VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CHO THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAYPHẦN MỞ ĐẦU Trong tiến trình phát triển của nhân loại, xã hội loài người đã không ngừng phát triển về mọi mặt mà đặc biệt là về đạo đức. Hàng loạt các lý thuyết về đạo đức đã ra đời nhằm điều chỉnh mối quan hệ, hành vi của con người trong xã hội. bằng tài chí và sự ham học hỏi, Hồ Chí Minh đã tìm tòi, học hổi và tiếp thu rất nhiều tư tưởng đạo dứcđể rồi Người đã đúc kết ra cho chính mình một hệ tư tưởng, một quan niệm về đạo đức, và để lại giá trị to lớn cho thế hệ con người việt nam hiện nay. Hệ tư tưởng về đạo đức của Hồ Chí Minh đã được đảng, Nhà nước và nhân dân học tập, tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn đời sống và từ đó đưa ra các bài dạy, bài học cho các thế hệ sau nhằm mục đích điều chỉnh hành vi của con người việt Nam. Đặc biệt vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ, thanh niên hiện nay đang rất được quan tâm và là một vấn đề đặt lên hang đầu trong tiến trình phát triển xã hooiju và phát triển đất nước. Đảng và nhà nước đã ra nhiều quyết sách, định hướng phát triển thanh niên thời kì đổi mới, hội nhập quốc tế. Nhận thấy vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ chí Minh về Đạo đức trong việc xây dựng và tu dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay là cần thiết và cấp bách hiện nay vậy nên em chọn việc nghiên cứu và phân tích vấn đề này và từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan về quan niệm của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và vận dụng xây dựng, tu dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay.Để hiểu rõ và tổng quan về nội dung vấn đề vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng và tu dưỡng đạo đức thế hệ trẻ hiện nay thông qua 2 mục sau:1. Một số vấn đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đạo đức trong xây dựng, tư dưỡng đạo đức cho giới trẻ hiện nay PHẦN NỘI DUNG1. Một số vấn đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức1.1 khái niệm đạo đứcVới tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại.Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học.Ở phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội.Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.Trong định nghĩa này có mấy điểm cần chú ý sau:Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội.Xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người,…chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức.Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người. Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng. Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó. Ví dụ: Thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô. Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định. Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức…Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận. Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn khép hành vi) là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người. Đạo đức là một hệ thống các giá trị.Giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội – chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo). Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt.Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một hình thức chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó bài tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định. Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp lệ thống trị xã hội. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
CHUYÊN ĐỀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG XÂY DỰNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CHO THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY
HỌ VÀ TÊN: VŨ NGỌC ANH
MÃ SINH VIÊN: 1853111020
LỚP : K18NNN
HÀ NỘI - 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
1 Một số vấn đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 2
1.1 khái niệm đạo đức 2
1.2 Nội dung tư tưởng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 4
1.3 Những phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng 6
1.4 Nguyên tắc xây dựng đạo đức 7
2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đạo đức trong xây dựng, tư dưỡng đạo đức cho giới trẻ hiện nay 9
2.1 Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là công cuộc xây dựng và tu dưỡng đạo đức 9
2.2 Thực trạng việc xây dựng và tu dưỡng thông qua giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh 11
2.3 Một số kiến nghị về xây dựng và tu dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ nhằm nâng cao hiệu quả thông qua việc giáo dụng đạo đức cho thế hệ thanh niên hiện nay 12
PHẦN KẾT LUẬN 15
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển của nhân loại, xã hội loài người đã không ngừng phát triển về mọi mặt mà đặc biệt là về đạo đức Hàng loạt các lý thuyết về đạo đức
đã ra đời nhằm điều chỉnh mối quan hệ, hành vi của con người trong xã hội bằng tài chí và sự ham học hỏi, Hồ Chí Minh đã tìm tòi, học hổi và tiếp thu rất nhiều tư tưởng đạo dứcđể rồi Người đã đúc kết ra cho chính mình một hệ tư tưởng, một quan niệm về đạo đức, và để lại giá trị to lớn cho thế hệ con người việt nam hiện nay Hệ tư tưởng về đạo đức của Hồ Chí Minh đã được đảng, Nhà nước và nhân dân học tập, tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn đời sống và từ đó đưa ra các bài dạy, bài học cho các thế hệ sau nhằm mục đích điều chỉnh hành vi của con người việt Nam Đặc biệt vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ, thanh niên hiện nay đang rất được quan tâm và là một vấn đề đặt lên hang đầu trong tiến trình phát triển xã hooiju và phát triển đất nước Đảng và nhà nước đã ra nhiều quyết sách, định hướng phát triển thanh niên thời kì đổi mới, hội nhập quốc tế Nhận thấy vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ chí Minh về Đạo đức trong việc xây dựng và tu dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay là cần thiết và cấp bách hiện nay vậy nên em chọn việc nghiên cứu và phân tích vấn đề này và từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan về quan niệm của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và vận dụng xây dựng, tu dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay
Để hiểu rõ và tổng quan về nội dung vấn đề vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức trong việc xây dựng và tu dưỡng đạo đức thế hệ trẻ hiện nay thông qua
2 mục sau:
1 Một số vấn đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đạo đức trong xây dựng, tư dưỡng đạo đức cho giới trẻ hiện nay
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
1 Một số vấn đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.1 khái niệm đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học
đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp
cổ đại
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học
Ở phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi,
về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội
Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở
đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với
xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống
và sức mạnh của dư luận xã hội
Trong định nghĩa này có mấy điểm cần chú ý sau:
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội
Trang 5Xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người,…chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức
Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó Ví dụ: Thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ
sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo
ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định
- Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người Loài người
đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức…Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định Những khuôn khép (chuẩn mực)
và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay
Trang 6một giai cấp, dân tộc thừa nhận Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn khép hành vi) là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu
sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình
và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình Biểu hiện của sự chuyển hóa này
là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người
- Đạo đức là một hệ thống các giá trị
Giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội – chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo) Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt
Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một hình thức chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó Nghĩa là nó bài
tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp lệ thống trị xã hội Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì
hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo
1.2 Nội dung tư tưởng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng, từ
rất sớm và xuyên suốt cuộc đời cách mạng của mình Cuốn sách Đường cách
mệnh năm 1927 không phải là một chuyên luận về vấn đề đạo đức cách mạng,
nhưng ở trang đầu cuốn sách Người đã nêu lên hai mươi ba điều về tư cách một người cách mạng, giải quyết ba mối quan hệ: Với mình, với người, với việc Những thập kỷ bốn mươi, năm mươi, sáu mươi, Người đều có những bài viết ngắn
Trang 7gọn, súc tích về đạo đức cách mạng Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Đảng ta
là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên
và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”
Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông, cũng như sông thì
có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” Vai trò nền tảng của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức
có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức
cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
Đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc, phẩm chất mỗi con người: “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuận đạo đức cách mạng, hay là không”, “Tuy năng lực và công việc mỗi người có khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng” Người từng khẳng định: “Chúng ta đem tinh thần
mà chiến thắng vật chất” Chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn ở hiện tượng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem, thì không giải thích được thắng lợi của ta đối với kẻ thù lớn mạnh Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta không những nhìn vào hiện tại mà lại nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần
và lực lượng của quần chúng, của dân tộc Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:
“Nay tuy châu chấu đấu voi,
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”
Đạo đức còn “có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành một xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong” “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó
Trang 8khăn gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước…, khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”…, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo không hủ hoá”
1.3 Những phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng
Trung với nước, hiếu với dân
Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới Trung với nước là trung thành
vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước, làm cho đất nước
“sánh vai với các cường quốc năm châu” Nước là của dân, dân làm chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; ‘‘bao nhiêu lợi ích đều vì dân” Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán
bộ nhà nước vừa là người lãnh đạo, vừa là “đày tớ trung thành của nhân dân” Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng Người dạy, mỗi cán bộ đảng viên phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân” Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quan điểm của Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước
Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình
Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Yêu thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội
Thương yêu con người phải tin vào con người Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm Yêu thương con người
là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn Vì vậy, phải thực hiện tự phê
Trang 9bình và phê bình, chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm
để không ngừng tiến bộ Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “Với tự mình” Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương Chí công vô tư là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết Phải trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình Phải hy sinh lợi ích của mình cho Đảng; việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân để lại sau Theo Bác, chí công vô tư là đạo đức cao nhất
Muốn chí công vô tư thì phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân Bởi vậy,
Hồ Chí Minh coi đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người “giữ cán cân công lý”, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật
Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công vô tư Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính
Tinh thần quốc tế trong sáng
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “người Việt Nam nhất”, đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam mang tầm vóc nhân loại, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong các điểm sau: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em” Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước chân
Trang 10chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc
1.4 Nguyên tắc xây dựng đạo đức
Hồ Chí Minh nêu lên ba nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội
và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình làm tấm gương để giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện
Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức
Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt Sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên là rất quan trọng Người yêu cầu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, ông bà làm gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên Đảng viên phải làm gương trước quần chúng Người nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản”
mà ta được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”
Xây đi đôi với chống
Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, chống “chủ nghĩa cá nhân” Xây đi đôi với chống là muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân
Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hoá Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội Trong giáo dục, vấn đề quan trọng
là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện Trong đấu tranh chống lại cái tiêu cực, lạc hậu trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn