Mở rộng Tín dụng đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam Chi nhánh Hoàn Kiếm
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển kinh tế, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ởnước ta ngày càng được mở rộng về quy mô và số luợng Từ khi Luật Doanhnghiệp ra đời, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQ) đã phát triển rấtnhanh, nhất là các đô thị, các thành phố lớn Trên địa bàn thành phố Hà Nộinếu như năm 2001 mới có 2.818 doanh nghiệp, thì đến tháng 5 năm 2005 đã
có 25.479 doanh nghiệp Như vậy sau hơn 3 năm đã có hơn 22 ngàn DNNQD
ra đời Bình quân mỗi năm có trên 7.000 doanh nghiệp được thành lập.DNNQD phát triển đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước và đang trở thành lực lượng kinh tế quan trọng Tuy nhiên, hiệnnay phần lớn các DNNQD vẫn còn gặp một số khó khăn trong hoạt động nhất
là việc thực hiện các cơ chế, chính sách tài chính,… việc tạo điều kiện vayvốn và mở rộng các quan tín dụng đối với các DNNQD là rất cần thiết giúpcác DN này có thể phát triển góp phần làm tăng trưởng kinh tế nước nhà
Vì vậy em chọn đề tài nghiên cứu về “Mở rộng Tín dụng đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam Chi nhánh Hoàn Kiếm”.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: hoạt động tín dụng tại Ngân hàngthương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương ViệtNam chi nhánh Hoàn Kiếm
Mục tiêu: đưa ra các giải pháp để mở rộng tín dụng đối với cácDNNQD
Trang 2Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam ghi: “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiềnnày dể cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Vậy sự hình thành của ngân hàng như thế nào và cùng với thời gianngân hàng được phát triển dưới những hình thức nào? Các nhà khoa học đềuđồng ý rằng hoạt động ngân hàng gần như đã xuất hiện cùng lúc với sự hìnhthành đời sống kinh tế và xã hội của loài người Thông qua nghiên cứu cũngnhư các bằng chứng lịch sử cho thấy hoạt động ngân hàng đã ra đời từ khoảng
3000 đến 4000 năm trước công nguyên Mỗi giai đoạn ngân hàng lại cónhững sự thay đổi trong nhận thức cũng như hoạt động Ngân hàng đã đi từbước hình thành cực kỳ thô sơ và chính nhu cầu phát triển của xã hội và nềnkinh tế là nhân tố chính thúc đẩy ngân hàng ngày một phát triển, nâng cao cả
về số lượng lẫn chất lượng các hoạt động, dịch vụ để trở thành một thànhphần cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế
Giai đoạn sơ khai của ngành ngân hàng ra đời khi các thiết chế tổ chức
xã hội bắt đầu được hình thành Hoạt động của các ngân hàng sơ khai gồmcó: đổi tiền, bảo quản và giữ hộ tiền của các thợ vàng và những người giầu cócho vay nặng lãi Hoạt động của chúng mang tính chất gần giống như các
Trang 3tiệm cầm đồ ngày nay Các hoạt động này xuất phát từ việc hầu như mỗi quốcgia đều có đồng tiền riêng Quá trình giao lưu, buôn bán giữa các vùng, cáclãnh thổ với nhau đã tạo ra thu nhập cho những người làm nghề đổi tiền, đúctiền Thu nhập đó có được từ chênh lệch giá mua và giá bán giữa các loại tiền.Hoạt động cất giữ hộ, cho vay nặng lãi và thanh toán hộ cũng được nhữngngười đổi tiền thực hiện Việc có thể sử dụng tạm thời một phần số tiền củakhách để cho vay đã làm xuất hiện việc thu hút tiền gửi bằng cách trả lãi chongười gửi tiền
Trong vòng từ thế kỷ thứ V cho đến thế kỷ X nhiều hoạt động mớiđược áp dụng đã đem lại bước phát triển mới cho ngân hàng so với giai đoạn
sơ khai trước kia: chiết khấu thương phiếu, ghi chép và theo dõi khách hàngqua số hiệu tài khoản…
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, từ chỗ là ngân hàngcủa các thợ vàng, người cho vay ngân hàng sơ khai đã trở thành ngân hàngthương mại với chức năng chủ yếu là cho vay ngắn hạn rồi tiếp đó mở rộngcho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản, cho vay tiêudùng, kinh doanh chứng khoán, cho thuê…Các hình thức huy động ngày càngphong phú và đa dạng Ngân hàng đã giúp các luồng tiền di chuyển một cách
có hiệu quả đồng thời bằng danh mục các sản phẩm, dịch vụ của mình Ngânhàng cũng ngày một đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của cả người cần tiền lẫnngười có tiền, thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ Ngày nay, việc kinhdoanh dịch vụ tiền tệ không còn là độc quyền của các ngân hàng Các công tybảo hiểm, hiệp hội tiết kiệm cho vay, các tổ chức tín dụng tiêu dùng, các quỹtín dụng, các hợp tác xã tín dụng cũng tham gia vào các loại hình dịch vụ nhưnhận gửi tiền, cho vay thu lãi Tuy nhiên, trong bất cứ nền kinh tế nào trên thếgiới thì ngân hàng thương mại vẫn là tổ chức lớn nhất, quan trọng nhất tronglĩnh vực kinh doanh tiền tệ
Chức năng của Ngân hàng:
- Chức năng trung gian tài chính, với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết
Trang 4kiệm thành đầu tư, Ngân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu nối” giữangười dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Thông qua việc huy độngcác khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thươngmại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Vớichức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừađóng vai trò là người cho vay.
Với chức năng trung gian tài chính, ngân hàng thương mại đã gópphần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, ngân hàng vàngười đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhànrỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa,ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp cácdịch vụ thanh toán tiện lợi
Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinhdoanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thờigian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp
Đối với ngân hàng thương mại, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận chobản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặchoa hồng môi giới Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển củangân hàng thương mại
Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quátrình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất.Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã biến vốn nhàn rỗi không hoạtđộng thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩysản xuất kinh doanh phát triển
Chức năng trung gian tài chính được xem là chức năng quan trọngnhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàngthương mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của
Trang 5ngân hàng Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
- Chức năng trung gian thanh toán: Ngân hàng thương mại làm trunggian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàngnhư trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch
vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng vàcác khoản thu khác theo lệnh của họ Ở đây ngân hàng thương mại đóng vaitrò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng làngười giữ tài khoản của họ Ngân hàng thương mại thực hiện chức năngtrung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng.Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tàikhoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi Đó chính là tiền đề đểkhách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngân hàng vào vị trílàm trung gian thanh toán Hơn nữa, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặtgiữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế như rủi ro do phải vận chuyểntiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là với các khách hàng ở cách xa nhau,điều này đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua ngânhàng.Việc các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanhtoán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này,các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiệnthanh toán thuận lợi như séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻthanh toán, thẻ tín dụng Tuỳ theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn chomình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh
tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp ngườiphải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào
đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy, các chủ thể kinh tế sẽ tiếtkiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo được thanh toán an toàn.Như vậy, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độthanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.Đồngthời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm
Trang 6được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiềnmặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền
Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêmlợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán Thêm nữa, nólại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trongtài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng này cũng chính là cơ sở hìnhthành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại
- Chức năng tạo phương tiện thanh toán, hay còn gọi là chức năng “tạotiền” Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngânhàng phát hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian khôngcòn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa Nhưng vớichức năng trung gian tài chính và trung gian thanh toán, ngân hàng thươngmại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoảntiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Khi kháchhàng tại một Ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nênkhoản thu, tức làm tăng số dư tiền gửi của một khách hàng khác tại mộtNgân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới Trong khi không mộtNgân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệthống Ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanhtoán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay(tạo tín dụng)
Trang 7hoá hay tiền bạc, còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của số tàihoá đó trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó.
