1. Trang chủ
  2. » Tất cả

đề cương tóm tắt KHKT Fakenews

16 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 325,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

là thành phần trẻ, nhiệt huyết nhưng dễ bị kích động do chưa có nhiều kinh nghiệm sống vì vậy học sinh lứa tuổi THPT với mục đích đăng tải thông tin giả trên mạng xã hội để thể hiện bản

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

“Nâng cao hiểu biết pháp luật và hình thành kĩ năng sống cho học sinh THPT với

vấn đề Fake news trên trang mạng Facebook”

-A Lí do chọn đề tài

Xã hội càng phát triển, nhu cầu của công chúng ngày càng tăng, nổi bật là nhu cầu mong muốn được cung cấp thông tin về mọi mặt đời sống một cách khách quan, chân thực và hấp dẫn Cách đây 15 năm, mạng xã hội mà khởi sự là mạng xã hội Facebook ra đời đã tạo nên một cuộc cách mạng về công nghệ giúp việc kết nối, trao đổi thông tin trở nên dễ dàng hơn Nhưng nếu như những năm đầu xuất hiện, Facebook là môi trường kết nối, trao đổi thông tin lành mạnh của cộng đồng thì 3 đến 4 năm gần đây, mạng xã hội vô hình chung trở thành nguồn cung cấp thông tin không chính thống Những ưu điểm của mạng xã hội bị đối tượng xấu lợi dụng trở thành công cụ để chúng lan truyền tin bịa đặt, tin giả Hiện nay, mạng xã hội dần chiếm ưu thế, thậm chí lấn át truyền thông đại chúng Công chúng truy cập, kết nối, tiếp cận thông tin qua đường link được chia sẻ trên mạng xã hội với tỷ lệ lớn hơn rất nhiều so với việc tự tìm vào trang báo điện tử hay trang thông tin điện tử để tìm kiếm nội dung Bên cạnh đó, mạng xã hội giúp mọi người có thể đăng tải, chia sẻ, bình luận thông tin quá dễ dàng đây chính là “khe hở” tạo thành cơ hội để lan truyền tin giả đến cộng đồng

Tin tức giả nhưng hệ lụy là thật Tính đến ngày 15/3/2020, công an các đơn vị, địa phương trong cả nước đến nay đã xác minh, làm việc với 654 trường hợp đưa tin sai sự thật; xử phạt vi phạm hành chính hơn 146 người [11] Ngày 28/10, công an tỉnh Quảng Bình cho biết đã ra quyết định xử phạt hành chính các trường hợp đăng tải thông tin sai sự thật về tình hình lũ lụt xảy ra tại địa bàn tỉnh trên mạng xã hội Facebook [12]

Theo số lượng thống kê mới đây nhất của Facebook thì Việt Nam có khoảng 30 triệu người dùng thường xuyên trên Facebook, và con số này còn tăng trưởng mỗi ngày Facebook ước tính 36% trên tổng dân số Việt Nam đang lướt Facebook trên điện thoại Facebook thống kê người việt dành mỗi ngày ít nhất 2,5 tiếng để truy cập mạng xã hội này cao hơn nhiều so với thời gian dành cho truyền hình Độ tuổi trung bình của người dùng vào khoảng 15 - 34 tuổi [3]

Thuộc nhóm tỉ lệ người sử dụng Facebook cao nhất và cùng với những đặc điểm tâm sinh lý đang phát triển chưa ổn định, ưa khám phá, tiếp thu cái mới nhanh và nhu cầu chia sẻ tình cảm cao, muốn khẳng định mình là thành phần trẻ, nhiệt huyết nhưng dễ bị kích động do chưa có nhiều kinh nghiệm sống vì vậy học sinh lứa tuổi THPT với mục đích đăng tải thông tin giả trên mạng xã hội để thể hiện bản thân một cách lệch lạc, thu hút sự chú ý của dư luận để “kiếm” nhiều lượt thích (like), chia sẻ (share), bình luận (comment) mà không nhận thức được những tác hại nghiêm trọng của những tin giả (Fake news) đối với cộng đồng, xã hội, khiến cho mức độ sống ảo của giới trẻ tăng Đáng nói chính là có những không ít trường hợp bị xử phạt, vi phạm pháp luật như trường hợp

