1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên lĩnh vực đất đai

20 58 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 127,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thanh tra, kiểm tra thực hiện Luật Đất đai đã được thực hiện thường xuyên và kịp thời phát hiện, xử lý những sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai. Việc lập, xét duyệt và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp ngày càng đi vào nề nếp. Tuy nhiên, ngày nay khi dân số tăng quá nhanh cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích là rất lớn, mà tổng các loại quỹ đất sử dụng vào các mục đích không thể tăng lên mà chỉ có thể chuyển từ quỹ đất sử dụng vào mục đích này sang quỹ đất sử dụng vào mục đích khác. Đặc biệt, do công tác quản lý đất đai tại một số địa phương còn lỏng lẻo, yếu kém cộng với sự am hiểu pháp luật về đất đai còn hạn chế của một bộ phận nhỏ người sử dụng đất đã dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật về đất đai như lấn, chiếm đất đai, sử dụng đất sai mục đích, không phù hợp quy hoạch được duyệt…So với các lĩnh vực khác thì việc giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai rất phức tạp và cần phải có sự tham gia chung của các cấp, các ngành. Để có một cái nhìn cụ thể, rõ ràng hơn về thực trạng quản lý, sử dụng đất trong thời gian qua, tôi xin chọn đề tài “ Công tác quản lý nhà nước nhìn từ một vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai” làm đề tài tiểu luận kết thúc Khoá học Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Đất đai là nguồn của cải vô tận, điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người, con người dựa vào đó để tạo lên sản phẩm nuôi sống mình Không có đất đai thì không có bất kì một ngành sản xuất nào, không một quá trình lao động nào diễn ra và cũng không thể

có sự tồn tại của xã hội loài người

Xuất phát từ vai trò vị trí của đất đai đối với sự sống và phát triển của xã hội loài người nói chung, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói riêng,

mà đất đai đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai và các luật có liên quan; tiếp tục mở rộng dân chủ, tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý và cán bộ quản lý; tạo cơ chế để người dân được tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước, để tổ chức và cá nhân thực hiện quyền giám sát của mình Có thể nói, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, nhìn chung thời gian qua hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai đã ngày càng được nâng lên rõ rệt Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành khá đầy

đủ, các quyết định, quy định của Nhà nước liên quan đến đất đai được thực hiện trên thực tế ngày càng cao hơn Phần lớn người sử dụng đất có ý thức chấp hành pháp luật về đất đai Những bất cập về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất từng bước được khắc phục Việc thanh tra, kiểm tra thực hiện Luật Đất đai

đã được thực hiện thường xuyên và kịp thời phát hiện, xử lý những sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai Việc lập, xét duyệt và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp ngày càng đi vào nề nếp

Trang 2

Tuy nhiên, ngày nay khi dân số tăng quá nhanh cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích là rất lớn, mà tổng các loại quỹ đất sử dụng vào các mục đích không thể tăng lên mà chỉ có thể chuyển từ quỹ đất sử dụng vào mục đích này sang quỹ đất sử dụng vào mục đích khác Đặc biệt, do công tác quản lý đất đai tại một số địa phương còn lỏng lẻo, yếu kém cộng với sự am hiểu pháp luật về đất đai còn hạn chế của một bộ phận nhỏ người sử dụng đất đã dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật

về đất đai như lấn, chiếm đất đai, sử dụng đất sai mục đích, không phù hợp quy hoạch được duyệt…So với các lĩnh vực khác thì việc giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai rất phức tạp và cần phải có sự tham gia chung của các cấp, các ngành

Để có một cái nhìn cụ thể, rõ ràng hơn về thực trạng quản lý, sử dụng đất

trong thời gian qua, tôi xin chọn đề tài “ Công tác quản lý nhà nước nhìn từ một vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai” làm đề tài tiểu luận kết thúc Khoá

học Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên K42

Với những kiến thức, kỹ năng thu nhận được trong quá trình học tập tại lớp Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên K42 do Sở Nội vụ và Trường Chính trị tỉnh Bắc Kạn tổ chức cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp, trên cơ sở phân tích tình huống, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, tôi xin đưa ra một số ý kiến và phương án giải quyết cho tình huống trên Mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn./

