1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THUYẾT MINH BẢN ĐỒ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KIẾN TẠO, ĐỚI PHÁ HỦY TỶ LỆ 1:50.000 TỈNH QUẢNG NGÃI

44 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HUYẾT MINH BẢN ĐỒ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KIẾN TẠO, ĐỚI PHÁ HỦY TỶ LỆ 1:50.000 TỈNH QUẢNG NGÃI Trong khuôn khổ Đề án Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam HÀ NỘI NĂM 2020 BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN Tập thể tác giả: ThS. Nguyễn Văn Đạt (Chủ biên), ThS. Nguyễn Văn Tình, ThS. Nguyễn Hồng Quang, ThS. Vũ Hồng Đăng, TS. Dương Mạnh Hùng và nnk. THUYẾT MINH BẢN ĐỒ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KIẾN TẠO, ĐỚI PHÁ HỦY TỶ LỆ 1:50.000 TỈNH QUẢNG NGÃI Trong khuôn khổ Đề án Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam CHỦ TRÌ NHIỆM VỤ ThS. Nguyễn Hồng Quang CHỦ NHIỆM ĐỀ ÁN TS. Trịnh Xuân Hòa VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN HÀ NỘI NĂM 2020 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013), Quy định kỹ thuật công tác điều tra và thành lập bản đồ hiện trạng trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam tỷ lệ 1:50.000; 2. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (1997). Bản đồ địa chất và khoáng sản Hội An, tỷ lệ 1:200.000; 3. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (1997), Bản đồ địa chất và khoáng sản Quảng Ngãi, tỷ lệ 1:200. 000; 4. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (1997), Bản đồ địa chất và khoáng sản Măng Đen, tỷ lệ 1:200. 000 ; 5. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 các nhóm tờ: Măng Xim (Nguyễn Thành Tín, 1997); Quảng Ngãi (Thân Đức Duyện, 1999); Ba Tơ (Dương Văn Cầu, 2004); Trà MyTắc Pỏ (Thái Quang, 2004); 6. Phạm Văn Hùng, (2014). Đánh giá hiện trạng, khoanh vùng cảnh báo chi tiết nguy cơ trượt lở đất ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi phục vụ quy hoạch phát triển bền vững. Lưu trữ sở TNMT Quảng Ngãi. 7. Trần Tân Văn và nnk., (2002). Đánh giá tai biến địa chất ở các tỉnh ven biển miền trung từ Quảng Bình đến Phú Yên Hiện trạng, nguyên nhân, dự báo và đề xuất biện pháp phòng tránh, giảm thiểu hiện quả. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội; 8. Tống Duy Thanh, Vũ Khúc và nnk, 2005. Các phân vị địa tầng Việt Nam. NXB Đại học quốc gia. Hà Nội. 9. Trần Văn Trị, Vũ Khúc và nnk, 2008: Địa chất và tài nguyênViệt Nam. NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ. Hà Nội. 10. Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Sơ đồ Địa chất 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi, Đề án “Tư vấn, hỗ trợ xây dựng, phát triển công viên địa chất Lý Sơn Sa Huỳnh và xây dựng hồ sơ trình Unesco công nhận công viên địa chất toàn cầu (Năm 201

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN

THUYẾT MINH BẢN ĐỒ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT - KIẾN TẠO, ĐỚI PHÁ HỦY

TỶ LỆ 1:50.000 TỈNH QUẢNG NGÃI

Trong khuôn khổ Đề án

"Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá

các vùng miền núi Việt Nam"

HÀ NỘI - NĂM 2020

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN

Tập thể tác giả: ThS Nguyễn Văn Đạt (Chủ biên), ThS

Nguyễn Văn Tình, ThS Nguyễn Hồng Quang, ThS Vũ Hồng Đăng, TS Dương Mạnh Hùng và nnk

THUYẾT MINH BẢN ĐỒ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT - KIẾN TẠO, ĐỚI PHÁ HỦY

TỶ LỆ 1:50.000 TỈNH QUẢNG NGÃI

Trong khuôn khổ Đề án

"Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá

các vùng miền núi Việt Nam"

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC HÌNH, ẢNH iii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iii

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 6

I.1 Vị trí địa lý, đơn vị hành chính 6

I.2 Địa lý tự nhiên 6

I.2.1 Địa hình 6

I.2.2 Khí hậu 8

I.2.3 Thủy văn 9

I.3 Kinh tế - Xã hội 12

CHƯƠNG II NGUYÊN TẮC THÀNH LẬP, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN BẢN ĐỒ CẤU TRÚC ĐỊA CHÂT - KIẾN TẠO, ĐỚI PHÁ HỦY TỶ LỆ 1/50.000 TỈNH QUẢNG NGÃI 14

II.1 Nguyên tắc thành lập bản đồ cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy tỷ lệ 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi 14

II.1.1 Nguyên tắc và quan điểm phân vùng kiến tạo 14

II.1.2 Nguyên tắc phân chia các đơn vị phức hệ thạch kiến tạo 14

II.2 Nội dung thể hiện trên Bản đồ cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy tỷ lệ 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi 15

II.2.1 Các nội dung nền địa chất 15

II.2.2 Các nội dung cấu trúc - kiến tạo và đới phá hủy 15

II.2.3 Các nội dung hiện trạng trượt lở đất đá 16

II.3 Phương pháp thể hiện 16

CHƯƠNG III KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT - KIẾN TẠO, ĐỚI PHÁ HỦY TỈNH QUẢNG NGÃI 17

III.1 Các phân vị địa chất khu vực tỉnh Quảng Ngãi 17

III.1.1 Địa tầng 17

III.1.2 Magma xâm nhập 19

III.2 Các yếu tố cấu trúc kiến tạo, đới phá hủy 23

III.2.1 Vị trí kiến tạo tỉnh Quảng Ngãi 23

III.2.2 Các đơn vị cấu trúc tỉnh Quảng Ngãi 25

III.2.3 Các phức hệ thạch kiến tạo 30

III.2.4 Đặc điểm hệ thống đứt gãy, đới phá hủy 32

II.2.5 Đặc điểm uốn nếp 36 CHƯƠNG IV MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT - ĐỚI PHÁ HỦY VỚI CÁC HIỆN TƯỢNG TAI BIẾN ĐỊA CHẤT TỈNH QUẢNG NGÃI

Trang 4

37 KẾT LUẬN 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 5

DANH MỤC HÌNH, ẢNH

Hình 1 Sơ đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi 7Hình 2 Vị trí tỉnh Quảng Ngãi trên bình đồ kiến tạo Việt Nam và khu vực (Trần Văn Trị và nnk, 2009) 24

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Lượng mưa trung bình tháng nhiều năm tại các trạm đo mưa trên địa bàn Quảng Ngãi (Nguồn: Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quảng Ngãi) 9Bảng 2 Lượng mưa mùa lũ, mùa kiệt và tỷ lệ so với lượng mưa năm tại các trạm đo mưa trên địa bàn Quảng Ngãi (Nguồn: Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quảng Ngãi) 10

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

Tỉnh Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc khu vực ven biển miền trung của Việt Nam

Về đặc điểm cấu trúc kiến tạo khu vực tỉnh đã được nghiên cứu và đề cập đến qua một

số các công trình nghiên cứu trước đây, trước hết là một số công trình nghiên cứu của các nhà địa chất Liên đoàn BĐĐCMN, trong quá trình đo vẽ thành lập các tở bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000, 1:500.000, 1:50.000 cũng như các dề án thăm dò, tìm kiếm khoáng sản, các công trình nghiên cứu chuyên đề Đặc biệt là các nghiên cứu địa chất Quăng Ngãi gần đây của Nguyễn Xuân Bao và nnk, của các nhà khoa học Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản phục vụ lập hồ sơ thành lập CVĐC Lý Sơn - Sa Huỳnh Trong tỉnh

