Cuối năm 2012, Nguyễn Thị Hiên lấy chồng là người Trung Quốc và sống tại Sung Đỉnh, Phiển Xi, Phúc Kiến, Trung Quốc. Trong thời gian ở đây, Hiên thấy nhiều đàn ông người Trung Quốc lớn tuổi có nhu cầu tìm phụ nữ Việt Nam làm vợ. Do đó, Nguyễn Thị Hiên nảy sinh ý định tìm phụ nữ Việt Nam nhằm đưa sang Trung Quốc, rồi bán cho đàn ông Trung Quốc để làm vợ, nhận tiền tiêu xài. Khoảng tháng 4 năm 2015, do Hiên có quen biết với Võ Thị Hồng Liên là người Việt Nam đang sống tại Trung Quốc nên đã đặt vấn đề với Liên tìm kiếm phụ nữ Việt Nam đưa sang Trung Quốc để bán cho đàn ông Trung Quốc làm vợ. Liên đồng ý và liên lạc qua số điện thoại 01218.974.52 của Nguyễn Thị Hải hiện đang ở Tp.Vũng Tàu để tìm phụ nữ có nhu cầu muốn sang Trung Quốc. Nguyễn Thị Hiên, Võ Thị Hồng Liên, Nguyễn Thị Hải thỏa thuận với nhau, nếu đưa 01 người phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc thì Hiên sẽ đưa cho Liên 10.000.000 đồng, Hải và những người tham gia khác nhận 20.000.000 đồng, riêng nạn nhân sẽ được từ 30.000.000 – 40.000.000 đồng, rồi Hiên sẽ nhận phần còn lại. Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Hải đã bàn bạc với Vũ Thị Kim Loan về việc sẽ giúp Nguyễn Thị Hiên tìm kiếm phụ nữ Việt Nam để xuất cảnh sang Trung Quốc, rồi bán cho đàn ông Trung Quốc lấy làm vợ, sau đó nhận tiền từ Hiên để tiêu xài, Loan đồng ý. Sau đó, Loan tìm được Lê Thị Bé Hạnh, sinh năm 1984, ngụ tại: KP. Hải Lạc, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh BR – VT, biết Hạnh có hoàn cảnh khó khăn và đang có mâu thuẫn với chồng của mình, nên Loan có đặt vấn đề hỏi Hạnh có muốn sang Trung Quốc để kết hôn với đàn ông Trung Quốc. Loan báo với Nguyễn Thị Hải là Lê Thị Bé Hạnh có nhu cầu sang Trung Quốc, Hải báo cho Liên và Hiên để Hiên sắp xếp về Việt Nam đưa Hạnh sang Trung Quốc.Đầu tháng 5 năm 2015, Hiên, Hải, Loan nhiều lần gặp Hạnh để tác động, rủ Hạnh sang Trung Quốc lấy chồng, Hạnh đồng ý. Ngày 0352015 Hiên đưa Hạnh 5.000.000 đồng, cho Hải 1.000.000 đồng và Loan 500.000 đồng, rồi đưa Hạnh đi Tp. Hồ Chí Minh để chuẩn bị bay ra Hà Nội, từ Hà Nội sẽ xuất cảnh sang Trung Quốc. Lúc ở Tp. Hồ Chí Minh, Hiên thấy Hạnh buồn nên đã gọi điện cho Loan lên an ủi Hạnh và cho Loan thêm 500.000 đồng. Sau đó Hiên đưa Hạnh sang Trung Quốc để giới thiệu Hạnh với 01 người đàn ông Trung Quốc, nhưng Hạnh không đồng ý kết hôn và đòi về Việt Nam. Hiên nói với Hạnh muốn về Việt Nam thì yêu cầu gia đình chuyển tiền qua trả cho Hiên 35.000.000 đồng, nhưng gia đình Hạnh không có tiền, sau đó 02 ngày Hiên nói với Hạnh yêu cầu gia đình Hạnh chuyển cho Hiên 13.800.000 đồng, Hạnh phải tự đi về Việt Nam nhưng Hạnh vẫn không có tiền.Sau hai ngày, Hạnh nói với Hiên là đồng ý lấy người đàn ông Trung Quốc làm chồng nhưng phải cho Hạnh về Việt Nam đón con qua sống cùng, Hiên nói với người đàn ông Trung Quốc về điều kiện của Hạnh và được ông này đồng ý. Người đàn ông Trung Quốc hứa sẽ cho Hiên 07 quan tiền Trung Quốc nếu hoàn chỉnh thủ tục kết hôn với Hạnh (một quan tiền tương đương 34.000.000 đồng Việt Nam). Người đàn ông này đưa trước 6.000 nhân dân tệ, Hiên đưa tiền trên cho Hạnh. Khi Hiên