Nghiên cứu từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nhằm làm rõ các đặc điểm về cấu tạo và về ngữ nghĩa. Từ đó, thấy được vai trò ý nghĩa của việc sử dụng từ chỉ màu sắc trong văn chương nói chung và trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nói riêng. Qua đó, góp phần đánh giá và cảm nhận sâu sắc hơn về đặc sắc nghệ thuật ngôn từ của nhà văn.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong cuộc sống thường ngày, từ chỉ màu sắc là một trong những ngôn
từ được con người sử dụng để giao tiếp Số lượng từ chỉ màu sắc rất đa dạng
và phong phú, được quy ước và nhận biết thông qua thị giác Từ đó, conngười có thể gọi tên các màu sắc như xanh, đỏ, tím, vàng,… để diễn tả những
sự vật, hiện tượng mà họ muốn nói đến Như vậy, từ chỉ màu sắc trở thànhngôn ngữ quan trọng trong cuộc sống con người, đặc biệt là trong giao tiếp.1.2 Trong văn chương, từ chỉ màu sắc là ngôn ngữ được các nhà văn nhà thơ
sử dụng, là chất liệu không thể thiếu trong những sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt
là sáng tạo về ngôn từ Chính vì lí do này, những năm gần đây đề tài về từ chỉmàu sắc được các nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu và đã đạt đượcnhững thành tựu nhất định Vì vậy, để góp phần hoàn thiện hơn những nghiêncứu về từ chỉ màu sắc chúng tôi lựa chọn đề tài: “Từ chỉ màu sắc trong tiểuthuyết Vũ Trọng Phụng”
1.3 Vũ Trọng Phụng là nhà văn nổi tiếng viết về thể loại tiểu thuyết Phầnlớn, các tác phẩm của ông viết về con người trong cuộc sống hằng ngày, conngười trong tầng lớp xã hội Từ chỉ màu sắc là một trong những nghệ thuậtngôn từ được ông sử dụng trong các tác phẩm của mình; là phương tiện diễnđạt sáng tạo đặc sắc làm nên thành công của tác phẩm Qua đó, miêu tả nhữnghiện tượng thiên nhiên, đời sống động thực vật để làm nổi bật hình ảnh conngười Đồng thời, nói lên sự gắn kết của con người với những hiện tượng tựnhiên, động thực vật, chúng có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một thểthống nhất Nhận thấy được vai trò và giá trị của từ chỉ màu sắc trong tiểuthuyết Vũ Trọng Phụng, chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Từ chỉ màu sắc trong tiểuthuyết Vũ Trọng Phụng” nhằm hiểu rõ hơn về những đặc sắc nghệ thuật màtác giả sử dụng
Trang 22 Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam, đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về từ chỉ màu sắc
Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ học, Trịnh Thị Minh Hương (2009), Tính
biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt; tác giả đã chỉ ra những từ
ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, từ đó trình bày những nghĩa biểu trưngthông qua những từ ngữ chỉ màu sắc đã được khảo sát
Luận văn TNĐH ngành sư phạm Ngữ văn, Lê Xuân Dị (2011), Tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của nhà văn Sơn Nam; tác giả phân loại
các tính từ chỉ màu sắc theo thang độ và không có thang độ, dựa vào phân loạinói lên giá trị của các màu sắc trong khảo sát tác phẩm của nhà văn Nam Sơn Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ học- thư viện trường ĐH Văn Hiến, Đỗ Thị
Thìn (2016), Tính biểu cảm của màu sắc trong biểu cảm người Việt Qua
khảo sát các ví dụ, tác giả trình bày nghĩa của các màu sắc được sử dụng đểnói lên được tính biểu cảm của người Việt Tuy nhiên, tác giả chưa đi vàophân tích sâu những giá trị mang lại của màu sắc
Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ học, Trần Thị Thùy Hương (2016), Các từ ngữ chỉ màu sắc phụ của màu đỏ và màu xanh trong tiếng Việt; tác giả đã
trình bày những từ ngữ chỉ màu sắc phụ trong màu đỏ và màu xanh, chưa đivào nghiên cứu cụ thể những đặc sắc của hai màu sắc phụ
Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ học, Huỳnh Thị Phương Thảo (2017),
Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh Qua khảo sát
những từ chỉ màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh, tác giả phân những từ chỉ màusắc thành những trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ màu sắc Từ đó, tiến hành phântích ngữ nghĩa của các trường từ vựng ngữ nghĩa để chỉ ra tính biểu trưngđược thể hiện trong từ chỉ màu sắc
Như vậy, có thể nói từ chỉ màu sắc đã được khảo sát và nghiên cứunhiều nhưng chưa đầy đủ và chưa tạo thành thể thống nhất Vì vậy, trên cơ sở
kế thừa những thành công của các tác giả đi trước, chúng tôi mạnh dạn lựa
Trang 3chọn đề tài: “Từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng” với mongmuốn bổ sung hoàn thiện hơn trong kho tàng ngôn ngữ học.
Trong suốt thời gian qua, Vũ Trọng Phụng luôn là đối tượng của các nhàvăn nghiên cứu, phê bình văn học:
1 Trần Hữu Tá (1999), Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, NXB
đủ Với kết quả nghiên cứu đề tài “Từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ TrọngPhụng” góp phần khẳng định những giá trị đặc sắc về sáng tạo nội dung vàsáng tạo nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng
Trang 43.2 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn ngữ liệu sau:
1.Vũ Trọng Phụng (2014), tiểu thuyết Số đỏ, NXB văn học
2.Vũ Trọng Phụng (2016), tiểu thuyết Giông tố và Vỡ đê, NXB văn học
3.Vũ Trọng Phụng (2017), tiểu thuyết Làm đĩ, NXB văn học
4.Vũ Trọng Phụng (2017), tiểu thuyết Trúng số độc đắc, NXB văn học
5.Vũ Trọng Phụng (2018), tiểu thuyết Dứt tình, NXB văn học
6.Vũ Trọng Phụng (2018), tiểu thuyết Lấy nhau vì tình, NXB văn học
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nhằm làm
rõ các đặc điểm về cấu tạo và về ngữ nghĩa Từ đó, thấy được vai trò ý nghĩacủa việc sử dụng từ chỉ màu sắc trong văn chương nói chung và trong tiểuthuyết Vũ Trọng Phụng nói riêng Qua đó, góp phần đánh giá và cảm nhậnsâu sắc hơn về đặc sắc nghệ thuật ngôn từ của nhà văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này có rất nhiều phương pháp, song chúng tôi chọn
sử dụng một số phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp này nhằm thống kê tần số xuất hiện của các từ chỉmàu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Từ đó, tiến hành nhận diện vàphân loại dựa vào cấu trúc và dựa vào ngữ nghĩa
5.2 Phương pháp miêu tả
