KẾT LUẬN Việc giảng dạy các văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn 10 có một ý nghĩa quan trọng: không chỉ là việc mở rộng phạm vi hiểu biết về các thể loại văn học, hiểu biết về c[r]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm 2
II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 4
1 Hệ thống văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 4
2 Kết quả khảo sát và những nhược điểm còn tồn tại trong dạy và học 5
III Nội dung đề tài 7
1 Cơ sở lý luận 7
2 Giải pháp thực hiện 8
2.1 Xuất phát từ đặc trưng phong cách thể loại 8
2.1.1 Khái niệm 8
2.1.2 Chức năng và đặc trưng 10
2.1.3 Đặc điểm 14
2.2 Vận dụng lịch sử giai đoạn xuất hiện của tác phẩm để lí giải 17
2.3 Bám sát nội dung và hình thức văn bản để triển khai 19
2.4 Gia tăng chất văn học 20
2.5 Sử dụng vai trò liên tưởng, tưởng tượng của học sinh 16 3 Thực hiện: Thiết kế bài học 23
IV Kết quả 27
V Bài học kinh nghiệm 28
VI Kết luận 28
VII Tài liệu tham khảo 30
Trang 2MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY CÁC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10
TẠI TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ THPT MIỀN TÂY
I Lý do chọn đề tài:
1 Chương trình Ngữ Văn lớp 10 đến nay đã trải qua nhiều năm thực hiệnđổi mới sách giáo khoa của Bộ Giáo dục - Đào tạo Bên cạnh việc lựachọn các tác phẩm văn học mang tính hình tượng, sử dụng hư cấu vớimột số thể loại chính như: thơ, truyện, tiểu thuyết (gọi chung là văn bảnnghệ thuật) là việc sử dụng tác phẩm văn học không hư cấu được viếtbằng nhiều thể loại khác nhau theo mỗi giai đoạn như: nghị luận, sử kí,văn tế, phú, dân ca lịch sử,…Nếu như chương trình sách giáo khoa trướcđây ít chú ý thể loại văn nghị luận (giảng văn nghị luận) thì chương trìnhmới xuất hiện khá nhiều loại văn nghị luận này Như vậy, vấn đề thể loạivăn học được mở rộng phạm vi, giáo viên và học sinh có điều kiện baoquát về hệ thống thể loại văn học trong nhà trường Đáng lưu ý nhất làthể loại văn nghị luận, việc giảng dạy và tiếp nhận các tác phẩm thể loạinày chưa được chú ý xứng đáng với vị trí của thể loại văn học này
2 Việc dạy và học văn bản nghị luận gặp nhiều khó khăn bởi các lí do sau:2.1 Mục đích của văn bản nghị luận: phát ngôn cho một tư tưởng, một
quan điểm, một chủ trương, một lập trường xã hội nhất định Vì thế,nội dung thường là các vấn đề có tính chất thời sự, chính trị, văn hoá,quốc gia, dân tộc, lịch sử,… tương đối rộng với tầm hiểu biết phổ biếncủa học sinh
Trang 32.2 Hình thức: thường sử dụng hệ thống lập luận chặt chẽ, nhiều lí lẽ: kết
hợp các luận cứ, luận chứng, đa dạng về phương thức biểu hiện và cácphương tiện diễn đạt nghệ thuật
2.3 Đặc điểm: Thường khô khan, ít phù hợp với tâm lí và nhận thức của
học sinh; ít tính văn chương, khó đi vào cảm xúc của người đọc, ýtưởng thâm thuý khó nắm bắt, …
2.4 Nguồn tư liệu bổ trợ không khan hiếm nhưng trong điều kiện của HS
nội trú ít có điều kiện để nắm bắt và tiếp thu kịp thời các thông tinmới Mặt khác do tính lịch đại của văn học trung đại gây sự khó khăntrong việc tiếp nhận của học sinh dân tộc
3 Xu thế hội nhập quốc tế hiện nay đang đặt mỗi cá nhân trước nhiều khókhăn và thách thức mới, nhất là các vấn đề chính trị xã hội Việc tiếpnhận các văn bản nghị luận trong nhà trường góp phần không nhỏ trongviệc hình thành hệ thống quan điểm, tư tưởng cho thế hệ trẻ trong việc xử
lí các vấn đề đặt ra của cuộc sống một cách đúng đắn, vừa phù hợp vớitinh thần thời đại mới, vừa đảm bảo tinh thần quốc gia, dân tộc
Trong khi đó, những văn bản nghị luận lại được giảng dạy và tiếpnhận với tư cách là tác phẩm văn học; vì thế, cái khó của người dạy là vừađảm bảo tính khách quan của tác phẩm, vừa truyền cảm lại những rung cảmcủa tác giả trước các văn bản nghị luận với tư cách là một sáng tạo nghệthuật thật sự Chính vì tầm quan trọng của thể loại, sự khó khăn của giáoviên khi giảng dạy, tôi xin được đề xuất một vài kinh nghiệm có tính chất cánhân góp phần đổi mới hướng nghiên cứu và giảng dạy môn Văn trong nhàtrường qua sáng kiến kinh nghiệm:
Trang 4“Một số kinh nghiệm giảng dạy các văn bản nghị luận trong
chương trình Ngữ Văn lớp10 tại trường PTDTNT THPT Miền Tây ”.
