Các đương sự tham gia vụ án: Nguyên đơn: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KIM LÂN; Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Anh Tuấn, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 11, ngách 1012, phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hải Vân, sinh năm 1972; luật sư Văn phòng luật sư Kiều Vân và cộng sự, Đoàn luật sư TP. Hà Nội. Bị đơn: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHẬT LINH; Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Linh, sinh năm 1964; địa chỉ: 226 phố Tây Sơn, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Chức vụ: Giám đốc.Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến Công; địa chỉ: Nhà B10, P102, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội
Trang 1………
………
……….
MÃ HỒ SƠ : LS.DS-13/B5.TH2-DA3/KDTM DIỄN ÁN LẦN :
NGÀY DIỄN ÁN :
HỌ TÊN :
Bình Dương, ngày tháng năm 2020
I CHUẨN BỊ
1 Tóm tắt nội dung tranh chấp
Các đương sự tham gia vụ án:
Nguyên đơn: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KIM LÂN;
Trang 2Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Anh Tuấn, sinh năm 1963; địa
chỉ: Số 11, ngách 101/2, phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hải Vân, sinh năm 1972; luật sư
Văn phòng luật sư Kiều Vân và cộng sự, Đoàn luật sư TP Hà Nội
Bị đơn: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHẬT LINH;
Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Linh, sinh năm 1964; địa
chỉ: 226 phố Tây Sơn, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến Công; địa chỉ: Nhà B10,
P102, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội
Diễn biến vụ án như sau:
Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân (Công ty Kim Lân) và Công
ty TNHH Nhật Linh (Công ty Nhật Linh) đã ký kết hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL với thời hạn thực hiện hợp đồng là 12 tháng
Công ty TNHH Kim Lân đã giao hàng đúng theo hợp đồng Tuy nhiên, phía Công ty TNHH Nhật Linh chưa thanh toán tiền hàng cho Công ty Kim Lân theo như hợp đồng nguyên tắc đã ký kết
Ngày 25/2/2016 và ngày 08/5/2016, Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh ký các biên bản đối chiếu công nợ Theo đó tính đến hết ngày 30/4/2016, Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân tổng số tiền mua hàng là 3.270.212.570 đồng Đồng thời, ngày 09/5/2016, Công ty Kim Lân gửi Công văn số 0506ĐN/CV về việc yêu cầu Công ty Nhật Linh thanh toán số tiền là 3.270.212.570 đồng
Ngày 17/5/2016, Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã có làm việc với nhau để giải quyết việc thanh toán tiền hàng Tại công văn số 77/CV-NL ngày 27/5/2016 Công ty Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: Mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền là 300 triệu đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016
Ngày 10/7/2016, Công ty Kim Lân gửi đơn khởi kiện Công ty Nhật Linh đến Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Công ty Kim Lân yêu cầu buộc Công ty Nhật Linh trả tiền nợ gốc là 3.270.212.570 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật
Trang 3Ngày 17/11/2016, Công ty Nhật Linh gửi Đơn phản tố đến Tòa án yêu cầu Công ty Kim Lân ký xác nhận bảng thống kê tài sản và hoàn trả toàn bộ tài sản của Nhật Linh
Ngày 26/12/2016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2016/QĐXXST-KDTM
2 Về tố tụng
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa Công ty
TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, cụ thể là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 123
Bộ luật Lao động thì tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải”
- Về thời hiệu khởi kiện: Về thời hiệu khởi kiện, theo quy định tại Điều
319 Luật thương mại 2005 quy định: Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm Căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 để xác nhận công nợ giữa Công ty Kim Lân
và Công ty Nhật Linh là văn bản sau cùng Kể từ ngày đối chiếu công nợ, Công
ty Nhật Linh không thanh toán cho Công ty Kim Lân, do đó, quyền và lợi ích của Công ty Kim lân bị xâm phạm Từ đó suy ra thời hiệu khởi kiện là từ ngày 8/5/2016 đến hết ngày 7/5/2018 Vậy nên thời hiệu khởi kiện của ông đối với Công ty TNHH Kim Lân là vẫn còn
