội đã có nhiều biến đổi làmcho cái danh phận cũ được quy định theo lễ chế nhà Chu không còn phù hợp nữa, do đó
Trang 24mà không thể thực hiện được Tuy vậy thuyết chính danh vẫn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc Đó là:
- Muốn cho xã hội ổn định, người cầm quyền phải có đức, có tài, xứng với cái danh vị đã có
- Mọi người trong xã hội phải tự giác giữ lấy danh phận của mình theo tôn ti, trên ra trên, dưới ra dưới
Thuyết Chính danh được Mạnh Tử, Tuân Tử và sau này các nhà Nho đời Hán,đời Tống tiếp tục bổ sung
Tuân Tử chính danh để phân biệt người sang với kẻ hèn, để phân biệt những vậtgiống nhau và khác nhau Thiên Chính danh trong bộ sách Tuân Tử của ông đã lý giải
vì sao lại có danh, từ đó theo ông Chính danh là phải dùng pháp lệnh bắt người ta phảitheo những danh của xã hội đã thừa nhận Ông nêu ra ba loại nhầm lẫn làm loạn danh vàthực, bao gồm:
- Lầm về sự dùng danh mà làm loạn danh
- Lầm về sự dùng cái thực mà làm loạn danh
- Lầm về sự dùng danh mà làm loạn cái thực
Đối với người cai trị, cũng giống Khổng Tử, ông cho rằng người cai trị phải biếtgiữ danh phận, đồng thời cũng không dùng sự biện thuyết làm loạn danh Ông cho rằng,những "thuyết sai, ngôn luận lệch lạc" làm trở ngại cho "chính danh", phá hoại "lễnghĩa, pháp độ" Cho nên ông chủ trương không tranh luận, bọn thống trị cứ dùng cái
"thế" tức là quyền lực cưỡng bức mà định đoạt Ông không biết rằng những rối loạn của
xã hội đương thời, tức là mâu thuẫn giai cấp là nguồn gốc sinh ra mâu thuẫn nội tại củabản thân xã hội, trái lại ông đã quy tội cho các học thuyết phụ theo
Đời Hán, Đổng Trọng Thư triệt để hóa chính danh, tước bỏ những yếu tố tíchcực, tiến bộ, làm thụt lùi nghiêm trọng thuyết chính danh của Khổng Mạnh Chính danhcủa Đổng Trọng Thư trở thành công cụ chính trị tinh thần đắc lực của các nhà nướcTrung ương tập quyền chuyên chế của các triều đại phong kiến kế tiếp
Trang 25Nhìn chung, Nhân, lễ, chính danh không chỉ là các chuẩn mực, các khái niệmđạo đức đơn thuần mà còn mang tính chính trị cao Nó trở thành Nhân trị, lễ trị - chínhdanh với tính cách là đường lối trị nước của Nho giáo Nhân, lễ, chính danh quan hệchặt chẽ với nhau Nhân là nội dung, lễ là hình thức biểu hiện của nhân; nhân là gốc, lễ
là ngọn; nhân để khôi phục lễ, để trở về với chính danh, xã hội trở về với đạo Đó cũng
là hoài bão của các Nho gia về một chế độ phong kiến có kỷ cương, thái bình, thịnh trị
Tóm lại, suốt hơn 2000 năm thống trị, tư tưởng của Nho giáo về nhà nước,
quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa dân với nhà nước; tư tưởng về đường lối trị nướccủa Nho giáo đã góp phần quan trọng xây dựng nên nhà nước Nho giáo phát triển ởTrung Quốc và các nước lân bang trong đó có Việt Nam Nhờ đó các nhà nước phongkiến Nho giáo thường có trình độ trưởng thành hơn so với các nhà nước phong kiếncùng thời ở các khu vực khác nhau trên thế giới Đó thường là các nhà nước dân sự, có
tổ chức thiết chế cao, quản lý xã hội một cách có hiệu quả Đó cũng là giá trị tích cực
mà ngày nay nhiều nước chủ động khai thác Nho giáo có thể kế thừa
Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, tư tưởng ấy phản ánh nhận thức củamột thời đại, lập trường của một giai cấp và cả tồn tại xã hội cũng như cái đời sống tinhthần của một giai đoạn lịch sử nhất định, cho nên trên thực tế nó có nhiều hạn chế cầnphải khắc phục, lọc bỏ
Đương nhiên việc khắc phục hay loại trừ những hạn chế của Nho giáo cũng nhưviệc khai thác những giá trị tích cực của nó như thế nào lại tùy thuộc vào mức độ ảnhhưởng của nó đối với đời sống xã hội
Trang 26Chương 2
ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Nho giáo
đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
Nhận định về ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam hiệnnay là điều không giản đơn, nhất là những năm gần đây, trong và ngoài nước đã xuấthiện nhiều tư tưởng, quan điểm trái ngược nhau
Dưới đây là một số quan điểm:
Ông Mai Trung Hậu cho rằng: "Nho giáo về cơ bản mâu thuẫn với văn hóatruyền thống của dân tộc Việt Nam" [20, tr 42]
Ông Trần Khuê và bà Nguyễn Thị Thanh Xuân cho rằng: "Văn hóa Khổng giáochỉ có sự kìm hãm chứ không có sự thúc đẩy sự phát triển xã hội" [25, tr 43]
Trái lại, nhà nghiên cứu Nho học Việt Nam Phan Ngọc lại đề cao vai trò ổnđịnh xã hội của Nho học đối với các nước Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên Ôngnói: "Nhìn cho kỹ cái sự bảo đảm ổn định về chính trị của ba nước này, mặc dầu nhữngthua kém về kinh tế, là cái gì nếu không phải là tâm thức Khổng giáo?" [38, tr 83]
Nhà phương Đông học người Pháp là Vandermersh thì cho rằng, sự phát triểnkinh tế khó khăn của Việt Nam là do Việt Nam không có quan hệ sâu sắc với Nho giáobằng Nhật Bản hay Triều Tiên