Sử dụng phương pháp này để miêu tả các hình thức ngôn ngữ, các bìnhdiện ngữ nghĩa, phân tích các mối quan hệ trong ngữ nghĩa, nghĩa từ điển,nghĩa nghệ thuật của từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo; nội dung đề tài đượcchia làm ba chương
Trang 5Chương 1: Tổng quan một số vấn đề lý thuyết
Chương này tổng quan một số vấn đề lý thuyết cơ bản làm cơ sở khoahọc để giải quyết yêu cầu của đề tài
Chương 2: Thống kê, phân loại các từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết VũTrọng Phụng
Trong chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát từ chỉ màu sắc để thống
kê và phân loại dựa vào cấu trúc và dựa vào ngữ nghĩa
Chương 3: Giá trị của từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Chương này trình bày những giá trị của từ chỉ màu sắc được sử dụngtrong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT 1.1 Khái quát về từ chỉ màu sắc
1.1.1 Khái niệm từ chỉ màu sắc
Theo đại từ điển tiếng việt “màu” được hiểu như sau:
“Màu dt 1.Thuộc tính của các vật thể được hiện ra dưới tác dụng củaánh sáng với nhiều sắc khác nhau: màu xanh, màu đỏ, các màu khác nhau 2.Chất để tô vẽ các màu khác nhau: mua mấy hộp màu, pha màu chưa chuẩn 3.Màu như vốn có tự nhiên: ánh màu, phim màu 4 Vẻ, chiều, cái trát ra bềngoài, với ấn tượng, cảm giác nào: không khí đượm màu tang tóc, đauthương, Khác màu kẻ quý người thanh (Truyện Kiều).” [35;1094]
“Sắc dt 1 Màu ( trừ đen và trắng): bảy sắc cầu vồng, sắc đỏ, sắc diệu,sắc phục, sắc thái, sắc tố, âm sắc, bản sắc, đơn sắc, hòa sắc, hồng sắt, huyếtsắc tố, khả sắc, loạn sắc, màu sắc, ngũ sắc, nhiễu sắc, nhiễm sắc thể, nhuậnsắt, phục sắt, tán sắc, vô sắc, xuất sắc 2 Vẻ đẹp của người phụ nữ: một cô gái
có tài có sắc, sắc dục, nhan sắc, quê sắc, tuyệt sắc, tửu sắc 3 Nước da vànhững biểu hiện sức khỏe và nội tâm qua sắc mặt: sắt mặt hồng hào, nghiêmsắc mặt, sắc diện, sắc khí, sắc thần, hình sắc, khí sắc, thần sắc, thất sắc 4 Từnhà phật chỉ có những cái có hình có sắc, trái với không: sắc sắc khôngkhông 5 Phong cảnh: cảnh sắc, xuân sắc.” [35; 1433]
“Màu sắc dt 1 Các màu sắc khác nhau nói chung: màu sắc hài hòa, màusắc sặc sỡ 2 Tính đặc thù: màu sắc dân tộc, đậm đà màu sắc thôn quê.”[35;1094]
Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại một cách khách quan trongthế giới vật chất mà thị giác con người có thể nhận biết được Sự vật có màusắc khác nhau là do chúng có tần số ánh sáng khác nhau, còn sắc tức là trạngthái màu của sự vật, mỗi màu có sắc thái riêng
Trang 7Đào Thản đã định nghĩa: “Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tạimột cách khách quan trong thế giới vật chất, mà thị giác con người có thểnhận biết được”.[29;19]
Sự nhận thức và phân biệt màu sắc hoàn toàn có thể nhìn nhận từ nhữnggóc độ văn hóa khác nhau, có tính chủ quan đối với từng cộng đồng ngườinhất định Trong các ngôn ngữ khác nhau người ta phân chia dải màu và ghinhận các sắc độ, sắc thái về màu sắc theo những cách riêng khác nhau Vì thế
hệ thống tên gọi các màu sắc cũng khác nhau Vấn đề này được các nhà khoahọc và ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu Màu sắc được thể hiện bằng các danh
từ và các tính từ trong hệ thống từ loại, và nhiều nhất là tính từ
Như vậy, màu sắc là một vật thể tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể nhìn thấy và phân biệt chúng.
Từ định nghĩa về màu sắc, từ chỉ màu sắc được con người nhận biếtthông qua thị giác và quá trình tri nhận mà từ chỉ màu sắc trở thành phươngtiện biểu đạt trong ngôn ngữ và trong cuộc sống thường ngày Có thể thấy, từchỉ màu sắc rất phong phú và đa dạng, con người sử dụng từ chỉ màu sắc để
miêu tả màu sắc của hiện tượng tự nhiên như: màu xanh của núi, màu đen của mây,… màu sắc của vật thể nhân tạo như: màu đỏ của bóng đèn, màu vàng của chiếc vòng,…
Từ chỉ màu sắc là những từ có tính chất miêu tả sự vật hiện tượng mangmàu hoặc là cách gọi tên màu sắc của sự vật hiện tượng này được so sánh với
sự vật hiện tượng khác Từ chỉ màu sắc tồn tại ở từ loại tính từ, danh từ haythành ngữ chỉ màu sắc
Như vậy, từ chỉ màu sắc lớp từ biểu thị những đặc điểm, tính chất của
sự vật hiện tượng mà con người gọi tên.
1.1.2 Phân loại
Trang 81.1.2.1 Tính từ chỉ màu sắc
Theo Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung cho rằng “Lớp từ chỉ ýnghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực tế hay đặc trưng của quá trình là tính từ)”.[3;101]
Còn Lê Biên thì quan niệm “ tính từ là loại từ cơ bản như danh từ, động
từ, là một cần thiết miêu tả các đơn vị ngôn ngữ và làm phong phú khả năngdiễn đạt” [5;165]
Trong khi đó, Đinh Văn Đức quan niệm “tính từ là từ loại chỉ ra đặctrưng của tất cả những gì được biểu đạt bằng danh từ và động từ” [11;157]
Đỗ Thị Kim Liên lại khẳng định “tính từ là những từ chỉ tính chất, màusắc” [21;55]
Còn Nguyễn Hữu Quỳnh đưa ra khái niệm “tính từ là từ chỉ tính chất,đặc trưng của sự vật như: hình thể, màu sắc, dung lượng, kích thước, đặctrưng” [22;158]]
Bùi Tất Tươm định nghĩa “tính từ là từ loại chỉ tính chất của sự vật củahoạt động và trạng thái” [27;139]
Bùi Đức Tịnh cũng đưa ra khái niệm “ tính từ là những tiếng mô tả trạngthái của người, vật và sự vật, bằng ý nghĩa về tính chất của những người, vật
Với nhiều khái niệm khác nhau về từ loại tính từ, ta thấy phần nào cũng
đã nêu lên đặc trưng và ý nghĩa của từ loại này
Từ các khái niệm của nhiều tác giả đã nêu ở trên ta rút ra một khái niệm
chung nhất về tính từ “ Tính từ là những từ chỉ tính chất, chỉ đặc trưng của sự vật như hình thể, màu sắc, dung lượng, kích thước, đặc trưng.”
Trang 9Dựa vào khái niệm về tính từ, ta nhận thấy ở tính từ có những đặc điểm
cụ thể:
- Đó là những thuộc tính về màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng…
- Đặc tính mùi vị, hình dạng, kích thước, phẩm chất: chua, ngọt, đắng, cay, thẳng, cong, mềm, mỏng, tốt, xấu…
- Đặc trưng nét khu biệt về kích thước, trọng lượng, màu sắc và các khíacạnh chất lượng của chủ thể, chỉ ra hạn định cho mỗi đối tượng
- Tính chất của tính từ không phải là một cái gì trừu tượng, tách khỏi sựvật, hoạt động mà phải thấy nó như dấu hiệu thuộc tính sẵn có, có quan hệgắn bó với sự vật, hoạt động
Như vậy, “tính từ chỉ màu sắc là những thực từ biểu thị tính chất, đặc trưng về màu sắc của sự vật, thực thể.”