đề tài điều tra, nghiên cứu về TLĐĐ cũng đã được triển khai hoàn thành năm 2014 do các nhà địa chất Viện Địa chất, VHLKHVN thực hiện tại 6 huyện miền núi Kết quả của

dề tài này đã bước đầu ghi nhận mối quan hệ của các hiện tượng tai biến địa chất với các yếu tố địa chất - kiến tạo Bên cạnh đó, vị trí kiến tạo khu vực Tỉnh Quảng Ngãi trong sơ đồ kiến tạo cấu trúc địa chất toàn lãnh thổ Việt Nam còn có nhiều quan điểm khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu đó là điều tra và thành lập bản đồ hiện trạng tỷ lệ 1:50.000 khu vực Quảng Ngãi, tập thể tác giả chủ yếu sử dụng quan điểm phân chia các đơn vị kiến tạo của Trần Văn Trị và Nguyễn Xuân Bao năm 2008 (theo tài liệu Địa chất

và tài nguyên Việt Nam) thống nhất sử dụng theo đề cương thuyết minh toàn đề án:

“Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất, đá các vùng miền núi Việt Nam”

Trong quá trình điều tra và thành lập bản đồ hiện trạng trượt lở đất đá tỷ lệ 1/50.000 khu vực tỉnh Quảng Ngãi, theo Hợp đồng thuê khoán chuyên môn số 79/2019/HĐTKCM-TL của Viện trưởng Viện KH Địa chất và Khoáng sản ký ngày 08/04/2019 giao nhiệm vụ cho Trung tâm Công nghệ ĐVL - ĐKT, do TS Dương Mạnh Hùng chủ trì thực hiện công tác “Điều tra và thành lập Bản đồ hiện trạng trượt lở đất đá tỉnh Quảng Ngãi tỷ lệ 1:50.000”, “Bản đồ cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy tỷ lệ 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi” là một trong những sản phẩm đi kèm nhằm làm sáng tỏ cấu trúc địa chất đới phá hủy khu vực nghiên cứu, nhằm khoanh định, phân chia chính xác hơn các khối cấu trúc khác nhau, với diện phân bố các đối tượng thạch học, địa tầng, magma khác nhau, cũng như các đới phá hủy, các hệ thôngs đứt gãy khác nhau và đánh giá vai trò của chúng trong môi quan hệ với các hiện tượng trượt lở trong tỉnh

Đến nay, công tác thành lập Bản đồ cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy tỷ lệ 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi đã được hoàn thành dựa trên các cơ sở tài liệu sau:

- Sơ đồ Địa chất 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi nguồn Đề án “Tư vấn, hỗ trợ xây dựng, phát triển công viên địa chất Lý Sơn - Sa Huỳnh và xây dựng hồ sơ trình Unesco công

Trang 7

nhận công viên địa chất toàn cầu, 2019

- Bản đồ Địa chất và Khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Măng Xim (Nguyễn Thành Tín và nnk., 1997);

- Bản đồ Địa chất và Khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Quảng Ngãi (Thân Đức Duyện và nnk., 1999);

- Bản đồ Địa chất và Khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Ba Tơ (Dương Văn Cầu

và nnk., 2004);

- Bản đồ Địa chất và Khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Trà My - Tắc Pỏ (Thái Quang và nnk., 2004);

- Bản đồ Địa chất và Khoáng sản Quảng Ngãi tỷ lệ 1:200.000 (Nguyễn Văn Trang

và nnk., hiệu đính, xuất bản năm 1997)

- Bổ sung các kết quả điều tra hiện trạng trượt lở đất đá tỷ lệ 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi, kết quả giải đoán ảnh Viễn thám chi tiết tỉnh Quảng Ngãi Cùng các tài liệu địa chất khu vực như: Địa chất Việt Nam, phần miền Bắc (Trần Văn Trị, 1977); Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Việt Nam (Trần Văn Trị, 2009)

“Bản đồ cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy tỷ lệ 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi”

và bản Báo cáo thuyết minh kèm theo được thành lập nhằm mục tiêu là cung cấp cơ sở tài liệu về cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy phục vụ cho việc phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất, đá ở tỉnh Quảng Ngãi; góp phần hoàn thành mục tiêu chung của

Đề án “Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất, đá các vùng miền núi Việt Nam”

Trang 8

CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

I.1 Vị trí địa lý, đơn vị hành chính

Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý 14o32’-15o25’

vĩ Bắc, 108o06’-109o04’ kinh Đông Phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi trên ranh giới các huyện Bình Sơn, Trà Bồng; phía nam giáp tỉnh Bình Định trên ranh giới thị xã Đức Phổ, huyện Ba Tơ; phía tây, tây bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum trên ranh giới các huyện Trà Bồng, Sơn Tây và Ba Tơ; phía tây nam giáp tỉnh Gia Lai trên ranh giới huyện Ba Tơ; phía đông giáp biển Đông, có đường bờ biển dài gần 130 km, với 5 cửa biển chính là Sa Cần, Sa Kỳ, cửa Đại, Mỹ Á và Sa Huỳnh

Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có diện tích tự nhiên 5.155,8 km2, trong đó diện tích phần đất liền khoảng 5145,4 km2 (Theo Niên giám thống kê năm 2018) Kể từ ngày 01/02/2020, tỉnh Quảng Ngãi có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 11 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã (TP Quảng Ngãi, TX Đức Phổ, các huyện Trà Bồng, Bình Sơn, Sơn Tây, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Ba Tơ và huyện đảo Lý Sơn); 173 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 148

xã, 17 phường và 8 thị trấn (Theo Nghị quyết số 867/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội)

I.2 Địa lý tự nhiên

I.2.1 Địa hình

Quảng Ngãi là tỉnh thuộc duyên hải Trung Trung Bộ với đặc điểm chung là núi lấn sát biển, địa hình có tính chuyển tiếp từ địa hình đồng bằng ven biển ở phía đông đến địa hình miền núi cao ở phía tây Miền núi chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đồng bằng nhỏ hẹp chiếm 1/4 diện tích tự nhiên Giống như các tỉnh miền Trung khác, địa hình Quảng Ngãi nhìn chung có dạng đẳng thước và được chia thành 4 vùng

rõ rệt: vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng bãi cát ven biển

- Vùng núi: Tiếp giáp phía đông Trường Sơn, bao gồm chủ yếu ở cả 5 huyện miền núi là Trà Bồng (Cả huyện Tây Trà cũ), Sơn Hà, Sơn Tây, Minh Long, Ba Tơ Quảng Ngãi là một trong những tỉnh có nhiều rừng núi cao trùng điệp Vùng rừng núi có diện tích khoảng 3.910 km2, chiếm 2/3 diện tích đất đai trong tỉnh Núi rừng tạo thành hình vòng cung, hai đầu nhô ra sát biển, ôm chặt lấy đồng bằng Ở phía tây bắc và tây nam sông Trà Khúc, các khối núi đều có bề mặt đỉnh cao từ (1.000-1.500) m, như núi Cà Đam cao 1.413 m, núi Đá Vách cao 1.115 m, núi U Bò cao 1.100 m, núi Cao Muôn cao 1.085 m Ở vùng thấp hơn núi thường có độ cao (400-600) m, còn ở vùng giáp đồng bằng, núi chỉ cao (200-300) m