II Thực trạng
1 Hệ thống văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn 10 (Ban cơ
bản) : chiếm khối lượng khá nhiều.
Đại cáo bình Ngô
(Đọc văn) Nguyễn Trãi
Cuối1427
Tập 2tr.16
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Trích Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba) (Đọc thêm)
Thân Nhân
Tập 2tr.31
Nhân
vật LS
Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (Trích Đại Việt sử kí toàn thư)
(Đọc thêm)
Ngô Sĩ Liên Nhà
Trần
Tập 2tr.41
2 Kết quả khảo sát và những nhược điểm còn tồn tại trong dạy và học:
Trang 5Đối với việc dạy học Văn ở các cấp học nói chung và ở trường học phổthông nói riêng, việc làm sao để đảm bảo được nội dung kiến thức bài học
mà đồng thời học sinh lại phải chủ động chiếm lĩnh kiến thức bài học theoyêu cầu đổi mới về phương pháp hiện nay quả thật là điều không dễ thựchiện Văn học là khoa học nhưng cũng là nghệ thuật, vì vậy việc dạy văn đòihỏi người giáo viên phải vận dụng nhiều kĩ năng, trong đó không chỉ là kiếnthức mà đòi hỏi cả sự sáng tạo, linh hoạt của người giáo viên ở mỗi bài dạy
cụ thể Sự chuẩn bị kĩ càng cho việc lên lớp của người giáo viên từ khâuchuẩn bị - tức là phần thiết kế bài dạy - là một trong những yếu tố góp phầnkhông nhỏ vào hiệu quả của tiết học, đặc biệt là với những tiết học đọc văn,trong đó có những văn bản nghị luận
Trước thực tế đó, tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu về phía học sinh
Cụ thể, tôi đã phát câu hỏi cho 141 học sinh lớp 10 của trường để các emphát biểu những cảm nhận và nêu ý kiến, nguyện vọng của mình khi tiếp cậncác văn bản nghị luận Nội dung câu hỏi là:
Em có cảm nhận như thế nào khi học những văn bản nghị luận trong chương trình ngữ văn 10 ?
Kết quả :
+ 79 % (111 em)học sinh trả lời: Văn bản nghị luận có ý nghĩa, thực
tế nhưng đa phần dài, khô khan, khó nhớ nên không thích học bằngcác văn bản thuộc thể loại khác
+ 15 % (21 em) học sinh trả lời: có thích học nhưng chưa thật sự hiểu.+ 6 % (9 em) học sinh trả lời: không hiểu gì, không thích học
Kết quả trên cho thấy, phần đa học sinh không thích học văn bảnthuộc thể loại nghị luận Tuy nhiên, có đến 79 % học sinh nhận ra ý nghĩacủa văn bản nghị luận, nghĩa là nguyên nhân các em không thích học cácvăn bản này là do chưa có động cơ và hứng thú với giờ học
Trang 6Từ thực trạng trên, cùng với kinh nghiệm giảng dạy cá nhân, tôi nhậnthấy trong dạy và học văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn lớp 10tại trường PTDTNT-THPT Miền Tây còn tồn tại những nhược điểm sau:
1 Với người dạy:
+ Tâm lí: ít hứng thú, chưa coi trọng các giờ dạy văn bảnnghị luân, giờ dạy ít hào hứng
+ Cách truyền đạt: chú ý tính nội dung văn bản nhiều hơntính nghệ thuật, vì thế, giờ dạy thiên về lí trí hơn việc hướng dẫn HS
Với khối lượng văn bản mang đặc trưng của văn học trung đại: "Văn –
Sử - Triết bất phân) nên khá nhiều GV; cũng như thực tế dạy - học nêu trên, tôi đề xuất một số giải pháp bước đầu mà bản thân thấy có hiệu quả trong quá trình giảng dạy.
III Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
1 Cơ sở lý luận:
Trang 7Văn nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu Ở Trung Hoa, văn nghịluận có từ thời Khổng Tử (551- 479TCN) Ở Việt Nam, văn nghị luận cũng làmột thể loại có truyền thống lâu đời, có giá trị và tác dụng hết sức to lớntrong trường kì lịch sử, trong công cuộc dựng nước và giữ nước Có thể kể
từ Chiếu dời đô(1010) của Lí Công Uẩn (Lí Thái Tổ), Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn cho đến Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi; từ bài Tựa Trích diễm thi tập (1497) của Hoàng Đức Lương, Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì Nhậm đến bản điều trần Xin lập khoa luật (1867) của Nguyễn Trường Tộ; Chiếu Cần Vương (1885) đến Hịch đánh Pháp sau
này…
Có thể nói trong suốt trường kì lịch sử dân tộc, văn nghị luận là mộtthể văn phản ánh đầy đủ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý chí và khátvọng của cả một dân tộc Do đó, văn nghị luận ngày càng phát triển mạnh
mẽ, càng trở nên đa dạng và phong phú hơn
Nội dung và cấu trúc của một văn bản nghị luận được hình thành từcác yếu tố cơ bản là:
+ Vấn đề cần nghị luận (còn gọi là luận đề)
+ Luận điểm
+ Luận cứ : ( Lập luận, Luận chứng)
Như vậy, do văn nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục ngườiđọc chủ yếu bằng lí lẽ và lập luận nên hệ thống các luận điểm hết sức chặtchẽ và luận cứ cũng phải xác đáng Cho nên khi dạy loại văn bản này, ngườidạy nhất thiết bao giờ cũng phải khai thác hệ thống luận điểm, luận cứ và
Trang 8cách lập luận của văn bản Tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần khai thác các hệ
thống luận điểm như lâu nay chúng ta vẫn làm thì bài học trở nên khô khan,
khó gợi được hứng thú tích cực cho học sinh Vì vậy trong khuôn khổ của
một sáng kiến kinh nghiệm nhỏ, tôi xin được đề xuất một số giải pháp
mang tính bổ trợ để những giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận thêm sinh
động
2 Giải pháp thức hiện:
2.1 Xuất phát từ đặc trưng phong cách thể loại mà triển khai văn bản
trên các phương diện: đề tài, chủ đề (mục đích), hình thức, nội dung, ý
nghĩa,… Thể loại nghị luận (tức văn chính luận) có các đặc điểm cơ bản
sau đây:
2.1.1 Khái niệm:
Phong cách (PC) ngôn ngữ chính luận là PC được dùng trong lĩnh vực
chính trị xã hội Người giao tiếp ở PC này thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ
công khai quan điểm chính trị, tư tưởng của mình đối với những vấn đề thời
sự nóng bỏng của xã hội Ðây là khái niệm ít nhiều mang tính truyền thống
và việc phân giới giữa phong cách này với PC ngôn ngữ khoa học, PC ngôn
ngữ báo chí vẫn còn một số quan niệm chưa thống nhất
Ví dụ:
Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi)
Chính trị - Vạch trần âm mưu xâm lược, lên
án chủ trương cai trị thâm độc, tốcáo mạnh mẽ những hành động độc
ác của giặc Minh
Trang 9- Đứng trên quan điểm nhân nghĩacủa nhân dân: lấy dân làm gốc, coitrọng tư tưởng nhân đạo, nhân bảncao cả làm nền tảng cho hành động.