Trang 3

PHẦN I MÔ TẢ TÌNH HUỐNG 1.1 Hoàn cảnh ra đời xuất hiện tình huống

Tình huống liên quan đến việc sử dụng đất từ những năm 1960, rồi đến những năm 1990, 1997… khi mà các quy định của pháp luật về đất đai còn hạn chế, chưa thành một hệ thống hoàn chỉnh, đồng bộ và cụ thể như hệ thống pháp luật về đất đai như hiện nay, trình độ dân trí thấp, cuộc sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt, công tác quản lý nhà nước về đất đai giai đoạn trước đây cũng còn có những hạn chế nhất định, điều này đã dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra, hơn nữa do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai chưa làm hết trách nhiệm của mình, không xử lý dứt điểm ngay khi hành vi vi phạm diễn ra dẫn đến việc đất đai bị chiến dụng một cách trái pháp luật trong một thời gian dài Tình huống sau đây là một ví dụ cụ thể

1.2 Nội dung tình huống

Khu đất Trụ sở Uỷ ban nhân dân (UBND) cũ xã Y có diện tích 3.101m2,

nguồn gốc trước năm 1960 là của ông K (ông K đã chết năm 2001), năm 1960 ông

K đóng góp vào Hợp tác xã (HTX) và được xã sử dụng để xây dựng cửa hàng mua bán Sau đó cửa hàng mua bán chuyển sang địa điểm mới để xây dựng trụ sở UBND

xã và trụ sở HTX Trong quá trình quản lý, sử dụng UBND xã chưa làm thủ tục

để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) UBND xã chỉ quản lý đất trên cơ sở bản đồ giải thửa số 04 thửa số 35 đo đạc năm 1997 và bản đồ địa chính số 38 thửa số 74 đo đạc năm 2007 xã Y, huyện B nhưng đã đăng ký quyền

sử dụng đất trong Sổ mục kê của xã năm 1995

Năm 1990, do HTX không còn hoạt động, các hộ dân lấy lại đất Khi ông

K đòi đất cũ, UBND xã đã đổi khu ruộng do Đoàn thanh niên xã khai phá cho ông K, đổi lại UBND xã tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích khu đất trụ

sở UBND xã và trụ sở HTX

Trang 4

Năm 1997, UBND xã Y được giao đất để xây dựng trụ sở tại địa điểm mới, khu đất trụ sở UBND xã cũ tạm thời được giao cho thôn N thuộc xã Y để làm nhà họp thôn và làm sân vận động của xã

Sau khi UBND xã Y chuyển trụ sở làm việc sang địa điểm mới, khu đất Trụ

sở cũ, ngoài diện tích đất tạm dùng để làm nhà họp thôn của thôn N và sân vận động, một số diện tích đất giáp đường tỉnh 258 chưa sử dụng đến, các hộ dân tận dụng để trồng màu, trong đó có hộ ông T, UBND xã Y đã yêu cầu trả lại đất, các

hộ dân đã trả lại, còn hộ gia đình ông T vẫn cố tình chiếm giữ 377m2 đất với lý do ông T cho rằng đã mua lại của ông X (con trai ông K) không nằm trong số diện tích đất trụ sở UBND xã cũ và đòi UBND xã Y trả cho ông diện tích đất này (ông T có giấy bán nhượng đất trong đó có ghi tên của ông X và ông T lập ngày 11/8/2002 nhưng lại không thể hiện diện tích ranh giới, loại đất, không được UBND xã Y xác nhận, không đăng ký quyền sử dụng đất tại xã)