Trang 9

Hình 1 Sơ đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi

- Vùng trung du: Đất đai được cấu tạo tại chỗ, thường bị bào mòn từ cao xuống thấp, có nhiều gò đồi, lắm sỏi đá Đất ở vùng này thường là đất xám, đất bạc màu, đất đen (Diện tích 1.770 ha, chiếm 0,3% diện tích đất đai toàn tỉnh), dùng để trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày Diện phân bố chủ yếu ở rìa phía tây, tây bắc, tây

Trang 10

nam các huyện đồng bằng Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức và thị

xã Đức Phổ Bề mặt địa hình nhấp nhô có hướng nghiêng chung về phía đông

- Vùng đồng bằng: Đồng bằng Quảng Ngãi nhỏ hẹp nhưng khá đa dạng về hình thái Diện tích khoảng 1.506,8 km2, trong đó chỉ có 136,7 km2 được bồi đắp phù sa thường xuyên hàng năm bởi 4 hệ thống sông chính: sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu Càng đi về phía nam đồng bằng càng hẹp lại, chỉ còn là một rẻo dọc bờ biển Địa hình bề mặt đồng bằng Quảng Ngãi khá bằng phẳng, nghiêng thoải

về phía đông, độ cao từ (2-30) m

- Vùng bãi cát ven biển: Có diện hẹp với diện tích khoảng 2.446,8 ha Địa hình vùng bãi cát ven biển Quảng Ngãi có đặc điểm chung giống như các khu vực khác ở miền Trung là sự hiện diện của các dải cát cao song song với đường bờ giữ vai trò như những đê cát chắn sóng tự nhiên, bảo vệ phần đất phía sau các cồn cát Ngoài ra, vùng cát ven biển Quảng Ngãi còn có kiểu địa hình thấp rất đặc trưng, đó là dạng đầm lầy cửa sông bị bồi lấp (liman) và các đầm phá ven biển (lagoon) Bề mặt địa hình nhiều nơi bằng phẳng, trải trên diện rộng (Đức Phổ, Mộ Đức, bắc Bình Sơn) là những nơi có bãi cát điển hình nhất

I.2.2 Khí hậu

Hoàn lưu gió mùa cùng với địa hình đã tạo nên chế độ mưa mang nét đặc trưng riêng của Quảng Ngãi Tổng lượng mưa trung bình năm phổ biến ở đồng bằng từ (2.200-2.500) mm, ở trung du, thung lũng thấp và vùng núi từ (3.000-3.600) mm, vùng đồng bằng ven biển phía nam dưới 2.000 mm

Mùa mưa: Vùng có lượng mưa lớn của Quảng Ngãi thuộc các huyện miền núi phía tây như Tây Trà Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long và Ba Tơ, với tổng lượng mưa từ 2.300

mm đến trên 2.600 mm, với tâm mưa là Ba Tơ 2.641 mm Vùng mưa ít nhất của tỉnh nằm ở phía đông dọc theo dải đồng bằng ven biển, có tổng lượng mưa dưới 1.650 mm,

có lượng mưa ít nhất là Sa Huỳnh với 1.114 mm Những nơi còn lại lượng mưa từ (1.700-2.000) mm Lượng mưa trong năm tập trung chủ yếu từ tháng 9 đến 12, chiếm (70-80) % tổng lượng mưa năm Mưa chỉ tập trung cao vào (3-4) tháng cuối năm nên dễ gây lũ lụt, ngập úng Có đợt mưa liên tục (5-7) ngày liền, kèm theo thời tiết giá lạnh, gió bấc, gây nhiều ách tắc cho sản xuất và sinh hoạt

Mùa ít mưa: Từ tháng 1 đến tháng 8 ở vùng đồng bằng, thung lũng thấp và hải đảo, lượng mưa chỉ chiếm (20-30)% tổng lượng mưa năm, vùng núi đạt tỷ lệ (30-35)% tổng lượng mưa năm do có mùa mưa phụ từ tháng 5 đến tháng 8 Từ tháng 2 đến tháng 4 là thời kỳ mưa ít nhất trong năm Do vậy mà ở địa phương người ta xem từ tháng 1 đến tháng 8 là mùa nắng, cùng cảm giác nóng bức

Trang 11

Bảng 1 Lượng mưa trung bình tháng nhiều năm tại các trạm đo mưa trên địa bàn Quảng Ngãi (Nguồn: Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quảng Ngãi)

Cổ Luỹ 60,2 23,2 18,0 16,8 132,1 107,6 60,0 89,9 235,9 430,0 433,4 200,5 1.807,7

Ba Tơ 135,2 60,2 61,3 79,3 200,0 181,3 108,4 164,9 328,9 759,5 887,5 519,1 3.485,6

An Chỉ 111,4 35,5 41,1 31,7 104,0 98,6 75,7 122,9 271,1 666,7 607,1 302,0 2.467,6 Sông Vệ 96,6 14,7 13,8 11,4 55,6 144,8 39,6 113,5 257,1 539,8 497,8 241,7 2.026,4

Mộ Đức 70,9 25,6 21,8 32,3 76,5 65,2 30,9 73,1 255,9 577,6 470,2 257,0 1.957,0 Đức Phổ 55,2 16,3 22,5 25,8 55,7 55,5 21,4 55,1 233,7 551,8 517,7 216,8 1.827,5

Sa Huỳnh 51,7 10,7 17,8 21,5 67,9 84,7 37,5 55,1 241,2 488,5 438,5 198,0 1.713,1 Minh Long 127,8 43,1 51,7 64,2 179,7 148,3 100,5 157,5 318,3 733,3 786,5 528,7 3.239,7

Theo thời gian sự biến động của mưa năm ở vùng nghiên cứu khá lớn Nguyên nhân là do khu vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và các nhiễu động thời tiết từ biển Đông làm cho lượng mưa hàng năm không ổn định Năm mưa nhiều có thể gấp 3-

4 lần năm mưa ít, năm 1996, 1998 và năm 1999 là năm mưa nhiều và đều khắp vùng nghiên cứu, năm 1999 đạt 5.095 mm tại Giá Vực, 4.557,7 mm tại Sơn Hà, 6.520 mm tại

Ba Tơ, 5.157 mm tại Sơn Giang và 3.947 mm tại Quảng Ngãi Nhưng năm 1982 là năm mưa ít nhất với lượng mưa đo được ở tại Giá Vực 1.299 mm, tại Sơn Hà 2.007,9 mm, tại Trà Bồng 2.671,2 mm, tại Ba Tơ 1.952,6 mm, tại Sơn Giang 1.975,6 mm và 1.373,9

mm tại Quảng Ngãi

I.2.3 Thủy văn

Trên bình diện địa hình, vùng Quảng Ngãi có 4 con sông lớn là Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ và Trà Câu Các con sông này có đặc trưng chung là đều có hướng chảy

vĩ tuyến hoặc á vĩ tuyến, phân bố khá đều trên vùng đồng bằng Quảng Ngãi

I.2.3.1 Sông Trà Bồng

Nằm ở phía bắc tỉnh, bắt nguồn từ dãy núi phía tây của huyện Trà Bồng, chảy qua

Trang 12

huyện Bình Sơn ra biển tại cửa Sa Cần Sông dài khoảng 45 km, hướng chảy cơ bản từ tây sang đông, đoạn cửa sông hướng rẽ hướng nam-bắc Phần lớn sông chảy qua vùng địa hình rừng núi có độ cao (200-1.300) m, phần còn lại chảy trong vùng đồng bằng xen đồi trọc và bãi cát Phía thượng nguồn của sông Trà Bồng có nhiều phụ lưu gồm nhiều sông suối như suối Nun, suối Cà Đú, sông Trà Bói ở các xã Trà Thủy, Trà Giang Đoạn gần cửa sông còn có những vùng có độ cao (10-40) m Sông Trà Bồng có 5 nhánh cấp