- Về tư cách tham gia tố tụng:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân; địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh
Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Anh Tuấn, sinh năm 1963; địa
chỉ: Số 11, ngách 101/2, phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hải Vân, sinh năm 1972; luật sư
Văn phòng luật sư Kiều Vân và cộng sự, Đoàn luật sư TP Hà Nội
Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh; địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh
Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Linh, sinh năm 1964; địa
chỉ: 226 phố Tây Sơn, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến Công; địa chỉ: Nhà B10,
P102, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội
- Về thẩm quyền của Tòa án: Theo Hợp đồng nguyên tắc số
01/2015/NLBN-KL thì hai bên có thỏa thuận “Nếu không thỏa thuận được hai
Trang 4kinh tế TP Hà nội sẽ là quyết định cuối cùng và bắt buộc hai bên phải thi hành Các chi phí kiểm tra, xác minh và lệ phí tòa án do bên có lỗi chịu” Bởi vì trong
thực tế không có trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội nên thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được Căn cứ Khoản 5 Điều 43 Luật Trọng tài 2010 thì thỏa thuận trọng tài trong trường hợp này không thể thực hiện được Do đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên thuộc thẩm quyền của Tòa án
Tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 quy định những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh,thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Cụ thể, theo điểm b, khoản 1, Điều 35 BLTTDS 2015 thì những tranh chấp về kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
Vụ án trên là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện Bị đơn là Công ty Nhật Linh có trụ sở chính tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nên Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành là tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này
* Về chứng cứ, tài liệu
1 Các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án
- Bản sao Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015
- GCNĐKDN của Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh
- Bản sao Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016
- Bản sao Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/05/2016
- Công văn số 0506/ĐN/CN ngày 09/05/2016
- Biên bản làm việc ngày 17/5/2016
2 Các tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa chứng minh cho yêu cầu của các đương sự
- Tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của nguyên đơn:
+ Biên bản đối chiếu công nợ 25/2/2016 và 08/5/2016;
+ Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015
- Tài liệu chứng cứ chứng minh yêu cầu của bị đơn:
Biên bản xác nhận tài sản của Công ty Nhật Linh đầu tư xây dựng trên đất của Công ty Kim Lân
3 Tình tiết, chứng cứ cần làm rõ và không cần làm rõ
- Tình tiết, chứng cứ không cần làm rõ:
+ Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015
+ GCNĐKDN của Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh
+ Công văn số 0506/ĐN/CN ngày 09/05/2016
+ Tình tiết Công ty Nhật Linh nợ tiền hàng của Công ty Kim Lân
- Tình tiết, chứng cần làm rõ:
Trang 5+ Biên bản đối chiếu công nợ 25/2/2016 và 08/5/2016: Cần chứng minh việc Phó Giám đốc Công ty Nhật Linh có được người đại diện theo pháp luật ủy quyền ký xác nhận vào biên bản đối chiếu công nợ hay không?
+ Tình tiết Công ty Kim Lân đồng ý ký vào biên bản thỏa thuận tại buổi làm việc ngày 17/5/2016 nhưng không thực hiện
+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh Công ty Nhật Linh có đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng và trang thiết bị trên đất của Công ty Kim Lân: Để chứng minh quyền sở hữu của Công ty Nhật Linh
+ Cần bổ sung thêm các hóa đơn, giá trị gia tăng và giấy đề nghị thanh toán của Công ty Kim Lân đối với các khoản nợ tiền hàng thanh toán của Công ty Nhật Linh
II KẾ HOẠCH HỎI VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN
VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGUYÊN ĐƠN
1 Câu hỏi chuẩn bị để hỏi nguyên đơn
- Nguyên đơn có nhận 2 giấy ủy nhiệm chi phía bị đơn vào các ngày
11/1/2016 và Uỷ nhiệm chi ngày 30/1/2016 không ?