Nhà kinh tế người Pháp, ông Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụngnhư là “một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai” Ở đây,chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó, chonên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bênđương sự đối với nhau Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sựtín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng
Những hành vi tín dụng có thể được thực hiện do bất cứ ai, chẳng hạnhai người thường có thể cho nhau vay tiền Tuy nhiên, với thời gian chúng tathấy một sự chuyên nghiệp đã xảy ra và ngày nay khi nói tới tín dụng người tathường nghĩ ngay tới các ngân hàng, vì các tổ chức này luôn làm những việcnhư cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác…Mặt khác, trong một nền kinh tế
đã phát triển với thu nhập của những người làm công ăn lương gần tươngđương nhau và một hệ thống ngân hàng thế giới hiện đại thì mọi người chỉ cóvay mượn ngân hàng, hầu như không vay mượn lẫn nhau
Hoạt động tín dụng có tầm quan trọng bậc nhất trong ngân hàng đặcbiệt là ở các nước đang phát triển và có nền kinh tế thị trường như ở nước ta.Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm tới hơn 1/2 tổngtài sản có, thu nhập do tín dụng đem lại chiếm khoảng 1/2 đến 2/3 tổng thunhập cho ngân hàng
Ngân hàng thương mại có thể coi như một doanh nghiệp kinh doanhtiền tệ với hoạt động chủ yếu là việc đi vay để cho vay Hoạt động này củangân hàng thực chất là đi mua quyền sử dụng vốn để bán lại quyền sử dụngvốn đó Khác với các quan hệ mua bán thông thường, quan hệ tín dụng ngânhàng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền
sở hữu khoản vay Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới hình thức hànghoá hay tiền tệ cho người vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, sau khikhai thác giá trị khoản vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả
Trang 8toàn bộ giá trị khoản vay và thêm khoản lợi tức trả cho việc được sử dụngkhoản vay.
Trong quan hệ tín dụng, giá trị vốn tín dụng được chuyển từ người chovay sang người đi vay còn trong quan hệ mua bán hàng hoá giá trị hàng hoáthay đổi hình thái vật chất nghĩa là hàng hoá vẫn giữ nguyên giá trị chỉ thayđổi hình thái tồn tại Trong việc cho vay, tiền với tư cách là một vật có đặcđiểm là quay trở lại điểm xuất phát với nguyên vẹn giá trị của nó đồng thờicũng lớn lên trong quá trình luân chuyển
Nói tóm lại, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sỏhoàn trả và có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hìnhthức là cho vay( bằng tiền) và cho thuê( bất động sản và động sản ) Trongnhững năm 1960 trở về trước hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có chovay bằng tiền Xuất phát từ đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và chovay được coi là đồng nghĩa với nhau Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụcho thuê tài chính và cho thuê vận hành đã được các ngân hàng hoặc các địnhchế tài chính khác cung cấp cho khách hàng Đây là một sản phẩm kinh doanhcủa ngân hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực( nhà ở, văn phònglàm việc, máy móc- thiết bị)
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy nguời cho vay khi chuyểngiao tài sản cho người đi vay phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trảđúng hạn Đây là một yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng Trongthực tế , một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ
sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các bảođảm, chính quan điểm này đã ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay Đểthực hiện được nguyên tắc này, phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệlạm phát Tuy nhiên vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau
Trang 9nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạmphát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được trên cơ sở cam kếthoàn trả vô điều kiện Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệtín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu trong đóbên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanhtoán
Các ngân hàng thương mại hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tíndụng từ cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đến bảo lãnh, cho thuê tài chính,phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng Có thể phân loại tín dụng theonhiều tiêu thức khác nhau như sau:
1.1.2.1 Phân chia theo thời hạn cho vay:
Cho vay ngắn hạn: Là việc cho vay với thời hạn dưới một nămnhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhànước, doanh nghiệp, cá nhân ,hộ gia đình
Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhànước Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm Tín dụngtrung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiếnhoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp,chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máybơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều…
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồnhình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt lànhững doanh nghiệp mới thành lập
Cho vay dài hạn: Thời hạn vay trên 5 năm và tối đa có thể lên đến20-30 năm, một số trường hợp đặc biệt có thể lên đến 40 năm
Trang 10Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhucầu dài hạn như xây dựng nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn,xây dựng các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho vay ngắnhạn, nhưng từ những năm 1970 trở lại đây, các ngân hàng thương mại đã chuyểnsang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao
tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng
1.1.2.2 Phân chia theo đảm bảo
Cho vay có bảo đảm:
Cho vay bảo đảm biểu hiện việc cho vay có cầm giữ các vật thế chấp
cụ thể nào đó, ví dụ như: xe cộ, nhà cửa, đất đai hoặc hàng hoá…Vật thế chấpnhững khoản nợ rất đa dạng song một yêu cầu cơ bản là phải có thể bán được
Lý do chủ yếu đòi hỏi một khoản vay phải được đảm bảo là nhằm tạo điềukiện để người cho vay giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp người vaykhông muốn hoặc không thể trả nợ vay khi đến hạn Bảo đảm không có nghĩa
là món nợ sẽ được hoàn trả vì còn nhiều chi phí , công đoạn liên quan đếnviệc xử lý tài sản đảm bảo Việc bảo đảm chủ yếu để giảm bớt rủi ro cho ngânhàng Trong trường hợp giá trị thanh lý của tài sản vượt quá giá trị khoản vaythì khoản chênh lệch sẽ được hoàn trả cho người vay nhưng nếu không đủ giátrị khoản vay thì ngân hàng có thể trông đợi vào sự phán quyết của Toà ánhay tịch biên thêm tài sản của khách hàng
Sự bảo đảm là yêu cầu phải có đối với các khoản cho vay vì một sốnguyên nhân Thông thường đó là do sự yếu kém về tài chính của người vay
và khi đó thì ngân hàng cần có tài sản cầm cố, thế chấp để đảm bảo an toàncho hoạt động của ngân hàng Việc thời hạn cho vay kéo dài đồng nghĩa vớirủi ro tăng thì việc đảm bảo gần như bắt buộc Tỷ lệ cho vay tối đa được tínhtrên giá trị tài sản đảm bảo và tỷ lệ đó cao hay thấp tuỳ vào từng quy định củacác ngân hàng, pháp luật, tư cách pháp nhân khách hàng…
Cho vay không có bảo đảm
Trang 11Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm được dựatrên uy tín, khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng, lợi tức có thể cótrong tương lai cùng tình hình trả nợ trước đây Với những doanh nghiệp, cánhân mà nguồn thu nhập ổn định, là khách hàng lớn của ngân hàng, hoạt độnghiệu quả có thể ngân hàng sẽ cho vay những khoản vay lớn mà thiếu giá trị tàisản đảm bảo thậm chí không có tài sản đảm bảo Ở Việt Nam, trong nhữngnăm 90 các ngân hàng chỉ được phép cho vay có bảo đảm trừ các doanh nghiệpnhà nước kinh doanh có hiệu quả và cho vay hộ nông dân từ 5 triệu đồng trởxuống Ngày 29/12/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-
CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; theo nghị định này việc chovay không có bảo đảm được mở rộng hơn so với trước cho phép các tổ chức tíndụng được lựa chọn khách hàng để cho vay không có đảm bảo khi cho vayngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển hoặcphương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống Tuy nhiên, khách hàngvay không đảm bảo phải hội đủ một số điều kiện cơ bản sau:
- Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
- Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi
có khả năng hoàn trả nợ hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thiphù hợp với quy định của pháp luật
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
- Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của
tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tíndụng, cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảođảm bằng tài sản
- Tổng mức cho vay không đảm bảo và điều kiện cho vay không đảmbảo do Ngân hàng Nhà nước quy định
1.1.2.3 Phân chia theo hình thức tài trợ
Trang 12Theo hình thức tài trợ tín dụng đựơc chia thành: chiết khấu thươngphiếu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê.