I Ở vùng hạ lưu còn có các nhánh sông suối nhỏ chảy ngược, hợp nước vào sông chính trước khi đổ ra biển Lưu vực sông Trà Bồng bao gồm hầu hết huyện Trà Bồng và huyện Bình Sơn Diện tích lưu vực khoảng 697 km2

Bảng 2 Lượng mưa mùa lũ, mùa kiệt và tỷ lệ so với lượng mưa năm tại các trạm đo mưa trên địa bàn Quảng Ngãi (Nguồn: Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quảng Ngãi)

Trạm Lượng mưa

Trang 13

Tum và huyện Sơn Tây, với các suối lớn nhỏ hợp nước với nhau chảy theo hướng đông xuống Sơn Hà, gọi là sông Rinh (Đắk Rinh) Nguồn thứ ba bắt nguồn từ tây nam huyện Sơn Hà giáp giới huyện Sơn Tây, chảy theo hướng TN-ĐB, gọi là sông Xà Lò (Đắk Sêlô)

tây-Ba sông chính từ các hướng khác nhau cùng hợp nước ở các xã Sơn Trung, Sơn Hải, phía đông nam huyện lỵ Sơn Hà, và đoạn sông này người ta thường gọi là sông Hải Giá Từ Hải Giá sông chảy theo hướng tây nam - đông bắc đến Thạch Nham (giáp giới

3 huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa) thì thoát khỏi núi non, một đoạn nữa đến thôn Hưng Nhượng xã Tịnh Đông về sau thì hướng chảy cơ bản là tây - đông, tuy nhiên vẫn

có nhiều đoạn sông quanh gấp khúc (do vậy được gọi là sông Trà Khúc)

Sông Trà Khúc có độ dài khoảng 135 km, trong đó có khoảng 2/3 chiều dài sông chảy qua vùng núi và rừng rậm, có độ cao (200-1.000) m, phần còn lại chảy qua vùng đồng bằng Bởi hợp lưu từ nhiều hướng khác nhau, nên sông có dạng hình cành cây, có

9 phụ lưu cấp I, 5 phụ lưu cấp II, 6 phụ lưu cấp III và 2 phụ lưu cấp IV

Sông Trà Khúc có diện tích lưu vực khoảng 3.240 km2, bao gồm phần đất của các huyện Sơn Hà, Tư Nghĩa, một phần huyện Ba Tơ, Minh Long, Sơn Tịnh và Trà Bồng, Tây Trà, có một phần nguồn nhỏ thuộc địa phận tỉnh Kon Tum

I.2.3.3 Sông Vệ

Bắt nguồn từ rừng núi phía tây của huyện Ba Tơ Sông chảy theo hướng tây nam - đông bắc, giữa các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức đổ ra biển Đông tại cửa Cổ Lũy và cửa Đức Lợi Sông dài khoảng 90 km, trong đó có 2/3 chiều dài chảy trong vùng núi có độ cao (100-1.000) m Sông có 5 phụ lưu cấp I, 2 phụ lưu cấp II Các phụ lưu không lớn, đáng kể là:

- Sông Liên: bắt nguồn từ vùng núi tây nam huyện Ba Tơ, chảy theo hướng tây nam - đông bắc, hợp nước với sông Tô ở thị trấn Ba Tơ

- Sông Tà Nô hay sông Tô: chảy từ đồng Bia xã Ba Tô có độ cao trên 200 m, theo hướng tây - đông, hợp với sông chính cách huyện lỵ Ba Tơ 18 km về phía hạ lưu

- Sông Mễ: chảy từ vùng núi Mum, phần tiếp giáp giữa 2 huyện Ba Tơ và Minh Long theo hướng TB-ĐN, hợp lưu tại khoảng làng Tăng xã Ba Thành, dài khoảng 9 km Sông Vệ có diện tích lưu vực 1.260 km2, bao gồm địa hạt các huyện Ba Tơ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành và một phần nhỏ diện tích của huyện Tư Nghĩa Độ cao trung bình lưu vực khoảng 170 m, mật độ lưới sông 0,79 km/km2

I.2.3.4 Sông Trà Câu

Bắt nguồn từ vùng núi Ba Trang (huyện Ba Tơ), với độ cao 400 m Dòng sông chính chủ yếu chảy theo hướng tây - đông, đoạn trên thường gọi là sông Vực Liêm Ở

Trang 14

cuối nguồn, sông Trà Câu nhập lưu với sông Thoa tại Sa Bình, xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ, rồi đổ ra cửa Mỹ Á cách đó khoảng 2,5 km

Sông Trà Câu có diện tích lưu vực 442 km2, chiều dài sông khoảng 32 km; chiều dài lưu vực 19 km và chiều rộng bình quân lưu vực 14 km Đây là con sông nhỏ nhất trong các con sông kể trên, nước thường cạn kiệt về mùa khô

Lưu vực sông Trà Câu bao gồm một phần phía đông và đông nam huyện Ba Tơ, các xã Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Nhơn huyện Đức Phổ

I.3 Kinh tế - Xã hội

Theo niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2018, dân số của tỉnh Quảng Ngãi tính đến năm 2018 là 1.272.827 người, mật độ dân số là 246,9 người/km2 Dân cư trong tỉnh phân bố rất không đồng đều, chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng gồm: thành phố Quảng Ngãi và 6 huyện, thị xã ven biển (Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ) và huyện đảo Lý Sơn Mật độ dân số ở thành phố Quảng Ngãi

là 1.635,3 người/km2, huyện đảo Lý Sơn là 1.901,6 người/km2; ở các huyện đồng bằng ven biển mật độ khoảng 542,9 người/km2; còn các huyện miền núi mật độ rất thấp, khoảng 68,9 người/km2 Có 84,94% dân cư sinh sống ở nông thôn, 15,06% sống ở thành thị Cơ cấu dân số nông thôn/thành thị thay đổi nhanh theo hướng giảm dân số tại vùng nông thôn Tổng số lao động toàn tỉnh năm 2018 là 763.537 người, chiếm 59,99% dân số; trong đó, lao động nam chiếm 51,25%, lao động nữ chiếm 48,75%

Về kinh tế, tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Năm 2019, Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt 55.102 tỷ đồng tăng 6,7% so với năm 2018, đạt kế hoạch năm Trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng ước đạt 29.162,9 tỷ đồng, tăng 7,3%; khu vực dịch vụ ước đạt 16.948,8 tỷ đồng, tăng 7,3%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 8.990,3 tỷ đồng, tăng 3,5% so với năm 2018 GRDP không tính sản phẩm lọc hóa dầu ước đạt 37.710,5 tỷ đồng, tăng 10,3% so với năm 2018

GRDP bình quân đầu người đạt 67,4 triệu đồng/người, tương đương 2.868 USD/người, vượt kế hoạch (Kế hoạch: 2.682 USD) Về cơ cấu kinh tế: công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng 53,64%; dịch vụ 29,17%; nông, lâm nghiệp và thủy sản 17,19%

Trên địa bàn tỉnh có nhiều cơ sở văn hoá - phúc lợi như trường học, bệnh viện, trạm y tế, cấp nước sạch được chú trọng đầu tư phát triển Tuy vậy mức độ và chất