Ngày 24/4/2004 UBND xã Y mời ông T đến trụ sở để giải quyết UBND xã kết luận không chấp nhận việc đòi quyền sử dụng đất của ông T đối với 377m2 và yêu cầu ông T trả lại đất cho UBND xã, nhưng ông T không nhất trí, sau đó UBND

xã đã không xem xét giải quyết tiếp

Năm 2011, UBND xã Y sử dụng khu đất Trụ sở cũ để xây dựng Trạm y

tế, vườn thuốc nam và điều chỉnh đường dân sinh thôn N, hiện nay Trạm y tế xã

đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng, riêng khu đất quy hoạch xây dựng vườn thuốc nam và đường dân sinh diện tích 377m2 vẫn bị ông T chiếm dụng từ năm

1997 (sau khi UBND xã chuyển sang địa điểm mới) Ngày 12/12/2011 sau khi ông T gây cản trở (rào khu đất 377m2) không cho xã thi công xây dựng vườn thuốc nam và đường dân sinh thôn N, UBND xã đã mời ông T đến để giải quyết

và yêu cầu ông T cung cấp chứng cứ, các giấy tờ liên quan đến việc sử dụng 377m2 , nhưng ông T không cung cấp được vì giấy chuyển nhượng ông T giữ không thể hiện đất đó ở đâu, là loại đất gì, ranh giới diện tích thế nào, không có người xác nhận về việc mua bán Đặc biệt ông X (coi trai ông K) khẳng định rõ ràng không có sự bán nhượng đó

Trang 5

Ngày 06/4/2012 UBND xã Y căn cứ kết quả xác minh làm rõ về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng khu đất Trụ sở UBND xã cũ với ông Đ nguyên Chủ tịch UBND xã Y (giai đoạn 1987 -1994); và ông X (là con trai ông K) UBND xã Y tiếp tục giải quyết vụ việc và yêu cầu ông T trả lại đất cho UBND xã, nhưng ông T vẫn không thực hiện

1.3 Kết thúc tình huống

Sau khi nhiều lần giải quyết vụ việc không thành, UBND xã Y đã chuyển

hồ sơ vụ việc lên UBND huyện B để giải quyết Sau khi nghiên cứu hồ sơ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B xét thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết, Phòng Tài nguyên và Môi trường đã trả lại hồ sơ và hướng dẫn UBND xã Y gửi hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên để được xem xét giải quyết

PHẦN II PHÂN TÍCH VÀ GIẢI QUYẾT TÌNH

HUỐNG 2.1 Phân tích tình huống

2.1.1 Phân tích diễn biến tình huống

Để tham mưu giải quyết vụ việc cần làm rõ một số vấn đề: Đất trong vụ việc đã được giao chưa? Việc sử dụng đất của ông T có vi phạm pháp luật về đất đai không, hành vi vi phạm là gì?

Thứ nhất: Đất trong vụ việc đã được giao chưa?

- Theo quy định tại điều 17 Luật đất đai 2013 thì Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức sau:

“1 Quyết định giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền

sử dụng đất;

2 Quyết định cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;

3 Công nhận quyền sử dụng đất”

Trang 6

Theo quy định tại các khoản 7, 8, 9 điều 3, Luật đất đai 2013 thì:

“7 Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất)

là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.

8 Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.

9 Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền

sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định”.

Như vậy, việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua một trong 3 loại văn bản, gồm: Quyết định giao đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo hồ sơ vụ việc, nhà nước chưa ban hành một trong 3 văn bản trên để trao quyền sử dụng đất cho hai bên UBND xã Y và ông T

- Tuy nhiên, về nguồn gốc sử dụng đất, UBND xã Y đã sử dụng từ năm

1960 được ghi trên Bản đồ đo đạc năm 1997, năm 2007, đăng ký quyền sử dụng đất trong sổ mục kê của xã năm 1995 Vậy, theo quy định của pháp luật đất đai qua các thời kỳ thì với những văn bản đó, đất có được coi đã giao cho UBND xã chưa? UBND xã đã có các giấy tờ về quyền sử dụng 377m2 đất chưa?