Theo tác giả Diệp Quang Ban tính từ tiếng Việt được chia làm bốn tiểuloại nhỏ gồm: tính từ tính chất, tính từ quan hệ, tính từ thang độ và tính từkhông thang độ
*Tính từ tính chất
Tính từ tính chất được hiểu là những tính từ vốn mang ý nghĩa chỉ tínhchất, chứ không phải vay mượn nó ở lớp từ khác Ý nghĩa tính chất ở đây rấtphong phú về nội dung, sau đây là một số ví dụ:
- Ý nghĩa về các loại phẩm chất như: tốt, xấu, đẹp, vung, trơn, nhám, sạch, bẩn, trong, đục, tầm thường, đúng, sai, phải, trái,…
- Ý nghĩa về lượng thuộc nhiều phương diện như: mật độ, độ dài, trọng
lượng, hình dạng, màu sắc, âm thanh, mùi vị,… thể hiện ở các từ nhiều, ít, đông, thưa, dài, ngắn, nhỏ, béo, cao, gầy, nhanh, chậm, sâu, cạn,, méo, tròn, ngay, lệch, thẳng, cong,…; xanh, đỏ, tím, vàng,…; vang, dội, ồn, lặng, réo rắt, trầm, bổng,…; thơm, nồng, cay, ngọt,…
*Tính từ quan hệ
Tính từ quan hệ là những tính từ mà ý nghĩa chỉ tính chất của chúngđược vay mượn ở ý nghĩa thực tế của danh từ, nói đúng hơn đó là ý nghĩa
Trang 10thực thể được “nhào nặn” thành ý nghĩa chỉ tính chất và chấp nhận sự đo đạc
ở phương tiện thang độ thông qua từ “rất” Theo khảo sát của tác giả DiệpQuang Ban, trong tiếng Việt vẫn tồn tại tính từ quan hệ, tuy tính từ quan hệ ởtiếng Việt không nhiều Nói khác đi, sự tạo nên tính từ quan hệ ở tiếng Việtkhông dễ dàng như các ngôn ngữ biến hình từ Chỉ danh từ nào ở vị trí sẵnchứa hoặc có thể thêm “rất” vào trước thì nó mới được coi là tính từ Tuynhiên, đó mới chỉ là điều kiện cần cho danh từ đó bản tính từ loại của tính từ,chứ chưa phải đủ để nó được coi là tính từ quan hệ Tính từ quan hệ có gốc từdanh từ chung cũng có gốc từ danh từ riêng
Tính từ thang độ là tính từ có thể kết hợp với các phó từ chỉ thang độ
rất, hơi, quá, cực kỳ,… về phía trước hoặc lắm, quá, cực kỳ,… về phía sau, như rất đẹp, rất rộng, rất anh hùng, rất Việt Nam,…; đẹp lắm, vui quá, anh dũng cực kỳ,… có thể thấy, các tính từ quan hệ khó kết hợp với các yếu tố chỉ
Trang 11Cũng xét theo phương diện ý nghĩa, từ chỉ màu sắc không thang độ cóthể là tính từ tính chất hoặc tính từ quan hệ So sánh:
vấn đề chính = vấn đề có tính chất chính ( tính chất)
hàng quốc doanh = hàng thuộc về khu vực quốc doanh ( quan hệ) quyền lợi chung = -> quyền lợi nói chung, không cụ thể ( tính chất) -> quyền lợi thuộc về mọi người ( quan hệ) Xét về hoạt động ngữ pháp, tính từ không thang độ thường làm yếu tố
mở rộng cho danh từ, khó trực tiếp làm vị tố
Cũng có thể xếp số tính từ không thang độ những từ tượng thanh làm
yếu tố mở rộng đứng sau danh từ như đùng đùng, ầm ầm, leng keng, lộp bộp, róc rách, thì thầm,… trong các tổ hợp từ kiểu tiếng đì đùng (của pháo tết), giọng thì thầm, tiếng xe cộ ầm ầm, tiếng nước róc rách,…
Dựa vào các tiểu loại tính từ trên, ta có thể phân loại tính từ chỉ màu sắcnhư sau: tính từ chỉ màu sắc có thang độ và tính từ chỉ màu sắc không cóthang độ
1.1.2.1.a Tính từ chỉ màu sắc có thang độ
Tính từ chỉ màu sắc có thang độ là những tính từ có thể kết hợp với các
phó từ chỉ thang độ rất, hơi, quá, cực kì,…về phía trước, hoặc rất, lắm, quá, cực kì,… về phía sau.
Ví dụ 1: rất xanh, hơi xanh, cực kì đỏ, quá đỏ,…xanh lắm, đỏ lắm, xanh cực kì,…
Ngoài ra, tính từ chỉ màu sắc còn kết hợp với những danh từ và những
từ so sánh như, hơn để tạo thành cấu trúc so sánh
Ví dụ 2: tóc nó đỏ như tóc Tây, cái quần của nó màu trắng xóa như những đàn trâu trắng,…
1.1.2.1.b Tính từ chỉ màu sắc không có thang độ
Tính từ chỉ màu sắc không có thang độ là những tính từ không kết hợpđược với các phó từ chỉ thang độ Vì đây là lớp từ chỉ đặc trưng về màu sắccủa sự vật, thực thể mà bản thân chúng hàm chứa ý nghĩa chỉ mức độ về đặc
Trang 12trưng, không có cường độ màu sắc khác và cũng không có lí do gì so sánh vớichúng nữa Cũng chính vì bản chất này mà chúng không kết hợp được với cácphụ từ chỉ mức độ và không đánh giá theo thang độ.
- Đỏ: đỏ ngầu, đỏ gay, đỏ ửng, đỏ choét, đỏ loét, đỏ bừng, đỏ thẫm, đỏ
ối, đỏ rực, đỏ hoe, đỏ sẫm, đỏ gay gắt, đỏ đục lờ, đỏ hỏn, đỏ gay đỏ gắt.
-Xanh: xanh lè, xanh xao,xanh đen, xanh mù, xanh thẫm, xanh rậm rạp, xanh thắm, xanh lơ.
Từ chỉ màu sắc có thể kết hợp ở dạng láy; sự lặp lại những âm tiết sau ởnhững tính từ này có tác dụng làm tăng tính chất, mức độ sự vật, sự việc, hiệntượng được đề cập
Ví dụ 4: đỏ hung hung, tím ngăn ngắt, xanh biêng biếc…
Ngoài việc chỉ ra đặc trưng của sự vật, hiện tượng mà dường như mỗi từgắn với một loại nhất định, có tác dụng tạo hình ảnh, biểu cảm và bộc lộ thái
độ, cách đánh giá của người nói Do đó, chúng vừa có tác dụng miêu tả, vừa
có tác dụng thẩm mĩ
1.1.2.2 Các từ chỉ màu sắc khác
Ngoài tính từ chỉ màu sắc có thang độ và tính từ chỉ màu sắc không cóthang độ, từ chỉ màu sắc còn là lớp từ chỉ màu sắc theo lối biểu thị đặc trưng.Lớp từ chỉ màu sắc theo lối biểu thị đặc trưng là lớp tính từ tạo lập gián tiếpthông qua việc chúng so sánh một màu sắc nào đó với một sự vật, hiện tượngmang màu sắc tương ứng
Trang 13Ví dụ 5: mầu hoa đào, màu gạch non, màu hồ thủy, màu gỗ hồng, màu hạt dẻ, màu cánh kiến, màu râu ngô non, mầu hạt trai, màu cá vàng, màu củi nâu, màu đất bùn, màu nước đồng hung hung,…
Với những từ chỉ màu sắc đặc trưng tiêu biểu của lớp từ được nêu trên, tathấy những từ này được tạo ra từ việc tác giả liên tưởng, so sánh sự tương ứngcủa màu với sự vật, hiện tượng nào đó được đúc kết trong vốn sống của chínhtác giả nói riêng và con người nói chung Để từ đó, họ rút ra được những từchỉ màu sắc theo lối biểu thị đặc trưng nhằm thay thế cho những từ chỉ màusắc họ không thể hoặc khó miêu tả một cách ngắn gọn cho người đọc, ngườinghe hiểu một cách chính xác Và đó cũng chính là giá trị của lớp từ này Đặc tính của tính từ thuộc lớp từ này cho ta biết được đặc trưng củangười sử dụng nó Hay nói cách khác, nó giúp ta nhận biết được tính ngữcũng như cách sử dụng riêng của từng vùng, từng miền Chính vì đặc điểmnày, bản thân nó không thể kết hợp với những từ khác và ngay cả những từchỉ mức độ vì bản thân nó đã xác định rõ màu tương ứng với sự vật hiệntượng vốn có
1.2 Khái quát về Vũ Trọng Phụng
1.2.1 Cuộc đời
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20-10-1912 tại làng Hảo, huyện Mỹ Hào,tỉnh Hưng Yên, ông sống và làm việc chủ yếu ở Hà Nội Thuở nhỏ ông đượcgọi là “cậu Tý”, cha làm thợ điện, chết vì bệnh lao khi Vũ Trọng Phụng đượcbảy tháng tuổi, mẹ là một người phụ nữ nghèo, hiền hậu rất thương con, tầntảo nuôi con ăn học bằng nghề khâu vá thuê
Sau khi học hết tiểu học tại trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôihọc để đi làm kiếm sống và phụ giúp gia đình Ông làm việc ở các sở tư như
nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO (Viễn Đông) Sau hai năm, ông chuyển hẳn
sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp
Trang 14Hành trình đời sống trong suốt 27 năm của nhà văn Vũ Trọng Phụngkhởi đầu từ căn nhà số 36 Hàng Gai, nơi ông sinh ra và đã sống trọn vẹn vớituổi ấu thơ trong căn nhà ấy.
