Nước thải từ các khu vực tập trung các khu công nghiệp, khu dân cư không qua xử lý xả thẳng ra môi trường, theo kênh mương ngấm vào đất, gây ô nhiễm đất và làm thay đổi lượng các chất hó[r]
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu đất đai dân cư xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Vậy đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của loài người
Hiện nay, cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai đang trở nên đáng báo động Ô nhiễm đất làm ảnh hưởng xấu đến các tính chất của đất, làm giảm năng suất cây trồng và làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người Chính vì vậy, việc phòng chống ô nhiễm đất có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi vùng, mỗi quốc gia
Ô nhiễm đất sẽ làm mất khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái đất, đất trở nên cằn cỗi không thích hợp cho cây trồng, điều này sẽ ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn Hơn nữa sự tích tụ của các hóa chất độc hại, kim loại nặng trong đất sẽ làm tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hại cho cây trồng, vật nuôi và gián tiếp gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người
II KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐẤT
Đất hay còn gọi là thổ nhưỡng là lớp ngoài cùng của Trái đất, được hình thành lâu đời do kết quả biến đổi tự nhiên của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian Các thành phần chính của đất là chất khoáng (chất
vô cơ, chất hữu cơ), nước, không khí, mùn và các loại sinh vật Các thành phần trong đất được hình thành và biến động phụ thuộc vào quá trình hình thành đất, sự phát triển của đất, các quá trình hoá, lý, sinh học trong đất và tác động của con người
Đất là một dạng tài nguyên của con người, giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì nhiêu (độ mầu mỡ của đất), do vậy đất được coi là một loại tài sản của con người Căn cứ vào mục đích sử dụng đất, người ta chia đất thành hai loại chính: Đất nông nghiệp (đất để trồng cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản) và đất phi nông nghiệp (đất để ở, đất sản xuất, kinh doanh, đất xây dựng cơ sở hạ tầng…)
Đất đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là điều kiện tiên quyết cho sự sống của con người và các loài động thực vật trên Trái đất Đất là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố
Trang 2các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Đối với mỗi quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực, và là yếu tố hàng đầu rất quan trọng không thể thiếu
Ngoài vai trò là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp, đất giữ vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và toàn thế giới Nếu không có đất thì con người không có nơi sinh sống và sẽ không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động nào và không thể có sự tồn tại của loài người
III HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT HIỆN NAY
Hiện trạng sử dụng đất Theo kết quả thống kê năm 2012, tổng diện tích đất
tự nhiên của Việt Nam là 33, 095triệu ha với 3/4 diện tích lãnh thổ là đồi núi Hiện trạng sử dụng đất của từng loại đất cụ thể như sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp: Có 26.280,5 nghìn ha đất nông nghiệp, chiếm 30.67% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, tỷ trọng cây lâu năm chiếm 24,28% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng cây hàng năm vẫn còn lớn (chiếm 62,51% diện tích đất sản xuất nông nghiệp), các loại đất còn lại (đất vườn tạp, đất
cỏ dùng vào chăn nuôi, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản) chiếm 13,12%