Chiết khấu thương phiếu: là việc NH ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng
để sở hữu 1 thương phiếu chưa đến hạn Đây là nghiệp vụ đơn giản nhất dựatrên sự tín nhiệm giữa NH và những người ký tên trên thương phiếu
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Hìnhthức cho vay lại có thể phân chia thành:
Cho vay doanh nghiệp: Đây các khoản tín dụng thương mại và côngnghiệp với thời hạn biến động từ một vài tháng đến vài năm Hình thức tíndụng có thể là vay món hoặc hạn mức Doanh nghiệp có thể vay một lần toàn
bộ khối lượng tín dụng hoặc cũng có thể được cung cấp một hạn mức tín dụngtrong một khoản thời gian nhất định và sẽ được sử dụng trong phạm vi tíndụng đó
Cho vay tiêu dùng Đây là hình thức tín dụng đang rất phát triển vớicác sản phẩm, dịch vụ như cho vay ô tô trả góp, mua nhà trả góp, thấu chi Sựgia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đãhướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một thị trường đầy tiềmnăng Mức lãi suất của các loại vay tiêu dùng khác nhau tuỳ thuộc vào đặcđiểm của khoản vay: chất lượng và hình thức thế chấp, mức độ rủi ro và cácyếu tố phi lãi suất kèm theo như các khoản phí hoặc hoa hồng Phương thứccho vay có thể cho vay trực tiếp hoặc thông qua tài trợ cho các doanh nghiệpbán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các doanh nghiệp này bán hàngtrả góp Cho vay tiêu dùng có rủi ro rất cao Vì vậy ngân hàng thường yêu cầumột mức lãi suất cao, yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm nhân thọ, hànghoá…
Cho vay Chính phủ:Chính phủ cũng là một trong những khách hàngcủa các ngân hàng thương mại Hình thức phổ biến là ngân hàng mua trái
Trang 13phiếu do kho bạc nhà nước phát hành.Nhà nước cũng vay ngân hàng để đầu
tư phát triển hạ tầng cơ sở vật chất
Cho vay các tổ chức tài chính khác: Việc vay mượn tạm thời giữacác tổ chức tài chính, tín dụng rất phổ biến và cũng tạo điều kiện cho việc lưuchuyển vốn nhanh hơn Ở các nước có trình độ phát triển cao, các ngân hàngthương mại có mối liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành cả một hệ thống hoạtđộng hiệu quả
Cho vay liên quan đến bất động sản:
Việc cho vay đầu tư bất động sản đã có thời gian đem lại lợi nhuận rấtlớn cho ngân hàng ở một số nước như Việt Nam, Thái Lan Khi giá nhà, giáđất rơi vào trạng thái đóng băng thì với các hoạt động tín dụng liên quan đếnbất động sản ngân hàng phải tăng cường sự giám sát, có sự điều chỉnh phùhợp mức cho vay, định giá để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
Ngoài các dịch vụ căn bản trên, hoạt động tín dụng của ngân hàng còn
có một số dịch vụ như:
Bảo lãnh
Đây là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thựchiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiệnđúng nghĩa vụ với bên thứ ba Bảo lãnh phát triển nhờ uy tín của ngân hàngngày được nâng cao Bảo lãnh thường được áp dụng trong lĩnh vực xây lắp
Có nhiều loại bảo lãnh : bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảolãnh bảo hành, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán….Hoạt động bảolãnh sẽ giúp ngân hàng thu được phí bảo lãnh Tuỳ từng trường hợp cụ thể vàtuỷ vào chính sách khách hàng của mỗi ngân hàng sẽ quy định khách hàng cóphải có bảo đảm cho khoản bảo lãnh hay không, khách hàng có thể được bảolãnh mà không cần tài sản bảo đảm hoặc phải có tài sản bảo đảm theo quyđịnh hoặc có thể sẽ phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định đối với giá trị của khoảnbảo lãnh, có thể là 10%, 80% hay 100% số tiền bảo lãnh
Cho thuê
Trang 14Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản đẻ cho khách hàng thuêtheo những thảo thuận nhất định
Với các thiết bị, phương tiện có giá trị lớn, các doanh nghiệp khôngmuốn mua có thể sử dụng dịch vụ cho thuê thiết bị trung và dài hạn của ngânhàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Ngân hàng sẽmua thiết bị và cho khách hàng thuê kèm theo một số điều kiện Kết thúc hợpđồng thuê, doanh nghiệp có thể được ưu tiên mua lại phương tiện với giá ưuđãi Người ta cũng gọi hình thức này là thuê mua tài chính Hiện nay ở ViệtNam có rất nhiều các công ty tài chính mà chủ yếu là thuộc các Ngân hàngthương mại quốc doanh
1.1.2.4 Phân chia theo rủi ro
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ,các căn cứ để chia loại rủi ro Cách phân loại này giúp ngân hàng thườngxuyên đánh giá lại các khoản mục tín dụng, dự trù quĩ cho các khoản tín dụngrủi ro cao, đánh giá chất lượng tín dụng
Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi
Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lànhmạnh như khách hàng có hàng hóa tiêu thụ chậm, tiến độ thực hiện kế hoạch
bị chậm, khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,
…
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn vớithời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo cógiá trị lớn…
Nợ quá hạn khó đòi: là nợ qúa hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém,tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
Ngoài các cách phân chia trên thì tín dụng còn đựơc phân chia theonhiều cách khác như theo ngành kinh tế, theo mục đích sử dụng…
1.2 Hoạt động tín dụng đối với DNNQD của NHTM
1.2.1 Khái quát về các DNNQD
Trang 151.2.1.1 Vai trò của các DNNQD
Đối với sự phát triển kinh tế
Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế toàn cầu, DNNQD ngàycàng giữ vai trò hết sức quan trọng và trở thành một thành phần không thểthiếu được đối với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế thị trường Vai tròcủa DNNQD được khẳng định qua các khía cạnh:
Nâng cao tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: Thông qua cạnhtranh, các doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất vì giảm chi phísản xuất đồng nghĩa với giảm giá thành, đồng thời cũng thúc đẩy các doanhnghiệp nhanh chóng đổi mới thiết bị, công nghệ Cạnh tranh không nhữnggiúp các doanh nghiệp đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu về tiêu dùng cho sảnxuất hay tiêu dùng cho cá nhân trong xã hội, mà thông qua đó nó còn giúpđào thải và bình tuyển tự nhiên các doanh nghiệp, doanh nghiệp nào làm ănkhông có hiệu quả sẽ nhanh chóng bị loại ra khỏi thị trường, trên thị trườngchỉ tồn tại các doanh nghiệp có hiệu quả thực sự
Góp phần làm tăng thu nhập quốc dân: Hoạt động sản xuất, kinh doanhcủa các DNNQD đã góp phần làm gia tăng hoạt động đầu tư trong nền kinh
tế, thông qua đó làm tăng đáng kể thu nhập quốc dân trong nước
Tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước: Nguồn thu chủ yếu củaNgân sách Nhà nước là thuế Thuế do các tổ chức, các cá nhân trong quốc giathực hiện nghĩa vụ của mình Phần lớn thuế thu được là do đóng góp của các
tổ chức kinh tế trong đó có các DNNQD Về mặt pháp luật các DNNQD cũngnhư các doanh nghiệp nhà nước có nghĩa vụ như nhau trong việc nộp thuế.Các loại thuế phổ biến mà các doanh nghiệp này thường phải đóng là thuếVAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhậpkhẩu
Góp phần tạo việc làm, giảm thất nghiệp: Việc làm hay một tỷ lệ thấtnghiệp cao là một vấn đề xã hội nan giải với bất cứ quốc gia nào Với dân sốtrên 85 triệu người như nước ta hiện nay, hàng năm sẽ có trên 1,5 triệu người
Trang 16bước vào độ tuổi lao động Giải quyết một số lượng việc làm như vậy mỗinăm là một vấn đề không hề đơn giản Trong khi các doanh nghiệp nhà nướcchỉ có thể giúp một phần trong số lao động kia có việc làm thì các DNNQDthực sự là một cứu cánh cho số còn lại Sự xuất hiện và phát triển của cácDNNQD đã làm tăng thêm cơ hội có việc làm cho tất cả mọi người, đặc biệt
