TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG MẠNH HÙNG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC VÀ HÀM LƯỢNG PALMATIN TRONG CÂY HOÀNG ĐẰNG Fibraurea tinctoria SINH TRƯỞNG TẠI VÙNG BẮC TRUNG BỘ LUẬN VĂN TH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MẠNH HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC VÀ HÀM LƯỢNG
PALMATIN TRONG CÂY HOÀNG ĐẰNG (Fibraurea tinctoria)
SINH TRƯỞNG TẠI VÙNG BẮC TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MẠNH HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC VÀ HÀM LƯỢNG
PALMATIN TRONG CÂY HOÀNG ĐẰNG (Fibraurea tinctoria)
SINH TRƯỞNG TẠI VÙNG BẮC TRUNG BỘ
Ngành: Lâm học
Mã số: 8620201
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS NGUYỄN THỊ THU HOÀN
2 TS VŨ VĂN THÔNG
Thái Nguyên - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2020
XÁC NHẬN CỦA GVHD HỌC VIÊN
TS Nguyễn Thị Thu Hoàn Hoàng Mạnh Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo thạc sĩ lâm học tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên Được sự nhất trí của Nhà trường và Khoa lâm nghiệp, tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và hàm lượng hoạt chất palmatin ở cây
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) sinh trưởng tại vùng Bắc Trung Bộ”
Để có được kết quả đó, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đến TS Nguyễn Thị Thu Hoàn và TS Vũ Văn Thông là người đã trực tiếp
hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, cung cấp thông tin bổ ích, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn tới: Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, thư viện trường Đại học Nông lâm, UBND các xã, cán bộ đơn vị Kiểm lâm các huyện, tỉnh Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Quảng Bình cùng bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Mặc
dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng do kiến thức, kinh nghiệm của bản thân và điều kiện về thời gian cũng như tư liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp chỉ bảo của thầy cô giáo
Cuối cùng tôi xin kính chúc toàn thể các thầy cô giáo sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2020
Học viên
Hoàng Mạnh Hùng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
Chương 1.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về dược liệu trên Thế giới 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về dược liệu ở Việt Nam 5
1.2 Tổng quan về cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) 8
1.2.1 Phân loại thực vật 8
1.2.2 Đặc điểm hình thái và phân bố 8
1.2.3 Giá trị sử dụng và hiện trạng gây trồng 10
1.2.4 Giá trị, công dụng và những nghiên cứu về hoạt chất Palmatin trong cây Hoàng đằng 11
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
1.3.1 Tỉnh Hà Tĩnh 13
1.3.2 Tỉnh Quảng Bình 17
Chương 2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
Trang 62.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.2.1 Địa điểm 20
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 20
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đặc điểm sinh thái học của cây Hoàng đằng ở vùng Bắc Trung Bộ 24
3.1.1 Kết quả điều tra tại tỉnh Hà Tĩnh 24
3.1.2 Kết quả điều tra tại tỉnh Quảng Bình 26
3.1.3 Đặc điểm hình thái của thân và rễ cây Hoàng đằng 28
3.1.4 Một số đặc điểm sinh thái của loài Hoàng đằng 32
3.2 Phân tích hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây Hoàng đằng sinh trưởng ở vùng Bắc Trung Bộ 36
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển cây Hoàng đằng 41
3.4.1 Đề xuất biện pháp phát triển loài 41
3.4.2 Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hàm lượng Palmatin 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 7Bảng 3.1 Các thông số về OTC lập tại Hà Tĩnh 24
Bảng 3.2 Các thông số về OTC lập tại Quảng Bình 26
Bảng 3.3: Chỉ tiêu về thân cây Hoàng đằng 28
Bảng 3.4: Số đo trung bình 100 lá trưởng thành 29
Bảng 3.5: Số đo trung bình 100 quả trưởng thành 30
Bảng 3.6: Phân bố cây Hoàng đằng theo độ cao 31
Bảng 3.7: Phân bố cây theo trạng thái rừng 31
Bảng 3.8: Tổng hợp công thức tổ thành tầng cây gỗ 32