và Hạnh chuẩn bị về Việt Nam người đàn ông Trung Quốc đưa thêm cho Hiên 9.000 nhân dân tệ, còn lại 4,1 quan tiền Trung Quốc ông này nói sẽ chuyển qua ngân hàng cho Hiên khi Hiên về Việt Nam, số tiền còn lại 1,4 quan trong số 07 quan tiền Trung Quốc sẽ chuyển khi nào Hạnh từ Việt Nam trở lại Trung Quốc hoàn chỉnh thủ tục kết hôn thì trả đủ. Số tiền 6.000 nhân dân tệ Hiên nói Hạnh đưa cho Hiên để đổi thành tiền Việt Nam và sẽ đưa cho người nhà của Hạnh, Hiên đổi 15.000 nhân dân tệ (từ số tiền 9.000 và 6.000 nhân dân tệ; khoảng 51.000.000 đồng).Ngày 1452015 Nguyễn Thị Hiên đưa Hạnh từ Trung Quốc trở về Việt Nam; Ngày 1652015 thì đến cửa khẩu Hữu Nghị, Hiên thuê người dẫn Hạnh đi đường mòn để vào lãnh thổ Việt Nam còn Hiên nhập cảnh qua cửa khẩu và hẹn gặp Hạnh ở tỉnh Bắc Giang, sau đó Hạnh và Hiên bắt xe từ tỉnh Bắc Giang về Hà Nội. Đến khoảng 22 giờ 10 phút ngày 1652015 thì Hiên và Hạnh đi máy bay vào Tp. Hồ Chí Minh; Đến 00 giờ 20 phút ngày 1752015, lực lượng Biên phòng tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu phối hợp với Trung tâm an ninh hàng không Tân Sơn Nhất mời Hiên và Hạnh về trụ sở của Cảng vụ hàng không Tân Sơn Nhất làm việc.Ngày 0592015, Võ Hồng Liên về nhà tại ấp Tân Hội, xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ. CQĐT tiến hành triệu tập làm việc đối với Liên, Qua làm việc, Liên thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Trang 1BÁO CÁO ÁN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN NGUYỄN THỊ HIÊN VÀ ĐỒNG PHẠM
VỀ TỘI “MUA BÁN NGƯỜI”
Vụ án: Mua bán người
Các bị can: Nguyễn Thị Hiên, Nguyễn Thị Hải, Vũ Thị Kim Loan, Võ Thị Hồng Liên
Tôi báo cáo kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án và đề xuất quan điểm xử lý vụ án như sau:
I/ Lý lịch bị can:
1 Họ và tên: Nguyễn Thị Hiên; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày: 28/11/1985; Giới tính: Nữ
Nơi sinh: tỉnh Bến Tre
ĐKTT: số 155, ấp Mỹ Quý, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Chổ ở hiện nay: Phịn Xi, Sung Đỉnh, Phúc Kiến, Trung Quốc
Nghề nghiệp: Buôn bán
Quốc tịch: Việt Nam;
Trình độ văn hóa:
Họ tên cha : Nguyễn Văn Dẫn; Sinh năm: 1940; Nghề nghiệp: Chăn nuôi
Họ tên mẹ : Nguyễn Thị Sinh; Sinh năm: 1945; Nghề nghiệp: Chăn nuôi Cùng ngụ tại 155, ấp Mỹ Quý, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Gia đình bị can có 07 người con, Nguyễn Thị Hiên là con thứ bảy
Họ tên chồng: Châu Sô Khoa; Sinh năm: 1969; Nghề nghiệp: Buôn bán Con gái: Châu Huân Huy; Sinh năm: 2014
Tiền án, tiền sự: Không
Bị can hiện đang bị tạm giam 111 (Một trăm mười một) ngày, từ ngày 26/5/2015
đến ngày 14/9/2015, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo Lệnh tạm
giam số 35/LTG-PC45(Đ3) ngày 26/5/ 2015 của Cơ quan CSĐT, CA tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
2 Họ và tên: Nguyễn Thị Hải; Tên gọi khác: Không
Sinh năm 1974; Giới tính: Nữ
Nơi sinh: tỉnh Bình Dương
ĐKTT: số 1/22E ấp Hưng Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh Chổ ở hiện nay: phòng trọ số 03, nhà số 67/1A đường Bắc Sơn, Phường 11, Tp Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 2Nghề nghiệp: Nội trợ.