Như vậy có thể thấy, dưới những góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã nhìnnhận sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam một cách khác nhau
Quan điểm của chúng tôi là: Nho giáo đã từng giữ vị trí đặc biệt và có vai tròquan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta qua các giai đoạn lịch sử Nho giáophát triển trong mối quan hệ với Phật giáo và Lão giáo, tác động mạnh mẽ vào đời sốngcủa nhân dân và ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam Ngàynay mặc dù cơ sở kinh tế - xã hội của Nho giáo đã bị thủ tiêu, nhưng những ảnh hưởngcủa nó đối với đời sống xã hội Việt Nam chưa phải đã hết ảnh hưởng đó có phạm virộng khắp trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Trang 27Có thể nói, Đức trị Nho giáo là một trong những học thuyết chính trị - đạo đứcđầu tiên đặt vấn đề lấy con người làm cơ sở xuất phát cho các chủ trương chính trị Mặc
dù tư tưởng "vì dân" của Đức trị không có khả năng hiện thực hóa bởi nó không đượcxây dựng trên nền tảng chính quyền của dân, do dân, nhưng ngày nay tư tưởng đó vẫncòn giá trị khi chúng ta khai thác, vận dụng vào việc xây dựng một nền chính trị vì dân
Xây dựng nền chính trị vì dân trở thành tư tưởng nhất quán, xuyên suốt quátrình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh Người không chỉ dừnglại ở việc tuyên truyền nhận thức mà còn đòi hỏi tư tưởng đó phải được thực hiện trênthực tế Trong khi cầm quyền, Người đã tuyên bố và từng bước tổ chức hệ thống chínhtrị và bộ máy nhà nước sao cho đó là công cụ của dân và cán bộ Đảng, Nhà nước là nôbộc của dân Dưới sự lãnh đạo của Người, những người cộng sản Việt Nam đã khơi dậy,
kế thừa và làm phong phú truyền thống của dân tộc về văn hóa, đạo đức chính trị cũngnhư kinh nghiệm quản lý đất nước, tinh thần độc lập tự chủ, đấu tranh bất khuất chốngmọi nô dịch áp bức, tình thương người, lòng nhân nghĩa của cha ông để xây dựng nềnchính trị vì dân
Ngay khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã căn dặn cáccán bộ: "Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyềnhạn đều của dân , chính quyền từ xã đến Trung ương đều do dân cử ra , quyền hành
và lực lượng đều ở nơi dân" [33, tr 698]
Trang 28Người còn chỉ rõ: "Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào mục đíchduy nhất là mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người Cho nên Chính phủ bao giờ cũng phảiđặt quyền lợi của nhân dân lên hết thảy" [32, tr 22].
Nội dung này đã hàm chứa tư tưởng: chế độ dân chủ thực chất là chế độ ủyquyền của nhân dân vào nhà nước - cơ quan quyền lực của dân Chế độ ta là chế độ dânchủ, tức là một chế độ trong đó người dân làm chủ Nói tới xây dựng thể chế, trước hết
là xây dựng chính quyền nhà nước Thể chế chính trị vững mạnh và có hiệu lực phải làthể chế có khả năng giải quyết, điều tiết đúng đắn, hợp lý các mối quan hệ giữa quyềnlợi và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm Nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước và nhànước là chủ thể thực hiện sự ủy quyền Nhân dân là chủ nên quyền hành và lực lượngđều ở nơi dân Nhà nước phục vụ dân chúng và dân chúng phải có trách nhiệm xây dựngnhà nước của mình
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt
đã được thực hiện trên thực tế Thực tiễn sống động trong suốt 57 năm qua của Nhànước ta cho thấy, Nhà nước ta đã phát triển từ hình thức thấp đến hình thức cao, từ Nhànước dân chủ nhân dân từng bước tiến lên nhà nước kiểu mới - Nhà nước XHCN - Nhànước của dân, do dân, vì dân Nhà nước trở thành công cụ sắc bén trong công cuộc xâydựng và cải tạo XHCN ở nước ta
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Nhà nước ta đã có không ít những khuyếttật: quan liêu, xa dân, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, không ít cán bộ nhân viêntham nhũng, thoái hóa, biến chất; hoạt động phân tán, thiếu kỷ luật, kỷ cương; cán bộthiếu kiến thức khoa học trong tổ chức và quản lý Những hiện tượng đó làm xói mònbản chất dân chủ của Nhà nước kiểu mới, làm suy yếu hiệu lực quản lý của nó trên cáclĩnh vực của đời sống xã hội
Xây dựng nền chính trị vì dân trước hết phải bắt đầu từ việc xây dựng và hoànthiện nhà nước, khắc phục sửa chữa những khuyết tật, thiếu sót, làm cho bộ máy nhànước có hiệu lực và hiệu quả cao, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân
Xây dựng nền chính trị vì dân, "lấy dân làm gốc" đã trở thành bài học lịch sử vôgiá của cách mạng nước ta Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định: "Trong
Trang 29toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc", "mọi chủtrương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng củanhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình hưởng ứng của quần chúng" [10, tr.29].