Bảng 3.9: Nguồn gốc, mật độ tái sinh của loài Hoàng đằng 33
Bảng 3.10: Kết quả phẫu diện đất nơi có loài Hoàng đằng phân bố 34
Bảng 3.11: Kết quả phân tích mẫu đất ở Hà Tĩnh và Quảng Bình 35
Bảng 3.12 Phân tích hàm lượng hoạt chất Palmatin 37
Bảng 3.13: Hàm lượng Palmatin theo vùng sinh thái 37
Bảng 3.14: Kết quả phân tích hàm lượng hoạt chất Palmatin 38
Bảng 3.15 So sánh hàm lượng Palmatin các vùng khác nhau 39
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Hình ảnh OTC 84 tại huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh 24
Hình 3.2 Hình ảnh mẫu Hoàng đằng tại OTC 78 25
Hình 3.2 Hình ảnh OTC 87 tại huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình 26
Hình 3.3 Hình ảnh mẫu Hoàng đằng tại OTC 87 27
Hình 3.4: Thân và rễ cây Hoàng đằng ( Fibraurea tinctoria Lour) 28
Hình 3.5: Lá trưởng thành và lá non cây Hoàng đẳng (Fibraurea tinctoria Lour) tại khu vực nghiên cứu 29
Hình 3.6: Hoa và Quả non cây Hoàng đẳng (Fibraurea tinctoria Lour) tại khu vực nghiên cứu 30
Hình 3.1 Biểu đồ so sánh lượng Palmatin giữa các khu vực 40
Trang 9C1.3 Chu vi
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Alkaloid là nhóm hợp chất có nguồn gốc tự nhiên quan trọng về nhiều mặt Đặc biệt trong lĩnh vực y học, chúng cung cấp nhiều loại thuốc có giá trị chữa bệnh cao Do vậy, loài người đã biết khai thác và sử dụng chúng, cho đến nay đã phát hiện hơn 6000 hợp chất alkaloid khác nhau
Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) thuộc họ tiết Dê (Menispermaceae) là một trong những loài thực vật có chứa alkaloid được
sử dụng rộng rãi Theo cuốn “Dược liệu” nhà xuất bản Y học - 1983 thì dược phẩm từ cây Hoàng đằng có công dụng chữa đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lỵ và ngộ độc thức ăn
Các nghiên cứu từ trước đến nay trên đối tượng cây Hoàng đằng cho thấy các công dụng mà nó có được là do hợp chất alkaloid palmatin - thành phần hoạt chính trong cây tạo ra Sách đỏ Việt Nam xếp Hoàng đằng ở tình trạng cấp V (sẽ nguy cấp) Khu phân bố bị thu hẹp do nạn phá rừng và khai thác bừa bãi gây nên Mặc dù đặc tính sinh vật học, sinh thái học của cây Hoàng đằng đã được một số đề tài nghiên cứu, tuy nhiên các nghiên cứu này mang tính nhỏ lẻ chỉ ở một địa phương nhất định Mà đặc trưng của sinh vật nói chung là chúng có khả năng biến dị khi sống ở những vùng sinh thái khác nhau
Đã có một số công trình nghiên cứu về cây Hoàng đằng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về loài cây này chủ yếu tập trung vào nghiên cứu theo hướng chuyên ngành như phát hiện loài, mô tả đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, công dụng, thành phần hóa học, cách sử dụng chúng… mà hầu như chưa có những nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng hoạt chất palmatin trong phạm vi toàn quốc
Từ những lí do nêu trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm
sinh thái học và hàm lượng hoạt chất Palmatin ở cây Hoàng đằng
Trang 11(Fibraurea tinctoria) sinh trưởng tại vùng Bắc Trung Bộ” nhằm góp phần
khai thác phát triển nguồn gen tạo nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nhằm cung cấp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn trong khai thác phát triển nguồn gen cây dược liệu, góp phần tạo nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc
Kết quả đề tài là nguồn tư liệu khoa học về đặc điểm sinh học và hàm
lượng hoạt chất Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) sinh
trưởng ở vùng Bắc Trung Bộ, giúp cho các nhà quản lý, nhà khoa học và sinh viên, học viên tham khảo trong lĩnh vực mới về cây dược liệu quý nói chung và cây Hoàng đằng nói riêng
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài là cơ sở thực tiễn để giúp cho các nhà quản lý, các nhà khoa học có cơ sở để định hướng phát triển nguồn nguyên liệu cung cấp cho sản xuất thuốc
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về dược liệu trên Thế giới
Từ ngàn xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức
ăn, con người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh, những cây