Quốc tịch: Việt Nam;
Trình độ học vấn:
Họ tên cha : Nguyễn Văn Tám (đã chết năm 2005)
Họ tên mẹ : Bùi Thị Út, sinh năm 1935 (già yếu)
Cùng ngụ tại ấp Bà Nhã, Đôn Thuận, Trảng Bảng, Tây Ninh
Gia đình bị can có 04 người con, Nguyễn Thị Hải là con thứ tư
Họ tên chồng: Nguyễn Sỹ Thy (đã ly dị và chết năm 2015)
Con: Nguyễn Thị Phương Thi; Sinh năm: 1996; Nghề nghiệp: Buôn bán Con: Nguyễn Phúc Sang; Sinh năm: 2006; Nghề nghiệp: Học sinh Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị can hiện đang bị tạm giam 111 (Một trăm mười một) ngày, từ ngày 26/5/2015
đến ngày 14/9/2015, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo Lệnh tạm
giam số 36/LTG-PC45(Đ3) ngày 26/5/2015 của Cơ quan CSĐT, CA tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
3 Họ và tên: Vũ Thị Kim Loan; Tên gọi khác: Không
Nơi sinh: Tp.Hồ Chí Minh
ĐKTT: số 02 Ô 3/1 Tổ 4, Khu phố Phước Điền, thị trấn Phước Hải, huyện Đất
Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chổ ở hiện nay: số 02 Ô 3/1 Tổ 4, Khu phố Phước Điền, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tình Bà Rịa – Vũng Tàu
Nghề nghiệp: Nội trợ
Quốc tịch: Việt Nam;
Trình độ học vấn:
Họ tên cha: Phạm Văn Quý (đã chết)
Họ tên mẹ: Vũ Thị Bình, sinh năm 1952 (già yếu)
Ngụ tại thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Gia đình bị can có 02 người, Vũ Thị Kim Loan là con thứ hai
Họ tên chồng: Ngô Văn Mẹo, sinh năm 1963 (đã ly hôn)
Con: Ngô Văn Tùng; Sinh năm: 1987; Nghề nghiệp: công nhân Con: Ngô Trường Sơn; Sinh năm: 1995; Nghề nghiệp: làm biển Con: Ngô Trường Toàn; Sinh năm: 1998; Nghề nghiệp: làm thuê Tiền án: Không Tiền sự: Không
Bị can hiện đang bị tạm giam 111 (Một trăm mười một) ngày, từ ngày 26/5/2015
đến ngày 14/9/2015, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo Lệnh tạm
Trang 3giam số 37/LTG-PC45(Đ3) ngày 26/5/2015 của Cơ quan CSĐT, CA tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
4 Họ và tên: Võ Thị Hồng Liên; Tên gọi khác: Không
Nơi sinh: tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
ĐKTT: ấp Tân Hội, xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chổ ở hiện nay: Sang Khơ, Phúc Kiến, Trung Quốc
Nghề nghiệp: Buôn bán
Quốc tịch: Việt Nam;
Trình độ học vấn: 02/12
Họ tên cha: Võ Văn Nhẫn (đã chết)
Họ tên mẹ: Lê Thị Mẫn; Sinh năm 1944; Nghề nghiệp: Buôn bán Ngụ tại ấp Tân Hội, xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Gia đình bị can có 03 người con, Võ Thị Hồng Liên là con thứ ba
Họ tên chồng: không xác định
Bị can có 01 con, sinh ngày 27/5/2015
Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị can hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, giao bị can cho Công an xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ quản lý, theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 04/LC-PC45(Đ3) của Cơ quan CSĐT, CA tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
II/ Tóm tắt nội dung vụ án:
Cuối năm 2012, Nguyễn Thị Hiên lấy chồng là người Trung Quốc và sống tại Sung Đỉnh, Phiển Xi, Phúc Kiến, Trung Quốc Trong thời gian ở đây, Hiên thấy nhiều đàn ông người Trung Quốc lớn tuổi có nhu cầu tìm phụ nữ Việt Nam làm vợ Do đó, Nguyễn Thị Hiên nảy sinh ý định tìm phụ nữ Việt Nam nhằm đưa sang Trung Quốc, rồi bán cho đàn ông Trung Quốc để làm vợ, nhận tiền tiêu xài Khoảng tháng 4 năm 2015,
do Hiên có quen biết với Võ Thị Hồng Liên là người Việt Nam đang sống tại Trung Quốc nên đã đặt vấn đề với Liên tìm kiếm phụ nữ Việt Nam đưa sang Trung Quốc để bán cho đàn ông Trung Quốc làm vợ Liên đồng ý và liên lạc qua số điện thoại 01218.974.52 của Nguyễn Thị Hải hiện đang ở Tp.Vũng Tàu để tìm phụ nữ có nhu cầu muốn sang Trung Quốc Nguyễn Thị Hiên, Võ Thị Hồng Liên, Nguyễn Thị Hải thỏa thuận với nhau, nếu đưa 01 người phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc thì Hiên sẽ đưa cho Liên 10.000.000 đồng, Hải và những người tham gia khác nhận 20.000.000 đồng, riêng nạn nhân sẽ được từ 30.000.000 – 40.000.000 đồng, rồi Hiên sẽ nhận phần còn lại
Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Hải đã bàn bạc với Vũ Thị Kim Loan về việc sẽ giúp Nguyễn Thị Hiên tìm kiếm phụ nữ Việt Nam để xuất cảnh sang Trung Quốc, rồi bán cho đàn ông Trung Quốc lấy làm vợ, sau đó nhận tiền từ Hiên để tiêu xài, Loan đồng ý Sau
đó, Loan tìm được Lê Thị Bé Hạnh, sinh năm 1984, ngụ tại: KP Hải Lạc, thị trấn Phước
Trang 4Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh BR – VT, biết Hạnh có hoàn cảnh khó khăn và đang có mâu thuẫn với chồng của mình, nên Loan có đặt vấn đề hỏi Hạnh có muốn sang Trung Quốc
để kết hôn với đàn ông Trung Quốc Loan báo với Nguyễn Thị Hải là Lê Thị Bé Hạnh
có nhu cầu sang Trung Quốc, Hải báo cho Liên và Hiên để Hiên sắp xếp về Việt Nam đưa Hạnh sang Trung Quốc
Đầu tháng 5 năm 2015, Hiên, Hải, Loan nhiều lần gặp Hạnh để tác động, rủ Hạnh sang Trung Quốc lấy chồng, Hạnh đồng ý Ngày 03/5/2015 Hiên đưa Hạnh 5.000.000 đồng, cho Hải 1.000.000 đồng và Loan 500.000 đồng, rồi đưa Hạnh đi Tp Hồ Chí Minh
để chuẩn bị bay ra Hà Nội, từ Hà Nội sẽ xuất cảnh sang Trung Quốc Lúc ở Tp Hồ Chí Minh, Hiên thấy Hạnh buồn nên đã gọi điện cho Loan lên an ủi Hạnh và cho Loan thêm 500.000 đồng Sau đó Hiên đưa Hạnh sang Trung Quốc để giới thiệu Hạnh với 01 người đàn ông Trung Quốc, nhưng Hạnh không đồng ý kết hôn và đòi về Việt Nam Hiên nói với Hạnh muốn về Việt Nam thì yêu cầu gia đình chuyển tiền qua trả cho Hiên 35.000.000 đồng, nhưng gia đình Hạnh không có tiền, sau đó 02 ngày Hiên nói với Hạnh yêu cầu gia đình Hạnh chuyển cho Hiên 13.800.000 đồng, Hạnh phải tự đi về Việt Nam nhưng Hạnh vẫn không có tiền
Sau hai ngày, Hạnh nói với Hiên là đồng ý lấy người đàn ông Trung Quốc làm chồng nhưng phải cho Hạnh về Việt Nam đón con qua sống cùng, Hiên nói với người đàn ông Trung Quốc về điều kiện của Hạnh và được ông này đồng ý Người đàn ông Trung Quốc hứa sẽ cho Hiên 07 quan tiền Trung Quốc nếu hoàn chỉnh thủ tục kết hôn với Hạnh (một quan tiền tương đương 34.000.000 đồng Việt Nam) Người đàn ông này đưa trước 6.000 nhân dân tệ, Hiên đưa tiền trên cho Hạnh Khi Hiên và Hạnh chuẩn bị
về Việt Nam người đàn ông Trung Quốc đưa thêm cho Hiên 9.000 nhân dân tệ, còn lại 4,1 quan tiền Trung Quốc ông này nói sẽ chuyển qua ngân hàng cho Hiên khi Hiên về Việt Nam, số tiền còn lại 1,4 quan trong số 07 quan tiền Trung Quốc sẽ chuyển khi nào Hạnh từ Việt Nam trở lại Trung Quốc hoàn chỉnh thủ tục kết hôn thì trả đủ Số tiền 6.000 nhân dân tệ Hiên nói Hạnh đưa cho Hiên để đổi thành tiền Việt Nam và sẽ đưa cho người nhà của Hạnh, Hiên đổi 15.000 nhân dân tệ (từ số tiền 9.000 và 6.000 nhân dân tệ; khoảng 51.000.000 đồng)
Ngày 14/5/2015 Nguyễn Thị Hiên đưa Hạnh từ Trung Quốc trở về Việt Nam; Ngày 16/5/2015 thì đến cửa khẩu Hữu Nghị, Hiên thuê người dẫn Hạnh đi đường mòn
để vào lãnh thổ Việt Nam còn Hiên nhập cảnh qua cửa khẩu và hẹn gặp Hạnh ở tỉnh Bắc Giang, sau đó Hạnh và Hiên bắt xe từ tỉnh Bắc Giang về Hà Nội Đến khoảng 22 giờ 10 phút ngày 16/5/2015 thì Hiên và Hạnh đi máy bay vào Tp Hồ Chí Minh; Đến 00 giờ 20 phút ngày 17/5/2015, lực lượng Biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp với Trung tâm an ninh hàng không Tân Sơn Nhất mời Hiên và Hạnh về trụ sở của Cảng vụ hàng không Tân Sơn Nhất làm việc
Ngày 05/9/2015, Võ Hồng Liên về nhà tại ấp Tân Hội, xã Phước Hội, huyện Đất
Đỏ CQĐT tiến hành triệu tập làm việc đối với Liên, Qua làm việc, Liên thừa nhận hành
vi phạm tội như trên
(BL 72 – 101; 104 – 108; 110 – 129; 131 – 168)
III/ QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
1 Thủ tục khởi tố:
Trang 5a) Cơ sở khởi tố:
- Thông tin ban đầu:
+ Đơn trình báo sự việc của Lê Thụy Bé Linh ngày 14/5/2015 (BL 149, 151); + Bản tường trình của Lê Thụy Bé Linh ngày 15/5/2015 (BL 150);
+ Biên bản làm việc với Lê Thị Bé Linh ngày 14/5/2015 (BL 152);
+ Đơn tố cáo của Lê Thị Bé Hạnh ngày 17/5/2015 (BL153);
+ Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Đồn biên phòng Phước Hải, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đã tiến hành xác minh, lấy lời khai các đối tượng, bị hại, người làm chứng để làm rõ nội dung vụ việc (BL 60 – 69; 72 – 96; 104 – 106; 109 – 126; 131 – 142; 154 – 168);
+ Lý lịch đối tượng Nguyễn Thị Hiên (BL 80);
+ Lý lịch bị can Võ Thị Hồng Loan (BL 102);