- Sổ mục kê là gì? Theo quy định tại điểm 1, mục II Quyết định số 499QĐ/

ĐC ngày 27/7/1995 của Tổng cục địa chính ban hành quy định mẫu sổ địa chính; sổ mục kê đất; sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sổ theo dõi

biến động đất đai thì: “Sổ mục kê đất được lập nhằm liệt kê toàn bộ các thửa

đất trong phạm vi địa giới hành chính mỗi xã, phường, thị trấn về các nội dung: Tên chủ sử dụng, diện tích, loại đất để đáp ứng yêu cầu tổng hợp thống kê diện

Trang 7

tích đất đai, lập, tra cứu, sử dụng các tài liệu hồ sơ địa chính một cách đầy đủ thuận tiện, chính xác (không bị trùng sót)”.

Như vậy, sổ mục kê 1995 được lập sẽ xác định được 3 nội dung: Tên chủ

sử dụng, diện tích và loại đất Đây là cơ sở quan trọng để thể hiện việc sử dụng

đất của UBND xã đã có trước thời điểm 1997 Mặt khác, sổ mục kê liệt kê toàn

bộ các thửa đất trong phạm vi địa giới hành chính mỗi xã do vậy, nó mang tính chất ghi nhận hiện trạng sử dụng đất chứ không ghi nhận về tính pháp lý của thửa đất

Đặc biệt, theo quy định tại điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai

về các giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại Điểm g, khoản 1, điều

200 Luật đất đai năm 2013 thì:

“Các giấy tờ khác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm:

1 Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980”.

(trước thời điểm ban hành Hiến pháp năm 1980)

Như vậy, sổ mục kê được lập năm 1995 chưa được coi là giấy tờ khác về quyền sử dụng đất Do đó, có thể coi 377m2 đất nêu trên được coi là đất chưa được giao

Thứ hai: Việc sử dụng đất của ông T có vi phạm pháp luật về đất đai không?

Nghiên cứu tình huống cho thấy, việc ông T chiếm giữ 377m2 đất từ năm

1997 với lý do ông T cho rằng đất này ông đã mua lại của ông X (con trai ông K) không nằm trong số diện tích đất trụ sở UBND xã Y cũ và đòi UBND xã Y trả cho ông diện tích đất này Ông T có giấy bán nhượng đất trong đó có ghi tên của ông X và ông T lập ngày 11/8/2002 nhưng Giấy bán nhượng lại không thể hiện diện tích ranh giới, loại đất, không được UBND xã Y xác nhận, không đăng ký quyền sử dụng đất tại xã Đặc biệt, xã Y qua làm việc trực tiếp với ông X, ông X đã khẳng định rõ ràng là không có sự mua bán trên Hơn nữa, trong tình huống cũng

Trang 8

thể hiện do sau khi UBND xã Y chuyển trụ sở làm việc sang địa điểm mới, khu đất Trụ sở cũ, ngoài diện tích đất tạm dùng để làm nhà họp thôn của thôn N và sân vận động, một số diện tích đất giáp đường tỉnh 258 chưa sử dụng đến nên các hộ dân gần đó đã tận dụng để trồng màu, trong đó có hộ ông T, khi UBND xã Y yêu cầu trả lại đất, các hộ dân khác đã trả lại, chỉ còn riêng hộ gia đình ông T vẫn cố tình chiếm giữ Như vậy, có thể nói không có một cơ sở pháp lý hay thực tế nào thể hiện ông T có quyền chiếm giữ và sử dụng đối với diện tích 377m2 trong tổng số 3.101m2 đất trụ trụ sở UBND xã Y cũ

Căn cứ vào khoản 1, điều 12 Luật đất đai 2013 thì việc ông T sử dụng 377m2 trong tổng số 3.101m2 đất trụ sở UBND xã Y cũ, tại thửa số 174 tờ bản đồ

số 38 đo đạc địa chính năm 2007 xã Y, huyện B, tỉnh N là hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và hành vi này là hành vi chiếm đất, vì nguồn gốc khu đất là của UBND xã Yến Dương quản lý, sử dụng từ năm 1960 đến nay và đã đăng ký quyền sử dụng đất tại sổ mục kê của xã từ năm 1995