Công cuộc đổi mới đã đem lại những thành tựu to lớn, làm thay đổi bộ mặt đấtnước, cải thiện một bước rất căn bản trong đời sống của nhân dân Nhiều chủ trương lớn
từ dân, do dân, vì dân được đề ra Chủ trương xóa 50 vạn hộ đói nghèo, tập trung vốnvay cho dân sản xuất, mở mang các khu kinh tế - quốc phòng ở các vùng rừng núi heohút, xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở để cán bộ, đảng viên biết lắng nghe quầnchúng đó là những quyết sách lớn, đầy tính nhân bản, thể hiện rõ tư tưởng "lây dânlàm gốc" của Đảng
Xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước
Loại bỏ yếu tố duy tâm trong thuyết "chính danh" của Khổng tử, có thể khaithác yếu tố tích cực của nó trong việc xác định chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệgiữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay đặc biệt trong mối quan hệgiữa Đảng với Nhà nước Tất nhiên "chính danh" ở đây mang ý nghĩa: tổ chức nào cóchức năng, nhiệm vụ của tổ chức đó, không "lấn sân", bao biện, làm thay
Thực tiễn cho thấy:
Sự lẫn lộn chức năng giữa Đảng với Nhà nước dẫn đến tình trạngĐảng vừa bao biện làm thay, vừa buông trôi khoán trắng cho Nhà nước, làmcho Nhà nước khó phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong việc thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình, vừa thụ động ỷ lại vào sự lãnh đạo của cơquan Đảng, vừa lúng túng, do dự không dám chịu trách nhiệm về các quyếtđịnh của mình [35, tr 71]
Vì vậy, trong điều kiện Đảng cầm quyền, cần phải phân định rõ chức năng đểĐảng và Nhà nước có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động đúng đắn nhằm tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý củaNhà nước
Có thể khái quát sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội như sau:
Trang 30Trên cơ sở ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao động, Đảng đề ra cương lĩnh,chủ trương, đường lối, chính sách lớn định hướng cho sự phát triển của Nhà nước vàcủa toàn xã hội trong từng thời kỳ nhất định.
Đảng lãnh đạo toàn diện, tức là lãnh đạo tất cả các cơ quan Nhà nước (lập pháp,hành pháp, tư pháp), các hoạt động của Nhà nước ở tất cả các cấp Đảng lãnh đạo cảviệc xây dựng, hoàn thiện bộ máy tổ chức lẫn hoạt động của Nhà nước và đoàn thể.Không có lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng
Đảng phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ bố trí vào bộ máy Đảng, đồng thờigiới thiệu vào các cơ quan nhà nước những cán bộ có phẩm chất và năng lực
Đảng kiểm tra mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiệnchủ trương, đường lối của Đảng
Đảng giáo dục, tổ chức cho đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, giáo dục cáctầng lớp nhân dân thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhànước
Từ nội dung cơ bản trên cho thấy thực chất sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhànước là sự lãnh đạo chính trị, mang tính chất định hướng, tạo điều kiện để Nhà nước cóthể độc lập tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, viên chức, hoạt động đúng chức năng, quản
lý, điều hành bằng những công cụ, biện pháp của Nhà nước Đảng lãnh đạo nhà nướcnhằm bảo đảm cho Nhà nước hoạt động theo chức năng của nó để quản lý kinh tế - xãhội một cách hiệu quả nhất
Trong điều kiện đổi mới toàn diện hiện nay, chức năng quản lý của Nhà nước
có thể khái quát như sau:
Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chínhsách cụ thể; xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội và cụ thể hóa chiến lược đó thànhnhững kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có phẩmchất và năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội, xây dựng bộ máy gọn nhẹ, cóchất lượng; xây dựng và phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợicho công dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; bảo đảm thực hiện
Trang 31quyền và nghĩa vụ của công dân theo luật định; nghiêm trị những hành vi tham nhũng viphạm quyền làm chủ của công dân.