Trang 15

lượng đáp ứng của hệ thống các cơ sở văn hoá - phúc lợi chưa đồng đều giữa các vùng

Về y tế, năm 2017, toàn tỉnh hiện có tổng số 154/184 (83,7%) xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tăng số giường bệnh/vạn dân lên 27,3; tăng tỷ lệ người dân tham gia đóng bảo hiểm y tế lên 88,23% Tập trung khắc phục hậu quả, xử lý môi trường, khám bệnh, cấp thuốc và tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh sau đợt lũ cuối năm 2017

Về giáo dục - đào tạo, năm 2017, có 100% xã và 13/13 huyện, thành phố, thị xã duy trì bền vững kết quả đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 183/184 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi Quảng Ngãi có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Ngoài tuyến đường sắt Bắc-Nam, hệ thống quốc lộ qua địa phận Quảng Ngãi gồm có:

- Quốc lộ 1 đoạn qua Quảng Ngãi đã được nâng cấp, mở rộng, đặc biệt có xây dựng các cầu lớn, dáng nét hiện đại là cầu Trà Khúc II và cầu sông Vệ (đều nằm phía đông cầu cũ, cách khoảng 100 m) Quốc lộ 1 đoạn qua TP Quảng Ngãi và huyện Sơn Tịnh được dẫn theo phía đông

- Quốc lộ 24 xây dựng trên nền Tỉnh lộ 5 cũ, xuyên qua Ba Tơ, nối với tỉnh Kon Tum hoàn thành với mặt đường trải nhựa, các cầu cống được xây dựng mới Quốc lộ 24B nối TP Quảng Ngãi với cảng Sa Kỳ cũng được xây dựng Từ các nền đường đã có trước kia, đường từ Quốc lộ 1 đoạn Bình Sơn - Trà Bồng, Sơn Tịnh - Sơn Hà - Sơn Tây,

TP Quảng Ngãi - Nghĩa Hành - Minh Long, đều được rải nhựa Đáng chú ý là cầu treo

ở miền núi được xây dựng bắc qua sông Rinh (1998) Tuyến đường băng qua đèo dốc cao, địa hình phức tạp như tuyến Sơn Hà - Sơn Tây được xây dựng thành công (1999) Đặc biệt, đường dọc bờ biển, đường dọc núi cũng đều có phương án xây dựng Các huyện lỵ, thị tứ hầu hết đều có đường thâm nhập nhựa dẫn từ tỉnh lỵ về Từ huyện lỵ, có các đường chính đi về các xã Hầu hết các xã trong tỉnh, kể cả các xã ở miền núi, đều có đường ô tô đến được trung tâm xã

Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, các tuyến đường đi qua vùng miền núi, trung du thường bị sạt lở vào mùa mưa lũ nên dẫn đến tắc đường, nghẽn mạch giao thông

Trang 16

CHƯƠNG II NGUYÊN TẮC THÀNH LẬP, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN BẢN ĐỒ CẤU TRÚC ĐỊA CHÂT - KIẾN TẠO, ĐỚI PHÁ HỦY

TỶ LỆ 1/50.000 TỈNH QUẢNG NGÃI II.1 Nguyên tắc thành lập bản đồ cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy tỷ

lệ 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi

II.1.1 Nguyên tắc và quan điểm phân vùng kiến tạo

Vấn đề phân vùng kiến tạo khu vực tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, Việt Nam nói chung cũng như trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á đã được nhiều nhà địa chất chú ý nghiên cứu

và phân chia các cấu trúc chính, để làm sáng tỏ vị trí, bản chất cũng như mối quan hệ giữa chúng trong bình đồ cấu trúc kiến tạo thế giới Trước khi học thuyết kiến tạo mảng

ra đời, các cấu trúc địa chất khu vực được xem là kết quả của quá trình vận động nâng

hạ vỏ trái đất do các chế độ và vận động kiến tạo quyết định tới quá trình tích tụ trầm tích và đặc thù của các yếu tố cấu trúc Tuy nhiên khi học thuyết kiến tạo mảng ra đời, mỗi đơn vị cấu trúc địa chất khu vực được xem xét và nghiên cứu trong không gian vận động của kiến tạo thành tạo toàn cầu Mỗi tiến trình vận động kiến tạo thành tạo một khu vực nhất định của trái đất được gắn liền với một giai đoạn vận động của các mảng liên quan do sự tách giãn hay va chạm cũng như tương tác giữa các mảng với nhau, dẫn đến các quá trình thành tạo trầm tích và hoạt động magma tương ứng

Trong khuôn khổ đề án “Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt

lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam”, thuyết minh “Bản đồ Cấu trúc địa chất - Kiến tạo, đới phá hủy tỉnh Quảng Ngãi” được xây dựng dựa trên nguyên tắc và quan điểm phân vùng kiến tạo mảng mà trong đó khu vực tỉnh Quảng Ngãi cũng như toàn bộ lãnh thổ Đông Nam Á là phần đông nam của mảng thạch quyển Âu - Á, tiếp giáp với mảng thạch quyển Ấn Độ - Australia ở phía tây nam và mảng Thái Bình Dương ở phía đông Theo Trần Văn Trị (2009), cấu trúc địa chất Việt Nam được phân chia thành các đơn vị cấu trúc - kiến tạo chính bao gồm: Các địa khu lục địa tiền Cambri tái biến cải trong Phanerozoi, giữa các địa khu này là các đơn vị kiến tạo hệ tạo núi đa kỳ Neoproterozoi - Mezozoi sớm Trong đó hệ tạo núi đa kỳ này được phân chia làm 2 phân

hệ là Neoproterozoi - Paleozoi sớm Việt - Trung và phân hệ tạo núi đa kỳ Paleozoi - Mezozoi sớm Đông Dương(trong đó có khu vực tỉnh Quảng Ngãi) Nằm chồng lên các cấu trúc kiến tạo cố kết đó là các trũng nội lục Paleozoi muộn Kainozoi Sau cùng là các trũng nội lục Kainozoi nằm chồng lên các móng đa nguồn

II.1.2 Nguyên tắc phân chia các đơn vị phức hệ thạch kiến tạo

Phức hệ thạch kiến tạo là một đơn vị của bản đồ cấu trúc, chúng đại diện cho một

Trang 17

giai đoạn nhất định của hoạt động kiến tạo thành tạo địa chất khu vực Vì vậy khi phân chia các đơn vị Phức hệ thạch kiến tạo cần tuân thủ nguyên tắc:

- Nguyên tắc trật tự thời gian: Mỗi khu vực vỏ trái đất được hình thành trong suốt lịch sử phát triển trái đất vì vậy Phức hệ thạch kiến tạo cũng được phân chia theo trật tự thời gian từ cổ đến trẻ

- Nguyên tắc thành hệ địa chất: mỗi giai đoạn hoạt động kiến tạo thành tạo địa chất khu vực có những đặc trưng khác nhau về tính chất, đặc điểm và bản chất của các lớp thành tạo trầm tích cũng như đặc điểm biến chất, biến dạng cho mỗi giai đoạn Tương

tự, thành phần, tính chất và đặc điểm hoạt động của các thể magma xâm nhập và phun trào cũng có những đặc trưng riêng cho mỗi giai đoạn phát triển của cấu trúc địa chất tương ứng