Tựa “Trích diễm thi
- Đứng trên quan điểm của cái đẹp
Hiền tài là nguyên
khí của quốc gia
(Thân Nhân Trung)
Văn hoá
Xã hội
- Phải biết quý trọng hiền tài bởi nó
có mối quan hệ sống còn đối vớiviệc thịnh suy của đất nước
- Coi giáo dục là quốc sách hàngđầu bởi “một dân tộc dốt là một dântộc yếu” (Hồ Chí Minh)
Hưng Đạo Đại
Vương Trần Quốc
Tuấn
(Ngô Sĩ Liên)
Nhân vậtlịch sử
- Ca ngợi người anh hùng tài năng,trung quân, trọng dân, chính trực,chân thành, thẳng thắn
Thái sư Trần Thủ
Độ
(Ngô Sĩ Liên)
Nhân vậtLịch sử
- Ca ngợi người anh hùng trungthực, thẳng thắn, độ lượng, nghiêmminh, chí công vô tư
2.1.2 Chức năng và đặc trưng:
a, Chức năng:
PC chính luận có ba chức năng: thông báo, tác động và chứng minh.Chính vì thực hiện các chức năng này mà ta thấy PC ngôn ngữ chính luận
Trang 10có sự thể hiện đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ có nét giống với các loạiphong cách ngôn ngữ khác
Ví dụ : Chức năng một số văn bản nghị luận.
Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi)
- Chiến thắnggiặc Minh và nềndân chủ tháibình Kết thúcchiến tranh
- Sức mạnh của
tư tưởng nhânnghĩa kết hợp vớisức mạnh củalòng yêu nước
- Niềm tự hàodân tộc và ý thứcbảo vệ nền dânchủ thái bình
- Tư tưởng nhânnghĩa trong mỗingười
- Nêu tư tưởngnhân nghĩa vàchân lí độc lậpcủa dân tộc
- Kể tội ác củagiặc (kẻ thù phinghĩa)
- Kể lại diễn biếncuộc kháng chiếnkhó khăn (Khẳngđịnh: Đại Việtchính nghĩa)
và kết cấu
- Thái độ trântrọng và bảo lưucái đẹp của mỗingười
- Niềm tự hàodân tộc, tình cảmxót xa trước sự
- Thu thập sưutầm, thu lượm tácphẩm qua cácthời kì lịch sử
- Tuyển chọn, sắpxếp, đặt tên sách
Trang 11- Thời gian viết,
họ tên, chứcdanh, quê quán,tên hiệu ngườiviết
tàn lụi của cáiđẹp
- Đưa thêm cácbài thơ của mìnhvào phần cuối tácphẩm
Hưng Đạo Đại
- Lịch sử ngườianh hùng dân tộcqua các thời kì
- Lòng cảm phục
và sự ngưỡng mộcủa mỗi người
- Tấm lòng vớinon sông, tổquốc, khí pháchanh hùng trongmỗi người
- Đưa ra cácchứng cứ về tàinăng và phẩmchất, đức độ
- Dùng các quan
hệ làm sáng tỏchân dung, nhữngtình huống làmsáng tỏ nhâncách
b, Ðặc trưng: PC chính luận có ba đặc trưng.