cỏ ăn được thì sử dụng làm lương thực, thực phẩm; những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnh thì dần được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời này qua đời khác Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú
Năm 2838 Trước công nguyên, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách
“Thần nông bản thảo” Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách
sử dụng Đây là cuốn sách nền tảng cho sự phát triển của ngành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay
Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây
thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục” Đây
là cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả
1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ
Năm 348 - 322 Trước công nguyên, Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về cây cỏ của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với
tác phẩm “Lịch sử vạn vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công
dụng của chúng Tuy tác phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này
Trang 13Năm 60 - 20 Trước công nguyên, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp đã mô tả 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặt nền móng cho y dược học Hy Lạp
Năm 79 - 24 Trước công nguyên, nhà tự nhiên học Plinus người La
Mã đã soạn thảo bộ sách “Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000
loài thực vật có ích
Petelot, A (1952) đã soạn thảo cuốn sách “Les plantes de médicinales du Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã giới
thiệu về các loại cây thuốc và sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (2003), trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau Trong đó, Ấn
Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc
Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants) Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới
Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ,
Trang 1413% từ các loài vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/ năm
Ở Trung Quốc, có 940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với 6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt 600 triệu USD
Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về dược liệu ở Việt Nam
Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Từ xa xưa, ông cha
ta đã biết sử dụng các loài cây thuốc sẵn có trong tự nhiên với các phương pháp bào chế khác nhau để sử dụng chữa bệnh cho mọi người Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thế hệ trước truyền cho thế hệ sau đã đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý luận về các phương pháp phòng và chữa bệnh
Từ thời Hồng Bàng và các Vua Hùng (2879-257 Trước công nguyên), người dân đã có tục ăn trầu và nhuộm răng đen với mục đích bảo vệ răng, làm chắc răng Việc sử dụng gừng, tỏi, ớt, sả làm gia vị trong các bữa ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt, phòng trừ các bệnh đường ruột
Cuối thế kỷ III Trước công nguyên, ở Nam Việt giao chỉ đã phát hiện và sử dụng các loại cây thuốc để chữa bệnh như sắn dây, gừng, riềng, đậu khấu, ích trí, lá lốt, sả, quế, vông nem
Dưới các thời phong kiến, các ty Thái y, viện Thái y đã hình thành
để chữa bệnh cho vua, quan và nhân dân Dưới triều Trần, danh y Tuệ
Trang 15Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh) đã nói “Nam dược trị Nam nhân”, ông cũng đề
xuất việc trồng cây thuốc và chữa bệnh trong nhân dân Ông đã biên
soạn cuốn sách “Nam dược thần hiệu”, mô tả 499 vị thuốc và các phương thuốc để chữa 184 bệnh Năm 1717, “Nam dược thần hiệu” đổi tên thành “Hồng nghĩa giác lĩnh tư y thư” gồm 590 vị thuốc
Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật trong nền y học nước nhà là danh y Hải Thượng lãn ông - Lê Hữu Trác Ông đã để lại nhiều kinh nghiệm
quý báu trong sử dụng các loại dược liệu chữa bệnh trong bộ sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển
Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây cỏ để làm thuốc