V.V.T (sinh năm 1991, trú tại xã Cắm Muộn) để xử lý về hành vi đăng tải thông tin bịa đặt trên facebook khi tự nhận mình bị nhiễm Covid-19 hay những trường hợp tuổi đời

Trang 2

chưa đủ 18 nhưng đã lập ra nhiều trang fanpage, nhóm chuyên đăng tải những tin, ảnh nóng nhưng lại thiếu kiểm chứng độ chính xác của thông tin và đã bị các cơ quan chức năng xử phạt nghiêm khắc [10]

Điều này cho thấy, thanh thiếu niên với sự thiếu hiểu biết, không có kĩ năng kiểm chứng thông tin chính thống cùng tâm lý a dua, thích chú ý đang vô tình làm cho thực trạng thông tin giả (Fake news) trở nên phức tạp hơn và bản thân vướng vào pháp luật mà không hay Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy cần phải nâng cao hiểu biết pháp luật về vấn đề tin giả cho học sinh THPT và hình thành cho học sinh THPT kĩ năng xử lý

tin giả (Fake news) vì thế nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Nâng cao hiểu biết pháp luật và hình thành kĩ năng sống cho học sinh THPT với vấn đề Fake news trên mạng xã hội Fakebook”

1 Câu hỏi nghiên cứu

- Sự hiểu biết pháp luật về vấn đề tin giả của học sinh THPT như thế nào? Học sinh THPT có kĩ năng xử lý đối với tin giả (Fake news) hay không?

- Bằng cách nào để nâng cao hiểu biết pháp luật về tin giả và hình thành kĩ năng

xử lý với tin giả (Fake news) cho học sinh THPT?

2 Giả thuyết khoa học

- Học sinh THPT chưa có hiểu biết pháp luật về tin giả?

- Đa số học sinh THPT không có kĩ năng xử lý với tin giả (Fake news)?

- Đề xuất được một số biện pháp tác động nâng cao hiểu biết pháp luật về tin giả

và hình thành kĩ năng xử lý với tin giả (Fake news) cho học sinh THPT

C Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

1 Quy trình nghiên cứu

- Bước 1: Nghiên cứu cơ sở khoa học về tin giả (Fake news), pháp luật liên quan đến tin giả

- Bước 2: Xây dựng phiếu hỏi nhận thức về tin giả (Fake news), sự hiểu biết pháp luật về tin giả của học sinh THPT

- Bước 3: Khảo sát và đánh giá thực trạng mức độ nhận thức, kĩ năng xử lý với tin giả (Fake news) và hiểu biết pháp luật về tin giả của học sinh tại các trường THPT

- Bước 4: Đề xuất một số biện pháp tác động nâng cao hiểu biết pháp luật về tin giả và hình thành kĩ năng xử lý với tin giả (Fake news) cho học sinh THPT

- Bước 5: Thực nghiệm kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Chúng em tiến hành thu thập, phân tích, tổng hợp hệ thống hóa và khái quát hóa các tài liệu có liên quan đến tin giả (Fake news) và các quy định pháp luật về tin giả (Fake news) để nghiên cứu, xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài

2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.2.1 Phương pháp điều tra bằng Anket

Chúng em xây dựng hệ thống câu hỏi đóng và mở để khảo sát mức độ hiểu biết về pháp luật và cách nhìn nhận, kĩ năng xử lý với tin giả (Fake news) của học sinh THPT

Trang 3

2.2.2 Phương pháp quan sát

Chúng em quan sát học sinh trong quá trình tiếp xúc với mạng xã hội facebook, cách thức xử lý thông tin của các bạn học sinh THPT

2.2.3 Phương pháp trò chuyện

Chúng em tiến hành trò chuyện với một số học sinh nhằm thu thập thêm thông tin thực tiễn cho đề tài nghiên cứu

2.2.4 Phương pháp phân tích trường hợp điển hình

Chúng em lựa chọn một số học sinh sử dụng mạng xã hội nhiều; phân tích sâu những phương pháp tâm lý học sinh khi xử lý tin giả (Fake news), tạo căn cứ thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp tác động nâng cao hiểu biết về luật an ninh mạng và hình thành kĩ năng xử lý với tin giả (Fake news) cho học sinh THPT

2.2.5 Phương pháp chuyên gia

Chúng em có tham khảo ý kiến của Tiến sĩ tâm lý học Trần Văn Tính - giảng viên tâm lý học của Trường đại học Giáo dục - ĐHQGHN

Chúng em có tham khảo ý kiến của bà Hoàng Thị Giang Thanh -Thẩm phán TAND huyện Bảo Yên

2.2.6 Nhóm phương pháp thống kê toán học

- Phần mềm Excel để xử lý kết quả khảo sát

- Phần mềm thống kê giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn

D Tiến hành nghiên cứu

I Cơ sở lí luận về vấn đề tin giả (Fake news), những quy định pháp luật về tin giả.