Sau này, Vũ Trọng Phụng theo gia đình về ở số 107 Hàng Bạc, rồi sau
đó chuyển sang số nhà 80 đối diện Chính trong căn gác chưa hề được tântrang này, là nơi Vũ Trọng Phụng đã miệt mài năm tháng viết ra những tácphẩm trở thành cổ điển trong lịch sử văn xuôi Việt Nam Từ căn nhà này, theonhững buổi đi về, Vũ Trọng Phụng đã lang thang qua bao hè phố của những
Hàng Bồ, Hàng Gai, Hàng Đào, Hàng Ngang, đã gặp gỡ, đã vui buồn với bao
số phận, cảnh ngộ của con người, mở ra một lối riêng cho văn học hiện thực
phê phán bên cạnh Tự Lực Văn Đoàn Ông đã từng nói rõ: "Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết, tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời".
Vũ Trọng Phụng là một trong số các nhà văn nghèo nhất Ở nơi quê quán, ông không có một tấc đất cắm dùi Nhà văn Ngô Tất Tố từng kể: “Hồi ông làm báo Công dân, đó là hồi quẫn bách nhất trong đời ông, vì báo Công dân chỉ là một cơ quan của anh em nhà văn nghèo dúm rau, dúm bếp với nhau, khi trả tiền in rồi, trong két còn tiền thừa mới trả cho người cầm bút”.
Thế nhưng Vũ Trọng Phụng cũng không tỏ ra mình cần tiền Mỗi khi ở GiaLâm sang nhà báo, ông cứ cặm cụi cuốc bộ đi, lại cuốc bộ về, hôm nào mỏi
lắm mới đi một cuốc xe Một điều quan trọng hơn nữa là “đời ông luôn luôn túng thiếu nhưng không lúc nào ông tự đem sự túng thiếu của mình mà làm phiền lụy người nào, dù khi túng thiếu cực điểm cũng vậy".
Tuy nghèo khổ, nhưng tài văn chương của ông đã sớm được bộc lộ Từ
năm 18 tuổi, ông đã trở thành cây bút có tiếng trên nhiều tờ báo: Hà Thành ngọ báo, Nhật Tân, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ năm, Đông Dương tạp chí, Tao Đàn tạp chí Ông là người từng trải cảnh đời, tình người đến mức nhiều
khi cay nghiệt, lại là người sống rất trung hậu, tình nghĩa, đầy trách nhiệm
Trang 15Ông viết hàng loạt phóng sự, truyện ngắn, tiểu thuyết "tình trường"nhưng ông lại rất ngây thơ về "tình riêng" Ông chịu ảnh hưởng của quan
niệm đạo Khổng: “Nam nữ thụ thụ bất tương thân”, nên khi đã đi hỏi vợ rồi
mà ông vẫn chưa hề gặp gỡ trò chuyện với vợ chưa cưới
Bà Vũ Mỵ Nương, vợ nhà văn Vũ Trọng Phụng, là con gái của một giađình khá giả Anh trai bà có một cửa hàng thuốc bắc trên phố cổ Gia đình bàsống ở làng Giáp Nhất, quận 5 (nay là phường Trung Hòa – Nhân Chính –quận Cầu Giấy) vốn là một gia đình có của ăn của để Là con gái gia đình khágiả, lại có nhan sắc, bà Vũ Mỵ Nương được nhiều người hỏi cưới Nhưng vì
mê tài văn chương của nhà văn – nhà báo nghèo Vũ Trọng Phụng, bà đã gắn
bó cuộc đời mình với ông, dù bà biết ông phải rất chật vật mới nuôi được giađình bằng những đồng nhuận bút còm cõi của mình
Cuộc hôn nhân của bà Vũ Mỵ Nương và nhà văn Vũ Trọng Phụngkhông phải một cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối, nhưng lại được mẹ bà Vũ
Mỵ Nương rất ủng hộ, vì mẹ vợ của nhà văn cũng rất ngưỡng mộ những tiểuthuyết, những bài phóng sự sắc sảo của ông
Năm 1936, nhà văn Vũ Trọng Phụng kết hôn với bà Vũ Mỵ Nương Đócũng là năm đánh dấu đỉnh cao trong sự nghiệp của ông với “Số đỏ”, “Giôngtố” và “Làm đĩ” Vì muốn có tiền cưới vợ, ông đã cật lực làm việc ngày đêm
và cho ra đời 3 bộ tiểu thuyết nổi tiếng này Tiền tổ chức đám cưới của ông,một đám cưới rất linh đình, có mặt gia đình, họ hàng và các bạn bè vănchương của ông, chính là lấy từ khoản tiền nhuận bút ấy
Sau khi kết hôn, cuộc sống của gia đình nhà văn Vũ Trọng Phụng ngàycàng khó khăn, nhất là khi con gái của ông – Vũ Mỵ Hằng chào đời Nhà vănphải nuôi mẹ già, nuôi vợ và con gái, nên ngày đêm ăn uống kham khổ, làmviệc đến mức lao lực, sức khỏe ngày càng hao mòn Thương con gái và con
rể, mẹ vợ đã cho vợ chồng ông về sống cùng trong chái nhà nhỏ ở làng GiápNhất Đây cũng là nơi chứng kiến sự ra đời những tác phẩm cuối cùng củanhà văn và chứng kiến những ngày cuối đời ốm đau bệnh tật của ông Vì lao
Trang 16lực để kiếm cái ăn nuôi cả gia đình, vì phải ăn uống kham khổ, Vũ TrọngPhụng đã mất khi mới 27 tuổi vì bệnh lao phổi Sau khi nhà văn Vũ TrọngPhụng mất, vợ ông - bà Vũ Mỵ Nương đã ở vậy nuôi mẹ chồng và cô con gáinhỏ mới được 1 tuổi - Vũ Mỵ Hằng.