Sự phân định chức năng của Đảng và Nhà nước đòi hỏi phải xác định đúng đắnmối quan hệ giữa các cơ quan đảng và nhà nước Mối quan hệ đó phải được cụ thể hóathành các quy định bảo đảm cho các cơ quan đảng và nhà nước thực hiện đúng chứcnăng của mình Mối quan hệ đó phải được cụ thể hóa thành các quy định bảo đảm cho
cả cơ quan đảng và cơ quan nhà nước thực hiện đúng chức năng của mình Các cơ quan,
tổ chức đảng và đảng viên phải tuân thủ pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiếnpháp và pháp luật; phải tôn trọng quyền hạn của cơ quan nhà nước
Từ ý nghĩa chính trị sâu sắc của thuyết "chính danh" Nho giáo, có thể khai thác
và vận dụng nó vào việc xác định chức năng, quyền hạn của các tổ chức trong hệ thốngchính trị ở nước ta hiện nay, làm cho các tổ chức đó tránh được tình trạng chồng chéochức năng, hoạt động thiếu hiệu quả Đặc biệt, trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhànước, việc xác định rõ chức năng sẽ góp phần đưa Đảng ta vươn lên ngang tầm mộtĐảng lãnh đạo chính quyền, có trọng trách lãnh đạo toàn dân xây dựng thành côngCNXH, đồng thời Nhà nước cũng đổi mới cơ bản tổ chức và hoạt động của mình bảođảm nâng cao hiệu lực quản lý đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
2.1.2 ảnh hưởng tiêu cực
Đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Nhà nước pháp quyền là thành tựu chung của nhân loại, là phương tiện để conngười vươn tới những giá trị mới cao hơn, tốt đẹp hơn
Đối với nước ta, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thực chất là hình thứchoàn thiện nhà nước, là làm cho sự phát triển của đất nước theo định hướng XHCN có
cơ sở pháp lý của nó chứ không đơn giản chỉ là ước mơ, là đạo đức thuần túy với nhữngkhái niệm trừu tượng
Quan điểm đổi mới cơ bản nhà nước ta theo hướng xây dựng nhà nước phápquyền XHCN đã được khẳng định tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ - khóaVII (1994) và Hội nghị lấn thứ 8 - khóa VII (1995) của Ban chấp hành Trung ương Đại
Trang 32hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX cũng đều khẳng định chủ trương xây dựngnhà nước pháp quyền Việt Nam Đây là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với điềukiện nước ta Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội sẽ bị rốiloạn, không thể thực hiện được nếu không có một nhà nước pháp quyền vững mạnh với
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, khả thi
ở nước ta, Cách mạng tháng Tám đã xóa bỏ chính quyền phong kiến và thựcdân, đồng thời xóa bỏ những tàn dư trong tư tưởng đức trị của Nho giáo, thay vào đó làđạo đức cách mạng và pháp luật của chế độ dân chủ nhân dân Tuy nhiên, việc xây dựngcái mới không phải đơn giản Pháp luật và đạo đức mới không phải dễ dàng đi vào mọimặt của đời sống xã hội Với hàng ngàn năm tồn tại, tư tưởng đức trị của Nho giáo đã ănsâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam Những tàn dư của nó đang trở thành lực cảnđối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Do ảnh hưởng của tư tưởng đức trị, ở nhiều nơi, nhân dân vẫn chỉ quen sốngtheo công thức đạo đức đã trở thành tập quán mà không sống theo quy định của phápluật
Phong tục, tập quán là những phạm trù lịch sử ở mỗi giai đoạn lịch sử nhấtđịnh, theo yêu cầu của sự phát triển xã hội đều có những tập quán tốt và ngược lại có cảnhững phong tục tập quán xấu Khi phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, phong tụctập quán là một phương thức phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc, có tác dụng điều chỉnhhành vi của con người, giữ vai trò to lớn trong việc điều tiết, ổn định xã hội Khi khôngphù hợp, phong tục, tập quán trở thành nhân tố cản trở sự phát triển xã hội "Phép vuathua lệ làng" là một tập quán có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xây dựng nhà nướcpháp quyền hiện nay
"Phép vua thua lệ làng" chỉ tình trạng nhân dân các làng xã trước đây đề cao cáctập quán của mình, coi các tập quán đó như quy tắc cơ bản của đời sống Vì vậy, dùsống dưới chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến nhưng nếu phép vua đi ngược vớicác tập quán làng xã thì nhân dân ở đó vẫn không tuân theo mà vẫn thực hiện theo tậpquán của mình
Trang 33Chúng ta không hề phủ nhận rằng trong lịch sử, "lệ làng" đã có tác dụng cố kếtcộng đồng làng xã, chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, bảo vệ bản sắc văn hóa dântộc Ngày nay, nhiều "lệ làng" vẫn có ý nghĩa tích cực Tuy vậy, một khía cạnh khác vẫnphải nhận thấy là nếu tư tưởng "phép vua thua lệ làng" chi phối suy nghĩ và hành độngcủa cán bộ, nhân dân các địa phương, cơ sở sẽ dẫn đến tình trạng coi thường kỷ cươngphép nước, bất chấp pháp luật, vô chính phủ, địa phương chủ nghĩa Một khi người cán