1.1 Khái niệm về tin giả (Fake news)

1.1.1 Định nghĩa về tin giả (Fake news)

Fake news là một thuật ngữ Tiếng Anh, được dùng phổ biến tại Việt Nam với nghĩa là “tin giả mạo”, “tin tức giả” Tin giả (Fake news) được hiểu một cách đơn giản nhất là tin tức hay những câu chuyện không đúng sự thật

Có rất nhiều định nghĩa về tin giả, theo các tác giả Allcott, Hunt, Gentzknơ, Matthew (Đại học Stanford, Đại học New York, Cục Ngiên cứu kinh tế quốc gia, Hoa Kỳ) thì tin giả là một thuật ngữ được sử dụng để đề cập các câu chuyện tin tức không mang tính trào phúng, không có thật trong thực tế nhưng lại được tin là đúng, có nguồn gốc trực tuyến (trên phương tiện truyền thông xã hội, trang wed tin giả) hoặc trên các phương tiện thông tin truyền thông [1]

Trong chương trình 60 Minutes Overtime của Đài CBS News, các nhà sản xuất cũng đưa ra định nghĩa về tin giả Nhà sản xuất Michael Radutzky định nghĩa về thuật ngữ tin giả (Fake news) là dùng để mô tả những chuyện sai lệch với sự thật nhưng lại cuốn hút và được hàng triệu người tiếp nhận [1]

Từ những định nghĩa về tin giả (Fake news) của các nhà nghiên cứu, có thể tóm

gọn lại: Tin giả là thuật ngữ dùng để chỉ những thông tin bịa đặt, không có thật, cố tình đăng tải trên các phương tiện truyền thông vì mục đích kinh tế, chính trị và có tác động, ảnh hưởng tiêu cực lên nhiều mặt đời sống, xã hội Tin giả là những thông tin được tạo

Trang 4

ra giống tin thật, có chứng cứ bằng hình ảnh, thậm chí là video để tạo niềm tin tuyệt đối cho công chúng.

1.1.2 Lịch sử hình thành của tin giả (Fake news)

Tin giả không phải là vấn đề mới phát sinh mà nó đã có lịch sử từ lâu đời và gây ra nhiều tác động tiêu cực nhưng chỉ đến khi sự tự do ngôn luận được khoa học công nghệ

hỗ trợ thì tin giả trở thành virus lan truyền đến cộng đồng nhanh chóng và khó kiểm soát như mấy năm gần đây Trong một bài viết trên trang politico.com của tác giả Jaccob Soll, ông đã khái quát lịch sử ra đời và phát triển của tin giả (Fake News) [1]

Tin giả xuất hiện đầu tiên ở thế kỷ thứ XV tại sự kiện Lễ Phục sinh năm 1975 ở Trent (Ytaly) Đến thế kỷ XVII, tin giả đã xuất hiện trên mặt báo, trong đó có những câu chuyện tưởng như vô lý, phi thực tế vẫn lan truyền với tốc độ nhanh chóng Đến đầu thế

kỷ XIX, báo chí hiện đại xuất hiện đã làm tăng sức lan tỏa của tin giả

Có thể nói, tin giả đã manh nha từ rất lâu và bùng nổ vào thời đại công nghệ số, nhanh chóng lan truyền như virus khi xuất hiện mạng xã hội Các kênh truyền thông chính là “con đường rộng” đưa tin giả đến với công chúng Nội dung tin giả thường đề cập đến vấn đề chính trị, tin tức giật gân, những chuyện lạ, câu chuyện về người nổi tiếng Bởi thường đề cập đến những vấn đề “nóng” trong xã hội nên tin giả rất dễ lan truyền và có ảnh hưởng lớn, nó càng trở nên nghiêm trọng hơn khi nhiều người tin rằng tin giả là tin thật