Nhà văn Vũ Trọng Phụng sống long đong, khi qua đời, cũng nhiềuphen đổi dời Ông mất năm 1939, được chôn cất ở nghĩa trang Hợp Thiện, rồinghĩa trang Quán Dền Mãi đến năm 1988, con gái Vũ Mỵ Hằng mới đưa ông
về quy thổ vĩnh viễn tại mảnh vườn nhà mẹ vợ nhà văn tại làng Giáp Nhấthiện nay Tên của ông cũng đã được đặt tên cho con đường cách nơi ông yênnghỉ chỉ chừng 1 km
Vũ Trọng Phụng xếp hạng nổi tiếng thứ 7213 trên thế giới và thứ 1trong danh sách Nhà văn hiện thực phê phán nổi tiếng
1.2.2 Sự nghiệp
Nhà văn Vũ Trọng Phụng là một hiện tượng văn học độc đáo trong nềnvăn học Việt Nam Chỉ với 27 năm cuộc đời, 8 năm sáng tác (từ 1931 đến1939) nhưng ông đã để lại trong kho tàng văn học Việt Nam một khối lượngtác phẩm đồ sộ bao gồm 28 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 8 phóng sự, 6 vở kịch,
2 tác phẩm dịch Ông được đánh giá là một trong những cây bút sắc sảo củachủ nghĩa hiện thực phê phán
Toàn bộ văn nghiệp của ông từ phóng sự đến truyện ngắn, tiểu thuyết,kịch, báo chí, văn chính luận; từ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật đến bút pháphiện thực, nghệ thuật tả chân là một sự thống nhất cao
Ông bắt đầu tham gia viết văn với truyện ngắn đầu tay Chống nạng lênđường (1930) và đều đặn cho đến ngày ông mất có đến 41 truyện ngắn và 4 dicảo truyện ngắn Theo thống kê trước đây, năm 1934, không thấy truyện ngắnnào xuất hiện Gần đây TS Peter Zinoman (Mỹ) phát hiện thêm 9 truyện ngắncủa Vũ Trọng Phụng ở thư viện quốc gia Pháp Tất cả những truyện ngắn trênđều viết năm 1934
Trang 17Về thể loại phóng sự, ông đã đóng góp cho văn phóng sự 8 tác phẩm (tácphẩm Hải Phòng viết năm 1934 mới được tìm thấy), mà tác phẩm nào đọcxong ta cũng không thể quên được Nó thời sự, nó hiện thực, tuy đã xảy ra đãgần ba phần tư thế kỷ, nhưng như thấy quanh quất, lởn vởn đâu đây, khôngnguyên vẹn thì cũng một phần con người ấy, sự việc ấy trong cuộc sống Nókhông phải chuyện của một thời, mà chuyện của mọi thời, tiêu biểu như: Cạmbẫy người, Cơm thầy cơm cô, Một huyện ăn Tết v.v
Vũ Trọng Phụng viết kịch cũng rất sớm, vào năm 1931 đã có tác phẩmKhông một tiếng vang, kịch Vũ Trọng Phụng có đến 8 vở Bên cạnh đó, VũTrọng Phụng dịch vở kịch Giết mẹ - nội dung gần giống với tiểu thuyết vàphóng sự của ông: đầy rẫy những bi kịch
Văn chính luận, báo chí, tài liệu hiện không còn nhiều, bài đầu tiên làMột người công nhân, in trên Hà Nội báo năm 1936 Ngoài việc phản ánhtrung thực người thật việc thật, cái không thể thiếu trong văn chính luận của
Vũ Trọng Phụng là nêu ý kiến chủ quan của người viết với ngôn ngữ ngắngọn, chính xác, dễ hiểu, khoa học
Thành công nhất của ông phải kể đến thể loại tiểu thuyết, sống một cuộcđời ngắn ngủi nhưng Vũ Trọng Phụng đã để lại 9 quyển tiểu thuyết khá đồ sộ.Tiểu thuyết đầu tay của ông là “Dứt tình” (1934) nhiều người cho là tiểuthuyết lãng mạn Đến 1936 ông cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết hiện thực cógiá trị như “Giông tố”, “Số đỏ”, “Làm đĩ”, “Vỡ đê” Năm 1937 cho cho ra đờicuốn tiểu thuyết “Lấy nhau vì tình”, và tập “Quý phái” đăng dang dở trênĐông Dương tạp chí, “Người tù được tha” hay còn gọi là “di cảo” cũng ra đờingay sau đó “Trúng số độc đắc” là cuốn tiểu thuyết cuối cùng mà Vũ TrọngPhụng trăng trối khi chết được đem mấy tờ bản thảo để lót đầu Và trong sốtiểu thuyết ấy được đưa vào giảng dạy trong nhà trường như: “ Hạnh phúc củamột tang gia” được trích trong tập “Số đỏ”,…
Trang 181.2.3 Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
Sống một cuộc đời ngắn ngủi nhưng Vũ Trọng Phụng đã để lại cho nềnvăn chương nước nhà những tác phẩm đồ sộ vượt thời gian Là nhà văn đa tài,ông vừa là nhà phóng sự, nhà tiểu thuyết, vừa là nhà báo, nhà viết kịch Ởchừng mực nào đó, dựa vào văn phẩm, cũng có thể gọi ông là nhà tư tưởng,nhà chính trị, nhà giáo dục, nhà cải cách, nhà văn hóa, nhà cách tân nghệthuật Nhưng thành công, đóng góp to lớn nhất của ông vào văn học là tiểuthuyết Ngô Tất Tố viết về Vũ Trọng Phụng trong số đặc biệt trên tạp chí Tao
Đàn năm 1939: “Ông Phụng tuy chết, mười mấy tác phẩm của ông vẫn còn sống với mai sau Thế cũng là thọ”.
Nếu tiểu thuyết là phản ánh bức tranh xã hội, phản ánh hiện thực đời sống
thì Giông tố, Vỡ đê là bức tranh vẽ đầy đủ chi tiết, chân thật đời sống người dân dưới thời nô lệ; Số đỏ, Làm đĩ, Trúng số độc đắc là một nét khác xuất thần
là bật lên những vết thương rướm máu của cái xã hội được che phủ bên ngoài
lớp sơn văn minh Âu hóa; Dứt tình, Lấy nhau vì tình lại là một đường cày tâm
lý, khơi mở tâm hồn, nhận thức về phương diện tình yêu, hôn nhân
Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng không hướng đến những cái xa vời thoát
ly cuộc sống Nó chính là cuộc sống đang diễn ra từng ngày, từng giờ mang
đậm tính thời sự mà Nguyễn Đăng Mạnh cho đó là “những chân dung chưa ráo mực”: nhiều nhân vật trong Giông tố, Số đỏ được xem như là những bức
chân dung ký họa chưa ráo mực của một số tên tuổi có thực lúc bấy giờ
Tạ Thu Thâu cho rằng muốn biết xã hội Việt Nam ra sao chỉ cần đọc
tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Dương Nghiễm Mậu khẳng định: “Trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là tất cả thời đại ông sống.”
Hiện lên trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng không chỉ một mảng,một khía cạnh, một xã hội khu biệt thành thị hay nông thôn mà là bức tranhtoàn cảnh Nhân vật của ông nhung nhúc đủ hạng người có tốt, có xấu, cóTây, có ta, có quan lại, có dân thường, có bọn đầu trâu mặt ngựa, nhưng cũng
có lắm kẻ đạo đức, giàu lương tri
Trang 19Tóm lại, từ nhân vật đến sự kiện, từ lời ăn tiếng nói đến cách ứng xửgiao tiếp ở bất cứ nhân vật nào, bất cứ ở đâu trong tiểu thuyết Vũ TrọngPhụng ta cũng thấy đó là những câu chuyện thường ngày Phải chăng, VũTrọng Phụng đã tiểu thuyết hóa cái hiện thực đời thường để nó trở thànhnhững điển hình không chỉ của thời đại ông mà là những điển hình bất hủ! Ông là nhà văn gắn liền đời sống và tác phẩm, và từ tác phẩm phát đinhững tín hiệu riêng biệt của ông trước cuộc đời Đó là cách nhìn, suy nghĩ,cảm nhận và phản kháng.
