1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài diễn án HS 09 tranh chấp về xử lý lao động bằng hình thức kỹ luật xa thải, Trần Thị Thu kiện Cty YD Việt Nam

18 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 40,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 17102008 bà Thu và công ty YD ký kết hợp đồng lao động vô thời hạn số YCS008PLHĐ2008, theo đó bà Thu làm việc tại Công ty YD với vị trí nhân viên làm việc tại văn phòng công ty YD. • Chức danh chuyên môn: Nhân viên kế toán; • Mức lương: 230 USDtháng. • Mức lương hiện hưởng 21.733.600 đồngtháng theo Phụ lục Hợp đồng lao động ký ngày 01012015 Sau thời gian nghỉ sinh từ 062015 đến 09122015, bà Thu quay lại làm việc tại công ty YD. Ngày 05122015, bà Thu nhận được thông báo số 052015TB với nội dung: yêu cầu tạm dừng công việc từ ngày 9122015 đến hết ngày 13122015 và đúng 9h sáng ngày 15122015 đến công ty làm rõ sai phạm kế toán. Mặc dù bị bất ngờ trước thông báo của Ban lãnh đạo công ty nhưng bà Thu vẫn chấp hành theo nội dung thông báo. Ngày 20122015 bà Thu tiếp tục nhận được Thông báo số 072015TB với nội dung đúng 9h ngày 25122015 mời bà Thu tham gia cuộc họp Hội đồng kỷ luật lao động. Ngày 22122015 bà Thu ủy quyền cho công ty luật K do bà Nguyễn Thị Thu Hà (Luật sư) làm đại diện để thay mặt bà Thu giải quyết tranh chấp lao động với công ty YD. Ngày 25122015 họp hội đồng kỷ luật, với kết luận Công ty YD yêu cầu bà Thu viết bản kiểm điểm, bà Thu không ký vào Biên bản họp hội đồng kỷ luật này.

Trang 1

……….

HỒ SƠ SỐ: LS.DS 09/B3.TH4-DA4 /LĐ

NGÀY DIỄN:

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

Họ và tên :

TP.Hồ Chí Minh, ngày … tháng ….năm 2019

Trang 2

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết vụ việc Dân

sự

Hồ sơ số: LS.DS LS.DS 09/B3.TH4-DA4 /LĐ – Tranh chấp về xử lý kỷ luật

lao động theo hình thức sa thải

Ngày 17/10/2008 bà Thu và công ty YD ký kết hợp đồng lao động

vô thời hạn số YC-S008/PLHĐ-2008, theo đó bà Thu làm việc tại Công

ty YD với vị trí nhân viên làm việc tại văn phòng công ty YD

 Chức danh chuyên môn: Nhân viên kế toán;

 Mức lương: 230 USD/tháng

 Mức lương hiện hưởng 21.733.600 đồng/tháng theo Phụ lục Hợp đồng lao động

ký ngày 01/01/2015

Sau thời gian nghỉ sinh từ 06/2015 đến 09/12/2015, bà Thu quay lại làm việc tại công ty YD

Ngày 05/12/2015, bà Thu nhận được thông báo số 05/2015/TB với nội dung: yêu cầu tạm dừng công việc từ ngày 9/12/2015 đến hết ngày 13/12/2015 và đúng 9h sáng ngày 15/12/2015 đến công ty làm rõ sai phạm kế toán Mặc dù bị bất ngờ trước thông báo của Ban lãnh đạo công

ty nhưng bà Thu vẫn chấp hành theo nội dung thông báo

Ngày 20/12/2015 bà Thu tiếp tục nhận được Thông báo số 07/2015/

TB với nội dung đúng 9h ngày 25/12/2015 mời bà Thu tham gia cuộc họp Hội đồng kỷ luật lao động

Ngày 22/12/2015 bà Thu ủy quyền cho công ty luật K do bà Nguyễn Thị Thu Hà (Luật sư) làm đại diện để thay mặt bà Thu giải quyết tranh chấp lao động với công ty YD

Trang 3

Ngày 25/12/2015 họp hội đồng kỷ luật, với kết luận Công ty YD yêu cầu bà Thu viết bản kiểm điểm, bà Thu không ký vào Biên bản họp hội đồng kỷ luật này

Ngày 30/12/2015 công ty YD ban hành quyết định số S008-14/QĐ

bố trí bà Thu từ kế toán tại văn phòng sang kế toán phụ trách quản lý kho rác từ ngày 5/1/2016 Bà Thu đã nhận Quyết định này vào ngày 5/1/2016 Công ty Luật K, theo như ủy quyền của bà Thu, đã nhiều lần gửi công văn đến Công ty YD đề nghị Công ty YD giải quyết quyền lợi cho

bà Thu nhưng không nhận được trả lời

Ngày 12/3/2016, dưới sự ủy quyền của bà Thu, công ty Luật K gửi công văn số 12/2016/CV-K đến Sở LĐTBXH TP Hải Phòng , phòng LĐTBXH huyện AD đề nghị phối hợp hòa giải tranh chấp lao động cá nhân Công văn này được Phòng LĐTBXH huyện AD trả lời công ty luật

A bằng văn bản số 39/LĐTBXH ngày 25/3/2016 về việc chưa thể thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân do Phòng LĐTBXH huyện AD chưa có Hòa giải viên lao động

Ngày 20/3/2016 Công ty YD ban hành biên bản số 02-BB/VPKL về việc xử lý kỷ luật lao động với hình thức sa thải do bà Thu tự ý nghỉ việc quá 05 ngày không có lý do chính đáng, tại biên bản xử lý kỷ luật thì bà Thu vắng mặt

Ngày 06/07/2016, bà Thu gửi Đơn khởi kiện Công ty AD đến TAND huyện AD, TP Hải Phòng với nôi dung yêu cầu Tòa buộc Công ty

YD phải:

 Thanh toán tiền lương kể từ ngày 09/12/2015 cho đến ngày tạm tính là 09/5/2017 (17 tháng): 20.393.000 x 17 = 346.681.000 VNĐ

 Bồi thường 2 tháng tiền lương: 20.393.000 x 2 = 40.786.000 VNĐ

 Trợ cấp thôi việc tính từ lúc Nguyên đơn bắt đầu làm việc tại Công ty YD (17/7/2006) cho đến ngày 31/12/2008, thời gian hưởng trợ cấp là 2,5 năm: 20.393.000 x 1/2/2 = 25.491.250 VNĐ

Trang 4

 Tổng số tiền được yêu cầu bồi thường là: 346.681.000 + 40.786.000 + 25.491.250 = 412.958.250 VNĐ

Ngày 14/8/2016 Công ty YD ban hành biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động với hình thức sa thải do bà Thu tự ý nghỉ việc quá 05 ngày không có lý do chính đáng, tại biên bản xử lý kỷ luật thì bà Thu vắng mặt Ngày 15/8/2016 Công ty YD ban hành quyết định số 02-QĐ/HĐKL

về việc xử lý kỷ luật lao động với hình thức sa thải do bà Thu đã không đến công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động mặc dù công ty đã có thông báo (3 lần) đến địa chỉ thường trú của bà Thu

Ngày 14/10/2016 Tòa án huyện AD TP Hải Phòng thụ lý vụ án số 04/TB-TLVA

II CÁC VẤN ĐỀ TỐ TỤNG

1 Quan hệ pháp luật tranh chấp

Đây là quan hệ tranh chấp tranh chấp lao động về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải giữa người lao động với người sử dụng lao động Căn cứ pháp lý: điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

2 Những người tham gia tố tụng

a) Nguyên đơn:

Bà Trần Thị Thu, sinh năm 1985

Đại diện ủy quyền: Luật sư Nguyễn Thu Hà

b) Bị đơn:

Công ty TNHH YD Việt Nam

Địa chỉ trụ sở: Lô 12xx Khu công nghiệp NM – Hải Phòng, huyện AD, Thành phố Hải Phòng

3 Điều kiện khởi kiện

Bà Trần Thị Thu đáp ứng đầy đủ điều kiện khởi kiện căn cứ vào Điều 186 Bộ Luật TTDS 2015 : Quyền khởi kiện vụ án: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau

Trang 5

đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”

4 Thời hiệu khởi kiện

Căn cứ khoản 2 Điều 202 BLLĐ 2014, thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 1 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi vi phạm Ngày 15/5/2016 bà Thu nhận được Biên bản xử lý kỷ luật lao động với hình thức sa thải số 02-BB/VPKL ngay 02/3/2016 Ngày 6/7/2016 bà Thu khởi kiện Do đó, việc khởi kiện của bà Thu còn trong thời hiệu

5 Thẩm quyền của tòa án

Thẩm quyền chung: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS thì tranh chấp

về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Do đó, đối với quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà Thu và công

ty YD, thẩm quyền giải quyết thuộc TAND theo điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015

Thẩm quyền theo cấp: Căn cứ Điều 32 BLTTDS 2015 thì tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa bà Thu và công ty YD về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động

Thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì Tòa án nơi bị đơn có trụ sở mà cụ thể là Tòa án nhân dân huyện AD nơi Công

ty YD đóng trụ sở có thẩm quyền giải quyết

6 Các văn bản pháp luật áp dụng

a Luật hình thức (tại thời điểm xét xử):

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 103/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn Khoản 1, Khoản 3 Điều

192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác

Trang 6

b Luật nội dung (tại thời điểm xảy ra tranh chấp):

Bộ luật lao động 2012;

Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động;

Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác

III YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN

- Buộc Công ty YD phải nhận bà Thu quay lại làm việc Đồng thời, phải thanh toán toàn bộ tiền lương kể từ ngày 9/12/2015 đến 9/4/2017 (tạm tính) = 20.393.000đ/tháng x tháng = 326.288.000đ và bồi thường 2 tháng tiền lương

= 16.000.000đ x 2 tháng = 32.000.000đ

- Nếu công ty YD không nhận bà Thu trở lại làm việc thì buộc công ty YD phải bồi thường cho bà Thu 2 tháng lương bằng 16.000.000đ x 2 = 32.000.000đ, thanh toán tiền trợ cấp thôi việc: tiền hưởng trợ cấp thôi việc từ ngày 17/7/2006 đến 31/12/2008 = 2.5 năm x 6 tháng tiền lương liền kề 20.393.000đ/tháng x ½ x 2.5 = 25.491.250đ

- Buộc chốt sổ BHXH

- Buộc công ty YD hủy biên ban xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016 với hình thức sa thải

IV KẾ HOẠCH HỎI

Hỏi bị đơn:

- Bị đơn cho biết công việc và mức lương mà bà Thu đang đảm nhiệm trước khi nghỉ thai sản là gì?

- Bị đơn có biết thời điểm điều chuyển công việc, bà Thu đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi không?

- Bị đơn có thể trình bày lý do tại sao lại yêu cầu chị Thu tạm ngừng làm việc trong khoảng thời gian từ 09/12/2015 đến 13/12/2015?

- Cơ sở nào mà bị đơn cho rằng bà Thu đã tự ý nghỉ việc quá 05 ngày trong một tháng mà không có lý do chính đáng? Thời gian tính 05 ngày này được tính từ ngày nào đến ngày nào ?

- Có gửi thư mời bà Thu đến tham dự buổi họp hội đồng xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016 không? Bà Thu có ký xác nhận không?

Trang 7

- Bị đơn có chứng cứ nào chứng minh cho các sai phạm kế toán của bà Thu hay không?

- Nguyên đơn cho biết bà nghỉ thai sản từ ngày nào đến ngày nào?

- Thời điểm xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016 thì con của bà được mấy tháng tuổi?

- Trước khi nghỉ thai sản, Nguyên đơn có thực hiện các hành vi vi phạm về thời gian làm việc, cụ thể là việc đi trễ về sớm như Bị đơn đã nói?

- Trước khi nghỉ thai sản, bà có nhận được yêu cầu bàn giao công việc từ Công ty

YD không? chị có bàn giao lại việc của mình cho ai không?

- Bà có gì để chứng minh rằng mức lương hiện tại của chị là số tiền 21.733.600 VNĐ/tháng?

- Bà có muốn quay lại làm việc tại công ty không?

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Thưa vị đại diện viện kiểm sát,

Thưa Luật sư đồng nghiệp.

Tôi là Luật sư ………., đến từ Văn phòng luật sư HT, thuộc đoàn luật sư

Thành phố Hồ Chí Minh Theo yêu cầu của người khởi kiện – bà Trần Thị Thu và được sự chấp thuận của Hội đồng xét xử, tôi có mặt với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay

Kính thưa Hội đồng xét xử, qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, tôi trình bày quan điểm của mình như sau:

Thứ nhất, hành vi xử lý kỷ luật lao động của công ty YD với bà Thu là trái pháp luật.

Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 123; khoản 4 điều 155 BLLĐ 2014, Điều 29 Nghị

định 05/2015/NĐ-CP thì người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động đối với phụ nữ đang trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi Tại thời

Trang 8

điểm xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016 Thì bà Thu đang nuôi con dưới 12 tuổi (cụ thể, con bà Thu đang 08 tháng tuổi) Công ty YD cho rằng ngày 14/8/2016 mới xử lý kỷ luật lao động và ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động chứ không phải là ngày 20/3/2016 Tuy nhiên trong biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016 có ghi hình thức kỷ luật đối với bà Thu là sa thải

Khoản 4 Điều 155 BLLĐ 2014 quy định “Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới

12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động” Biên bản xử lý kỷ

luật lao động đầu tiên của công ty YD đối với bà Thu ban hành ngày 20/3/2016

Do vậy tiến trình xử lý kỷ luật bà Thu được tính từ ngày 20/3/2016 chứ không phải ngày 14/8/2016 như quan điểm của công ty YD