2.1.2 Nguyên nhân

* Nguyên nhân khách quan

- Do nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế, nông nghiệp của người dân lớn, hơn nữa khi mà dân số càng ngày càng tăng lên trong khi quỹ đất chung vẫn giữ nguyên thì đất đai ngày càng có giá trị và giá đất ngày càng tăng

- Hệ thống pháp luật thời kỳ trước đây còn thiếu, chưa hình thành được một hệ thống đồng bộ và cụ thể như hiện nay

* Nguyên nhân chủ quan:

- Do sự hiểu biết về pháp luật về đất đai còn hạn chế nên phát sinh tình trạng vi phạm pháp luật Đặc biệt, trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn tồn tại ý nghĩ đất mà chưa sử dụng đến nếu mình trồng cây, hoa màu trên đó lâu ngày thì đương nhiên sau đó là của mình

Trang 9

- Cá nhân sau khi tự ý chiếm dụng 377m2 đất mặc dù đã được UBND xã mời lên làm việc nhiều lần yêu cầu trả lại đất nhưng lại không thực hiện và tiếp tục vi phạm

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể trong tình huống này là UBND xã Y đã chưa làm hết trách nhiệm quản lý đất đai của mình, biết hành vi

vi phạm xảy ra nhưng lại không xử lý nghiêm khác, triệt để

2.1.3 Hậu quả

- Đất đai bị chiếm dụng trái quy định của pháp luật, người dân không có ý thức chấp hành pháp luật điều này dẫn đến việc làm giảm sút pháp chế xã hội chủ nghĩa

- UBND xã quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến việc bị người dân chiếm dụng trong một thời gian dài, từ đó làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào cơ quan công quyền

- Mặc dù đất đã bị chiếm trái pháp luật nhưng do ông T đã thực hiện trồng cây, hoa màu nên nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định buộc ông tuyên phải trả lại đất bị lấn chiếm thì chính bản thân ông sẽ bị thiết hại về kinh

tế nếu cây, hoa màu chưa đến kỳ thu hoạch bởi chính hành vi vi phạm của mình

- Gây lãng phí thời gian, công sức của các cấp các ngành trong việc tham gia giải quyết vụ việc

- UBND xã Y không có đất để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh

tế-xã hội, nâng cao đời sống cho người dân vì diện tích 377m2 đất quy hoạch xây dựng vườn thuốc nam và đường dân sinh cho thôn N, xã Y

2.2 Xác định mục tiêu giải quyết tình huống

2.2.1 Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, kỷ cương pháp chế xã hội chủ nghĩa

- Phải làm rõ được sai phạm của các cá nhân, tổ chức có liên quan, xử lý nghiêm và dứt khoát các hành vi vi phạm pháp luật để tạo tính răn đe đối với xã

Trang 10

hội, không để vụ việc ngày càng kéo dài; giữ vững trật tự kỷ cương xã hội, đảm bảo tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

2.2.2 Bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của công dân

- Vụ việc liên quan đến giữa một bên là UBND cấp xã- cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, một bên là cá nhân vì vậy phải giải quyết một cách công bằng, khách quan để vừa bảo vệ được lợi ích của nhà nước nhưng cũng phải bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, tránh gây bất bình, dư luận không tốt

trong nhân dân

2.2.3 Giải quyết hài hòa giữa tính pháp lý, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội

Giải quyết vụ việc trên cơ sở quy định của pháp luật, mức độ hành vi vi phạm nhưng bên cạnh đó phải tính đến các yếu tố khách quan, chủ quan, hoàn cảnh lịch sử…để giải quyết vụ việc một cách hợp tình, hợp lý

2.3 Xây dựng và lựa chọn phương án giải quyết

2.3.1 Xây dựng phương án giải quyết tình huống.

* Phương án 1: theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Điều kiện áp dụng:

- Về hành vi vi phạm: Ông T có hành vi chiếm đất

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì :

“2 Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn sử dụng

mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai”

Như vậy, về hành vi vi phạm, ông T đã có hành vi chiếm đất theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 Nghị định 102/2014/NĐ-CP

Ngày đăng: 07/09/2021, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w