+ Lý lịch bị can Nguyễn Thị Hải (BL 127);
+ Lý lịch bị can Vũ Thị Kim Loan (BL 130)
- Xác định căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can:
+ Lời khai của người làm chứng Lê Thụy Bé Linh (BL 149 – 152): Lê Thụy Bé Linh, sinh năm 1975, có em gái tên là Lê Thị Bé Hạnh sinh năm 1984 ở Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Lê Thị Bé Hạnh đã có chồng và 02 con Vì Hạnh có mâu thuẫn với chồng và có vay nặng lãi, sợ bị xiết nợ nên Hạnh nói với gia đình là đi Vũng Tàu tìm việc làm Ngày 07/5/2015, Hạnh gọi về cho Linh nói là có quen một người phụ nữ tên Hiên có chồng là người Trung Quốc, người này hứa giúp đỡ Hạnh rồi đưa Hạnh sang Trung Quốc, Hạnh thấy sợ và muốn về Việt Nam nhưng Hiên yêu cầu Hạnh trả cho Hiên 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng, vì gia đình không có tiền nên Hiên để Hạnh lại Trung Quốc Hạnh nói Hiên sẽ đưa Hạnh về Việt Nam để đưa 02 con Hạnh qua Trung Quốc, nên nói Linh đưa 02 con của Hạnh ra bến xe Miền Đông và
sẽ có Hạnh, Hiên về đón
+ Lời khai của người bị hại Lê Thị Bé Hạnh (BL 154 – 156; 157 - 168): Do quen biết từ trước, nên Hạnh có lần kể với Vũ Thị Kim Loan về hoàn cảnh khó khăn của mình, cũng như mâu thuẫn giữa Hạnh và chồng Hiện tại Hạnh muốn tìm việc gì đó để làm kiếm tiền nuôi con Vào khoảng tháng 04/2015, Loan nói với Hạnh là có muốn lấy chồng Trung Quốc không thì Hạnh đồng ý Mấy ngày sau, Loan gọi điện cho Hạnh đi đến quán cà phê Cây Dừa ở Phước Hải, Đất Đỏ để nói chuyện Khi Hạnh và Loan ra đến quán thì gặp Hải và 01 người phụ nữ do Hải giới thiệu tên là Hiên ở Trung Quốc về
để dẫn Hạnh sang Trung Quốc, lúc này Hạnh chưa đồng ý vì không có người giữ con Vài ngày sau, Loan tiếp tục gọi điện thoại cho Hạnh hỏi có muốn đi Trung Quốc hay không thì Hiên cho mượn 5.000.000 đồng để chuộc chứng minh nhân dân thì Hạnh đồng ý Ngày 05/5/2015 Hạnh và Hiên đi máy bay từ Tp Hồ Chí Minh ra Hà Nội sau
đó đi qua Trung Quốc rồi ở tại nhà chị Hiên Lúc này, Hiên nói với Hạnh là phải lấy 01 người đàn ông Trung Quốc thì Hiên mới cho 30.000.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền
đã cho Hạnh mượn trước đó, Hạnh không đồng ý và đòi về Việt Nam Hiên nói muốn về Việt Nam thì yêu cầu gia đình chuyển tiền qua trả cho Hiên 35.000.000 đồng, Lê Thị Bé
Trang 6Hạnh gọi điện về báo cho Lê Thị Bé Linh là chị ruột biết nhưng gia đình không có tiền,
02 ngày sau Hiên nói với Hạnh yêu cầu chuyển cho Hiên 13.800.000 đồng, thì Hạnh phải tự đi về Việt Nam nhưng Hạnh vẫn không có tiền Lúc Hạnh giả vờ đồng ý lấy người đàn ông Trung Quốc mà Hiên đã giới thiệu với điều kiện phải cho về Việt Nam đưa con qua sống cùng Hiên và người đàn ông kia đồng ý nhưng Hạnh phải ở lại nhà người đàn ông này 02 ngày
Ngày 14/5/2015 Nguyễn Thị Hiên đưa Hạnh từ Trung Quốc trở về Việt Nam; Ngày 16/5/2015 thì đến cửa khẩu Hữu Nghị, Hiên thuê người dẫn Hạnh đi đường mòn
để vào lãnh thổ Việt Nam còn Hiên nhập cảnh qua cửa khẩu và hẹn gặp Hạnh ở tỉnh Bắc Giang, sau đó Hạnh và Hiên bắt xe từ tỉnh Bắc Giang về Hà Nội Đến khoảng 22 giờ 10 phút ngày 16/5/2015 thì Hiên và Hạnh đi máy bay vào Tp Hồ Chí Minh; Đến 00 giờ 20 phút ngày 17/5/2015, lực lượng Biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp với Trung tâm an ninh hàng không Tân Sơn Nhất mời Hiên và Hạnh về trụ sở của Cảng vụ hàng không Tân Sơn Nhất làm việc
+ Lời khai của các đối tượng Nguyễn Thị Hiên (BL 72 - 79; 81 - 96), Nguyễn Thị Hải (BL 110 – 126), Vũ Thị Kim Loan (BL 131 – 142), Võ Thị Hồng Liên (BL 104 -106) thống nhất về hành vi phạm tội với nội dung như sau:
Năm 2012 Hiên lấy chồng là người Trung Quốc làm nghề bán bánh, qua đó Hiên quen biết với Võ Thị Hồng Liên quê ở huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng là người Việt Nam lấy chồng Trung Quốc Nguyễn Thị Hiên nhận thấy nhiều người đàn ông Trung Quốc muốn lấy vợ là người Việt Nam nên nảy sinh ý định tìm phụ nữ Việt Nam đưa sang Trung Quốc để bán lấy tiền Hiên nhờ Liên tìm phụ nữ Việt Nam đưa sang Trung Quốc, nếu Liên tìm được và bán thành công thì Hiên sẽ đưa cho Liên 60.000.000 đồng trong đó cho nạn nhân 30.000.000 – 40.000.000 đồng, còn lại chia cho Liên cũng những người tham gia khác, thì Liên đồng ý Thông qua Liên, Hiên biết được Nguyễn Thị Hải và Vũ Thị Kim Loan đang ở Bà Rịa – Vũng Tàu Sau khi Hiên biết được số điện thoại của Hải thì đã liên lạc nhờ Hải tìm phụ nữ Việt Nam đưa sang Trung Quốc để làm vợ cho đàn ông Trung Quốc, nếu được Hiên sẽ cho tiền, trong quá trình tìm kiếm Hải có làm quen và cùng Vũ Thị Kim Loan tham gia Đến khoảng cuối tháng 4/2015 Hải và Vũ Thị Kim Loan nói với Hiên đã tìm được 01 người nhưng người này