Theo Viện Dược liệu (2010), số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc 307 họ thực vật
Trương Thị Tố Uyên (2010), khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 56 họ, 107 chi, 135 loài và phân loại được 13 nhóm cây thuốc Trong đó có 28 cây thuốc thông tiểu, thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22 cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21 cây thuốc chữa ho hen; 16 cây thuốc có tác dụng cầm máu; 17 cây thuốc có tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt; 14 cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa;
9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 cây thuốc trị giun sán; 3 cây thuốc giúp
hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh về mắt và 2 cây thuốc có tác dụng chữa ung thư
Trang 16Báo cáo khoa học “Tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn La” (1993) đã công bố 500 loài cây thuốc ở Tây Bắc Riêng
Sơn La có 70 họ, 109 chi và 249 loài cây thuốc Trong đó: Nhóm cây 2 lá mầm gồm 54 họ, 159 chi và 203 loài; nhóm cây 1 lá mầm gồm 10 họ,
27 chi và 31 loài nhóm cây hạt trần gồm 2 họ, 2 chi và 2 loài; nhóm thông đất gồm 1 họ, 1 chi và 1 loài; nhóm dương xỉ gồm 3 họ, 9 chi và
12 loài
Năm 2005, Bộ y tế, Vụ y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Cây hoa cây thuốc”, hướng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác dụng
chữa bệnh thông thường Cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán
bộ và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng
Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các loại cây thuốc trong tự nhiên Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên đang bị cạn kiệt dần Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc, trong đó có các nghiên cứu như:
Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Văn Thuần (2005) trong cuốn “Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc” Cuốn sách đã trình bày chi tiết kỹ
thuật trồng trọt, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản đối với 38 cây thuốc thông dụng; đồng thời cũng mô tả đặc điểm, cách sử dụng 124 vị thuốc chữa bệnh phụ khoa, 10 loại rau, 21 loại quả và một số loại hạt có tác dụng chữa bệnh
Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Văn Thuần (2005) đã hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt sử dụng và chế biến 30 cây thuốc có nhu cầu lớn làm nguyên liệu cho sản xuất thuốc phòng, chữa bệnh xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đại
Trang 17trà trên diện tích lớn, xây dựng vùng dược liệu theo hướng an toàn theo tiêu
chuẩn GAP (Good agricultural pratice) Cuốn sách còn cung cấp một số thông
tin cơ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng bá, xây dựng thương hiệu sản
phẩm Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương pháp chế
biến theo y học cổ truyền, giúp cho cơ sở trồng trọt đầu tư làm tăng chất
lượng của sản phẩm và dễ bảo quản hơn
1.2 Tổng quan về cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria)
1.2.1 Phân loại thực vật
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê
(Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales)
Theo hệ thống phân loại thực vật APG II (Angiosperm Phylogeny
Group II) năm 2003, Họ Tiết dê (Menispermaceae) có 75 chi, 450 loài Trong đó có chi Hoàng đằng (Fibraurea) là chi gồm 5 loài dây leo, chủ
yếu phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á Loài Fibraurea elliptica phân bố
tại bán đảo Luzon Phillipines, loài Fibraurea laxa phân bố tại Indonesia,
loài Fibraurea recisa phân bố tại các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam, loài
Fibraurea trotteri phân bố tại Ấn Độ, loài Fibraurea tinctoria Lour phân
bố tại Việt Nam, Lào, Campuchia
1.2.2 Đặc điểm hình thái và phân bố
Trang 18Theo Joannis
de Loureiro (1790)
mô tả cây Hoàng đằng trong tập Quần thể thực vật Đàng
6 nhị, chỉ nhị dài hơn bao phấn, hoa cái nhị lép hoặc không rõ, bầu hình trứng Quả hạch hình xoan hay trứng thuôn, khi chín màu vàng, mùi hơi khó chịu Hạt hình thuôn hơi dẹt Hoàng đằng ra hoa vào tháng 4 - 5, quả chín vào tháng 11 - 12 Cây có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi sau khi khai thác