Do dung lượng thể loại cho phép, tiểu thuyết có thể mở rộng, cơi nớibiên độ của mình bằng cách lắp ghép, đưa vào trong đó nhiều thể loại khác, cảthể loại nghệ thuật lẫn thể loại phi nghệ thuật
Nguyễn Văn Hạnh nhận định: “Sự nghiệp văn học nhà văn để lại cho đời thật phong phú và đặc sắc, gồm đủ thể loại: tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn, kịch, dịch, phê bình văn học Trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng, chắc chắn phần có giá trị nhất là tiểu thuyết” [24;427]
Luôn ôm ấp trong người một lý tưởng, một hoài bão làm cho xã hội tốtđẹp, hoàn thiện hơn, không bằng hình tượng thì cũng qua ngôn ngữ người kểchuyện, Vũ Trọng Phụng đã để cho con người, cá tính của riêng ông thẩmthấu qua từng trang sách
Tiểu kết chương 1
Trong phần tổng quan, chúng tôi đã xác định khái niệm từ chỉ màu sắc
Từ đó, phân loại từ chỉ màu sắc; khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và thể loạitiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
Những vấn đề lý thuyết trên, chúng tôi có cơ sở khoa học vững chắckhảo sát thống kê và phân loại từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ TrọngPhụng
Trang 20CHƯƠNG 2 THỐNG KÊ PHÂN LOẠI TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG
TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG 2.1 Thống kê
Từ 6 ngữ liệu trên chúng tôi tiến hành khảo sát thống kê, thu được kếtquả như sau
Trang 2132 Màu râu ngô non 1 0,16
Qua kết quả thống kê, ta thấy sự phân bố của các màu không đồng đều,
Vũ Trọng Phụng sử dụng màu trắng, đỏ, đen, xanh, vàng chiếm tỉ lệ từ 1,81%đến 20,59% trong tác phẩm của ông Các màu còn lại sử dụng rất ít chiếm0,16% đến 1,48 % Như vậy, với cách sử dụng tính từ chỉ màu sắc trong tiểuthuyết của ông không đồng đều tùy vào hoàn cảnh, thời gian khác nhau trongmỗi chương tiểu thuyết Có thể thấy, các màu chiếm tỉ lệ cao như xanh, đỏ,đen, trắng,… tác giả miêu tả màu sắc trang phục hay trạng thái của con người.Bên cạnh đó, ông còn miêu tả những hiện tượng tự nhiên, động thực vật,… đểlàm nổi bật hình ảnh con người Qua đó, thấy sự gắn kết của con người vớinhững hiện tượng tự nhiên, động thực vật,…chúng có quan hệ mật thiết tạothành một thể thống nhất
2.2 Phân loại từ chỉ màu sắc
2.2.1 Phân loại từ chỉ màu sắc dựa vào cấu trúc
Trang 222.2.1.1 Từ chỉ màu sắc là một từ/ một cụm từ
2.2.1.1.a Từ chỉ màu sắc biểu thị là một từ
Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức.Như vậy, từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng biểu thị là một từ.Qua đó, nhà văn quan sát miêu tả những hiện tượng tự nhiên, con người, độngthực vật,…
Ví dụ 1:
Hiệu may này thật là choáng lộn đặc biệt Ở tủ kính ngoài cùng có ba
“hình nhân” tạc bằng gỗ, chính là của Tây phương gửi sang, giống hệt mĩ nhân Tây phương, song bị nhà chủ khéo léo đặt lên đầu những mẫu khăn
vành dây hoặc búi tóc đen cho có vẻ là phụ nữ Việt Nam.
[37;44]
Từ chỉ màu sắc “đen” khi kết hợp với danh từ “tóc” tạo nên vẻ đẹp
truyền thống của người phụ nữ Việt Nam có mái tóc đen Bên cạnh đó, cụm
từ “tóc đen” kết hợp với động từ “búi” diễn tả cụ thể hành động búi tóc của
người phụ nữ Vũ Trọng Phụng sử dụng đặc sắc những sáng tạo của mình,thông qua hành động đó độc giả sẽ thấy được vẻ đẹp của người phụ nữ cụ thể
là người phụ nữ đã có chồng “búi tóc đen” Không những mái tóc, khăn vành
dây cũng là một trong những trang phục truyền thống của người Việt Tác giảxây dựng những vẻ đẹp về người phụ nữ nói lên nét đặc trưng riêng của ngườiViệt mà ta dễ dàng nhận ra vẻ đẹp ấy với tây phương
*Từ chỉ màu sắc biểu thị là một từ đơn
Từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng biểu thị là một từ đơnnhư: xanh, đỏ, tím, vàng, đen,…Mỗi màu tạo nên giá trị riêng trong từng tácphẩm, góp phần cấu tạo câu hoàn chỉnh và mang lại ý nghĩa trong câu
Ví dụ 2:
Đến huyệt, lúc hạ quan tài, cậu Tú Tân luộm thuộm trong chiếc áo
thụng trắng đã bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc
cong lưng, hoặc lau mắt như thế này, như thế nọ để cậu chụp ảnh kỉ niệm
Trang 23lúc hạ huyệt Bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy lên những ngôi mả khác mà chụp
để cho ảnh khỏi giống nhau.
[37;202]
Từ chỉ màu sắc “trắng” được Vũ Trọng Phụng sử dụng là màu của tang tóc, màu của tang thương Hình ảnh cậu Tú Tân trong “chiếc áo thụng trắng” được tác giả kết hợp với từ láy “luộm thuộm” chỉ sự hăng say của cậu khi
chụp ảnh Tang tóc là nỗi buồn ấy vậy nó trở thành niềm vui của mọi người;cậu Tú Tân hăng say chụp ảnh đến chiếc áo trắng luộm thuộm, còn nhữngngười khác lo chỉnh trang phục theo ý cậu để chụp hình, hơn nữa hình ảnh
bạn hữu của cậu Tú Tân được Vũ Trọng Phụng diễn tả qua hành động “rầm rộ”, “nhảy lên” thể hiện sự thiếu văn hóa trong nghi lễ đám tang Tất cả hình
ảnh ấy, Vũ Trọng Phụng dường như diễn tả một cách tỉ mỉ những hành độngcủa những con người trong đám tang Có lẽ, nó là một niềm vui của mỗingười góp mặt, lột tả rõ bộ mặt thật của con người lúc bấy giờ, nhân cách bịchính đồng tiền tha hóa
Ví dụ 3:
Những lúc như thế Quỳnh lại đỏ mặt lên vì kiêu ngạo và sung sướng,
cái sung sướng của những gái đẹp biết rằng trong thiên hạ đã có người gọi mình là hoa khôi.
[42;50]
Vũ Trọng Phụng sử dụng những tính từ “kiêu ngạo”, “sung sướng” để
thấy được vẻ đẹp hơn người của Quỳnh và sự vui vẻ thích thú “sung sướng”
thỏa mãn về tinh thần khi trong “thiên hạ” đã có người gọi mình là “hoa khôi”-chỉ cái đẹp Điều đó, làm cho Quỳnh e thẹn “đỏ mặt lên”, thể hiện sự đáng yêu của cô gái “những lúc như thế” Từ chỉ màu sắc góp phần làm nên
vẻ đẹp của Quỳnh cũng như tạo nên giá trị cho toàn câu văn
*Từ chỉ màu sắc biểu thị là một từ ghép
Trang 24Trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, từ chỉ màu sắc biểu thị là một từ
ghép Các từ xanh lè, đỏ rực, vàng ệch, xám xịt,… kết hợp với nhau theo quan
hệ ý nghĩa
Ví dụ 4:
Thiếu niên bước xuống xe Đó là một người nhỏ nhắn, trắng trẻo, rất
đẹp giai nhưng lại chỉ tiếc lỗi lại hơi có vẻ đàn bà Quần áo lịch sự Nét mặt như đương có sự gì không vui.
[38;27]
Ở độ tuổi “thiếu niên” cậu Tú được Vũ Trọng Phụng miêu tả hình dáng bên ngoài “nhỏ nhắn”, “trắng trẻo” “Nhỏ nhắn” chỉ thân hình nhỏ và cân đối
dễ thương, “trắng trẻo” chỉ làn da trắng và đẹp; những yếu tố này thường
được dùng để miêu tả vẻ đẹp của người con gái Nhưng Vũ Trọng Phụng lại
sử dụng nó để miêu tả cậu Tú nói lên sự yếu đuối mỏng manh của cậu Tác
giả còn sử dụng kết hợp với những phó từ chỉ mức độ “rất”, “hơi” để miêu tả
sự trái ngược của con người Tú với tuổi tác “Rất đẹp giai” chỉ mức độ đẹp
giai không ai sánh bằng, “nhưng lại chỉ tiếc lỗi lại hơi có vẻ đàn bà”, vẻ đẹp
mỏng manh ấy được tác giả lại sử dụng phó từ “hơi” kết hợp với danh từ
“đàn bà” chỉ những người đã có chồng và thường nhiều tuổi Hơn nữa, tác giả còn miêu tả Tú qua quần áo “lịch sự”, qua “nét mặt như đương có sự gì không vui”; ở tuổi của cậu ắc hẳn sẽ là sự ngây thơ hồn nhiên nhưng qua miêu tả Vũ
Trọng Phụng nói lên tính cách con người của Tú hoàn toàn trái ngược vớicậu
Ví dụ 5:
Đêm đã khuya, những cây đèn trong ấp đã cạn bấc, lụi dần, nên hiện ra
như những cục lửa đỏ ối, ở hai bên lối đi Mặt trăng mới chênh chếch bắt đầu
lên, nên trời đất còn tối mù mịt.