đã có chồng, con và có hoàn cảnh khó khăn Đầu tháng 5/2015 Nguyễn Thị Hiên về Việt Nam gặp Hải, Loan Hải và Loan dẫn Hiên đi gặp 01 người phụ nữ tên Lê Thị Bé Hạnh sinh năm 1984 ở thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trước khi gặp Hạnh Hiên được Loan, Hải và 01 người phụ nữ tên Bình giới thiệu 01 người con gái tên Thủy quê ở Đồng Nai muốn sang Trung Quốc lấy chồng Nguyễn Thị Hiên nói nếu Thủy cùng sang Trung Quốc thì Hiên cho Thủy 40.000.000 đồng nhưng Thủy yêu cầu đưa trước 15.000.000 đồng, nên Hiên không đồng ý vì không rõ lai lịch của Thủy Từ đó Nguyễn Thị Hiên và Thủy không liên lạc nữa
Khi gặp được Hạnh, Hiên hỏi Hạnh có muốn sang Trung Quốc lấy chồng không thì Hạnh đồng ý Sau đó Hiên cho Hạnh mượn 5.000.000 đồng, cho Hải 1.000.000 đồng, cho Loan 500.000 đồng Quá trình Hiên cùng Hạnh đi từ huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lên Tp Hồ Chí Minh để đi Hà Nội từ Hà Nội qua Trung Quốc, lúc ở
Tp Hồ Chí Minh thì thấy Hạnh buồn nên Hiên gọi điện kêu Loan lên chơi với Hạnh và cho Loan thêm 500.000 đồng Ngày 07/5/2015 Hiên đưa Hạnh về nhà của mình ở Phịn
Xi, Sung Đỉnh, Phúc Kiến, Trung Quốc tại đây Hiên giới thiệu Hạnh với 01 người đàn
Trang 7ông Trung Quốc thì ông này cho Hiên 6.000 Nhân dân tệ Ban đầu Hạnh không đồng ý
và đòi về Việt Nam Hiên nói với Hạnh muốn về thì phải gửi tiền xe đi lại cho Hiên là 35.000.000 đồng nhưng gia đình Hạnh không có tiền, thấy Hạnh không có tiền nên Hiên giảm xuống còn 13.800.000 đồng và Hạnh phải tự về Việt Nam, nhưng Hạnh vẫn không
có tiền trả lại cho Hiên Sau đó Hạnh nói với Hiên là đồng ý kết hôn nhưng phải về Việt Nam đón con qua ở cùng, Hiên nói với người đàn ông Trung Quốc điều kiện của Hạnh thì người này đồng ý nhưng phải đưa Hạnh lại nhà ông ta ở 02 ngày Sau khi Hạnh ở nhà người đàn ông này 02 ngày thì Hiên với Hạnh về Việt Nam, lúc chuẩn bị về Việt Nam người đàn ông Trung Quốc có cho Hiên thêm 9.000 nhân dân tệ Tổng cộng là 1,5 quan (15.000 Nhân dân tệ) và hứa sẽ cho Hiên thêm 4,1 quan (41.000 Nhân dân tệ) bằng cách chuyển vào tài khoản ngân hàng khi Hiên về Việt Nam, còn lại 1,4 quan (14.000 Nhân dân tệ) ông ta sẽ trả cho Hiên sau khi Hạnh quay lại hoàn tất thủ tục kết hôn Hiên đổi 1,5 quan thành 51.000.000 đồng tiền Việt Nam dự định sẽ cho Hạnh 30.000.000 đồng
Ngày 14/5/2015 Hiên đưa Hạnh từ Trung Quốc về Việt Nam, khi đến cửa khẩu Hữu Nghị do Hạnh không có giấy thông hành nên Hiên để Hạnh đi đường mòn còn Hiên qua cửa khẩu vào Việt Nam và hẹn gặp ở tỉnh Bắc Giang, chi phí thuê người đưa Hạnh về tỉnh Bắc Giang hết 200 Nhân dân tệ và 300.000 đồng Ngày 16/5/2015 Hiên nhờ Nguyễn Thành Tân quê ở Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh mua dùm vé máy bay cho Hiên và Hạnh Sau đó Hiên đưa Hạnh từ Bắc Giang vào Hà Nội đi máy bay vào Tp Hồ Chí Minh đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 17/5/2015 lúc xuống máy bay tại sân bay Tân Sơn Nhất thì bị lực lượng Biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp với Trung tâm an ninh hàng không Tân Sơn Nhất mời về trụ sở của Cảng vụ hàng không Tân Sơn Nhất làm việc
+ Vật chứng thu giữ trong vụ án (BL 04; 39; 50; 65):
* 70.000 đồng là số tiền còn lại của Nguyễn Thị Hải nhận từ Nguyễn Thị Hiên
* 01 giấy CMND đứng tên Lê Thị Bé Hạnh số 273357489 do Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 16/01/2007
* 01 thẻ lên máy bay của hãng Vietjet Air đứng tên Lê Thị Bé Hạnh số PNR21390405
* 10 tờ giấy coton hình chữ nhật màu hồng nghi là tiền Trung Quốc có mệnh giá
100 YUAN, trên từng tờ có số kí hiệu như sau: B91D624393; J85A132476; B19F109635; D64Z68330; B19F109634; B19F109631; B19F109631; A4M0555852; 0T71599744; 0T71599744