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành tin giả (Fake news)

Tin giả thường mang nội dung gây sốc, đánh vào tâm lý tò mò của công chúng Trong khi đó tỷ lệ công chúng “thông hiểu truyền thông” [4] còn thấp (“Thông hiểu truyền thông” là thuật ngữ chỉ kỹ năng tiếp cận, đánh giá, phân tích để hiểu rõ thông tin từ báo đài và mạng xã hội) Đa phần công chúng tiếp nhận tin tức do thị hiếu nhu cầu, mang tâm lý cả tin nên thường tin vào những thông tin mà mình đọc được Đây cũng là một trong những nguyên do khiến tin giả dễ lan truyền, được một bộ phận công chúng đón nhận và tán phát [1]

Sự dễ dãi trong việc kiểm chứng thông tin của nhà báo và cơ quan báo chí; sự hiếu

kỳ ngây thơ của một bộ phận công chúng khi tiếp nhận thông tin; sự hỗn loạn của các trang wed đăng tin giả câu view; sự dễ dàng trong việc phán tán tin tức là nguyên nhân khiến cho tin giả tồn tại

1.1.4 Mạng xã hội và tin giả (Fake news) trên mạng xã hội

Theo định nghĩa chính thức của Chính phủ nhà nước CHXHCN Việt Nam, dưới

đề xuất của Bộ Thông tin và Truyền thông, thì mạng xã hội “là hệ thông thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạp trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác” [6]

Điểm khác biệt giữa truyền thông xã hội và truyền thông đại chúng là công chúng

có thể tự tạo ra nội dung Không còn hình thức thông tin độc quyền như báo chí chính thống, truyền thông xã hội đem đến quyền lợi cho mỗi công dân đều có thể tự tạo lập

Trang 5

kênh thông tin cho riêng mình Kênh thông tin đó có thể do một cá nhân lập ra như blogs hay Twitter hoặc có thể do một tập thể xây dựng nên như Wikipedia [2]

Internet chính thức có mặt ở Việt Nam từ năm 1997, nhưng gần một thập kỉ sau thì mạng xã hội đầu tiên (Yahoo 360) mới thực sự xuất hiện ở nước ta Năm 2005, Yahoo

360 được thí điểm ở Việt Nam Năm 2008, Yahoo tuyên bố đóng cửa dịch vụ blog Yahoo 360 Cùng lúc, dịch vụ mạng xã hội Facebook, sau một năm thâm nhập vào thị trường Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ Sự xuất hiện của Facebook đánh dấu một bước phát triển mới cho truyền thông xã hội ở Việt Nam, đặc biết xét đến quy

mô lan tỏa của thông tin Facebook với những tính năng “share” (chia sẻ) rất dễ dàng, kết nối mạng lưới “friends” (bạn bè) nhanh và rộng cùng sự nhạy bén của các tính năng tương tác khác comment và like [10] đã khiến hầu hết tất cả người dùng đều có thể kết nối

và chia sẻ thông tin cho nhau một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất Theo trang tin The Next Wed, tính tới tháng 7/2017, số người dùng Facebook ở Việt Nam là 64 triệu người dùng, chiếm 3% trong tổng số tài khoản Facebook đang hoạt động toàn cầu và là quốc gia thứ 7 trong nhóm 10 quốc gia có số người dùng Facebook lớn nhất thế giới [5] Đây cũng

là thời điểm mà mạng xã hội bắt đầu tạo ra những ảnh hưởng lớn đến nền báo chí, truyền thông ở Việt Nam và cũng là thời điểm thuận lợi cho tin giả (Fake news) được lan truyền

Việc truyền tin trên truyền thông xã hội về cơ bản cũng giống kiểu “một đồn mười, mười đồn trăm” Thông tin càng giá trị hoặc có sức ảnh hưởng (dù tích cực hay tiêu cực) thường sẽ được lan truyền nhanh chóng Để biết được sự kiện hay vấn đề nào nhận được sự quan tâm của độc giải, ta có thể dựa vào lượng “like” (số lượng người ủng hộ), “comment” (bình luận), “share” (chia sẻ) trên mạng xã hội Việc thông tin lan truyền nhanh chóng đã có nhiều tác động tích cực trong đời sống xã hội Tuy nhiên, bênh cạnh những tác động tích cực đó, những thông tin giả mạo lan truyền có ảnh hưởng hết sức nghiêm trọng