bộ lãnh đạo, quản lý không chấp hành nghiêm túc đường lối, chính sách của Đảng, Nhànước, tùy tiện đặt ra những quy định bất hợp pháp thì họ đã khởi đầu cho tình trạng hoạtđộng không bình thường của cả một địa phương, có thể dẫn đến sai lầm nghiêm trọng,làm rối loạn nề nếp, kỷ cương xã hội Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫnđến việc hình thành các "điểm nóng" ở một số địa phương như: Thái Bình, Nam Định,Hải Dương, Hà Tây, Bến Tre, Lâm Đồng trong thời gian vừa qua Chừng nào ở nhữngnơi đó, những "lệ làng" lạc hậu cũng như những "lệ" mới nảy sinh tùy tiện còn chưađược cải tạo, chưa chấp hành pháp luật, chừng ấy còn tình trạng vô chính phủ, cục bộđịa phương và những hoạt động tiêu cực trên phạm vi rộng lớn
Bên cạnh đó ở nước ta, tổ chức pháp luật chưa chặt chẽ, các bộ luật chưa hoànchỉnh, sự thi hành pháp luật dựa theo những "lẽ phải", những đạo lý trừu tượng dễ khiếnnhân dân không thấy hết ý nghĩa của pháp luật Những cuộc sinh hoạt trong nội bộ các
cơ quan và đoàn thể, việc phê bình và tự phê bình, việc xử lý các vụ việc mang tính nội
bộ cũng ảnh hưởng không ít đến việc thi hành pháp luật và tôn trọng pháp luật Nhữngviệc làm nói trên vốn là cần thiết, là sự bổ sung tốt đẹp cho pháp luật thì nhiều lúc nó đã
tự cho phép thay thế pháp luật Về khách quan, nó đã làm giảm vai trò của pháp luậttrong ý thức của nhân dân Tình hình đó tất yếu dẫn tới sự thờ ơ của nhân dân đối vớipháp luật
Nho giáo còn ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình đổi mới tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước
Công cuộc đổi mới diễn ra sâu, rộng trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội thì nhiệm vụ đặt ra ngày càng nhiều với không ít khó khăn, trở ngại Xã hộiXHCN mà chúng ta đang xây dựng cũng chỉ mới tồn tại được vài thập kỷ, trong khi đó
bộ máy nhà nước phong kiến thực dân tuy đã bị đập tan, nhưng vốn tồn tại hàng thế kỷ
Trang 34đã tạo nên những dấu ấn quá khứ khó phai mờ Ngay trong tư duy của một bộ phận cán
bộ công chức, trong thực tiễn tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước ta hiện nay khôngphải đã rũ bỏ hết những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo
Trước hết, có thể thấy, bộ máy quản lý còn cồng kềnh, chồng chéo với nhiều
tầng nấc, hiệu lực, hiệu quả quản lý thấp
Bộ máy quản lý nhà nước muốn thực hiện được đúng chức năng, nhiệm vụ làngười tổ chức, quản lý xã hội bao giờ cũng đòi hỏi phải được tổ chức thành một hệthống hoàn chỉnh, thống nhất nhiều cấp độ, bao gồm nhiều bộ phận, cơ quan, đơn vịkhác nhau với một đội ngũ cán bộ công chức giỏi chuyên môn nghiệp vụ cùng nhữngnguyên tắc, thủ tục hành chính chặt chẽ trong bộ máy đó Những đơn vị trong bộ máycùng các thủ tục, nguyên tắc hành chính được tạo lập ra là khách quan nhằm hoàn thànhnhững mục tiêu xã hội đặt ra chứ không có mục đích tự thân Nhưng trong quá trình vậnhành, những nguyên tắc quản lý của nhà nước đặt ra đã bị biến dạng, sai lệch Sự hoànthiện bộ máy mà trước hết là các thủ tục, nguyên tắc hành chính xét cho tới cùng làphương tiện nhằm đạt tới hiệu quả quản lý, chứ không phải mục đích của quản lý Songtrong nhiều trường hợp, việc tổ chức hoạt động của bộ máy chỉ có mục đích tự thân: bộmáy và bộ máy chứ không phải vì con người, vì nhân dân
Sau nhiều lần cải cách, bộ máy nhà nước đã gọn nhẹ hơn, hiệu lực quản lý cũngdần dần được nâng lên, tuy nhiên xét về tổng thể, bộ máy nhà nước vẫn còn cồng kềnh.Tại các cơ quan nhà nước ở mọi cấp từ Trung ương đến địa phương, hiện tượng giấy tờ,hình thức còn rất nặng nề Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ công chức chưa ngang tầmnhiệm vụ, một bộ phận suy thoái, tham ô, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, xa rời thực
tế Những hạn chế bất cập này làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước vốn đã phức tạplại càng phức tạp hơn
Bộ máy được tạo lập ra nếu chỉ nhằm tạo thuận lợi cho cán bộ, công chức làmviệc trong bộ máy đó thì chưa đủ, chưa hẳn đã thuận lợi đối với người dân Trong điềukiện như vậy, việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không chỉ xa rời cuộcsống, thiếu công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra mà còn gây nhiều phiền
Trang 35nhiễu cho dân Việc hội họp, giấy tờ, hình thức còn khá phổ biến trong bộ máy nhànước.