[38;35] Tác giả miêu tả cảnh vật về đêm, những cây đèn trong ấp đã cạn bấc lụi
so sánh như cục lửa “đỏ ối” Từ chỉ màu sắc “đỏ ối” chỉ hình ảnh của những
Trang 25cục lửa đỏ và đều khắp hai bên lối đi “Mặt trăng” cũng bị che bởi những đám mây khiến đất trời “tối mù mịt” Những hình ảnh của tự nhiên nói lên sự vắng
vẻ về đêm, con người cũng chìm trong giấc ngủ
*Từ chỉ màu sắc biểu thị là một từ láy
Trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, từ chỉ màu sắc là một từ láy, tác giả
sử dụng từ láy toàn bộ như: xanh xanh, đen đen, xám xám, trắng trắng Việc
sử dụng các từ chỉ màu sắc láy toàn bộ nhằm miêu tả những sự vật hiện tươngdiễn ra trong cuộc sống con người
Ví dụ 6:
Những ngọn đèn điện của các phòng đều đã bị tắt cả, bây giờ chỉ còn
có một ngọn thức đêm ánh xanh xanh chỗ đầu giường.
[40;73] Tác giả miêu tả những ngọn đèn điện của các phòng đều tắt điện, diễn tảhoạt động của con người trong trạng thái ngủ nghỉ về đêm Mọi người đã vào
giấc ngủ duy chỉ “còn có một” ngọn thức, từ láy “xanh xanh” nhấn mạnh
ngọn đèn điện đêm chỗ đầu giường chỉ sự ân ái của Phúc và ả Bích Có thểthấy, từ láy toàn bộ có tác dụng miêu tả sự vật hiện tượng để làm nổi bật lênđời sống con người, tình yêu nam nữ
Ví dụ 7:
Tóc màu hạt dẻ và cặp mắt phơn phớn xanh lúc sáng sớm, đen đen lúc
chiều.
[41;7]
Đen đen là từ chỉ màu sắc được láy lại toàn bộ, cách sử dụng của tác giả
nhằm miêu tả vẻ đẹp của con người mà ở đây là nàng Yvonne, một cô gái có
ba phần máu Pháp và bảy phần máu Việt qua mái tóc “màu hạt dẻ” Vẻ đẹp
của nàng không những xinh đẹp mà vóc dáng, màu tóc cả cặp mắt cũng đẹp,
nói như Vũ Trọng Phụng “ cặp mắt phơn phớn xanh lúc sáng sớm, đen đen
lúc chiều” Ở đây tác giả sử dụng từ láy toàn bộ với mục đích miêu tả cặp mắtcủa nàng thay đổi theo thời thời gian, qua đó nói lên vẻ đẹp của Yvonne
Trang 26Từ định nghĩa trên, ta có thể chia cụm từ thành ba cụm từ như sau: cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ.
Cụm danh từ: là loại tổ hợp từ do danh từ và một số từ ngữ phụ thuộc nótạo thành
Ví dụ: ba thùng gạo nếp, ba con trâu đực,
Cụm động từ: là loại tổ hợp từ do động từ và một số từ ngữ phụ thuộc
nó tạo thành Nhiều động từ phải có phụ ngữ đi kèm, tạo thành cụm động từ
Ví dụ: đùa nghịch ở sau nhà,
Cụm tính từ: là tổ hợp từ do tính từ và các từ khác đi kèm tạo thành
Ví dụ: xinh dã man, đẹp tuyệt vời,…
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi thấy từ chỉ màu sắc biểu thị là một cụm
từ Cụm tính từ chiếm số lượng nhiều và thể hiện rõ nhất trong các tính từ chỉ
màu sắc Cụm tính từ trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng như: đen lay láy, trắng nõn nà, đỏ gay đỏ gắt, xanh rậm rạp,…
Vũ Trọng Phụng liệt kê những cây thông, xoan, ngô đồng, phi lao mọc
hỗn loạn trên “sinh phần” như một cái rừng con Vẻ đẹp của thiên nhiên hòa vào nhau tạo thành một thể thống nhất “cái rừng con” chi chít trên sinh phần.
Trang 27Sinh phần ấy tưởng sẽ không thể nhoi lên được với những cây to lớn hơn, thế
nhưng nó vẫn nhoi lên trên đám lá một màu “xanh rậm rạp” Cụm từ chỉ màu
sắc thể hiện sự tươi tốt của những cây không thể che lấp sinh phần, được tác
giả so sánh như “một khối kim cương” thật là đồ sộ và vĩ đại Qua đó, cho
thấy vẻ đẹp của những sinh phần được con người kiến tạo nên bằng cẩm thạchcủa một công trình kiến trúc
Ví dụ 9:
Dưới bóng điện xanh, khuôn mặt trái xoan trắng nõn nà với cặp môi
chúm chím nụ hồng như là những tiếng gọi tha thiết của sức mạnh huyền bí Việt Anh ôm rõ người yêu vào lồng ngực mình.
[41;87] Dưới ánh sáng của bóng điện khuôn mặt hình trái xoan của Hằng hiện
lên “trắng nõn nà” Vẻ đẹp của khuôn mặt, vẻ đẹp của đôi môi “chúm chím hồng” được tác giả so sánh như những tiếng gọi của sức mạnh huyền bí nói
lên vẻ đẹp của Hằng như những tình cảm nồng nàn, tha thiết của tình yêu
cháy bỏng Điều ấy, càng làm Việt Anh trân trọng và yêu thương cô hơn “ôm
rõ người yêu”
2.2.1.2 Từ chỉ màu sắc là một cấu trúc so sánh
Theo Bùi Tất Tươm: “So sánh tu từ là sự đối chiếu hai hay nhiều đốitượng khác loại, giống nhau một thuộc tính nào đó nhằm biểu hiện một cáchhình ảnh, biểu cảm đặc điểm của đối tượng”[27;233]
Tác giả Cù Đình Tú thì cho rằng: “So sánh tu từ là cách công khai đốichiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giốngnhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của từng đối tượng”[26;175]
Ở những tác giả khác như Đào Thản, Hữu Đạt, Lê Anh Hiền thì không
khái quát thành so sánh tu từ mà chỉ gọi là so sánh và dùng ví dụ để phân tíchgiá trị tu từ được biểu hiện như thế nào trong câu Chẳng hạn, Đào Thản quanniệm: “So sánh là lối nói đối chiếu hai hay nhiều sự vật hay hiện tượng cómột hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hay tính chất bên
Trang 28trong Lối đối chiếu như vậy được sử dụng với mục đích giải thích, miêu tả,đánh giá và biểu lộ tình cảm về đối tượng được nói”[30;123].
Hữu Đạt cho rằng: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vàocác mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự giống nhau và khác nhau giũachúng”[9;294]
Và tác giả Lê Anh Hiền định nghĩa: “So sánh (hình ảnh) là sự đối chiếuhai đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cáchhình tượng đặc điểm của một trong hai đối tượng đó” [16;100]
Đinh Trọng Lạc cho rằng: “So sánh tu từ (so sánh hình ảnh) là một biệnpháp tu từ từ ngữ, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại củathực tế khách quan, không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nétgiống nhau nào đó nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẽ về đốitượng.”[18;262]
Như vậy, so sánh là biện pháp tu từ được sử dụng nhằm đối chiếu các
sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng sức gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt.
Từ các định nghĩa trên, Đinh Trọng Lạc đã nêu 6 dạng cấu trúc so sánhnhư sau [19;92]
Trang 29Khảo sát tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, từ chỉ màu sắc được ông sử dụng
nhiều nhất ở cấu trúc so sánh (1) A + t + tss + B
Ví dụ 10:
Ánh nắng mặt trời làm cho tóc nó đỏ như tóc Tây Cảnh ngộ đó tạo nó
nên một đứa hoàn toàn vô giáo dục, tuy nó tinh quái lắm, thạo đời lắm.
tả con người thật của Xuân Tóc Đỏ vô giáo dục, tinh quái và thạo đời Đồngthời, thấy được tính cách con người thể hiện rõ trong dáng vẻ nửa ta nửa tâycủa hắn
Ví dụ 11:
Mớ tóc màu râu ngô non xổ xuống cái áo trắng của Cử Tân như những ngọn sóng vàng.