1.1.5 Thói quen chia sẻ tin tức của người dùng

Hằng ngày, hàng trăm triệu người trên thế giới chia sẻ thông tin với nhau qua nhiều hình thức như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video đã khiến cho lượng thông tin trên mạng xã hội trở nên đa dạng và phong phú Chủ đề của những tin tức đó là vô tận Từ những tin ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống như thiên tai, chiến tranh, bạo lực, tội phạm đến những điều nhỏ nhặt trong cuộc sông riêng tư, sinh hoạt của mỗi người đều xuất hiện trên mạng xã hội Chỉ cần những thông tin đó liên quan đến cá nhân độc giả, họ sẽ thường

“phản ứng” với nó bằng cách “share” (chia sẻ thông tin) đến những người khác Tùy chọn chế độ họ chọn là “friends” (dành cho bạn bè của bạn) hay public (dành cho tất cả mọi người), thông tin mà một cá nhân (có sử dụng trang mạng xã hội) chia sẻ sẽ đến được với hàng trăm, hàng triệu hoặc hàng vạn người khác

Đẩy mạnh tính năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin, mạng xã hội cho phép công chúng có quyền tự do ngôn luận và chia sẻ tin tức mà dường như không

có sự kiểm soát Những vụ việc mang tính tiêu cực thường có tác động mạnh đến công chúng hơn là những thông tin mang tính tích cực Bởi thế công chúng dễ tác động và chia

sẻ thông tin nhiều hơn Lợi dụng tâm lý của người tiếp nhận, những kẻ tung tin giả

Trang 6

thường đưa tin có yếu tố giật gân, phản ánh mặt trái của xã hội lên mạng xã hội, “dụ dỗ” công chúng chia sẻ và lan truyền

Số đông người trẻ dùng mạng xã hội hiện nay khá tò mò, luôn muốn trở thành người dẫn đầu trên “mặt trận” thông tin, nhận được sự quan tâm của số đông… nên họ bấm vào nút chia sẻ trên Facebook Một số khác chia sẻ những điều họ đọc thấy, tìm được ở đâu đó trên mạng với suy nghĩ cảnh giác người khác mà không hề biết hành động của mình có ảnh hưởng như thế nào đến cộng đồng, khi thông tin chưa được kiểm chứng Theo thạc sĩ ngành Xã hội học, giảng viên Trường Đại học Mở TP.HCM Lê Minh Tiến:

“Khi đứng trong một trào lưu nổi bật nào đó, chúng ta rất dễ bị nó cuốn theo Trong xã hội học gọi đó là tâm lý đám đông Khi đó, ý thức cá nhân bị chìm xuống, chúng ta mất đi

sự tỉnh táo trong bối cảnh đó Sống trong một bối cảnh dễ gặp rủi ro về thông tin, thực phẩm, tự nhiên…, cộng đồng người dùng mạng nên biết lùi lại một chút, suy nghĩ trước khi hành động mới được”[7].

1.2 Phân loại về cách thức chế tác tin giả

Mạng xã hội xuất hiện với mục đích ban đầu là kết nối mọi người với nhau và chia

sẻ thông tin cá nhân đến với cộng đồng Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ đã lạm dụng tính tiện ích của mạng xã hội để thỏa mãn sự tự do ngôn luận của mình hay vì nhiều mục đích khác

1.2.1 Dựng ra tin giả với thông tin hoàn toàn không chính xác

Loại thứ nhất là những thông tin hoàn toàn không chính xác (bao gồn cả thông tin thông thường và thông tin được trình bày giống như một tin báo chí) được tác giả cố tình dàn dựng và đăng tải, lan truyền vì một mục đích nào đó Đặc trưng chung nhất của tin giả kiểu này là chúng thường xuất phát từ những sự kiện, hiện tượng nóng, gây tranh cãi trong đời sống thực Những sự kiện nào càng nóng, càng gây tranh cãi thường sẽ trở thành đề tài cho tin giả phát tác