- Nguyên tắc bất chỉnh hợp kiến tạo: mỗi chu kỳ hay giai đoạn hoạt động kiến tạo thành tạo được ghi nhận bởi sự thay đổi trạng thái hoạt động của lớp vỏ trái đất có thể tách dãn, va chạm tạo núi hay hút chìm Sự thay đổi trạng thái hoạt động được ghi nhận

rõ nét qua các dấu hiệu bất chỉnh hợp kiến tạo giữa các lớp trầm tích hay các phân vị địa tầng Các bất chỉnh hợp địa tầng là dấu hiệu chính xác để phân chia các Phức hệ thạch kiến tạo cũng như các thành hệ kiến tạo của chúng

II.2 Nội dung thể hiện trên Bản đồ cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy

tỷ lệ 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi

II.2.1 Các nội dung nền địa chất

Bản đồ cấu trúc địa chất - kiến tạo, đới phá hủy (viết tắt Bản đồ CTĐC - ĐPH) được thành lập trên cơ sở bản đồ nền địa hình tỷ lệ 1:50.000, bản đồ nền địa chất tỷ lệ 1:50.000 và cần thể hiện các yếu tố chủ yếu sau:

- Các yếu tố nền địa hình (các đường đồng mức địa hình, điểm độ cao, vị trí và tên các địa danh, ranh giới hành chính, đường giao thông, mạng lưới thủy văn ) Nhằm giảm bớt các yếu tố không cần thiết, yếu tố nền địa hình chỉ nêu các yếu tố chính và được loại bỏ bớt một số ký hiệu như khu dân cư, yếu tố thảm phủ thực vật, ranh giới phân chia thủy văn, lưu vực thu nước, các đường đồng phức phụ, điểm độ cao cũng được giảm tối đa tránh nhầm lẫn với các yếu tố địa chất - cấu trúc khác

- Các yếu tố nền địa chất: đặc điểm cấu trúc địa chất như ranh giới địa chất, tuổi, thế nằm đất đá, nếp uốn, đứt gãy,

II.2.2 Các nội dung cấu trúc - kiến tạo và đới phá hủy

Bản đồ CTĐC - ĐPH tỉnh Quảng Ngãi tỷ lệ 1:50.000 được thành lập trong khuôn khổ Đề án “Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam” nhằm phục vụ công tác điều tra và phân vùng nguy cơ trượt lở đất

Trang 18

đá khu vực tỉnh Quảng Ngãi vì vậy các nội dung cấu trúc, kiến tạo và đới phá hủy chính cần thể hiện như sau:

- Đới cấu trúc kiến tạo được phân chia dựa trên bình đồ cấu trúc kiến tạo toàn Việt Nam với các ranh giới các miền cấu trúc là các đứt gãy sâu phân đới;

- Các phức hệ thạch kiến tạo; Các nếp uốn chính;

- Các hệ thống đứt gãy và đới phá hủy theo các dạng tài liệu thu thập

II.2.3 Các nội dung hiện trạng trượt lở đất đá

Các nội dung hiện trạng trượt lở đất đá cần được thể hiện các yếu tố thể hiện vị trí, quy mô và kiểu trượt lở đất đá theo quy định tại “Quy định kỹ thuật công tác điều tra và thành lập bản đồ hiện trạng trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam tỷ lệ 1/50.000” ban hành kèm theo Quyết định số 2321/QĐ - BTNMT ngày 20 tháng 11 năm 2013 của

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

II.3 Phương pháp thể hiện

Các nội dung, yếu tố trên bản đồ CTĐC - ĐPH được thể hiện như sau:

- Các yếu tố địa hình được thể hiện theo quy định của bản đồ địa hình, nhưng trên bản đồ sẽ lược bỏ hay giảm bớt những ký hiệu về địa hình ít quan trọng Đường đồng mức địa hình sẽ lược bỏ bớt chỉ giữ lại các đường đồng mức chính Đường đồng mức địa hình thể hiện bằng đường nâu nhạt Dòng nước, mặt nước thể hiện bằng màu xanh lam

- Các phân vị địa chất là cơ sở để phân chia các Phức hệ thạch kiến tạo được thể hiện trên bản đồ CTĐC - ĐPH qua yếu tố ranh giới địa chất và tuổi thành tạo

- Đới cấu trúc - kiến tạo chính khu vực tỉnh Quảng Ngãi được xác định là các vùng được phân biệt bởi các ký hiệu nét kẻ khác nhau

- Các yếu tố nếp uốn chính được thể hiện trên Bản đồ CTĐC - ĐPH qua các trục nếp uốn theo quy định thể hiện ký hiệu địa chất của bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000 và được đánh số thứ tự theo dãy số tự nhiên màu đen trên bản đồ

- Yếu tố đứt gãy và đới phá hủy, thế nằm đất đá được thể hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật về lập bản đồ Địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 phần đất liền (Thông tư 23/2012/TT-BTNMT ngày 28/12/2012) Các yếu tố đứt gãy được xác định bổ sung thêm qua công tác giải đoán ảnh viễn thám được thể hiện màu tím nhằm nổi bật và dễ quan sát

- Các yếu tố hiện trạng trượt lở đất đá được thể hiện bằng các ký hiệu theo quy định tại “Quy định kỹ thuật công tác điều tra và thành lập bản đồ hiện trạng trượt lở đất

đá các vùng miền núi Việt Nam tỷ lệ 1/50.000” (QĐ số 2321/QĐ-BTNMT ngày 20/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Trang 19

CHƯƠNG III KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT - KIẾN TẠO,

ĐỚI PHÁ HỦY TỈNH QUẢNG NGÃI III.1 Các phân vị địa chất khu vực tỉnh Quảng Ngãi

Trên phạm vi tỉnh Quảng Ngãi, công tác điều tra, lập bản đồ địa chất đã được hoàn thiện với tỷ lệ 1/200.000, gồm các tờ: Quảng Ngãi, Hội An, Măng Đen-Bồng Sơn Bản

đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1/50.000 bao phủ hầu hết diện tích tỉnh Quảng Ngãi gồm các nhóm tờ: Măng Xim (Nguyễn Thành Tín, 1997); Quảng Ngãi (Thân Đức Duyện, 1999); Ba Tơ (Dương Văn Cầu, 2004); Trà My-Tắc Pỏ (Thái Quang, 2004)

Tham gia vào cấu trúc địa chất tỉnh Quảng Ngãi bao gồm các phân vị địa chất chủ yếu sau :

III.1.1 Địa tầng

Theo các tài liệu hiện có, trên phạm vi tỉnh Quảng Ngãi có các phân vị địa tầng có tuổi từ Paleoproterozoi muộn đến Kainozoi bao gồm:

- Phức hệ Kan Nack (PPkn): Lộ ra ở nửa ĐN diện tích huyện Ba Tơ, bao gồm các

đá biến chất cao đến tướng granulit gồm: gneis 2 pyroxen, đá phiến cordierit silimanit, amphibolit, gneis biotit-hornblend, đá phiến thạch anh granat silimanit, ít quartzit, đá hoa, calciphyr

- Phức hệ Ngọc Linh (PP-MPnl): Lộ khá rộng rãi tại địa phận các huyện Ba Tơ,

Minh long, Sơn Hà, Nghĩa Hành và Đức Phổ Thành phần thạch học gồm amphibolit, gneis amphibol, gneiss biotit amphibol và nhóm đá phiến kết tinh đá phiến thạch anh biotit, quartzit, đá phiến biotit hornblend, đá phiến biotit graphit, đá hoa và calciphyr