b.<1> Tính bình giá công khai: Người nói, người viết bao giờ cũng bộc lộ
công khai, rõ ràng trực tiếp quan điểm, thái độ của mình đối với sự kiện.Ðây là đặc trưng khu biệt PC ngôn ngữ chính luận với PC ngôn ngữ khoahọc và PC ngôn ngữ nghệ thuật Nếu văn chương là bình giá gián tiếp,khoa học là tránh sự thể hiện những yếu tố cảm tính chủ quan thì ngôn ngữcủa PC chính luận bao giờ cũng bộc lộ trực tiếp quan điểm, thái độ củamình về một vấn đề thời sự của xã hội Sự bình giá này có thể là của cánhân hoặc nhân danh một tổ chức, đoàn thể chính trị nào đó
b.<2> Tính lập luận chặt chẽ: Ðể bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết
phục và động viên mọi người tham gia vào việc giải quyết những vấn đề
Trang 12thời sự nóng hổi của đất nước, sự diễn đạt ở PC này đòi hỏi có tính chấtlập thuyết Nghĩa là phải bằng những lí lẽ đúng đắn, có căn cứ vững chắc,dựa trên cơ sở những luận điểm, luận cứ khoa học mà đấu tranh, thuyếtphục, động viên Tính lập luận chặt chẽ thể hiện ở việc khai thác nhữngquan hệ chiều sâu giữa hình thức ngôn ngữ và mục đích biểu đạt Một vănbản chính luận hay thường là những văn bản chứa đựng nhiều hàm ý sâusắc, có sức chinh phục lòng người, có sức cuốn hút mãnh liệt
b.<3>Tính truyền cảm: PC ngôn ngữ chính luận có tính truyền cảm mạnh
mẽ, thông qua sự diễn đạt hùng hồn, sinh động, có sức hấp dẫn và đạt hiệuquả cao, thuyết phục cả bằng lí trí và tình cảm, đạo đức Ðặc trưng này tạonên sự khu biệt giữa PC ngôn ngữ chính luận với PC ngôn ngữ khoa học
và khiến PC này gần với PC ngôn ngữ nghệ thuật Trong văn bản chínhluận, chúng ta thường bắt gặp các biện pháp tu từ, những từ ngữ có đặcđiểm tu từ cao nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ về mặt âm thanh và ý nghĩa
Ví dụ : Đặc trưng một số văn bản nghị luận.
Tác phẩm
Đặc trưng Tính bình giá
công khai
Tính lập luận chặt chẽ
Tính truyền cảm
Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi)
- Căm phẫn trướctội ác của giặc
- Xót xa trướcnỗi khổ của dân,
tự hào vui sướngtrước chiến thắng
- Nêu tiền đề:
chân lí độc lậpdân tộc và tư
nghĩa
- CM qua thực
- Các thủ phápnghệ thuật
- Hình tượng kì
vĩ mang tầm vóc
vũ trụ, đa dạng
- Ngôn ngữ: sử
Trang 13của ta.
tiễn: kẻ thù phinghĩa (tố cáo tội
ác của giặc), ĐạiViệt chính nghĩa(khởi nghĩa LamSơn)
- Rút ra kết luận:
Sức mạnh củanhân nghĩa, độclập dân tộc đãchiến thắng kẻthù xâm lược,tương lai đấtnước huy hoàng
dụng các động từmạnh, các tính từchỉ mức độ tốiđa
- Giọng điệu đadạng, nhịp điệulinh hoạt
- Khiêm tốn,nhún nhường khinói về mình
- Các lí do khiếnthơ văn khônglưu truyền hết ởđời
- Kết quả: đauxót, tổn thươnglòng tự hào dântộc dẫn đến việcsưu tầm, tuyểnchọn, biên soạn
để bảo tồn
- Chất trữ tìnhhoà quyện chấtnghị luận
Trang 14Hưng Đạo Đại
Vương Trần
Quốc Tuấn
(Ngô Sĩ Liên)
- Cảm phục vàngưỡng mộ sâusắc đến mức thầnthánh hoá
- Tự hào sâu sắc
- Giới thiệu lailịch
- Trình bày cácmối quan hệ làmsáng tỏ chândung nhân cách,tài năng
- Sự hiển linh khimất
- Lời kể hoàquyện hai yếu tố
tự sự và nghịluận
2.1.3 Ðặc điểm:
a Ngữ âm: Có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm Khi phát biểu trong hội
nghị hoặc diễn thuyết trong mit tinh, ngữ điệu được xem là phương tiện bổsung để tăng thêm sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe
b Từ ngữ:
+ Ðặc điểm nổi bật nhất là sự có mặt của lớp từ chính trị, thuật ngữ khoahọc Đây chính là công cụ riêng của PC chính luận PC chính luận đòi hỏikhi dùng từ phải luôn luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm, chỗ đứng và tìnhcảm, thái độ của mình
Ví dụ:
“Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Kiền khôn bĩ rồi lại thái,