1.2.1 Phóng đại tiếp một phần sự thật thông tin được đăng tải

Nếu như loại tin giả tự bịa ra kịch bản (video hay ảnh minh họa) có sẵn lừa được công chúng trong vài ba ngày thì loại tin giả được dàn dựng dựa trên một phần sự thật thông đã được cơ quan báo chí chính thống đăng tải trước đó càng trở nên “có giá trị”, thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng nhiều hơn Những tin tức làm giả dựa trên một phần sự thật câu chuyện trước đó đa phần là những thông tin do cá nhân bịa đặt vì một mục đích cụ thể nào đó

Ngoài ra phân loại tin giả theo nội dung có: tin giả về chính trị; tin giả về các vấn

đề nóng trong xã hội; tin giả về giáo dục; tin giả về văn hóa, giải trí

2 Sự quản lý của Đảng, Nhà nước đối với mạng xã hội và pháp luật với tin giả.

Trong số các trang mạng xã hội thì Facebook là trang có số lượng người dùng ở Việt Nam rất lớn Với sự tương tác và tốc độ lan truyền thông tin nhanh, người dử dụng

nó như một công cụ để nắm bắt thông tin, liên lạc, chia sẻ, thể hiện, bày tỏ về mọi vấn đề, lĩnh vực trong đời sống của cá nhân cũng như người khác Không ít người đã và đang coi mạng xã hội là nơi bày tỏ bức xúc của mình và nhiều lúc dây ra những phiền phức không

Trang 7

đáng có Đó cũng có thể là điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân mang mục đích xấu lợi dụng nhằm lan truyền tin bịa đặt, tin giả

Việc bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan điểm hay tự do trao đổi thông tin trên hệ thống báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội là quyền tự do công dân , tuy nhiên, người dùng cần sử dụng mạng xã hội đúng luật Để quản lý và tạo môi trường lành mạnh cho người dùng tham gia mạng xã hội, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đưa ra những văn bản pháp luật quy định về vấn đề này Quy định pháp luật được cụ thể hóa trong Hiến pháp và bằng việc ban hành các bộ luật như: Luật Xuất bản, Luật báo chí, Luật Công nghệ thông tin, Bộ luật hình sự trong đó đã có các quy định liên quan đến xử lý người đưa tin giả, đưa tin sai trên báo chí và trên mạng Internet

Ngày 3/2/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 15/2020/NĐ-CP về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, trong đó quy định các tổ chức, cá nhân cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật… sẽ bị xử phạt nặng Cụ thể, Điều 101 Nghị định 15 quy định phạt tiền 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội

để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân

Bộ luật hình sự đề cập về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được quy định tại điều 288 Bộ luật hình sự năm 2015

“Điều 288 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông

(1) Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ”

Đặc biệt 12-6-2018, Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa IV đã thông qua Luật an ninh mạng với tỷ lệ 86,86% Luật có hiệu lực1/1/2019 Luật An ninh mạng làm rõ hơn về điều kiện, quy trình các bước thu thập chứng cứ điện tử để làm cơ sở xử lý các cá nhân, tổ chức về hành vi tung tin giả, tin sai sự thật trên mạng Internet Luật đã áp dụng các điều khoản về tội phạm có liên quan của Bộ luật hình sự; nghiêm cấm hành vi xuyên tạc và thông tin sai sự thật gây hoang mang và thiệt hại; xử phạt, bắt bồi thường, truy cứu trách nhiệm hình sự…

Luật An ninh mạng là cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác quản lý, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng Đặc biệt, “màng lọc” thông tin này đang phát huy rất hiệu quả trong đại dịch Covid-19 Theo báo cáo tổng hợp của Cục Phát thanh Truyền hình - Thông tin điện tử, có 15 Sở Thông tin - Truyền thông đã ra quyết định xử phạt 21 vụ, nhắc nhở 26 vụ với số tiền phạt là 203 triệu đồng đối với các đối tượng tung tin giả mạo trong thời gian chống dịch Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh có 5 vụ, các tỉnh Quảng Ninh, Bình Dương, Nam Định, Hoà Bình đều có 2 vụ…[8]

Trang 8

Rõ ràng mạng ảo mà hậu quả là thật Bởi thông tin lan truyền ngay lập tức và có thể gây sợ hãi, hoảng loạn trong dư luận Sự ra đời của Luật An ninh mạng thực sự đã khiến cho môi trường không gian mạng trở nên văn hóa, lành mạnh hơn rất nhiều, bởi một lượng lớn thông tin có nội dung xấu, ảnh hưởng đến chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục đã bị ngăn chặn, xử lý một cách nghiêm túc, hiệu quả Những hành vi tung tin thất thiệt vì động cơ khác nhau đều bị nghiêm trị