- Phức hệ Khâm Đức - Núi Vú (NP-Є1kv): Các đá của phức hệ Khâm Đức - Núi

Vú lộ ra ở phía tây Trà Bồng, núi Sang (xã Trà Lãnh), núi Tà Ớt (xã Trà Khê), tạo thành các dải rộng (3-8) km, kéo dài theo phương á vĩ tuyến hàng chục kilômét Tổng diện lộ khoảng 593 km2 Thành phần đá của phức hệ tầng gồm: 1) Phần dưới: đá phiến thạch anh biotit amphibol, gneis biotit amfibol, amphibolit, đá phiến thạch anh plagioclas biotit silimanit granat, gneis biotit, plagiogneis biotit, đá phiến thạch anh mica nhiễm graphit, xen lớp mỏng quarzit mica, phiến thạch anh mica granat, xen các thấu kính, vỉa

đá hoa; 2) Phần trên: đá phiến thạch anh biotit silimanit, phiến thạch anh felspat 2 mica silimanit, xen lớp mỏng quarzit mica, gneis 2 mica Các đá của hệ tầng bị vò nhàu, uốn lượn mạnh, phát triển các nếp uốn đảo, tạo nên phương cấu trúc chung Tây-Tây Bắc, Đông-Đông Nam, với góc dốc thoải 30o-40o Chiều dày của hệ tầng thay đổi từ (450-500) m

- Hệ tầng A Vương (Є-O1av): Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, các đá hệ tầng A

Trang 20

Vương lộ ra ở thượng nguồn sông Trà Bồng tạo thành dải kéo dài theo phương vĩ tuyến, chạy dọc sông Trà Bồng, diện lộ khoảng 14,0 km2 Thành phần thạch học của hệ tầng gồm: 1) Phần dưới: đá phiến thạch anh - sericit, quarzit, đá phiến sét vôi silic, xen thấu kinh, lớp mỏng đá phiến actinolit, epydot clorit, phiến silic, phiến sét than; 2) Phần trên:

đá phiến sericit xen ít đá phiến sét chứa than Các đá của hệ tầng nằm xen kẽ, phân nhịp, hướng cắm về nam, góc dốc (60-70)o, có tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Khâm Đức và bị phủ chỉnh hợp bởi hệ tầng Suối Cát Tuổi của hệ tầng được xếp vào Cambri-Ordovic Chiều dày của hệ tầng thay đổi từ (700-750) m

- Hệ tầng Suối Cát (O-Ssc): Các đá của hệ tầng Suối Cát lộ thành dải chạy dài theo

bờ sông Trà Bồng, diện lộ khoảng 8,0 km2, dạng vòng cung từ Núi Róc tới suối Cà Đa, phủ chỉnh hợp trên hệ tầng A Vương Phương cấu trúc chung đông-tây, cắm về nam, góc dốc (60-70)o Thành phần đá của hệ tầng gồm: 1) Phần dưới: cuội kết cơ sở đa khoáng, đá phiến thạch anh sericit clorit chứa mangan hàm lượng trên 40%; 2) Phần trên: phiến sét sericit chứa than, phiến sét than, đá phiến thạch anh sericit có mangan xen kẽ Chiều dày của hệ tầng từ (600-650) m

- Hệ tầng Bình Sơn (J1-2bs): Các đá trầm tích hệ tầng Bình Sơn vùng Quảng Ngãi

phân bố ở khu vực Bình Sơn - An Điềm, ga đường sắt Bình Sơn và quanh huyện lỵ Bình Sơn, tạo thành một bồn trũng trầm tích, bề rộng khoảng 2,5 km, kéo dài khoảng 5,5 km, theo phương ĐB-TN, hai cánh thoải 10o tới 20o Phía bắc của bồn trũng trầm tích bị hệ đứt gãy á vĩ tuyến sông Trà Bồng làm biến vị mạnh, tạo nên các nếp uốn nhỏ và thế nằm trở nên dốc đứng Ở rìa phía tây bồn trũng trầm tích bị khống chế bởi đứt gãy phương kinh tuyến làm đá dập vỡ nát, biến vị mạnh Thành phần đá của hệ tầng gồm: cuội kết

cơ sở hạt vừa đến thô, sạn kết hạt vừa, cát kết hạt vừa đến mịn, sét bột kết, bột kết màu

đỏ và có di tích thực vật Cấu tạo phân lớp Tuổi của hệ tầng được xác lập vào Jura giữa, chiều dày của hệ tầng khoảng 420 m

sớm Hệ tầng Ái Nghĩa (N1an): Các thành tạo lục nguyên hệ tầng Ái Nghĩa vùng Quảng

Ngãi phân bố ở khu vực Vạn Tường, Ba Làng An, nằm dưới phun trào bazan Thành phần thạch học của hệ tầng gồm: cuội sạn kết xen cát kết màu trắng, cát bột kết xen các lớp bột sét kết, cát sạn kết màu trắng loang lổ vàng đỏ Cấu tạo phân lớp Tuổi của hệ tầng được xếp vào Neogen sớm, với giá trị tuyệt đối là 5,93-6,31 triệu năm Chiều dày của hệ tầng thay đổi từ (7-27) m

- Hệ tầng Đại Nga (βN1 đn): Các đá bazan hệ tầng Đại Nga vùng Quảng Ngãi phân

bố chủ yếu ở phía đông, đông bắc Bình Sơn và rải rác ở một vài nơi khác Thành phần

đá của hệ tầng gồm: 1) Bazan - augit - olivin: cấu tạo đặc sít hoặc lỗ hổng, hạnh nhân, kiến trúc porphyr nghèo ban tinh, nền kiến trúc gian phiến; 2) Bazan - augit - olivin - plagioclas: cấu tạo khối, đặc sít hoặc lỗ hổng, hạnh nhân, kiến trúc porphyr giàu ban

Trang 21

tinh, nền kiến trúc gian phiến; 3) Bazan - pyroxen, bazan - plagioclas - pyroxen: cấu tạo khối, đặc sít, lỗ hổng, kiến trúc porphyr; 4) Sét cát, cát sét hạt mịn đến rất mịn, gắn kết yếu, phân lớp mỏng xen kẽ trong lớp phủ bazan Tuổi của hệ tầng được xếp vào Neogen sớm, với giá trị tuyệt đối là 1,5-4,9 triệu năm

- Hệ tầng Túc Trưng (βN2-Q1tt): Thành phần đá của hệ tầng gồm: Bazan olivin -

augit, bazan olivin, bazan olivin - augit - plagioclas, cấu trúc porphyr, với nền kiến trúc gian phiến Chiều dày của lớp phủ bazan dao động từ (10-31) m

- Hệ Đệ Tứ (Q): Đồng bằng Quảng Ngãi thuộc kiểu đồng bằng ven biển được hình thành trên đới nâng tân kiến tạo, nên các trầm tích Đệ tứ có bề dày không lớn, là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và biển, các trầm tích ở đây có sự chuyển hướng khá mạnh và

rõ nét, tạo nên sự đa dạng của địa tầng Diện phân bố rộng khoảng 1.294,0 km2 Sự hình thành các tầng trầm tích có nguồn gốc và tuổi khác nhau liên quan chặt chẽ với dao động mực nước đại dương Các nhà địa chất đã phân ra 24 phân vị địa tầng xác định theo tuổi

và nguồn gốc và 2 phân vị không phân chia cho vùng này Thành phần trầm tích sông, sông - lũ tích, sườn tích - lũ tích, biển, đầm lầy, gồm cuội, tảng, khối, dăm, sạn sỏi hạt thô, bột, cát, sét hạt nhỏ