là lao động trong khu vực nông thôn cũng như lao động dư thừa từ các doanhnghiệp nhà nước giải thể, cổ phần hóa Đây là một thế mạnh rõ rệt của cácDNNQD, và cũng là nguyên nhân khiến chúng ta quan tâm đặc biệt đến đốitượng này
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hoá: Thu hút một lực lượng lớn là lao động dư thừa ở nông thôn, lại có thểnhanh chóng thích nghi đón đầu công nghệ mới, chuyển đổi hướng sản xuấtnhanh chóng cho phù hợp với thị trường, do đó DNNQD đã và đang tạo ranhững chuyển biến hết sức quan trọng về cơ cấu kinh tế: từ một nền sản xuấtnhỏ, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp sang một nền kinh tế có cơ cấu tiên tiến,hướng xuất khẩu, phù hợp với định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tóm lại, Đại hội Đảng VI với chủ trương phát triển nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần đã mở đường cho các DNNQD có điều kiện tồn tại,hoạt động, và phát triển Luật Doanh nghiệp mới ra đời gần đây đã tạo dựngmột hành lang pháp lý khá đầy đủ và hoàn thiện cho sự hoạt động của cácdoanh nghiệp này Cùng thực tế sau gần 20 năm đổi mới, các DNNQD đã thểhiện rõ vị trí và vai trò ngày càng quan trọng của mình trong nền kinh tế,đóng góp đáng kể vào sự phát triển,ổn định kinh tế đất nước
Đối với hoạt động Ngân hàng
Khu vực kinh tế NQD hoạt động một cách sôi nổi và ngày càng pháttriển cả về quy mô và chất lượng đã tạo ra một nhu cầu lớn cho ngân hàng cả
về vốn và nhu cầu tín dụng, thanh toán, dịch vụ ngân hàng Điều này đã tạođiều kiện cho hoạt động ngân hàng ngày càng trở lên sôi động hơn Do vậy
mà việc mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
Trang 17doanh sẽ giúp ngân hàng ngày càng năng động và hoàn thiện hơn trong hoạtđộng của mình và giữ vững vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế đặc biệttrong giai đoạn đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng nhưhiện nay
Trang 18Trong tương lai khu vực kinh tế NQD sẽ chiếm một vị trí quan trọngtrong nền kinh tế vì vậy nó sẽ là một thị trường đầy triển vọng của ngànhngân hàng, do vậy việc mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực này sẽ làmột chiến lược phát triển của ngân hàng.
1.2.1.2 Những ưu thế và khó khăn của DNNQD
DNNQD có những ưu thế nổi bật sau:
Mục tiêu của các DNNQD là lợi nhuận Do các DNNQD có tính tư hữucao nên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắn liền vớiquyền lợi, lợi ích cá nhân của người sản xuất cũng như chủ doanh nghiệp.Chính vì vậy mà các DNNQD luôn luôn tập trung, tận dụng tối đa những gì
họ có để đạt được lợi nhuận cao nhất có thể
Các DNNQD có số vốn đầu tư ban đầu ít, nhưng hiệu quả sử dụng vốncao, thường đầu tư vào các ngành nghề nhanh thu hồi vốn nên khả năng thu hồivốn nhanh Cũng chính vì ưu thế quy mô nhỏ mà các DNNQD có thể dễ dàngthích ứng đối với sự thay đổi của thị trường, cơ chế chính sách của nhà nước
Các DNNQD thường có bộ máy quản lý, tổ chức, kinh doanh gọn nhẹ
Vì vậy mà các quyết định quản lý được thực hiện nhanh, công tác kiểm tra,điều hành trực tiếp Điều này góp phần đáng kể trong việc giảm chi phí quản
lý doanh nghiệp
Các DNNQD có tính linh động cao, có khả năng chuyển hướng kinhdoanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh và dễ dàng nhanh chóng tiếp thuđược những tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới giúp họ có thể nhanh chóng “đitắt”, “đón đầu”
DNNQD tận dụng triệt để được lợi thế về nguồn lao động dồi dào, cáchthức quản lý lao động chặt chẽ và quan hệ giữa người lao động và chủ doanhnghiệp cũng được quản lý chặt chẽ theo địa phương, họ hàng, gia đình
Khó khăn
Tuy có nhiều ưu thế, song các DNNQD cũng không tránh khỏi các hạnchế sau:
Trang 19Hạn chế về nguồn vốn là tình trạng rất phổ biến của các DNNQD khimuốn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh Mặt khác việc tìm nguồn tài trợcủa họ thường khó khăn hơn so với các doanh nghiệp nhà nước Tiếp cận đượcnguồn vốn ngân hàng đã khó, song để có được nguồn vốn đủ cho phương ánsản xuất kinh doanh thì nguồn vốn tự có nhỏ của họ đôi khi là rào cản bởi nókhông đáp ứng được các tỷ lệ an toàn theo yêu cầu từ phía ngân hàng.
Cơ sở sản xuất, trang thiết bị, công nghệ còn yếu kém và lạc hậu chủyếu đầu tư vào các ngành nghề ít vốn, thu hồi vốn nhanh, không đòi hỏi côngnghệ phức tạp Do đó nhiều doanh nghiệp đã tận dụng những máy móc thiết
bị đã lạc hậu để tiếp tục sản xuất kinh doanh Mặt khác do phạm vi hoạt độnghẹp, bản thân doanh nghiệp không đủ sức tích luỹ vốn đáp ứng yêu cầu sảnxuất kinh doanh cho nên họ chưa có đủ nguồn để tài trợ cho việc đổi mới máymóc trang thiết bị
Chất lượng lao động còn thấp, trình độ tay nghề chưa cao, đặc biệt làtrình độ quản lý nói chung còn hạn chế, ít được đào tạo cơ bản và chưa đápứng được so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế Cho nên trong thực tế,một số doanh nghiệp khi hoạt động ở quy mô nhỏ thì có hiệu quả, nhưng khi
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì trình độ quản lý của chủ doanhnghiệp không đáp ứng một cách tương xứng nên đã dẫn đến thua lỗ
Khả năng cạnh tranh trên thị trường bị hạn chế, thường bị động trongcác quan hệ thị trường, khả năng tiếp thị kém, nguy cơ phá sản cao
Hiện tượng các DNNQD hoạt động phi pháp như trốn thuế, lậu thuế,lừa đảo v v còn phổ biến Ngoài ra, đa số các DNNQD còn chưa thực hiệnđầy đủ các quy định của pháp luật về an toàn lao động và đóng bảo hiểm xãhội đối với người lao động của mình Như vậy, DNNQD tuy có nhiều ưu thế,song cũng bộc lộ không ít các hạn chế của mình Các hạn chế trên mới chỉ lànhững hạn chế của bản thân các doanh nghiệp Mặt khác những doanh nghiệpnày đang phải hoạt động trong một môi trường kinh tế mà trong đó còn cónhiều cản trở như sự bất bình đẳng về chế độ chính sách giữa doanh nghiệp
Trang 20quốc doanh và DNNQD, hay các cản trở gây khó khăn trong quá trình tìmkiếm nguồn vốn tài trợ Do đó mà DNNQD cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
về nhiều mặt như cơ chế chính sách, thuế, công nghệ, và đặc biệt là vốn Cóthể thấy với đặc điểm về quy mô vốn, trình độ Ban lãnh đạo, thiết bị côngnghệ việc tự thu hút các nguồn vốn bên ngoài của các DNNQD là rất khó.Việc tự thu hút vốn thông qua phát hành cổ phiếu hay trái phiếu doanh nghiệp
là vô cùng khó khăn, vì cần phải đáp ứng các điều kiện gắt gao về quy môvốn, trình độ quản lý của Ban lãnh đạo v v Do đó nguồn vốn chính mà cácDNNQD luôn mong mỏi có được chính là nguồn vốn vay từ ngân hàng
1.2.2 Hoạt động tín dụng đối với các DNNQD
1.2.2.1 Các hình thức tín dụng đối với các DNNQD
Cho vay
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giaocho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời giannhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
Các hình thức cho vay: Cho vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, chovay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp
Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phépmột số DN được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đếnmột giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này nàyđược gọi là hạn mức thấu chi Cho vay thấu chi nhìn chung chỉ áp dụng đốivới các doanh nghiệp có quan hệ lâu dài với ngân hàng và có độ tin cậy cao,thu nhập ổn định
Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến của ngânhàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, không
có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi Mỗi lần vay khách hàng phải làmđơn trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay.Vốn từ ngân hàng chỉ thamgia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh
Trang 21 Cho vay luân chuyển: là hình thức cho vay dựa trên luân chuyển củahàng hoá Đầu năm hoặc quý, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển,ngân hàng và khách hàng sẽ thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạnmức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ Mọi khoảnthu từ bán hàng đều dùng trả nợ vào tài khoản tiền vay trước khi được tríchtrả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng Khi vay, khách hàng chỉcần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số tiền cần vay,ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán Hình thức cho vay này thường
áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp có chu
kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng
Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà ngân hàng cho phép kháchhàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng thoả thuận Cho vay trả gópthường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố định hoặc hàng lâu bền Hình thức này có rủi ro cao do khách hàng thườngthế chấp hàng hoá mua trả góp, khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập ổn địnhcủa người vay Nếu xảy ra rủi ro đối với người vay, thu nhập bị giảm sút thìkhả năng thu nợ của ngân hàng bị ảnh hưởng, vì vậy lãi suất cho vay trả gópthường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng
Cho vay gián tiếp: đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chứctrung gian như các tổ, đội, hội, nhóm như tổ sản xuất, Hội Nông dân, Hội Cựuchiến binh, Hội Phụ nữ, … Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạtđộng cho vay sang các tổ chức trung gian, các tổ chức này cũng có thể đứng
ra đảm bảo cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnhcho một thành viên vay Cho vay gián tiếp được áp dụng đối với thị trường cónhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng Tuy nhiên, hìnhthức này cũng bộc lộ khiếm khuyết như nhiều trung gian đã lợi dụng vị thếcủa mình để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viênkhác cho riêng mình, …
Trang 22 Chiết khấu thương phiếu
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho kháchhàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngânhàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nhận nợ)
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức tín dụng dựa trên cơ sở traođổi trái quyền: Ngân hàng bỏ tiền ra trong hiện tại để thu về một khoản lớnhơn trong tương lai với lãi suất xác định (lãi suất chiết khấu), nhưng thực chấtngân hàng đã thay người mua trả tiền trước cho người bán, như vậy người bánsớm có tiền để tiếp tục sản xuất kinh doanh, quay vòng vốn nhanh chóng hơn
Bảo lãnh
Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việcthực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khikhách hàng của ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ đã cam kết
Bảo lãnh được coi là một hình thức tín dụng thông qua chữ ký, tuyngân hàng không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã dùng uy tín của mình
để thu lợi (phí bảo lãnh)
Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho kháchhàng thuê theo những thoả thuận nhất định Sau thời gian nhất định, kháchhàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng
Cho thuê tài chính thường là hình thức tín dụng trung - dài hạn Ngânhàng mua tài sản và cho khách hàng thuê với thời gian sao cho ngân hàngphải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi (thời giankhoảng 80 đến 90% đời sống hoạt động của tài sản đó) Hết thời hạn thuê,khách hàng có thể mua lại tài sản đó
Phương thức cho thuê là một hình thức tài trợ có nhiều ưu điểm, đặcbiệt là đối với các DNNQD, bởi DNNQD sẽ không phải đầu tư với quy môlớn ngay từ Ban đầu mà tuỳ theo thoả thuận với ngân hàng, sẽ trả gốc và lãitương ứng với giá trị của tài sản thuê Hơn nữa số tiền thuê này được tính
Trang 23thành cho thuê thiết bị trung và dài hạn.Với các thiết bị, phương tiện có giá trịlớn, các doanh nghiệp không muốn mua có thể sử dụng dịch vụ cho thuê thiết bịtrung và dài hạn của ngân hàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa mình Ngân hàng sẽ mua thiết bị và cho khách hàng thuê kèm theo một sốđiều kiện Kết thúc hợp đồng thuê, doanh nghiệp có thể được ưu tiên mua lạiphương tiện với giá ưu đãi Người ta cũng gọi hình thức này là thuê mua tàichính Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều các công ty tài chính mà chủ yếu làthuộc các Ngân hàng thương mại quốc doanh một chi phí và nó sẽ làm giảmđáng kể số thuế phải nộp của doanh nghiệp.
Hồ sơ về khoản tín dụng: Giấy đề nghị cấp tín dụng, kế hoạch sảnxuất kinh doanh, kế hoạch tài chính trong năm kế hoạch, các báo cáo tài chính,bảng kê công nợ, các khoản phải trả, phải thu, các hợp đồng kinh tế (đầu vào,đầu ra), phương án sản xuất kinh doanh, và các hồ sơ khác có liên quan
Hồ sơ bảo đảm tín dụng: Gồm các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu,
sử dụng, giá trị của tài sản hay hợp đồng, văn bản bảo lãnh của bên thứ ba
b Phân tích tín dụng
Mục tiêu chính của việc phân tích tín dụng là xác định khả năng và ýchí trả nợ của khách hàng Đây cũng là khâu quan trọng nhất để hạn chế tối đarủi ro đối với một khoản tín dụng
Trang 24Nội dung của việc phân tích tín dụng tập trung vào 5 yếu tố: uy tín, tưcách của khách hàng, quyền sở hữu về tài sản, khả năng tạo lợi nhuận, và một
số điều kiện khác có ảnh hưởng đến hoạt động của khách hàng
Cụ thể việc phân tích tín dụng phải trải qua các bước sau:
Bước 1: Thu thập thông tin
Cán bộ tín dụng cần phải thu thập các thông tin về DNNQD xin cấp tíndụng Nguồn thông tin có thể do chính DNNQD đó cung cấp, hay do cán bộtín dụng thu thập được trực tiếp thông qua thăm, xem xét tình hình thực tế củadoanh nghiệp, hoặc có thể lấy thông tin từ các bên thứ ba (các chủ nợ cũ,thông tin của phòng Kế hoạch - Đầu tư nơi DNNQD đăng ký kinh doanh)
Bước 2: Xử lý thông tin
Sau khi có được đầy đủ các thông tin, cán bộ tín dụng tiến hành phântích các thông tin đó theo các khía cạnh sau:
Đánh giá về tài sản của DNNQD: bao gồm đánh giá về ngân quỹ(tiền mặt, tiền gửi, các khoản phải thu có khả năng chuyển đổi thành tiền); cácchứng khoán có giá, hàng hóa trong kho, tài sản cố định
Đánh giá các khoản nợ: Ngân hàng quan tâm đến tất cả các chủ nợcủa khách hàng (ngân hàng, người cung cấp, người lao động, các khoản nợcũ), các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và nợ khác
Phân tích luồng tiền: Các luồng tiền vào và luồng tiền ra thực tế là mộtchỉ tiêu rất quan trọng trong việc dự đoán các vấn đề tín dụng trong tương lai
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua việc sửdụng các tỷ lệ để phân tích như tỷ lệ về khả năng thanh toán, tỷ lệ đo khảnăng tài trợ bằng vốn tự có, tỷ lệ rủi ro
Phân tích các điều kiện kinh tế, xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đếnhoạt động của DNNQD xin cấp tín dụng
c Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng
Sau khi đã phân tích về khách hàng cũng như phương án tài trợ, ngânhàng sẽ ra quyết định tín dụng Nếu đồng ý cung cấp tín dụng cho khách
Trang 25hàng, ngân hàng và khách hàng sẽ cùng nhau ký kết hợp đồng Đây có thể làhợp đồng tín dụng (nếu ngân hàng cho vay), hay hợp đồng bảo lãnh, hoặc hợpđồng cho thuê Hợp đồng chính là các văn bản viết ghi lại thoả thuận giữangười nhận tài trợ (DNNQD) và ngân hàng với nội dung chủ yếu là ngân hàngcam kết cung cấp cho khách hàng một khoản tín dụng trong một khoảng thờigian và lãi suất nhất định Đây cũng chính là văn bản pháp luật xác địnhquyền và nghĩa vụ của cả hai bên trong quan hệ tín dụng.