* 01 tờ giấy coton hình chữ nhật màu hồng nghi là tiền Trung Quốc có mệnh giá
20 YUAN có kí hiệu BT25071967
* 01 tờ giấy coton hình chữ nhật màu xanh đen nhạt nghi là tiền Trung Quốc có mệnh giá 10 YUAN có kí hiệu B0C0123534
* 09 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng/01 tờ
* 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng
* 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA kí hiệu trong máy F3428A91 đã cũ đang sử dụng
Trang 8* 01 điện thoại SAMSUNG màu hồng.
* 01 điện thoại màu trắng không nhãn hiệu và 01 điện thoại Iphone màu trắng
b) Đánh giá tính có căn cứ và tính hợp pháp của QĐKTVAHS, QĐKTBC:
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu được thể hiện trong hồ sơ vụ án, xét thấy việc nhận tội của các bị can là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và bị hai
Do vậy, việc Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh bà Rịa - Vũng Tàu ra Quyết định khởi tố vụ án hình
sự, Quyết định khởi tố bị can là có căn cứ, hoàn toàn hợp pháp và đúng quy định của pháp luật
c) Đánh giá sự tuân thủ pháp luật của CQĐT, VKS trong hoạt động KTVA, KTBC và hoạt động kiểm sát việc KTVA, KTBC:
CQĐT đã chấp các quy định về pháp luật tố tụng hình sự trong hoạt động KTVA, KTBC Tuy nhiên, vẫn một số còn hạn chế, thiếu sót như sau:
- Biên bản hỏi cung bị can thì Điều tra viên ký tên nhưng không ghi đầy đủ họ tên (BL 145-146)
Trong quá trình kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định pháp luật Tuy nhiên, còn một số tài liệu không có trong hồ sơ:
+ Quyết định phân công Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, phân công Điều tra viên, Cán bộ điều tra, quyết định phân công Kiểm sát viên
+ Đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố các bị can Hiên, Hải, Loan
+ Thiếu lý lịch bị can Nguyễn Thị Hiên
+ Không có danh chỉ bản các bị can, lý lịch đối tượng Nguyễn Thị Hải không có xác nhận của chính quyền (BL109); không có biên bản thể hiện việc giao các quyết định khởi tố bị can, giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can, lập biên bản giao nhận quyết định khởi tố bị can (vi phạm khoản 5 Điều 179 BLTTHS)
+ Viện kiểm sát tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kiểm sát hoạt động khởi tố vụ án, khởi tố
bị can của cơ quan điều tra tuân thủ đúng quy định pháp luật, khởi tố vụ án, bị can có căn cứ Tuy nhiên, những sai sót của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chưa chủ động yêu cầu khắc phục, bổ sung
+ Hồ sơ sắp xếp không đúng Quy định 590 như nguồn tin tội phạm lại xếp tại BL 149-153, đề nghị phê chuẩn QĐKTBC Võ Thị Hồng Liên (BL 18-19) đặt trước QĐ PC QĐKTBC Nguyễn Thị Hiên (BL 20)
+ Biên bản ghi lời khai còn khoảng giấy trắng nhưng KSV không yêu cầu ĐTV gạch chéo là chưa đảm bảo
+ Biên bản hỏi cung bị can Võ Thị Hồng Liên (BL 105 – 108) có nhiều đoạn trùng lặp, nghi là cắt dán
+ Biên bản hỏi cung Vũ Thị Kim Loan (BL 144) bị gạch bỏ nhưng không giải thích lý do và không có chữ ký xác nhận của bị can vào khu vực gạch bỏ
+ KSV không đề ra yêu cầu điều tra để làm rõ một số vấn đề chưa rõ như: người bạn mà Hiên nhờ mua vé máy bay là ai, có quan hệ như thế nào với Hiên, có biết, có
Trang 9liên quan đến vụ án này không KSV không chủ động tham gia hỏi cung bị can, củng cố chứng cứ ngay từ giai đoạn điều tra
+ Hồ sơ không có bản kết luận điều tra
d) Đánh giá về tính có căn cứ và tính hợp pháp của các biện pháp ngăn chặn
đã được áp dụng (bắt, tạm giữ, tạm gian hoặc các biện pháp ngăn chặn khác):
Việc áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan điều tra đều đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, qua kiểm sát VKS cũng phát hiện CQĐT vẫn còn để xảy ra một số hạn chế, thiếu sót như sau:
- Hồ sơ không có Lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Hiên
- Không có biên bản về việc bắt người, biên bản bàn giao người bị bắt đối với Nguyễn Thị Hiên
- Không có Quyết định tạm giữ đối với Nguyễn Thị Hiên
- Bị can Võ Thị Hồng Liên đang sinh sống bên Trung Quốc nhưng lại ra Lệnh cấm đi khởi nơi cư trú là không đảm bảo