- Đất lâm nghiệp: Cả nước hiện có 15.373,1 nghìn ha đất lâm nghiệp có rừng, chiếm 46,45% diện tích đất tự nhiên Trong đó, rừng sản xuất có 7.406,6 nghìn ha (chiếm 48,18% diện tích đất lâm nghiệp), rừng phòng hộ 5.827,3 nghìn
ha (chiếm 37,91% diện tích đất lâm nghiệp), rừng đặc dụng chiếm tỷ lệ nhỏ với 13,91%
Diện tích đất lâm nghiệp có rừng phân bố không đồng đều giữa các vùng, vùng Tây Nguyên hiện còn nhiều diện tích rừng nhất, chiếm 25,03% diện tích rừng cả nước, tiếp đến là Đông Bắc 23,82%, Bắc Trung Bộ 19,09% Các vùng khác chiếm diện tích không nhiều, Tây Bắc chỉ chiếm 9,5% diện tích rừng cả nước
- Đất phi nông nghiệp: Chiếm tỷ lệ không cao (có diện tích 3.740,6 nghìn
ha - chiếm 11,30% tổng diện tích tự nhiên cả nước) Nhìn chung, diện tích đất chuyên dùng phân bố không đồng đều, thường tập trung nhiều ở những vùng trọng điểm phát triển kinh tế đã làm cho có sự chênh lệch về mật độ dân số, mật độ xây dựng các cơ sở công nghiệp và kết cấu hạ tầng giữa các khu vực, giữa các vùng với nhau Điều này gây nên những vấn đề ô nhiễm môi trường đất cục bộ ở một số khu vực nhạy cảm Diện tích đất ở năm 2012 của cả nước là 690,9 nghìn ha đất ở,
Trang 3chiếm 2,09% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó có sự chênh lệch rất lớn giữa đất
ở thành thị và nông thôn (diện tích đất ở nông thôn chiếm 82,40%, diện tích đất ở
đô thị chiếm 17,60%)
- Đất chưa sử dụng: Có 3074,0 nghìn ha đất chưa sử dụng, chiếm 9,29% diện tích đất tự nhiên Trong đó: diện tích đất đồi núi chưa sử dụng của cả nước là 2.549,0 nghìn ha (chiếm 82,92% diện tích đất chưa sử dụng của cả nước) tập trung nhiều nhất ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Thực tế, loại đất này đang bị suy thoái nghiêm trọng, lớp đấtmặt bị bào mòn, dinh dưỡng đất bị rửa trôi, đất trở nên chua, bạc màu, nhiều chỗ đã bị trơ sỏiđá, không còn khả năng phục hồi
III THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM
Môi trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô sinh sắp xếp thành cấu trúc nhất định Các thực vật, động vật và vi sinh vật sống trong lòng trái đất Các thành phần này có liên quan mật thiết và chặt chẽ với nhau Môi trường đất được xem như là môi trường thành phần của hệ môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm
3.1 Ô nhiễm đất do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp
Sản lượng lúa và năng suất cây trồng không ngừng tăng cao đã kéo theo
nhu cầu sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ngày càng nhiều Trong khi
các nước phát triển có xu hướng giảm việc sử dụng phân bón thì tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, chiều hướng này lại tăng mạnh
Trang 4Bảng 1 LƯỢNG PHÂN BÓN VÔ CƠ SỬ DỤNG Ở VIỆT NAM
QUA CÁC NĂM
Đơn vị tính: Nghìn tấn
(Nguồn: Cục Trồng trọ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2008)
Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam năm
2008, hiệu suất sử dụng phân đạm chỉ đạt từ 30-45%, lân từ 40-45% và Kali từ 45-50% tùy theo chất đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón, loại phân bón,
… Như vậy, còn 70% lượng đạm tương đương với khoảng 1,8 triệu tấn urê, 55-60% lượng lân tương đương với khoảng 2 triệu tấn supe lân và 50-55-60% lượng kali tương đương với khoản 340 ngìn tấn Kali Clorua được bón vào đất nhưng chưa được sử dụng Tính từ năm 1985 đến nay, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7% nhưng lượng phân bón hóa học sử dụng tăng tới 517%
Việc sử dụng phân bón hóa học không cân đối, không đúng lúc cây trồng cần, hang năm một lượng lớn phân bón bị rửa trôi hoặc bay hơi đã làm xấu đi môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống Sử dụng phân bón sẽ để lại một lượng không nhỏ dư lượng do không được cây trồng hấp thụ, sẽ tác động tiêu cực
Trang 5làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và có thẻ gây ra đột biến ghen đối với một