Các nội dung chính trong hợp đồng:
+ Khách hàng: tên doanh nghiệp, địa chỉ, điện thoại, người đại diện củaDN
+ Mục đích sử dụng khoản tín dụng (thường có trong hợp đồng tín dụng).+ Số lượng tín dụng: số tiền mà ngân hàng cam kết cung cấp cho kháchhàng
+ Lãi suất: lãi suất mà khách hàng phải trả cho khoản tín dụng và tínhchất của lãi suất (thả nổi hay cố định) hoặc phí phải trả (đối với hợp đồng bảolãnh)
+ Thời hạn tín dụng hoặc thời hạn có hiệu lực của bảo lãnh
d Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
Sau khi đã ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng phải có trách nhiệmcấp tiền (hoặc thanh toán tiền hàng) cho khách hàng như đã thoả thuận Kèmtheo ngân hàng phải kiểm soát khách hàng trong quá trình cho vay
e Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng
Theo dõi việc thực hiện hợp đồng tín dụng thông qua hợp đồng tíndụng, sổ sách kế toán, chứng từ kế toán để có thông báo trả nợ cho khách
Trang 26hàng trước 5 ngày làm việc Khi ngân hàng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi thìquan hệ tín dụng kết thúc Ngân hàng thực hiện tất toán khoản vay, giải toả cáchợp đồng đảm bảo tài sản và thanh lý hợp đồng tín dụng Nếu khách hàng hoàntrả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì có nghĩa là ngân hàng đã có một khoản tíndụng an toàn và sinh lời Tuy nhiên cũng có trường hợp khách hàng khônghoàn trả đúng hạn hoặc không hoàn trả được đầy đủ khoản tín dụng, khi đóngân hàng cần phải xem xét nguyên nhân và đưa ra cách xử lý cho phù hợp.
1.2.3 Mở rộng tín dụng đối với các DNNQD của NHTM
1.2.3.1 Sự cần thiết mở rộng tín dụng đối với DNNQD của NHTM
Qua nghiên cứu vai trò, ưu thế và hạn chế của DNNQD trong nền kinh
tế Chúng ta có thể thấy việc mở rộng tín dụng của ngân hàng đối với khu vựckinh tế này là hết sức quan trọng, nó tạo ra sự phát triển đa dạng trong nềnkinh tế, bởi vì không những khu vực kinh tế NQD có đóng góp lớn vàoGDP(42%GDP của cả nước) mà còn tiềm ẩn những khả năng to lớn mà chúng
ta chưa khai thác được Theo chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phầncủa nhà nước thì việc mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ góp phầntạo ra sự phát triển cân bằng và ổn định cho nền kinh tế Thúc đẩy các đơn vịsản xuất kinh doanh tăng cường đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động,tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Mặt khác việc mởrộng hoạt động tín dụng sẽ giúp ngân hàng ngày càng năng động và hoànthiện hơn trong hoạt động của mình và giữ vững vai trò, vị trí của mình trongnền kinh tế đặc biệt trong giai đoạn đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữacác ngân hàng như hiện nay
Trong tương lai khu vực kinh tế NQD sẽ chiếm một vị trí quan trọngtrong nền kinh tế, do vậy việc mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vựcnày sẽ là một chiến lược phát triển của ngân hàng
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả mở rộng tín dụng đối với DNNQD
Kết quả mở rộng tín dụng đối với DNNQD được đánh giá bằng nhiềutiêu thức khác nhau, dưới đây là một vài tiêu thức tiêu biểu:
Trang 27-Sự gia tăng số lượng khách hàng: Như đã đề cập ở trên DNNQD baogồm Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, công ty hợp danh, Công tyTNHH.
Gia tăng đối tượng khách hàng là tăng được số khách hàng mới cả về
số lượng và loại khách hàng
số lượng khách hàng = Số lượng KH năm nay/Số lượng KH năm trước
Số lượng khách hàng tăng thêm đánh giá hiệu quả của hoạt độngMarketing ngân hàng, khả năng giao tiếp và tiếp cận với khách hàng của cán
bộ tín dụng ngân hàng
- Mức độ tăng dư nợ : Đây cũng là một trong những nhân tố tiêu biểu
để đánh giá hiệu quả mở rộng tín dụng ngân hàng
Dư nợ = Dư nợ năm nay/dư nợ năm trướcTăng dư nợ nghĩa là tăng quy mô các khoản tín dụng Các khoản tíndụng đối với DNNQD thường có quy mô nhỏ nhiều khi không đáp ứng đượcnhu cầu của khách hàng vì nó phụ thuộc nhiều vào giá trị tài sản đảm bảo,tăngquy mô dư nợ là một vấn đề hết sức phức tạp, do vậy ngân hàng muốn mởrộng tín dụng ở khía cạnh này thường phải cân nhắc rất cẩn thận và kỹ lưỡngtrước khi phán quyết mức tín dụng
- Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn cuối kỳ/ Tổng dư nợ tín dụng cuối kỳĐây là chỉ tiêu quan trọng được sử dụng để đánh giá chất lượng tíndụng đối với các DNNQD Chỉ tiêu càng cao chứng tỏ Ngân hàng có chấtlượng tín dụng thấp
- Lĩnh vực kinh tế: Kết quả mở rộng tín dụng cũng có thể được đánhgiá bằng sự gia tăng thị phần tín dụng trong các lĩnh vực kinh tế (Nôngnghiệp, công nghiệp, dịch vụ, thương mại điện tử )
1.3. Nhân tố ảnh hưởng tới mở rộng tín dụng đối với các DNNQD của NHTM
Mở rộng tín dụng đối với các DNNQD là một vấn đề hết sức khó khăn
và phức tạp, do vậy mà có rất nhiều nhân tố tác động tới việc mở rộng tín
Trang 28dụng đối với khu vực kinh tế NQD của các ngân hàng thương mại, trong đó
Trước hết là chính sách tín dụng của ngân hàng, mỗi ngân hàng cómột chính sách tín dụng riêng ưu tiên theo từng ngành nghề, lĩnh vực hoạtđộng của DN, ưu tiên theo địa phương, cụ thể: những DN ở vùng trọng điểmhay khu công nghiệp đựơc ưu tiên hơn là các DN ở các địa bàn khác,địa điểm
xa hay gần ảnh hưởng đến quyết định cho vay của NH, những doanh nghiệptrong ngành thương mại, trong lĩnh vực bất động sản được trú trọng ưu tiêncho v ay hơn là các DN trong ngành nghề lĩnh vực khác