- Đối với vụ án “Mua bán người” là rất nghiêm trọng, các bị can có sự thỏa thuận
và phân công nhiệm vụ rõ ràng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, danh dự, nhân dân phẩm của con người, công dân và Nhà nước ta Tuy Võ Thị Hồng Liên là công dân Việt nam nhưng đã có chồng và sống tại Trung Quốc nên việc điều tra sẽ rất khó khăn nên việc áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Võ Thị Hồng Liên là chưa đảm bảo cho qua trình điều tra vụ án
2 Hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ:
a) Đánh giá sự tuân thủ pháp luật của CQĐT, VKS, CQ giám định và các cơ quan khác có liên quan trong các hoạt động:
- Thu giữ, bảo quản, xử lý vật chứng: Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra (Đồn Biên Phòng) và CQĐT thực hiện đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên vẫn còn một số thiếu sót như sau:
+ BL 04, BL 26 Biên bản khám xét, bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Hải thì không có ghi nhận về việc thu giữ điện thoại của Hải nhưng trong hồ sơ có biên bản kiểm tra trích lục điện thoại của Nguyễn Thị Hải (BL 61)
+ Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có biên bản về việc thu giữ điện thoại của Nguyễn Thị Hiên nhưng trong hồ sơ có biên bản kiểm tra trích lục điện thoại của Hiên (BL 64)
+ BL 50, 57 đều là biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu của Lê Thị Bé Hạnh ngày 17/5/2015
+ Không có biên bản xác định các bị can, người bị hại có sử dụng đúng các số điện thoại như đã nêu hay không
+ Chưa cho các bị can nhận dạng điện thoại thu giữ được có đúng là của bị can
xử dụng trong quá trình phạm tội hay không
- Việc khám xét: Thực hiện đúng quy định của pháp luật
b) Đánh giá sự tuân thủ pháp luật của CQĐT, VKS khi tiến hành các hoạt động điều tra:
Trang 10Trong quá trình tiến hành các hoạt động điều tra CQĐT, VKS đã tuân thủ đúng các quy định về tố tụng hình sự Tuy nhiên, qua kiểm sát phát hiện CQĐT vẫn còn một
số hạn chế, thiếu sót như sau:
- Hồ sơ không có Danh bản, Chỉ bản
- Không có biên bản bắt người đối với Nguyễn Thị Hiên
- Lý lịch bị can Nguyễn Thị Hiên ở phần người lập chưa ghi ngày tháng lập, người lập chưa ký và ghi họ tên
- Biên bản hỏi cung bị can thì Điều tra viên ký tên nhưng không ghi rõ họ tên
- Lấy lời khai, hỏi cung: Cơ quan điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật
- Chưa tiến hành đối chất giữa các bị can, giữa các bị can với bị hại
- Chưa tiến hành nhận dạng đối với các bị can
- Chưa xác định các bị can và bị hại sử dụng số điện thoại nào khi liên lạc
3- Đánh giá chứng cứ:
Mâu thuẫn giữa các chứng cứ: Không
- Chứng cứ buộc tội:
+ Đơn trình báo sự việc của Lê Thụy Bé Linh ngày 14/5/2015 (BL 149, 151); + Bản tường trình của Lê Thụy Bé Linh ngày 15/5/2015 (BL 150);
+ Biên bản làm việc với Lê Thị Bé Linh ngày 14/5/2015 (BL 152);
+ Đơn tố cáo của Lê Thị Bé Hạnh ngày 17/5/2015 (BL 153);
+ Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Đồn biên phòng Phước Hải, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đã tiến hành xác minh, lấy lời khai các đối tượng, bị hại, người làm chứng để làm rõ nội dung vụ việc (BL 81-96; 110 - 124; 131- 133; 135-142; 154-164)
+ Biên bản hỏi cung các bị can bị can Nguyễn Thị Hiên (BL 97 - 102), Nguyễn Thị Hải (BL 128 129), Võ Thị Hồng Liên (BL 107 108), Vũ Thị Kim Loan (BL 143 -148) thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán người”
+ Vật chứng thu giữ trong vụ án (BL 04, 39, 50, 65)
- Chứng cứ gỡ tội:
Bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Lời khai nhận tội của bị can là phù hợp với các lời khai của bị hai và người làm chứng, nên đủ cơ sở khẳng định việc khởi
tố các bị can về tội “Mua bán người” là đúng người, đúng tội
- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
+ Tình tiết tăng nặng: Không
+ Tình tiết giảm nhẹ:
- Bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS); Tuy nhiên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu chưa làm rõ các tình tiết gia đình các bị can có ai tham gia cách mạng được tặng thưởng huân huy chương, bằng khen, giấy khen hay không để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can