Việc quản lý theo kế hoạch, tập trung cao độ của bộ máy nhà nước bằng việcbắt buộc mọi thành viên của xã hội tuân thủ những nguyên tắc, những quy định cưỡng
ép, gò bó, không những không đạt hiệu quả mà còn loại trừ sự năng động sáng tạo củaquần chúng Lối quản lý tập trung này cho phép cấp trên can thiệp sâu, trực tiếp vàonhững công việc cụ thể của cấp dưới và buộc cấp dưới phải có nghĩa vụ "phục tùng".Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, sự tự chủ của các đơn vị, cơ sở là điều kiện đảmbảo phát huy sự năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, nhưng việc nhà nước can thiệpquá mức vào hoạt động của các doanh nghiệp không những không cần thiết mà còn bótay họ Trong khi đó có nhiều công việc nhà nước cần nắm giữ thì không nắm Chẳnghạn việc xây dựng hệ thống pháp luật là nhiệm vụ của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời
và còn không ít những sơ hở Hoặc sự tùy tiện ban hành những quy định vượt quá thẩmquyền và trái với tinh thần pháp luật nhà nước ở một số địa phương, ở các ngành cáccấp là không ít Đó là tình trạng buôn lậu, xuất nhập khẩu trái phép, thu chi ngoài sổsách, cấp và bán đất sai pháp luật Những việc làm này không chỉ khuyến khích cho kẻxấu lợi dụng để làm ăn phi pháp, mà còn tạo điều kiện cho thói tùy tiện, vô tổ chức, vôchính phủ trong hoạt động của các đơn vị sản xuất kinh doanh, gây khó khăn trong quản
lý của Nhà nước Xã hội xảy ra nghịch lý Một mặt từ phía Trung ương, Nhà nước doquá chú trọng tới các biện pháp tập trung nhằm thực hiện việc quản lý thống nhất, đãdẫn tới sự tập trung cao độ cứng nhắc Mặt khác, ở địa phương, cơ sở tha hồ tự do hoạtđộng, vượt khỏi khuôn khổ quy định của Nhà nước nhưng nhà nước không kiểm soátđược Đây là đặc trưng cơ bản của quản lý tập trung quan liêu Tập trung quan liêu baogiờ cũng đi kèm sự tự do vô tổ chức, vô chính phủ
Bên cạnh đó, trong bộ máy nhà nước, tình trạng đặc quyền, đặc lợi, sách nhiễu
dân vẫn còn diễn ra Để việc quản lý thông suốt, có hiệu quả đòi hỏi mỗi cán bộ, nhânviên của bộ máy quản lý phải có những quyền hạn nhất định Những quyền hạn nàycũng không nằm ngoài mục đích ổn định và phát triển xã hội, và lợi ích của nhân dân.Những quyền hạn của cán bộ, viên chức trong bộ máy nhà nước chưa phải là nguyênnhân tạo nên quan liêu, nhưng nếu không có cơ chế kiểm tra, giám sát thì quyền lực
Trang 36công dễ có xu hướng chuyển hóa, biến dạng thành quyền lực riêng của cá nhân Cán bộcông chức nhà nước dễ chuyển hóa thành những người có đặc quyền, đặc lợi, tùy tiệnlợi dụng quyền lực, vị trí công tác được giao để giải quyết công việc theo ý muốn chủquan vì quyền lợi của riêng mình.
Thực tế là để thỏa mãn lợi ích cá nhân, một số người có chức vụ, có quyền hạnthường lạm dụng quyền lực, tự cho mình có quyền quyết định những công việc ngoàigiới hạn thẩm quyền của mình mà không cần biết những quyết định này có phù hợp vớinguyện vọng và lợi ích chung, có trái với pháp luật không Hiện tượng thường thấy làtại một số cơ quan nhà nước, hàng loạt những thủ tục giấy tờ được tự ý bày ra Điều nàykhông chỉ gây khó khăn, phiền hà cho cấp dưới, làm chậm trễ công việc mà còn lãng phítài sản của Nhà nước, của nhân dân
Đặc quyền, đặc lợi, tư lợi cá nhân, đặt lợi ích cá nhân và bộ máy lên trên lợi íchchung của xã hội, của nhân dân là trái với bản chất bộ máy nhà nước XHCN, là biểuhiện sự tha hóa bản chất của bộ máy nhà nước Đặc quyền, đặc lợi giờ đây vẫn tồn tạimột phần do cơ chế quan liêu bao cấp cũ chưa được khắc phục triệt để, phần khác do tàn
dư của tư tưởng Nho giáo còn rơi rớt lại Trong cơ chế mới, đặc quyền, đặc lợi tồn tạidưới nhiều biến tướng khác nhau, tai hại hơn nữa, sự tồn tại này đã trở nên như một lẽphải thông thường Chính vì vậy, đã có không ít người là cán bộ, đảng viên giữ nhữngchức vụ quản lý nhất định trong bộ máy nhà nước, lợi dụng sự thiếu hoàn thiện, sơ hởtrong quản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội để tham nhũng, ăn hối
lộ, làm thất thoát tài sản của Nhà nước và tập thể Cũng không ít người lợi dụng chứcquyền để buôn lậu, tiếp tay cho buôn lậu Tình trạng này kéo dài đã phá hoại nền kinh
tế, đe dọa sự ổn định và phát triển của xã hội, làm dao động niềm tin của nhân dân vàosức mạnh quyền lực nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật
Đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát huy dân chủ XHCN
Dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triểncủa đời sống con người ở giai đoạn phát triển cao Dân chủ hiểu theo nghĩa chung nhất
là mọi quyền lực thuộc về nhân dân
Trang 37Nhân dân được làm chủ mọi quyền lực trong xã hội là mơ ước ngàn đời và cho đến nay vẫn là vấn đề bức xúc của nhân loại.