[42;77]
Ở ví dụ này, ta thấy các từ chỉ màu sắc đều có mặt tạo trong một cấu
trúc so sánh “Màu râu ngô non” bổ sung cho màu “tóc” tạo nên ý nghĩa trong câu hoàn chỉnh, A: “mớ tóc màu râu ngô non”, đối tượng có t: “cái áo trắng” chỉ trạng thái, tính chất của Cử tân được so sánh “những ngọn sóng vàng”.
Tác giả sử dụng các từ chỉ màu sắc trong một cấu trúc hoàn chỉnh, từ chỉ màusắc làm đối tượng so sánh, trạng thái tính chất, và đối tượng được so sánh
Bên cạnh đó, màu của tóc “màu râu ngô non” là màu mà tác giả liên tưởng được so sánh với “màu vàng” có lẽ giữa hai màu này có sự tương đồng Tác
giả sử dụng từ chỉ màu sắc góp phần tạo nên ý nghĩ trong câu cũng như biệttài sử dụng ngôn ngữ của Vũ Trọng Phụng
Trang 30
2.2.2 Phân loại từ chỉ màu sắc dựa vào ngữ nghĩa
Dựa vào kết quả thống kê từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ TrọngPhụng, chúng tôi tiến hành phân loại từ chỉ màu sắc dựa vào ngữ nghĩa nhưsau: từ chỉ màu sắc về hiện tượng tự nhiên, từ chỉ màu sắc về động vật, từ chỉmàu sắc về thực vật, từ chỉ màu sắc về vật thể nhân tạo, từ chỉ màu sắc conngười
2.2.2.1 Từ chỉ màu sắc về hiện tượng tự nhiên
Hiện tượng tự nhiên là hiện tượng xuất hiện, tồn tại, hoạt động không
tùy thuộc vào ý chí, mong muốn của con người Nó là những hiện tượng tồntại độc lập trong các mối quan hệ với xã hội loài người
Ví dụ: Các hiện tượng tự nhiên như biển, núi, sông, mây, nắng, gió, trời, đất… Các hiện tượng này hoàn toàn tách biệt với con người, không phụ
thuộc vào con người Hiện tượng tự nhiên luôn tồn tại xung quanh đời sốngcon người, là phần quan trọng gắn kết cuộc sống con người với thế giới tựnhiên, là nguồn cảm hứng trong văn học và nghệ thuật
Trong thế giới tự nhiên, màu sắc luôn tồn tại xung quanh chúng ta, bằngnhững cảm nhận và qui ước về màu, hệ thần kinh thị giác và bộ não mà màusắc được lưu lại và gọi tên
Từ việc thống kê từ chỉ màu sắc trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụngchúng tôi thu được 607 từ chỉ màu sắc Trong đó, có 90 lần xuất hiện từ chỉmàu sắc về hiện tượng tự nhiên
Bảng thống kê tỉ lệ, theo thứ tự từ 1 đến 23 các từ chỉ màu sắc về hiện
Trang 31các màu cao hay thấp đều giữ nhiệm vụ quan trọng góp phần làm cho từ chỉmàu sắc trong tiểu thuyết của ông thêm phong phú và đa dạng Các từ chỉmàu sắc miêu tả những hiện tượng tự nhiên để làm nổi bật cuộc sống conngười, qua đó cho thấy con người luôn gắn liền với những hiện tượng tựnhiên
Trang 32hai móc” [34;210] Trong ví dụ trên của Vũ Trọng Phụng từ chỉ màu sắc
“đen” chỉ hiện tượng tự nhiên của chân trời của mây Từ “đen” thứ nhất kết hợp với hiện tượng tự nhiên là “chân trời” tác giả thấy những chấm đen của ở
vệt chân trời Màu sắc thông qua đôi mắt và được ghi lại ở não bộ nên Vũ
Trọng Phụng đã nhìn thấy được màu đen của chân trời qua động từ “thấy” Từ
“đen” thứ hai kết hợp với những cụm từ chỉ thời gian “mới một lúc” cùng với
sự ước tính của tác giả “không biết bao nhiêu” chỉ số lượng nhiều mây đen.
Màu đen thứ nhất và màu đen thứ hai có quan hệ mật thiết với nhau, nhữnghiện tượng tự nhiên không chịu sự tác động bởi con người để kéo về nhanhchóng lạ thường Vũ Trọng Phụng miêu tả hiện tượng tự nhiên ấy thật bao la
và rộng lớn qua các cụm từ “nhanh chóng lạ thường”, “hình như là bể”, “đè
ép cả mặt đất”.
Ví dụ 13:
Chung quanh ấp, nghĩa là sườn đồi, thì giồng toàn một giống cà phê,
khiến cho khách bộ hành từ đằng xa đã thấy một quả núi nhỏ xanh đen mà
trên ngọn là ba tòa nhà tây, tòa giữa thì ba tầng, hai bên tòa thì hai tầng, trông kiên cố và oai nghiêm như một trại binh vậy.
[38;22] Theo từ điển tiếng việt “ xanh 1 Đồ bằng đồng, sâu lòng có quai dùng
để chiên xào 2 Tiếng chỉ bao quát màu xanh da trời, màu lá cây: cỏ non xanhtận chân trời ( Ng.Du ) 3 Bạc nhược, thiếu máu: trông anh ấy độ này xanhlắm 4 Non, chưa chín: quả xanh 5 Trẻ, tuổi xanh”.[34;841] Trong tiểu
thuyết Vũ Trọng Phụng xanh chỉ hiện tượng tự nhiên của “núi”, tác giả sử dụng tính từ chỉ màu sắc “xanh đen” để chỉ màu sắc của cụm núi phía xa có
hai màu, yếu tố chính là màu xanh, yếu tố phụ là màu đen bổ sung cho rõnghĩa Kết hợp với những cụm từ phía trước làm câu văn trở nên rõ nghĩahơn Hơn nữa, những hình ảnh của tự nhiên được Vũ Trọng Phụng so sánhnhư một trại binh vậy, hình ảnh ấy nói lên được thiên nhiên kỳ vĩ như thế nào
Trang 33Bên cạnh đó, ông còn sử dụng các động từ như “hành”, “thấy” đó là hoạt
động của con người trước hiện tượng thiên nhiên
“trắng” màu sắc đặc điểm của tự nhiên kết hợp với từ láy “lấp lánh” thể hiện
vẻ đẹp của tự nhiên dù có khắc nghiệt ra sao thì cái đẹp ấy vẫn tồn tại Tácgiả liệt kê hàng loạt những trạng ngữ chỉ thời gian để chỉ ra nguyên nhân
thiêu đốt cỏ cây, vạn vật là “ánh nắng mặt trời” để lộ cái “trắng lấp lánh”
trên mặt đất phù sa Từ chỉ màu sắc góp phần nổi bật lên hình ảnh thiên nhiên,tất cả như làm rõ nguyên nhân dẫn đến hạn hán mà tác giả đã nhấn mạnh vớisắc thái biểu cảm
2.2.2.2 Từ chỉ màu sắc về động vật
Khảo sát tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng mối quan hệ gắn bó giữa conngười với động vật, con người hòa lẫn với động vật Vũ Trọng Phụng đã dùngtài năng sáng tạo của mình miêu tả cuộc sống con người dưới bức tranh sốngđộng của thế giới động vật Mà ở đây, những động vật ấy hoàn toàn gần gũi
với con người: con chó vàng, con chim phơi cái bụng màu trắng hếu,… Có
thể thấy, vai trò của động vật trong tư duy nghệ thuật đóng vai trò quan trọngtrong những sáng tạo của Vũ Trọng Phụng Sự hiện diện của từ ngữ chỉ màusắc về động vật giúp con người hòa vào thế giới tự nhiên, nó còn là phươngdiện tình cảm, thể hiện triết lí, quan niệm của con người về thế giới và cuộcsống Khi đi vào những hình ảnh gần gũi, quen thuộc hằng ngày trở thành