Từ khi thi hành, Luật An ninh mạng đã chứng minh không chỉ là công cụ quản lý hiệu quả của Nhà nước với an ninh mạng mà còn là chuẩn mực để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mọi chủ thể tham gia Điều luật này đã giúp người dân nhận thức rõ hơn về quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào các mạng xã hội, có trách nhiệm với chính thông tin mình đăng tải, phát tán đồng thời biết bảo vệ chính mình trước “nồi lẩu thông tin”[9]

II Thực trạng nhận thức hiểu biết pháp luật về tin giả (Fake news) của học sinh THPT.

2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là 618 học sinh tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai Bao gồm: Trường PTDTNT THCS - THPT huyện Bảo Yên Trường THPT số 3 TP Lào Cai Trường THPT số 2 huyện Bảo Yên.Trong các trường, chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên số học sinh tham gia nghiên cứu

Bảng 2.1: Mẫu khách thể nghiên cứu

Lớp

Biến số

2.2 Thực trạng cách nhìn nhận của học sinh THPT về tin giả (Fake news)

2.2.1 Thực trang mức độ hiểu biết và khả năng phân biệt tin giả của học sinh THPT

Biểu đồ 2.2 Thực trạng mức độ hiểu biết về tin giả của học sinh THPT

Khi được hỏi “Bạn đã từng nghe đến tin giả bao giờ chưa”? Có đến 38,8% số học sinh được hỏi cho rằng “Có nghe qua” nhưng chỉ có 22,8% học sinh dám khẳng định

“đã biết và từng tìm hiểu” về tin giả; có 3,4% học sinh “chưa từng nghe” đến tin giả bao

giờ Điều đó cho thấy “tin giả” là vấn đề mà học sinh THPT có quan tâm nhưng số lượng học sinh THPT biết và tìm hiểu tin giả chưa cao, chưa nhiều Điều này càng được khẳng định khi nhóm nghiên cứu khảo sát tỉ lệ học sinh THPT tiếp xúc với tin giả bằng cách đưa ra khái niệm tin giả và mời học sinh THPT đối chiếu với khái niệm đó, kết quả

Trang 9

89,3% đã từng tiếp xúc với tin giả Nhưng chỉ có 45/618 học sinh tương ứng 7,3% khẳng định chắc chắn có thể phân biệt được tin giả và chiếm tỉ lệ cao nhất 38,5% tương ứng 238/618 học sinh đôi khi có khả năng phân biệt được tin giả và 23,4% học sinh không có khả năng phân biệt được tin giả Từ thực trạng đó học sinh THPT tiếp xúc với tin giả nhiều nhưng khả năng phân biệt tin giả của học sinh không cao và không chắc chắn Điều này đỏi hỏi cần có những biện pháp giúp học sinh hình thành được kĩ năng phân biệt tin giả

Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ học sinh THPT tiếp xúc

với tin giả

Biểu đồ 2.4 Khả năng phân biệt tin giả của học sinh THPT

2.2.2 Thực trạng kĩ năng xử lý tin giả của học sinh THPT

Nhóm nghiên cứu đã thiết kế câu hỏi điều tra về việc tìm kiếm thông tin trên mạng

xã hội của học sinh THPPT cụ thể “Bạn thường lấy thông tin ở các trang mạng xã hội nào”? Kết quả thu được cao nhất ở mức độ thường xuyên đó là facebook là 435 học sinh

- 70,4%, đứng thứ 2 là Youtube là 363 học sinh - 59% Đứng cao nhất ở mức độ thỉnh thoảng là Zalo 414 học sinh - 67% Như vậy Facebook mà mạng xã hội được đông đảo học sinh THPT sử dụng nhiều nhất trong việc khai thác thông tin Trong đó có khoảng

67% thỉnh thoảng chia sẻ và 30% học sinh được hỏi thường xuyên chia sẻ thông tin trên mạng xã hội Như vậy đặt ra vấn đề học sinh sẽ xử lý như thế nào trong tình huống “Bạn