ở nước ta, sau khi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thành công, (ở miềnBắc từ 1954 và từ 1975 trong cả nước), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã từngbước tiến hành xây dựng một nền dân chủ kiểu mới - nền dân chủ XHCN Về thực chất,nền dân chủ XHCN là chế độ dân chủ cho nhân dân, cho số đông - những người laođộng Cách mạng đã đưa dân lao động từ địa vị là người dân nô lệ, bị áp bức bóc lộtnặng nề lên địa vị người dân của một dân tộc độc lập tự do, địa vị chủ nhân của đấtnước và làm chủ bản thân mình Tuy vậy, chế độ chuyên chế phương Đông và Nho giáo
đã có một thời gian cực dài để hằn sâu tư tưởng không dân chủ vào cách nghĩ, cáchsống, vào tâm lý, thói quen người Việt Nam cho đến ngày nay Chính vì thế, quá trìnhxây dựng, hoàn thiện và phát huy dân chủ XHCN ở nước ta đã vấp phải trở ngại khôngnhỏ
Nhìn lại lịch sử ta thấy, chuyên chế phương Đông là một thể chế cực quyền vớiông Hoàng đế - Con trời, thâu tóm trong tay mọi quyền lực chính trị, quân sự, kinh tế,tôn giáo; dùng bộ máy quan lại để trị nước, không chia quyền cho quý tộc Người dântheo hộ gia đình sống trong làng xã Làng xã quan hệ về mặt nhà nước với vua quan.Vua nắm quyền sở hữu mọi nguồn lợi ruộng đất, núi rừng, sông biển và nắm quyền banphát tước vị cho mọi người: dân được cấp ruộng, quan được cấp tước vị, bổng lộc, tạo ramột trật tự trên dưới nhiều thứ bậc Trật tự trên dưới đó được xây dựng theo quan hệmẫu mực cha con trong gia đình Mọi người sống với nhau bằng tình nghĩa theo kiểucha từ, con hiếu, dưới phụng tùng trên với tấm lòng biết ơn Trước trật tự trên dưới theokiểu gia đình, trong không khí tình nghĩa, con người ta mong muốn tình trạng hòa mục,
ổn định chứ không nghĩ tới việc đấu tranh để đòi tự do dân chủ, thậm chí không hề biết
là có được quyền đó để đòi hỏi
Với cách thức đó, nhà nước chuyên chế phương Đông đã duy trì xã hội trongvòng trật tự ổn định Trật tự đó được xây dựng trên tinh thần nhân nhượng, sống bằngtình nghĩa đoàn kết tương trợ cộng trong đồng Mọi người tuân theo cấp trên, hy sinh vìnghĩa mà làm việc chung Đây cũng là mặt mạnh của xã hội Nho giáo mà ngày naynhiều nước ở khu vực châu á đang khai thác, phát huy để ổn định xã hội và tăng tốc độ
Trang 38phát triển kinh tế Nhưng với truyền thống đó (truyền thống giữa người trên khoan huệ
và nhân từ với người dưới phục tùng và biết ơn, sự nhân nhượng và sự hy sinh chỉ có từmột phía, quan hệ trên dưới kiểu gia trưởng, duy trì đoàn kết ổn định xã hội bằng nhântâm chứ không phải bằng sự công bằng ) thì chỉ giành nhân tâm mà lại kỵ dân chủ
Vì vậy, quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở nước ta còn làquá trình khó khăn, phức tạp và lâu dài Quá trình đó đòi hỏi phải tiếp tục khắc phụcnhững ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo trong cách nghĩ, cách sống, tâm lý, thói quencủa một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và người dân nước ta
Trước hết phải kể đến sự ảnh hưởng của tư tưởng địa vị, đẳng cấp, gia trưởng
vụ phấn đấu với động cơ tốt đẹp, nhằm cống hiến sức mình nhiều nhất cho lý tưởngcách mạng
Điều đáng ngại nhất là người cán bộ lãnh đạo, quản lý có tư tưởng địa vị, là ngườithường tự cho mình đứng trên tập thể, quần chúng, đối lập với quần chúng Trong con mắtcủa họ, nhân dân là những người "dân đen" bảo sao nghe vậy, là đối tượng quản lý, saikhiến Vì vậy, thay vì tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối cách mạng của Đảng,
họ lại "sử dụng" nhân dân theo ý đồ riêng Để củng cố địa vị của mình, trước hết họ lo tạolập phe cánh, lợi dụng chức quyền đưa người thân, người cùng cánh vào giữ các cương vịcần thiết thông qua bầu cử cũng như các khâu khác của công tác cán bộ Dần dần, những "êkíp" được hình thành Đây chính là tiền đề của nạn tham nhũng tập
Trang 39thể, có tổ chức, có tính toán Đối với những vụ việc như vậy, việc kiểm tra, giám sát củaNhà nước và nhân dân rất khó thực hiện.