số loại cây trông
Trong những năm qua, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vực ngày càng gia tăng Theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ước tính năm 2007, có trên 300 loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng với khối lượng lên đế 75 nghìn tấn/năm
Bảng 2 LƯỢNG THUỐC TRỪ SÂU SỬ DỤNG Ở VIỆT NAM
QUA CÁC GIAI ĐOẠN
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010)
Bên cạnh việc gây ô nhiêm đất, dư lượng các hóa chất này còn dây ô nhiễm tầng nước ngầm và nước mặt khi được sử dụng quá nhiều, cây trồng không thể hấp hấp thụ và sẽ thải trực tiếp ra môi trường Một số nơi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có trong đất đất đã xấp xỉ bằng hoặc vượt ngưỡng giá trị cho phép theo QCVN 15:2008/BTNMT
Trang 6Hình 1 Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất tại một số khu vực Nam Định (tháng 6/2007)
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Nam Định, 2010)
3.2 Ô nhiễm đất do các chất ôn nhiễm từ hoạt động công nghiêp, xây dựng
và dân sinh
Các hoạt động xây dụng, sản xuất và khai thác mỏ gây ra những tác động
về vật lý như xói mòn, nén chặt đất, phá hủy cấu trúc đất Các chất thải rắn, lỏng
và khí từ hoạt động của các ngành sản xuất điều có tác động đến đất Các chất thải gây ô nhiễm đất được phân làm 4 nhóm: Chất thải xây dựng, chất thải kim loại, chất thải khí, chất thải hóa học và khung hữu cơ
Bên cạnh đó, rác thải y tế tuy chiếm tỷ trọng thấp trong thành phần chất thải
xả ra môi trường đất nhưng tỷ lệ nguy hại cao, một khi xâm nhập vào đất sẽ rất khó phục hồi và khả năng tái sử dụng loại đất bị ô nhiễm này vào các mục đích dân sinh là rất thấp
Đất nông nghiệp của vùng ngoại thành, xung quanh các làng nghề chế tạo kim loại đang đứng trước một thực trạng: Ô nhiễm kim loại nặng ngày một tăng
Có ba nguyên nhân gây nên tình trạng này: (1) Chất thải của các khu công nghiệp
và dân cư chưa được xử lý, hoặc xử lý chưa triệt để thải thẳng ra môi trường; (2) Chất thải các làng nghề; (3) Các hộ nông dân thâm canh tăng vuh, bón nhiều phân
Trang 7hóa học qua các năm, các chất độc hại tích trữ ngày một tăng trông đất đặc biệt là nguyên tố: Đồng (Cu), Kẽm (Zn), Cadimi (Cd) và Chì (Pb)
Hình 2 Tỷ lệ số mẫu phân tích các năm 2006-2008
có hàm lượng đồng vượt QCVN 03:2008/BTNMT đối với đất nông nghiệp
Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2008
Nước thải từ các khu vực tập trung các khu công nghiệp, khu dân cư không qua xử lý xả thẳng ra môi trường, theo kênh mương ngấm vào đất, gây ô nhiễm đất và làm thay đổi lượng các chất hóa học trong đất Đây cũng là nơi chức chứa đựng vào lữu trữ các chất thải của quá trình sản xuát nên tiềm tàng nhiều nguy cơ gia tăng ô nhiễm Kết quả quan trắc tại các vùng đất sử dụng nước thải của các khu công nghiệp cho thấy đô chua chua của đất (pHH2O và PHKCL) điều thấp và hàm lượng của các kim loại nặng tương đối cao
Trang 8Hình 3 Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất chịu ảnh hưởng nước thải công nghiệp và đô thị khu vực Bình Chánh, Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn: Trạm quan trắc môi trường đất miền Nam, 2010
Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất chịu ảnh hưởng của hoạt động chôn lấp chất thải tuy chưa vượt ngưỡng nhưng đã có dấu hiệu tăng đáng kể qua các năm
Trang 9Hình 4 Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất chịu tác động của hoạt động chôn lấp chất thải
tại một số địa phương miền Bắc
Nguồn: Trạm quan trắc môi trường đất miền Bắc, 2009
3.2 Ô nhiễm đất cục bộ do các chất độc hóa học còn lưu tồn sau chiến tranh
Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng 77 triệu lít chất diệt