Hoàng Đằng còn có tên gọi khác như Hoàng liên đằng, Dây vàng giang, Nam Hoàng liên Trên thế giới phân bố từ Ấn Độ, Malaysia, Lào, Campuchia, Philippines, Indonesia Ở nước ta thường gặp tại các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế (Hốt Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu), Quảng Nam (Đại Lộc, Trà My), Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum
Hình 01: Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria)
Trang 19(Đăk Gle, Sa Thầy), Lâm Đồng (Đan Kia, Bảo Lộc) Cây sống dưới tán rừng thứ sinh ở độ cao 10 - 200 m, mọc trên đất hoặc trên đất lẫn đá, cây
ưa ẩm Cây mọc hoang ở ven rừng nơi ẩm mát, ở thung lũng, bờ suối ven nương rẫy
1.2.3 Giá trị sử dụng và hiện trạng gây trồng
Sách đỏ Việt Nam xếp Hoàng đằng ở tình trạng cấp V (sẽ nguy cấp) Khu phân bố bị thu hẹp do nạn phá rừng và khai thác bừa bãi gây nên Danh mục đỏ Việt Nam phân hạng Hoàng đằng ở hạng VU a1, b, c,
d Cơ sở phân hạng: loài tuy có phân bố không hẹp nhưng khu phân bố tại nhiều điểm rừng bị chặt phá nghiêm trọng Cây cũng bị khai thác lấy nguyên liệu làm thuốc
Đề nghị biện pháp bảo vệ: cấm phá rừng tại khu vực này và có kế hoạch luân chuyển để cây kịp tái sinh Trong số các tỉnh miền Trung, Quảng Bình là địa phương có rừng che phủ thuộc loại cao Song kể từ khi cơn sốt Hoàng đằng lan đến Quảng Bình, thì những khoảnh rừng cấm bắt đầu bị hạ sát để tìm Hoàng Đằng Hầu hết người dân đi tìm Hoàng đằng đều không biết Hoàng đằng dùng làm gì, nhưng thấy bán được với giá cao nên đổ xô đi tìm Tất cả thân cây, rễ, lá Hoàng Đằng đều được các tiểu thương mua với giá cao; sau đó, Hoàng đằng được bán sang Trung Quốc để làm thuốc bắc Theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS Đỗ Tất Lợi: Hoàng đằng dùng để thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu tiện, chữa đinh nhọt, nóng tím, viêm ruột cấp tính, đau họng, viêm kết mạc, đau mắt và bệnh Hoàng đảm, chữa lị, thân và lá sắc uống chữa đau lưng Hoàng đằng còn làm nguồn nguyên liệu chiết xuất palmatin Trong Hoàng đằng, rễ cây của nó được mua với giá cao nhất; chính vì vậy, người ta tìm mọi cách để lấy rễ, để lấy được rễ Hoàng đằng, người ta phải triệt hạ các loài cây rừng khác rộng hàng chục mét
Trang 20vuông Sau khi khai thác được Hoàng đằng người dân bán cho thương lái ngay tại cửa rừng với giá khoảng 5.000 - 10.000 đồng/1kg, sau đó được
đi tiêu thụ với giá khoảng 17.000 - 18.000 đồng /1kg Trước nạn khai thác bừa bãi Hoàng đằng, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình, năm 2009 đã bắt giữ 60.458kg Hoàng đằng
1.2.4 Giá trị, công dụng và những nghiên cứu về hoạt chất Palmatin trong cây Hoàng đằng
Dược liệu: Những đoạn thân và rễ hình trụ thẳng hoặc hơi cong, dài 10 - 30 cm, đường kính 1 - 3 cm, có khi tới 10 cm Mặt ngoài màu nâu có nhiều vân dọc và sẹo của cuống lá (đoạn thân) hay sẹo của rễ con (đoạn rễ) Mặt cắt ngang có màu vàng gồm 3 phần rõ rệt: phần vỏ hẹp, phần gỗ có những tia ruột xếp thành hình nan hoa bánh xe, phần ruột ở giữa tròn và hẹp; thể chất cứng, khó bẻ gãy, vị đắng
Bộ phận dùng: Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea recisa Pierre hay F tinctoria Lour.)
Thu hái: rễ và thân cây vào tháng 8 - 9, cạo sạch lớp bần bên ngoài, chặt từng đoạn, phơi khô hay sấy khô Thành phần hoá học: Alkaloid (3%), chủ yếu là palmatin 1- 3,5% ngoài ra còn có jatrorrhizin, columbamin và berberin
Các nhà khoa học đã tiến hành chiết xuất Palmatin từ cây Hoàng đằng Qua thử dược lý sử dụng thành phần hóa học chiết xuất từ cây Hoàng đằng để sản xuất thuốc chữa bệnh về đường ruột cho thấy loại thuốc trên không độc, không gây ra các tác dụng phụ, được Bộ Y tế cho phép sử dụng ngay loại thuốc này ở Hà Sơn Bình (cũ), Hải Phòng, Hải Hưng (cũ), Hà Nam Ninh (cũ), Thái Nguyên… Cố Giáo sư Tôn Thất Tùng đã trực tiếp sử dụng codanxit và palmatin cho chính mình và cho các bệnh nhân ở bệnh viện Việt Đức, đã xác định thuốc có hiệu quả tốt