Trong điều kiện chuyển đổi cơ chế hiện nay, cơ chế quản lý kinh tế, hành chínhcũng như luật pháp của nước ta vẫn còn thiếu sót, vẫn còn tồn tại những cơ hội nhất định đểnhững người có tư tưởng cá nhân chủ nghĩa lợi dụng, làm giàu bất chính, tư tưởng địa vịđẳng cấp không những không mất đi mà có chiều hướng tăng lên Tư tưởng địa vị đẳng cấpgắn liền với tư tưởng gia trưởng Gia trưởng là hiện tượng thâu tóm quyền lực một cách độcđoán dựa trên cơ sở sự thừa nhận của xã hội về địa vị kinh tế của người chủ gia đình Ngườicán bộ mắc bệnh gia trưởng không chỉ biến cơ quan, đơn vị thành của riêng mà còn điềukhiển hoạt động của cơ quan, đơn vị theo lối gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, coithường ý kiến tập thể Người cán bộ mắc bệnh gia trưởng luôn khát khao quyền lực độc tôn,ham muốn địa vị và thực hiện quyền lực đối với người khác Đây không phải là hành vi đạođức đơn thuần như một số người quan niệm Cách làm việc gia trưởng, tác phong giatrưởng ở người cán bộ lãnh đạo, quản lý là hành vi ứng xử chính trị xã hội, do đó ảnhhưởng của nó vượt xa phạm vi quan hệ giữa các cá nhân Độc đoán chuyên quyền theo lốigia trưởng của cán bộ là sự vi phạm quyền dân chủ của nhân dân
Về mặt nguyên tắc, quyền dân chủ của nhân dân phải được thể hiện trên mọilĩnh vực, phạm vi của đời sống xã hội Nó bao gồm những hoạt động làm chủ trực tiếp
và gián tiếp của mỗi công dân Làm chủ gián tiếp, làm chủ thông qua đại diện của các tổchức chính trị xã hội là một tất yếu khách quan, trong đó làm chủ bằng Nhà nước là yếu
tố quan trọng Nhà nước là của dân, do dân, vì dân thì nhân dân phải thực sự là ngườikiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan và cán bộ nhà nước Nhưng trên thực tế, trênnhiều lĩnh vực, nhân dân không có quyền kiểm tra, giám sát thật sự Cán bộ, chínhquyền các cấp dường như là người đứng trên nhân dân Một số cán bộ lãnh đạo, quản lýdựa vào chức vụ, quyền lực do dân giao cho để hạch sách, gây phiền hà cho dân, thậmchí có nhiều trường hợp cán bộ cậy quyền thế ức hiếp, trù dập người vô tội Nhân dânkhông được thực hiện quyền bãi nhiệm của mình khi cán bộ nào đó mắc khuyết điểm.Cán bộ mắc khuyết điểm ít chịu kỷ luật công khai mà chủ yếu là "xử lý nội bộ" rồichuyển công tác khác, có người còn được đảm nhiệm chức vụ cao hơn
Trang 40Có thể nói, đó là thứ dân chủ hình thức chứa đựng nhiều bất bình đẳng, áp đặt
từ trên xuống, chứa đựng yếu tố đặc quyền đặc lợi, đẳng cấp, gia trưởng Hạn chế này
đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức, đánh giá nghiêm túc và đang từng bước khắcphục
- ở người dân:
ảnh hưởng của tư tưởng địa vị đẳng cấp không chỉ biểu hiện ở nhận thức vàhành động của người cán bộ mà còn biểu hiện trong nhận thức và hành động của ngườidân
Sau nhiều năm xây dựng CNXH, khái niệm "dân chủ" đã gần gũi hơn với mọitầng lớp nhân dân Về cơ bản, người dân đã ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ củamình Song trong một bộ phận nhân dân, đặc biệt là người dân ở nhiều vùng nông thôn,vùng sâu, vùng xa, nơi mà quan hệ họ hàng, làng xóm và các tập tục cũ vẫn chi phốicuộc sống hàng ngày vẫn còn tư tưởng an phận, dễ chấp nhận hiện tại Họ dường nhưvẫn sống theo phân vị trên dưới, đòi hỏi cấp trên thông cảm chứ không sống theo phápluật, không đấu tranh để tự bảo vệ quyền lợi
Đối với công việc chung, họ im lặng và lảng tránh khó nhọc Họ tìm cách vunvén, tìm sự yên thân Con người trở lại thân phận nhỏ bé để ai lo phận nấy, lại chờ đợivận may, chờ ở trên
Như vậy cần khẳng định rằng tư tưởng địa vị, đẳng cấp, gia trưởng chưa mất
đi Trái lại khi bắt gặp mặt trái của cơ chế thị trường, nó tiếp tục tồn tại, thậm chí cònphát triển Đây thực sự là điều đáng lo ngại bởi lẽ nó khó khăn chỉ gây tác động xấu đếnnhận thức và hành động của cán bộ và nhân dân ta mà còn cản trở quá trình thực thi dânchủ ở nước ta
Bên cạnh đó tư tưởng "trọng quan" cũng mang lại những ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ.
ở nước ta hiện nay đã có tình trạng phân biệt cán bộ và nhân dân theo kiểu
"trọng quan" Tư tưởng này dẫn tới cách làm việc thiếu dân chủ của một bộ phận cán bộ
ta như một thói quen khó nhận thấy Pháp luật được áp dụng nghiêm minh đối với nhândân, còn đối với cán bộ thì "nhẹ lý nặng tình" Như đã nêu, nhiều cán bộ mắc khuyết