III.1.2 Magma xâm nhập

Trong phạm vi tỉnh Quảng Ngãi, hoạt động magma xâm nhập khá phong phú và

đa dạng về thành phần thạch học, từ siêu mafic cho tới axit và kiềm Các thành tạo magma xâm nhập vùng Quảng Ngãi có tuổi từ Proterozoi đến Kainozoi, có 7 giai đoạn phát triển magma lớn Mỗi giai đoạn xuất hiện một hoặc nhiều phức hệ, có phức hệ phân

dị dài, nhiều pha Tổng diện lộ các thành tạo magma xâm nhập khoảng 1.485 km2

- Phức hệ Tà Ma (γMPtm): Các đá xâm nhập magma phức hệ Tà Ma phát triển

mạnh và gắn bó chặt chẽ về không gian với loạt sông Rhe, tổng diện lộ khoảng 253 km2, gồm 3 khối magma lớn:

Khối Tà Ma là tên làng của người Hrê nằm gần sông Rhe, cách huyện lỵ Sơn Hà khoảng 15 km về phía nam, phân bố thành dải kéo dài theo phương ĐB-TN, chúng xuyên chỉnh hợp qua các đá gneis loạt sông Rhe dưới dạng tiêm nhập theo mặt gneis và gây migmatit hóa mạnh các đá loạt này, có ranh giới rất không rõ ràng với các đá gneis

và có hình thù kỳ dị, hai đầu nhọn hình lưỡi mác

Khối Hải Giá nằm tại cầu Hải Giá, cách huyện lỵ Sơn Hà khoảng 10 km về phía đông nam, kéo dài theo phương ĐB-TN

Khối Thạch Nham bắt đầu từ đập Thạch Nham, kéo dài xuống phía nam, cách thành phố Quảng Ngãi 16 km về phía tây, chúng xuyên chỉnh hợp với các đá gneis loạt sông Rhe, tạo thành các dải lớn, rộng (1-2) km, kéo dài theo phương TB-ĐN

Trang 22

Ngoài ra, có 2 khối nhỏ lộ ra ở Phước Giang, núi Vát (xã Ba Tiêu, huyện Ba Tơ)

và các khối vệ tinh nằm rải rác trong vùng

Thành phần thạch học các khối đá đồng nhất, gồm: đá gneisogranit, granit biotit, granit 2 mica sáng màu, cấu tạo gneis điển hình với các vệt dải biotit màu đen nằm xen lẫn, uốn lượn, vân vũ rất đẹp Xuyên cắt các đá phiến kết tinh của phức hệ Ngọc Linh nên tuổi của phức hệ được xếp vào Proterozoi giữa

- Phức hệ Phù Mỹ (ʋNPpm): Các thành tạo magma xâm nhập phức hệ Phù Mỹ có

tổng diện tích lộ khoảng 9,0 km2, gồm 3 khối lớn, phân bố chủ yếu ở Làng Ranh, Nước Lác (huyện Sơn Hà) và huyện Minh Long Ngoài ra, còn có các khối nhỏ nằm rải rác nhiều nơi trong vùng Các đá phức hệ Phù Mỹ có thành phần từ siêu mafic đến mafic, phổ biến là đá: gabro, gabropyroxenit bị amphibol hóa, horblendit, pyroxenit có olivin, pyroxenit bị amphibol hóa Đá có màu đen, đen phớt lục, ở ven rìa các khối có cấu tạo dạng dải, vào dần trung tâm khối có cấu tạo định hướng, có khi dạng khối, kiến trúc dạng porphyr

- Phức hệ Ngọc Hồi (νNP-Є1nh): Các đá magma phức hệ Ngọc Hồi vùng Quảng

Ngãi lộ ra trong diện phân bố của phức hệ Khâm Đức - Núi Vú, tổng Có 2 khối lớn: khối Suối Rang và khối đèo Thanh Trà, phân bố ở chân cầu Suối Rang (huyện Sơn Hà)

và đỉnh đèo Thanh Trà (huyện Bình Sơn) Ngoài ra, còn nhiều khối nhỏ nằm ở vùng đèo Gió và các nơi khác trong vùng Các đá phức hệ Ngọc Hồi có thành phần từ siêu mafic đến mafic, gồm các đá: gabro, gabropyroxenit, pyroxenit bị amphibol hóa, gabro 2 pyroxen, Các đá có màu đen, xám đen phớt xanh, cấu tạo định hướng mạnh tới phiến hóa Kiến trúc hạt biến tinh, dạng porphyr Tuổi của phức hệ được xếp vào Proterozoi muộn - Cambri sớm

- Phức hệ Chu Lai (γPZ1cl): Các thành tạo magma phức hệ Chu Lai lộ ra ở phía

bắc đứt gãy Sơn Hà - Thanh Trà Tổng diện lộ khoảng 219 km2, có 2 khối đặc trưng cho phức hệ:

Khối Đồng Tranh, nằm cách huyện lỵ Trà Bồng khoảng 10 km về phía đông bắc, kéo dài theo phương vĩ tuyến 17 km

Khối núi Cương, nằm về phía đông bắc huyện lỵ Sơn Hà khoảng 15 km, lộ ra dưới dạng thấu kính dẹt, bề rộng khoảng 2,5 km, kéo dài khoảng 15 km theo phương ĐB-TN

Các đá magma xâm nhập phức hệ Chu Lai có thành phần axit, bao gồm các đá: gneisogranit biotit, granit migmatit, gneisogranit 2 mica

- Phức hệ Bình Khương (ζPZ1bk)

Các đá của phức hệ thuộc loại cao kiềm, giàu granat, bao gồm các đá monzoosyenit thạch anh granat, monzonit thạch anh granat, syenit granat Đá có màu

Ngày đăng: 07/09/2021, 04:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013), Quy định kỹ thuật công tác điều tra và thành lập bản đồ hiện trạng trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam tỷ lệ 1:50.000 Khác
2. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (1997). Bản đồ địa chất và khoáng sản Hội An, tỷ lệ 1:200.000 Khác
3. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (1997), Bản đồ địa chất và khoáng sản Quảng Ngãi, tỷ lệ 1:200. 000 Khác
4. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (1997), Bản đồ địa chất và khoáng sản Măng Đen, tỷ lệ 1:200. 000 Khác
5. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 các nhóm tờ: Măng Xim (Nguyễn Thành Tín, 1997); Quảng Ngãi (Thân Đức Duyện, 1999); Ba Tơ (Dương Văn Cầu, 2004); Trà My-Tắc Pỏ (Thái Quang, 2004) Khác
6. Phạm Văn Hùng, (2014). Đánh giá hiện trạng, khoanh vùng cảnh báo chi tiết nguy cơ trượt lở đất ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi phục vụ quy hoạch phát triển bền vững. Lưu trữ sở TNMT Quảng Ngãi Khác
7. Trần Tân Văn và nnk., (2002). Đánh giá tai biến địa chất ở các tỉnh ven biển miền trung từ Quảng Bình đến Phú Yên- Hiện trạng, nguyên nhân, dự báo và đề xuất biện pháp phòng tránh, giảm thiểu hiện quả. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác
8. Tống Duy Thanh, Vũ Khúc và nnk, 2005. Các phân vị địa tầng Việt Nam. NXB Đại học quốc gia. Hà Nội Khác
9. Trần Văn Trị, Vũ Khúc và nnk, 2008: Địa chất và tài nguyênViệt Nam. NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ. Hà Nội Khác
10. Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Sơ đồ Địa chất 1:50.000 tỉnh Quảng Ngãi, Đề án “Tư vấn, hỗ trợ xây dựng, phát triển công viên địa chất Lý Sơn - Sa Huỳnh và xây dựng hồ sơ trình Unesco công nhận công viên địa chất toàn cầu (Năm 2019) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w