đã chia sẻ thông tin (do không biết tin đó là tin giả) nhưng sau khi biết tin đó là giả mạo, bạn sẽ làm như thế nào”? đa phần (57,3%) học sinh xóa tin giả trên trang cá nhân của mình và (51%) thông báo cho những người xung quanh Việc làm này cũng giúp giảm

lượng tương tác tin giả nhưng có độ trễ về thời gian , bởi khi đó các trang báo chính thống

đã chỉ rõ đó là tin giả; Tỷ lệ học sinh (33,5%) đăng thông tin đính chính trên trang cá nhân không nhiều Đa số học sinh (57,3%) chọn cách “không làm gì cả” khi biết tin tức

mình đăng là giả Sự xấu hổ, e ngại bị chê bai có thể là một trong nhiều lý do khiến học sinh đã chia sẻ tin giả không gỡ bài hoặc đính chính thông tin khi biết đó là giả mạo Như vậy việc giáo dục kĩ năng xử lý với tin giả cho học sinh THPT là điều cần thiết để tránh việc lây lan tin giả cũng như hình thành văn hóa mạng cho học sinh

Biểu đồ 2.5 Mức độ học sinh chia sẻ

thông tin trên mạng xã hội

Biểu đồ 2.6 Cách xử lý của học sinh khi biết tin mình chia sẻ là giả

Trang 10

2.3 Thực trạng sự hiểu biết pháp luật về tin giả (Fake news) của học sinh THPT.

Tiến hành khảo sát thực trạng sự hiểu biết pháp luật về tin giả của học sinh THPT,

nhóm nghiên cứu nhận được kết quả 7,3% học sinh chưa từng nghe đến các quy định pháp luật về tin giả; 56,8% có nghe đến nhưng chỉ 29,1% đã biết đến và rất ít học sinh (6,8%) đã biết và hiểu về luật an ninh mạng Như vậy có thể kết luận rằng mức độ hiểu

biết pháp luật về tin giả của học sinh THPT chưa cao; Các quy định pháp luật về tin giả

còn khá mới mẻ với học sinh THPT

Biểu đồ 2.7 Thực trạng hiểu biết pháp luật về tin giả của học sinh THPT

III Một số biện pháp tác động nâng cao hiểu biết pháp luật và hình thành kĩ năng xử lý với vấn đề tin giả (fake news) cho học sinh THPT.

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận khoa học và thực tiễn điều tra:

+ Nếu trang bị cho học sinh THPT những hiểu biết nhất định về tin giả (fake news) bao gồm kỹ năng nhận diện và xử lý với tin giả; Cung cấp kiến thức pháp luật về tin giả nhấn mạnh các quy định liên quan đến việc xử lý việc đăng tải, chia sẻ tin tức giả

sẽ trang bị cho học sinh kỹ năng sống, chủ động hơn trên không gian mạng để không bị ảnh hưởng trước những tác động xấu từ một số thông tin không chuẩn xác trên mạng

+ Việc phối hợp nhịp nhàng thường xuyên các phương pháp theo nhiều hình thức,

áp dụng với từng hoàn cảnh, đối tượng sẽ giúp học sinh THPT tiếp cận tin tức chính thống, tránh hành động chia sẻ, phát tán thông tin sai sự thật, hình thành “văn hóa mạng”

3.2 Các biện pháp đề xuất

3.2.1 Biện pháp “Chuyên gia Pháp luật”

- Hình thức: Tuyên truyền về Tin giả (Fake news) - Pháp luật liên quan đến Tin giả (Fake news) dưới sự góp mặt của các Chuyên gia pháp luật (Công an, An ninh, Tòa án,

Viện kiểm sát )

Ngày đăng: 07/09/2021, 09:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Mẫu khách thể nghiên cứu - đề cương tóm tắt KHKT Fakenews
Bảng 2.1 Mẫu khách thể nghiên cứu (Trang 8)
III. Một số biện pháp tác động nâng cao hiểu biết pháp luật và hình thành kĩ năng xử lý với vấn đề tin giả (fake news) cho học sinh THPT. - đề cương tóm tắt KHKT Fakenews
t số biện pháp tác động nâng cao hiểu biết pháp luật và hình thành kĩ năng xử lý với vấn đề tin giả (fake news) cho học sinh THPT (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w