Nguồn vốn của ngân hàng là yếu tố tiền đề để mở rộng tín dụng,nguồn vốn của một ngân hàng càng lớn càng ổn định thì việc mở rộng tíndụng sẽ dễ dàng hơn so với 1 ngân hàng có nguồn vốn hạn hẹp ít ổnđịnh,trong đó:
Vốn huy động: là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng cho vay nhưngmỗi loại tiền gửi có đặc điểm riêng và có sự biến động khác nhau Tiền gửikhông kì hạn và ngắn hạn thì thường xuyên biến động còn tiền gửi có kì hạn
và dài hạn thì ổn định hơn Vốn huy động càng lớn và càng ổn định thì khảnăng mở rộng tín dụng của ngân hàng ngày càng lớn
Vốn tự có: Đối với mỗi NHTM thì việc mở rộng tín dụng còn phụthuộc vào mức vốn tự có của mỗi ngân hàng Luật các tổ chức tín dụng quyđịnh các điều kiện ràng buộc ngân hàng về mặt pháp lý đối với phạm vi giớihạn tín dụng, theo đó tổng dư nợ cho vay một khách hàng không vượt quá15% vốn tự có của các NHTM Vì vậy vốn tự có của ngân hàng quyết địnhkhối lượng tín dụng tối đa mà ngân hàng có thể đầu tư cho một doanh nghiệp
Trang 29Và do đó việc mở rộng vốn huy động và vốn tự có của ngân hàng là tiền đề để
mở rộng tín dụng đối với các DNNQD
Lãi suất cho vay của ngân hàng: Lãi suất là giá cả của quyền sửdụng vốn vay, lãi suất luôn được coi là biến số nhạy cảm đối với đời sốngkinh tế-xã hội, nó là nhân tố tác động tích cực đối với việc mở rộng tín dụngđồng thời nó cũng sẽ là yếu tố kìm hãm sự mở rộng tín dụng nếu như ngânhàng không có chính sách lãi suất hợp lý Trên lý thuyết cũng như thực tế, lãisuất là công cụ điều khiển quan hệ cung cầu về vốn tiền tệ Bởi NHTW cácnước thường sử dụng công cụ lãi suất trong điều hành chính sách tiền tệ quốcgia Chính vì vậy lãi suất cho vay của mỗi ngân hàng ảnh hưởng tới việc mởrộng tín dụng của chính ngân hàng đó và cả các ngân hàng khác Lãi suấtchính là chi phí sử dụng vốn vay của DN, do đó lãi suất cho vay thấp NHTM
có khả năng mở rộng đầu tư hơn và ngược lại lãi suất cho vay cao NHTMkhó có khả năng mở rộng đầu tư (trong điều kiện các nhân tố khác khôngđổi)
Quy mô hoạt động của NHTM cũng ảnh hưởng tới việc mở rộng tíndụng nói chung và việc mở rộng tín dụng đối với khu vực kinh tế NQD nóiriêng NHTM có quy mô lớn, địa bàn hoạt động rộng, có danh tiếng và uy tíncao trên thương trường sẽ thu hút khách hàng gửi và vay tiền, tạo điều kiệncho NHTM mở rộng tín dụng
Công tác marketing của ngân hàng cũng có tác động tới việc mởrộng tín dụng của các NHTM, giúp cho khách hàng hiểu và tin ngân hànghơn, từ đó đến với ngân hàng ngày càng nhiều hơn
Trình độ, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng cũng tác độngtới việc mở rộng hoạt động tín dụng của các NHTM Nhân viên giao dịchchính là hình ảnh thu nhỏ của toàn ngân hàng, do đó khả năng giao tiếp, thái
độ niềm nở lịch sự, trình độ kiến thức tổng hợp về các nghiệp vụ ngân hàng làyếu tố quan trọng tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái khi đến với ngân hàng.Điều này làm tăng khả năng mở rộng tín dụng ngân hàng đối với mọi tầng
Trang 30lớp khách hàng trong đó có các DNNQD.
1.3.1.2 Các nhân tố thuộc về bản thân các DNNQD
Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhucầu của thị trường với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận Với mục tiêu này,doanh nghiệp phải lựa chọn sản xuất cái gì, cho ai, khả năng tiêu thụ như thếnào, điều đó quyết định đến khối lượng và hình thức đầu tư Vì vậy mở rộng
và nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng chịu tác động bởi 2 yếu tố xuấtphát từ phía khách hàng đó là: động cơ đầu tư của khách hàng và khả năngđáp ứng các điều kiện tín dụng của ngân hàng
Động cơ đầu tư của khách hàng: là điều kiện để mở rộng tín dụngcủa ngân hàng Động cơ đầu tư của khách hàng bắt nguồn từ lợi nhuận Mụctiêu đầu tiên và cuối cùng của các doanh nghiệp là lợi nhuận Lợi nhuận dođầu tư mang lại càng cao và có độ rủi ro càng thấp thì nhu cầu đầu tư cànglớn Động cơ đầu tư của khách hàng có được thực hiện hay không còn phụthuộc vào vốn đầu tư Trong khi đó dự án, phương án đầu tư đòi hỏi khốilượng vốn lớn mà chỉ một mình khách hàng sẽ khó thực hiện được Điều nàytạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại tham gia đầu tư vốn vào doanhnghiệp Như vậy động cơ đầu tư của các khách hàng quyết định việc mở rộngcho vay của ngân hàng Nhu cầu đầu tư của các khách hàng càng lớn, cácngân hàng càng có điều kiện để mở rộng tín dụng
Năng lực pháp lý: Doanh nghiệp phải có đầy đủ năng lực pháp luật,
có đăng ký kinh doanh mới có đủ điều kiện để hoạt động sản xuất kinh doanh
và ký các hợp đồng vay vốn
Năng lực tài chính của khách hàng: Khả năng tài chính của kháchhàng thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỉ trọng vốn tự có trong tổng số nguồnvốn của khách hàng sử dụng Điều kiện tín dụng thường quy định một tỉ lệ cụthể, tối thiểu của vốn tự có trong tổng nguồn vốn hoạt động hay một tỉ lệ vốn tự
có tham gia phương án, dự án vay vốn.Năng lực tài chính của doanh nghiệpcòn thể hiện ở khả năng thanh toán của doanh nghiệp, việc đáp ứng các yêu cầu
Trang 31thanh toán còn lệ thuộc khá lớn vào kết cấu tài sản của doanh nghiệp như khảnăng chuyển hoá thành tiền của tài sản Năng lực tài chính của doanh nghiệpcàng cao, khả năng đáp ứng điều kiện tín dụng càng lớn, càng làm cho ngânhàng có điều kiện mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.
Tài sản bảo đảm tiền vay: Mặc dù tài sản bảo đảm tiền vay không làyếu tố quyết định đến việc có cho vay hay không mà điều quyết định ở đây làphương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Song đối với các DNNQDthì biện pháp bảo đảm bằng tài sản vẫn là nhân tố quan trọng để quyết định cócho vay hay không.Theo đó khi vay vốn ngân hàng doanh nghiệp phải có tàisản đảm bảo tiền vay theo quy định Giá trị bảo đảm tiền vay phải bảo đảntheo tỉ lệ quy định tại nghị định số 163/2006NĐ-CP ngày 29/12/2006 củachính phủ về bảo đảm tiền vay
Tài sản đảm bảo của DNNQD có thể phân loại theo nhiều cách khácnhau:
- Nếu phân loại theo tính chất an toàn
+ Tài sản đảm bảo loại 1: là các tài sản thuộc sử dụng hoặc sử dụng lâudài của khách hàng, hoặc đảm bảo của bên thứ ba cho khách hàng (bảo lãnh)
+ Tài sản đảm bảo loại 2: là những tài sản được hình thành từ nguồn tàitrợ của ngân hàng
- Nếu phân loại tài sản đảm bảo theo hình thức vật chất:
+ Đảm bảo bằng hàng hoá trong kho như nguyên nhiên vật liệu, sảnphẩm Với loại tài sản đảm bảo này, ngân hàng cần phải có khả năng kiểmsoát hàng hóa đảm bảo, phải nắm vững được tính thị trường của hàng hoá,khả năng bảo quản và định giá hàng hoá
+ Đảm bảo bằng tài sản cố định: Các tài sản này thường là nhà máy,trang thiết bị sản xuất, phương tiện vận chuyển, cây con, quyền sử dụng đất
+ Đảm bảo bằng hợp đồng chi trả của bên thứ ba: Khi doanh nghiệpbán hàng hóa dịch vụ và nhận về các hợp đồng thanh toán Hợp đồng nàycũng sẽ trở thành hàng hoá đảm bảo cho ngân hàng Tuy nhiên ngân hàng cần
Trang 32phải xem xét về khả năng thanh toán của bên thứ ba, các cam kết có khả năngchuyển nhượng v v
+ Đảm bảo bằng chứng khoán: Đây là loại tài sản có thể bán với ít,nhiều rủi ro Ngân hàng cũng là đơn vị có nghiệp vụ quản lý và kinh doanhchứng khoán Thông thường chứng khoán làm tài sản đảm bảo phải đáp ứngđược các yêu cầu về tính an toàn, tính thanh khoản Nếu đáp ứng được cácyêu cầu trên thì đây là một loại tài sản đảm bảo tương đối thuận tiện đối với
cả ngân hàng và khách hàng
+ Đảm bảo bằng bảo lãnh của người thứ ba: Người thứ ba này cam kết
sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệpkhông thực hiện được nghĩa vụ đối với khoản tín dụng Ngân hàng thường ưachuộng nếu người bảo lãnh là người có uy tín, có khả năng thanh toán tốt (cácngân hàng, công ty lớn, nhà nước ) Còn với người bảo lãnh chưa có uy tínngân hàng sẽ yêu cầu có tài sản đảm bảo cho bảo lãnh đó
+ Đảm bảo bằng số dư bù: Số dư bù là số tiền gửi ký quỹ, được chuyểnsang một tài khoản riêng của khách hàng hoặc có thể vẫn lưu giữ trong tàikhoản tiền gửi của khách hàng nhưng họ không được quyền sử dụng cho đếnkhi trả nợ hết cho ngân hàng Tuy nhiên, ký quỹ sẽ làm đọng vốn của kháchhàng và nếu số tiền ký quỹ lớn thì hình thức này sẽ không phù hợp
1.3.2 Các nhân tố khách quan
Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực nhạy cảm đối với sự tác động từbên ngoài Một sự thay đổi dù nhỏ của môi trường xung quanh hay nhu cầucủa các chủ thể trong nền kinh tế cũng tác động không nhỏ tới toàn bộ hoạtđộng kinh doanh, khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng
Môi trường kinh tế-xã hội có tác động tích cực hoặc tiêu cực vào doanhnghiệp Khi môi trường đầu tư thuận lợi, các doanh nghiệp có điều kiện mởrộng sản xuất kinh doanh của mình và ngược lại, và khi doanh nghiệp mởrộng và nâng cao chất lượng đầu tư sẽ củng cố và hoàn thiện hơn môi trườngđầu tư, đồng thời tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng
Trang 33và nâng cao chất lượng tín dụng Môi trường kinh tế-xã hội phát triển sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.
Hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệptrong đó có các NHTM hoạt động kinh doanh thuận lợi, dễ dàng trong việccấp tín dụng cũng như các hoạt động khác Hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ tạo
ra khả năng xử lý tài sản làm đảm bảo cho nợ vay và khả năng thu hồi vốncủa NHTM nhanh hơn, rủi ro trong hoạt động ngân hàng thấp hơn và NHTM
có khả năng thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong đầu tư tín dụng
Như vậy có rất nhiều yếu tố tác động đến việc mở rộng tín dụng, mỗinhân tố có mức độ tác động khác nhau tuỳ theo tính chất và thời gian của hoạtđộng tín dụng Đồng thời các nhân tố có liên quan với nhau, tạo sự tác độngtổng hợp tới hoạt động tín dụng của NHTM Vấn đề đặt ra là người điều hànhNHTM phải nắm vững và điều khiển sự tác động của các nhân tố đó trongquá trình mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TD ĐỐI VỚI CÁC DNNQD TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG
VIỆT NAM CHI NHÁNH HOÀN KIẾM2.1 Tổng quan về Techcombank Hoàm Kiếm
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam
Ngân hàng Thương mại cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam (viết tắt là:
TECHCOMBANK) hoạt động theo giấy phép số 0040 NH-GP do Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước cấp ngày 08/08/1993 Được thành lập vào ngày 27tháng 09 năm 1993, Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam -Techcombank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên củaViệt Nam được thành lập trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang nền kinh
tế thị trường với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng và trụ sở chính ban đầu được đặttại số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Năm 1995, NH tăng vốn điều lệ lên 51,495 tỷ đồng và thành lập chinhánh Techcombank TP Hồ Chí Minh Đây là bước đầu tiên đánh dấu quá trình
mở rộng hoạt động của Techcombank ra các tỉnh thành khác trong cả nước
Năm 1996, tiếp tục tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng, đồng thời thành lậpChi nhánh Techcombank Thăng Long cùng Phòng Giao dịch Nguyễn ChíThanh tại Hà Nội và Phòng Giao dịch Thắng Lợi trực thuộc Techcombank HồChí Minh
Năm 1998, thành lập chi nhánh Techcombank Đà Nẵng, và chuyển trụ
sở sang tòa nhà Techcombank 15 Đào Duy Từ
Năm 1999, Techcombank tiếp tục tăng vốn điều lệ lên hơn 80 tỷ đồng
và khai trương phòng giao dịch thứ 3 trên địa bàn Hà Nội
Năm 2001, cùng với việc tăng vốn lên 102,345 tỷ đồng, Techcombank
ký kết hợp đồng với nhà cung cấp phần mềm hệ thống ngân hàng hàng đầutrên thế giới Temenos Holding NV, về việc triển khai hệ thống phần mềm
Trang 35Ngân hàng GLOBUS cho toàn hệ thống Techcombank nhằm đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Năm 2002, thành lập thêm 2 chi nhánh tại Hà Nội, 1 chi nhánh tại TP
Hồ Chí Minh , 1 chi nhánh tại Đà Nẵng và 1 chi nhánh tại Hải Phòng Đếnthời điểm này, Techcombank trở thành ngân hàng cổ phần có mạng lưới rộngnhất cả nước với Hội sở chính, 8 chi nhánh và 4 phòng giao dịch tại cácthành phố lớn trong cả nước Vốn điều lệ tiếp tục tăng trên 104 tỷ đồng vàNgân hang cũng chuẩn bị cho đợt phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên
202 tỷ đồng
Ngày 15/12/2003, Techcombank chính thức phát hành thẻ thanh tóanF@stAcess- Connect 24 hợp tác với Vietcombank Ngày 16/12/2003, triểnkhai thành công hệ thống phần mềm Globus trên toàn hệ thống NH đưa thêmchi nhánh techcombank Chợ Lớn vào hoạt động Cũng trong năm 2003,Techcombank tiến hành xây dựng biểu tượng mới cho NH Cuối năm 2003,vốn điều lệ của NH đã lên đến 180 tỷ đồng
Ngày 9/6/2004, Nh ra mắt biểu tượng mới Trong năm này, NH 3 lầnliên tiếp thay đổi vốn điều lệ lên 234 tỷ đồng, 252,255 tỷ đồng và 412 tỷđồng Ngày 13/12/2004 Ký hợp đồng mua phần mềm chuyển mạch và quản lýthẻ với Compass Plus
Năm 2005, Thành lập các chi nhánh cấp 1 tại: Lào Cai, Hưng Yên,Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, T.P Nha Trang (tỉnh Khánh Hoà), Vũng Tàu, đồng thờiđưa vào hoạt động các phòng giao dịch: Techcombank Phan Chu Trinh (ĐàNẵng), Techcombank Cầu Kiều (Lào Cai), Techcombank Nguyễn Tất Thành,Techcombank Quang Trung, Techcombank Trường Chinh (Hồ Chí Minh),Techcombank Cửa Nam, Techcombank Hàng Đậu, Techcombank Kim Liên(Hà Nội) NH tiếp tục quá trình tăng vốn, đến cuối tháng 10/2005 vốn điều lệcủa NH là 555 tỷ đồng NH cũng liên tục đổi mới công nghệ với việc khaitrương phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ của hãng Compass Plus và nângcấp hệ thống phần mềm Globus sang phiên bản mới nhất Tenemos T24 R5