Trang 21Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, bác sỹ Nguyễn Văn Hưởng cũng đã sử dụng Codanxit và xác định thuốc có hiệu lực trị lỵ Nhờ có hai loại thuốc này, dịch lỵ nguy hiểm và phức tạp ở miền Bắc trong những năm trước đây đã được dập tắt
Việc nghiên cứu sản xuất thành công ở quy mô lớn các chất codanxit, palmatin của trường Đại học Dược phối hợp với xí nghiệp dược phẩm Trung ương 2 Hà Nội và tiếp đó là quy mô sản xuất đại trà palmatin từ cây Hoàng đằng của nhiều xí nghiệp dược phẩm đã cung cấp thuốc phòng chống dịch lỵ dùng trong nước và xuất khẩu Các sản phẩm này có hiệu lực tốt, dùng an toàn, giá thành rẻ Codanxit và palmatin còn có tác dụng tốt chữa bệnh tiêu chảy và điều trị viêm đại tràng, nhất là phòng tiêu chảy khi ăn hải sản
Trước đây, người ta chỉ biết đến Hoàng đằng và palmatin được dùng chủ yếu để trị những bệnh tiêu hóa như kiết lỵ, tiêu chảy , nhưng giờ đây người ta lại biết đến palmatin - thành phần chính của cây Hoàng đằng có khả năng ức chế sự di căn ung thư của tế bào mang tên LLC Kết quả này đã đặt nền móng và đem đến những hy vọng mới cho những người mắc phải căn bệnh nan y này Đây cũng là cơ sở để phát triển gây trồng cây Hoàng đằng quy mô lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Dược
Trần Đức Lương (2009), khi nghiên cứu mẫu thu thập từ một số vùng cây Hoàng Đằng mọc hoang dã của Nghệ An đã mô tả: Cả 3 mẫu cây Hoàng đằng thu được tại 3 huyện Con Cuông, Anh Sơn, Yên Thành
ở Nghệ An đều thuộc loài Fibraurea tinctoria Lour Về cấu tạo giải phẫu
rễ, thân, lá của loài F tinctoria.L tại một số vùng của Nghệ An nói chung cũng tuân theo thể thức cấu tạo của cây 2 lá mầm thân gỗ leo cuốn Ngoài ra có một số sai khác chi tiết đặc biệt là vòng mô cứng phát
Trang 22triển mạnh Hàm lượng alkaloid toàn phần tính theo palmatin của các cây Hoàng đằng tại Nghệ An là khá cao Theo quy định của dược điển
Việt Nam nguyên liệu này đủ tiêu chuẩn để làm thuốc
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 1.3.1 Tỉnh Hà Tĩnh
* Vị trí địa lý
Tĩnh Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung bộ (vùng duyên hải Miền Trung), có toạ độ địa lý từ 17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và
105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An;
- Phía Nam giáp Quảng Bình;
- Phía Đông giáp biển Đông với 137 km bờ biển;
- Phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với 145
km đường biên giới
Diện tích đất tự nhiên 6.025,6 km2
* Đặc điểm địa hình
Hà Tĩnh nằm phía Đông dãy Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc nghiêng dần từ Tây sang Đông Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên, đồng bằng có diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối, có 4 dạng địa hình sau:
1) Núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh: Kiểu địa hình này tạo thành một dãy hẹp nằm dọc theo biên giới Việt Lào, bao gồm các núi cao từ 1000 m trở lên, trong đó có một vài đỉnh cao trên 2000 m như Pulaleng (2711 m), Rào cỏ (2.335 m)
2) Núi thấp uốn nếp nâng lên yếu: Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của tỉnh có độ cao dưới 1000 m, cấu trúc địa chất tương đối phức tạp
Trang 233) Thung lũng kiến tạo - xâm thực: Kiểu địa hình này chiếm một phần diện tích nhỏ nhưng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Độ cao chủ yếu dưới 300 m, bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướng song song với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực
4) Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển với có địa hình trung bình trên dưới 3m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất là vùng hình thành bởi phù sa các sông suối lớn trong tỉnh, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nhẹ
* Đặc điểm khí hậu
Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và mùa nóng Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè
Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18-22oC, ở mùa hè bình quân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33oC Tuy nhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất, màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất
Hà Tĩnh có lượng mưa nhiều, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên 3000 mm
Thống kê một số chỉ tiêu trong 5 năm:
Trang 24(Theo Niên giám thống kê 2009)
* Sông, hồ và biển
1) Sông, hồ:
Sông ngòi nhiều nhưng ngắn Dài nhất là sông Ngàn Sâu 131 km, ngắn nhất là sông Cày 9 km; sông Cả đoạn qua Hà Tĩnh giáp Nghệ An cũng chỉ có 37 km Sông ngòi nơi đây có thể chia làm 3 hệ thống:
- Hệ thống sông Ngàn Sâu: Có lưu vực rộng 2.061 km2; có nhiều nhánh sông bé như sông Tiêm, Rào Trổ, Ngàn Trươi
- Hệ thống sông Ngàn Phố: Dài 86 km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước từ Hương Sơn cùng với Ngàn Sâu đổ ra sông La dài 21 km, sau đó hợp với sông Lam chảy ra Cửa Hội
- Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển có: Nhóm Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu
2) Biển:
Hà Tĩnh có 137 km bờ biển Do chế độ thuỷ triều, độ sâu, địa mạo, địa hình, đường đẳng sâu đáy biển, gió mùa Đông Bắc nên vùng biển này có đầy đủ thực vật phù du của Vịnh Bắc Bộ (có 193 loài tảo) và lượng phù sa của vùng sông Hồng, sông Cả, sông Lam
Biển Hà Tĩnh có 267 loài cá thuộc 97 họ trong đó 60 loài có giá trị kinh tế cao, có 27 loài tôm; vùng ven biển rất thuận lợi cho việc sản xuất muối và nuôi tôm, cua, ốc, nghêu, hàu
Trang 25- Hải đảo: Cách bờ biển Nghi Xuân 4km có hòn Nồm, hòn Lạp; ngoài khơi Cửa Nhượng có hòn Én (cách bờ 5km), hòn Bơớc (cách bờ 2km); ở nam Kỳ Anh cách bờ biển 4km có hòn Sơn Dương độ cao 123m,
xa hơn phía Đông có hòn Chim nhấp nhô trên mặt nước
* Rừng và động, thực vật
Hà Tĩnh hiện có 276.003 ha rừng Trong đó rừng tự nhiên 199.847
ha, trữ lượng 21,13 triệu m3, rừng trồng 76.156 ha, trữ lượng 2,01 triệu m3, độ che phủ của rừng đạt 45 %
Rừng tự nhiên thường gặp là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới Rừng trồng phần lớn là thông nhựa, hiện có trên 18.000 ha trong đó có trên 7.000 ha có khả năng khai thác, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có trữ lượng rừng giàu của cả nước (trữ lượng rừng trồng đạt 1.469.863 m3, trữ lượng rừng tự nhiên đạt 21.115.828 m3)
Thảm thực vật rừng Hà Tĩnh rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây gỗ Trong đó có nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác
Đặc biệt có Vườn Quốc gia Vũ Quang (thuộc huyện Vũ Quang và Hương Khê) có khoảng 300 loại thực vật và nhiều loại động vật quý hiếm Đã phát hiện được 2 loại thú quý hiếm là Sao La và Mang Lớn Rừng Vũ Quang có địa hình núi cao hiểm trở, tách biệt với xung quanh, khí hậu nhiệt đới ẩm rất thuận lợi cho các loại động, thực vật phát triển Đây là khu rừng nguyên sinh quý hiếm còn có ở Việt Nam là một trong những hệ sinh thái có giá trị kinh tế, khoa học và cảnh quan
Trang 26Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cũng là một địa điểm có giá trị cao, theo số liệu điều tra, tại đây có hơn 414 loài thực vật, 170 loài thú,
280 loài chim, trong đó có 19 loài chim được ghi vào sách đỏ Việt Nam
Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú, có nhiều loại thực động vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao Tập trung phần lớn ở khu vực các cửa sông lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu
(Theo số liệu Niên giám thống kê 2009)
Tình hình sử dụng đất năm 2008 như sau (602.560 ha):
- Đất nông nghiệp: 461.833 ha chiếm 76,65%
- Đất phi nông nghiệp: 77.063 ha chiếm 12,79%
Trang 27- Điểm cực Bắc: 18005’ 12" vĩ độ Bắc
- Điểm cực Nam: 17005’ 02" vĩ độ Bắc
- Điểm cực Đông: 106059’ 37" kinh độ Đông
- Điểm cực Tây: 105036’ 55" kinh độ Đông
Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông và có chung biên giới với Lào 201,87 km ở phía Tây, có cảng Hòn La, cảng Hàng không Đồng Hơi, Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 12 và tỉnh lộ 20, 16 chạy từ Đông sang Tây qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nước CHDCND Lào
* Địa hình
Địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông 85% Tổng diện tích tự nhiên là đồi núi Toàn bộ diện tích được chia thành vùng sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng
đồng bằng, vùng cát ven biển
+ Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24oC -
25oC Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8
* Tài nguyên đất
Tài nguyên đất được chia thành hai hệ chính: Đất phù sa ở vùng đồng bằng và hệ pheralit ở vùng đồi và núi với 15 loại và các nhóm chính như sau: nhóm đất cát, đất phù sa và nhóm đất đỏ vàng Trong đó
Trang 28nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, chủ yếu ở địa hình đồi núi phía Tây, đất cát chiếm 5,9% và đất phù sa chiếm 2,8% diện tích
* Tài nguyên động, thực vật
Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn
- nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng
138 họ, 401 chi, 640 loài khác nhau Rừng Quảng Bình có nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, mun, huỵnh, thông và nhiều loại mây tre, lâm sản quý khác Quảng Bình là một trong những tỉnh có trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc Hiện nay trữ lượng gỗ là 31triệu m3
* Tài nguyên nước
Quảng Bình có hệ thống sông suối khá lớn với mật độ 0,8 - 1,1 km/km2 Có năm sông chính là sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ Có khoảng 160 hồ tự nhiên và nhân tạo với dung tích ước tính 243,3 triệu m3
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales)
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Vùng Bắc Trung Bộ, Việt Nam
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm
Tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 7 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học (hình thái và sinh thái) của cây Hoàng đằng sinh trưởng ở vùng Bắc Trung Bộ
- Phân tích hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây Hoàng đằng sinh trưởng ở vùng Bắc Trung Bộ
- Đánh giá hàm lượng hoạt chất (palmatin) trong cây Hoàng đằng sinh trưởng ở vùng Bắc Trung Bộ
- So sánh kết quả nghiên cứu với các vùng sinh thái khác, từ đó đề xuất xây dựng mô hình trồng cây Hoàng đằng thích hợp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Nội dung 1 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của cây Hoàng đằng ở vùng Bắc Trung Bộ
- Thu thập, tổng hợp các thông tin từ các tài liệu đã công bố, dữ liệu tiêu bản, mẫu vật của nguồn gen Hoàng đằng
Trang 30- Tổng hợp kinh nghiệm của các nhà khoa học, người dân địa phương về đặc điểm sinh học (tên khoa học, đặc điểm hình thái của thân, rễ, lá, hoa, quả
và hạt, ), phân bố, sinh thái và giá trị sử dụng của nguồn gen Hoàng đằng
(thông qua bộ câu hỏi có các tiêu chí thiết kế sẵn), cụ thể: Điều tra, phỏng vấn
và thu thập thông tin ở vùng sinh thái lâm nghiệp Bắc Trung bộ Số phiếu phỏng vấn 30 phiếu
- Thiết kế các thí nghiệm bổ sung để xác định các đặc điểm sinh thái học:
+ Lập ÔTC (vị trí ô được xác định bằng GPS và thể hiện trên bản đồ), diện tích 2.000m2/ô, thu thập các số liệu về tầng cây cao: Loài cây, D1.3, Hvn, độ tàn che; Tầng cây tái sinh: Loài cây, Hvn, mật độ tái sinh Với loài cây Hoàng đằng thống kê tất cả các cây bắt gặp trong ô, đo đếm các chỉ tiêu: Chiều dài (chiều cao), đường kính gốc, số nhánh trong một gốc, giai đoạn tuổi, mô tả hình thái, tọa độ, chụp ảnh, mỗi ÔTC chặt ngả một cây để cân khối lượng, đào rễ cân khối lượng rễ; lấy mẫu rễ (0,1kg/cây), thân (0,1kg/cây) để sấy khô Các số liệu thu thập được ghi vào biểu mẫu quy định trong điều tra tài nguyên rừng
+ Số lượng ÔTC cần lập: 07 ÔTC/vùng nghiên cứu (gồm 02 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình)
- Từ số liệu điều tra ÔTC tiến hành xử lý, xây dựng công thức tổ thành tầng cây cao, cây tái sinh để xác định mối quan hệ giữa loài Hoàng đằng với các loài cây gỗ, thông qua độ tàn che xác định được đặc tính sinh thái học của loài cây Hoàng đằng Với số liệu về đường kính gốc, chiều dài (chiều cao) và khối lượng thân, rễ cây Hoàng đằng tiến hành xác định phương trình tương quan giữa khối lượng thân, rễ cây với đường kính, chiều dài; xác định quan hệ giữa sinh khối khô với sinh khối tươi của rễ, thân cây Hoàng đằng để làm cơ sở xác định sản lượng cây Hoàng đằng trong ÔTC
- Dựa vào các kết quả thu thập được và các kết quả nghiên cứu bổ