Đồng thời, theo điểm c khoản 1 Điều 123 BLLĐ, khoản 2 Điều 30 Nghị định

05/2015/NĐCP thì việc xử lý kỷ luật người lao động phải có mặt Căn cứ khoản 1 Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ-CP, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động ít nhất 05 ngày làm việc trước khi tiến hành họp Tuy nhiên, cả hai biên bản xử lý kỷ

luật ngày 20/3/2016 và ngày 14/8/2016 đều không có sư tham gia của bà Thu và bản thân bà Thu không được thông báo về việc tham gia cuộc họp hội đồng xử lý

kỷ luật Tại phiên tòa hôm nay, đại diện của bị đơn cũng không cung cấp được các chứng cứ chứng minh việc đã thông báo hợp lệ về việc mời họp xử lý kỷ luật cho

bà Thu

Lý do xử lý kỷ luật với hình thức sa thải là bà Thu đã nghỉ việc không có lý do chính đáng 05 ngày cộng dồn trong một tháng mặc dù công ty đã gửi thông báo mời làm việc cho bà Thu là không đúng Theo đó, bà Thu vẫn chưa ký xác nhận chấp thuận đối với quyết định đổi công việc của bà Thu nên trên thực tế bà Thu vẫn đang làm việc cho Công ty YD với chức danh Kế toán văn phòng theo Hợp đồng Lao động số YC-S008/PLHĐ-2008 Tuy nhiên, chính Công ty YD lại không

bố trí cho bà Thu làm công việc của mình nên bà Thu không thể đến công ty làm việc Như vậy, việc bà Thu không đi làm là vì lý do bất khả kháng do mâu thuẫn

về vị trí công việc của bà Thu và bà Thu không được Công ty YD bố trí cho làm việc Chính vì thế, bà Thu không thuộc trường hợp theo quy định tại Khoản 7,

Trang 9

Điều 27 Nội quy lao động và Khoản 3, Điều 126, BLLĐ nên việc áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải là không đúng

Thứ hai, đề nghị HĐXX buộc công ty YD phải trả số tiền lương, tiền BHXH, BHYT cho những ngày bà Thu không được làm việc:

- Tiền lương trong những ngày bà Thu không được làm việc được tính từ ngày 9/12/2015 đến ngày 21/9/2017 là ngày xét xử hôm nay = 20.393.00đ x 21 tháng 12 ngày = 436.410.200 vnd (1)

Thứ ba, tại phiên tòa hôm nay, bà Thu không muốn quay lại làm việc, vì vậy

đề nghị HĐXX buộc công ty YD phải bồi thường các khoản tiền sau đây:

- Tiền trợ cấp thôi việc Căn cứ khoản 2 Điều 48 BLLĐ thì thời gian được áp dụng

để tính trợ cấp thôi việc của bà Thu là: 17/7/2006 đến 31/12/2008 (2 năm 6 tháng)

= 20, 393,000vnd x ½ x 2,5 = 25,491,250vnd (2)

- Bồi thường 02 tháng lương theo hợp đồng lao động = 20,393,00đ x 2 = 40,786,000vnd (3)

- Tổng cộng công ty YD phải thanh toán cho bà Thu số tiền (1)+(2)+(3): 502.687.450vnd

Trên cơ sở các luận cứ đã trình bày trên, tôi khẳng định Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn hợp pháp và có căn cứ Do vậy, với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc công ty YD phải thực hiện:

 Thanh toán tiền lương kể từ ngày 09/12/2015 cho đến ngày tạm tính là 21/9/2017 (ngày xét xử) 436.410.200 VNĐ

 Bồi thường 2 tháng tiền lương: 20.393.000 x 2 = 40.786.000 VNĐ

 Trợ cấp thôi việc tính từ lúc Nguyên đơn bắt đầu làm việc tại Công ty YD (17/7/2006) cho đến ngày 31/12/2008, thời gian hưởng trợ cấp là 2,5 năm: 20.393.000 x 1/2/2 = 25.491.250 VNĐ

 Tổng số tiền được yêu cầu bồi thường là: 346.681.000 + 40.786.000 + 25.491.250 = 502.687.450 VNĐ

 Chốt sổ BHXH cho bà Thu

Trang 10

 Buộc công ty YD hủy biên ban xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016 với hình thức sa thải

Trên đây là toàn bộ những ý kiến và quan điểm của tôi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Trần Thị Thu Kính mong quý tòa cân nhắc, xem xét và chấp nhận để cho ra một bản án đúng pháp luật

Cảm ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe

Tôi xin chân thành cảm ơn

VI PHẦN NHẬN XÉT CÁC VAI DIỄN

1 Nhận xét chung

2 Thư ký phiên tòa

Trang 11

3 Chủ tọa phiên tòa

4 Hội thẩm nhân dân

Trang 12

5 Đại diện Viện Kiểm Sát

Trang 13

6 Nguyên đơn

7 Bị đơn

Trang 14

8 Người có quyền, nghĩa vụ liên quan

Trang 15

9 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn

Trang 16

10 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn

Ngày đăng: 06/09/2021, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w