cỏ gây trụi lá cây nhằm hủy diệt mùa màng và tán rừng Trong số các chất diệt cỏ
do Mỹ sử dụng, chất da cam chiếm tới gần một nữa tổng lượng sử dụng Các chất diệt cỏ, đặc biệt là da cam, điều chứa lượng lơn dioxin, một chất siêu độc cho các
hệ sinh thái và sức khỏe con người Theo tính toán, có khoản 366kg dioxin đã được phát tán vào môi trường cùng với việc phun rải các chất diệt cỏ
Bảng 2 KHỐI LƯỢNG CHẤT ĐỘC HÓA HỌC DO QUÂN ĐỘI MỸ SỬ DỤNG
Trang 10(Nguồn: Tổng cục môi trường, 2010)
Qua hơn 40 năm, nồng độ dioxin tại nhiều vùng bị phun rải đã xuống mức bình thường, ít có khả năng tác động đến môi trường và con người Tuy nhiên, vẫn còn nhiều “điểm nóng” bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học mà chưa được phục hồi hay sử dụng vào mục đích kinh tế và những hậu quả chất độc hóa học/dioxin đã gây ra đối với con người và môi trường, vẫn còn kéo dài và rất nặng nề Các khu vực bị nhiễm dioxin chủ yếu là miền Nam Việt Nam và được chia thành hai khu vực bị ô nhiễm: Các khu vực bị phun rải (Chiếm khoảng 2,63 triệu ha, phân bố trên toàn miền Nam) và các sân bay quân sự
Cho đến nay, hàm lượng dioxin trong đất, trầm tích, máu, sữa mẹ, mô mỡ
và các thực phẩm ở các vùng bị phun rải đều ở ngưỡng cho phép Hàm lượng dioxin trong bùn và đất thông thường, khoảng dưới 10 ppt TQE Chỉ có một số ít mẫu có nồng độ khoảng 10-100 ppt TQE
Ở các sân bay trước kia tàng trữ vận chuyển chất độc hóa học dioxin như: Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát, hàm lượng dioxin trong đất còn rất cao, có nơi lên đến 365.000 ppt TQE Ba khu vực này vì thế được đánh giá là điểm nóng về dioxin ở niền Nam Việt Nam
IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
Ô nhiễm môi trường đất có ảnh hưởng vô cùng lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân Thế nên bất kỳ một thực trạng nào thì cũng cần phải có giải
Trang 11pháp khắc phục và với vấn đề ô nhiễm môi trường đất thì giải pháp là yêu cầu thiết yếu ở thời điểm hiện tại
Trước hết phải đặt vấn đề bảo vệ đất nông nghiệp lên hàng đầu, hạn chế và tránh được ô nhiễm đất nông nghiệp là cách duy nhất để giữ vững sự phát triển ổn định của nền nông nghiệp Bởi thế cần phải:
- Nâng cao lợi ích của sản xuất nông nghiệp như đảm bảo một số lượng nông nghiệp tương xứng, đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của người dân
- Nghiêm cấm việc xả các chất thải, nước thải, nước và một số chất hóa học độc hại ra môi trường đất
Thứ hai có thể tăng năng suất nông nghiệp bằng cách sử dụng các kiểu gen cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh để hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tránh sự ảnh hưởng đến môi trường đất Đồng thời thích ứng được với các điều kiện khó khăn của thời tiết, duy trì độ phì nhiêu của đất, tính đa dạng của cây trồng, áp dụng phương luân canh luân cư, trồng đan xen kết hợp các loại cây ngăn hạn và dài hạn
Thứ ba, phải bảo vệ và thường xuyên cải thiện môi trường sống, chống ô nhiễm nguồn nước, giảm và loại bỏ sử dụng chất độc để trừ sâu bệnh, giảm sử dụng phân khoáng,
Đặc biệt cũng cần phải áp dụng các biện pháp canh tác chống xói mòn như:
- Áp dụng hệ thống nông lâm kết hợp, lâm ngư kết hợp với các mô hình đa dạng và phong phú
- Kết hợp trồng trọt và chăn nuôi, tăng cường phát triển và mở rộng các mô hình kinh tế vường rừng trại rừng
- Xây dựng, tu sửa hệ thống kênh mương, thông cống tắc thoát nước, tưới
tiêu hợp lý,…
Tuy nhiên quan trọng hơn cả vẫn là ý thức của người dân cần được nâng cao, vì thế cần phải thực hiện các công tác truyền thông đại chúng, tuyên truyền và phổ biến cho người dân những kiến thức căn bản về môi trường đất để trên cơ sở
đó họ có trách nhiệm hơn về hành động của mình trong việc bảo vệ môi trường đất