- Lãnh đạo Công ty TNHH Kim Lân có tư nguyện ký kết Hợp đồng nguyên
tắc ngày 02/01/2015 với Công ty Nhật Linh hay không?
- Bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 có được các bên thống nhất hay
không?
- Nguyên đơn đã xuất hóa đơn cho toàn bộ lô hàng năm 2015, 2016 và có giao
các hóa đơn này cho Bị đơn hay chưa? Vì sao Nguyên đơn chậm trễ trong việc xuất hóa đơn sau khi giao hàng?
- Nguyên đơn có tài liệu gì chứng minh tổng số nợ mà Bị đơn phải trả là
3.250.319.430 đồng?
- Vì sao Nguyên đơn không ký văn bản liệt kê tài sản theo biên bản làm việc
đã thỏa thuận ngày 17/5/2016?
- Giữa Nguyên đơn và Bị đơn có thỏa thuận về khấu trừ nợ bằng giá trị tài sản
của Bị đơn trên đất đất của Nguyên đơn không?
- Nguyên đơn có góp vốn bằng quyền sử dụng thửa đất diện tích 11.735,4m2
vào Công ty Nhật Linh hay không? Nguyên đơn có ký kết hợp đồng góp vốn
số 288/HĐ/2008 ngày 3/10/2008 hay không?
- Nguyên đơn có nhận được bản liệt kê tài sản của bị đơn gửi không ? có ký
xác nhận không ? tại sao ?
- Nguyên đơn cho biết về tài sản trên đất của nguyên đơn thuộc sở hữu của bị
đơn, có hay không, cụ thể là những gì ?
- Công ty Nhật Linh đã thanh toán cho bên nguyên đơn hay chưa?
- Có phải tại phiên họp ngày 17/5/2016 các bên đã thống nhất với nhau về
khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ký ngày 02/01/2015?
2 Câu hỏi chuẩn bị để hỏi bị đơn
Trang 6- Bị đơn đến nay đã thanh toán cho Nguyên đơn tiền mua hàng theo Hợp đồng
bao nhiêu lần, tổng số tiền đã thanh toán là bao nhiêu?
- Bị đơn đã nhận được hóa đơn, chứng từ cho bất kỳ lô hàng nào từ Nguyên
đơn hay chưa?
- Lý do Công ty TNHH Nhật Linh không thực hiện việc thanh toán cho công
ty TNHH Kim Lân theo hợp đồng nguyên tắc ký ngày 02/01/2015?
- Tại sao công ty Nhật Linh lại cam kết trả nợ và đề ra phương thức thanh
toán đến ngày 30/7/2016 nhưng không thực hiện?
- Có phải Biên bản đối chiếu công nợ ngày 28/5/2015 đã được Công ty xác
nhận bằng con dấu và chữ ký của người đại diện công ty không?
- Công ty Nhật Linh đã thanh toán tiền nợ hàng cho Công ty Kim Lân được
bao nhiêu rồi? Thanh toán mấy lần?
- Công ty Nhật Linh cho biết 02 ủy nhiệm chi mà công ty đã thanh toán là
thực hiện theo hợp đồng nào?
- Bị đơn đã giao bản liệt kê tài sản cho nguyên đơn chưa, nguyên đơn có ký
xác nhận không ?
- Giữa công ty Nhật Linh và công ty Kim Lân có Hợp đồng góp vốn vào ngày
03/10/2008, vậy tại sao công ty không cung cấp cho tòa án?
III PHẦN TRÌNH BÀY CỦA NGUYÊN ĐƠN
IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa hội đồng xét xử!
Kính thưa Vị đại diện viện kiểm sát!
Thưa Luật sư đồng nghiệp!
Tôi là Luật sư ……., Văn phòng Luật sư AT, Đoàn Luật sư tỉnh Bắc
Ninh Tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho Nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” với Bị đơn là Công ty TNHH Nhật Linh.
Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và các chứng cứ trong vụ án, sau khi nghe Hội đồng xét xử hỏi và trực tiếp tham gia hỏi các đương sự tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày những vấn đề sau:
Thứ nhất, yêu cầu Tòa án buộc Công ty Nhật Linh phải thanh toán số
tiền hàng còn nợ và lãi phát sinh cho việc chậm thanh toán với tổng số tiền là: 3.500.319.430 đồng là có cơ sở để chấp nhận:
Căn cứ vào biên bản đối chiếu công nợ ngày 25 tháng 2 năm 2016 thì các bên thống nhất số tiền mà Công ty TNHH Nhật Linh còn nợ phía Công ty TNHH Kim Lân là: 3.270.212.570 đồng Các bên thống nhất với nhau đây là khoản nợ năm 2015 Các bên đã tiến hành ký xác nhận công nợ trên (bút lục 27) Biên bản này có đầy đủ chữ ký đại diện và con dấu của hai bên, Công ty Nhật Linh đã xác nhận khoản nợ và nghĩa vụ trả nợ của mình bằng con dấu Công ty Điều này xác nhận một sự thật khách quan rằng có khoản nợ này trên thực tế và
Trang 7Biên bản đối chiếu công nợ ngà 25/12/2015 là một chứng cứ có giá trị chứng minh cao
Tại biên bản làm việc ngày 17 tháng 5 năm 2016 phía bên Công ty nhật Linh cam kết thanh toán số tiền công nợ nêu trên theo đúng lộ trình cho phía Công ty TNHH Kim Lân (bút lục 33)
Ngày 27/5/2016, Công ty TNHH Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau mỗi tuần mỗi tuần thanh toán 1 lần trả số tiền là 300.000.000 đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016 Tuy nhiên trên thực tế phía Công ty Nhật Linh không thực hiện đúng như lộ trình thanh toán đã cam kết hành vi trên đã gây thiệt hại tới hoạt động sản xuất của Công ty Kim Lân
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/11/2016 Công ty Nhật Linh đã thừa nhận
đã ký xác nhận tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2015, như vậy nghĩa
là Công ty Nhật Linh có nợ thân chủ tôi số tiền như biên bản đã đề cập Còn về
lý do họ không chấp nhận số tiền được thể hiện trong Biên bản xác nhận công
nợ ngày 25/2/2016 là không có cơ sở Bởi vì, 02 ủy nhiệm chi mà Công ty Nhật Linh đã thanh toán là thanh toán cho hóa đơn số 000086,84, còn số tiền Công ty Kim Lân buộc Công ty Nhật Linh trả là phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ký ngày 02/01/2015 Từ đó cho thấy, Công ty Nhật Linh chưa từng thanh toán bất
cứ khoản nợ nào cho Công ty Kim Lân phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ngày 02/01/2015 đã được ghi nhận trong biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016
Từ những chứng cứ nêu trên Công ty Nhật Linh đã xác nhận công nợ phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc, nên Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân tiền
hàng và chưa thanh toán số tiền gốc là 3.250.319.430 đồng là đúng thực tế.
Tiếp theo, Phía Công ty TNHH Kim Lân yêu cầu phía Công ty TNHH
Nhật Linh trả lãi trên số tiền mà các bên đã đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 là hoàn toàn đúng pháp luật và có cơ sở, cụ thể:
Điều 306 Luật Thương Mại 2005 quy định về việc trách nhiệm
chậm thanh toán: Quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán: “ Trường
hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”
Về mức lãi suất chậm trả áp dụng trong trường hợp này, căn cứ vào Điều
11 quy định về xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật Thương Mại của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì lãi suất chậm trả áp dụng để nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là lãi suất quá hạn trung bình của 03 ngân hàng
Trang 8Vietcombank, ViettinBank và Agribank ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nơi Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành đang giải quyết vụ án
Theo nội dung án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại thì chỉ áp dụng lãi suất trả chậm trung bình trên thị trường của 3 ngân hàng trên địa phương thay vì áp dụng theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước với trường hợp Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân thuộc Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh
Căn cứ vào sự việc trên thực tế giữa các bên, việc phía bị đơn chậm thanh toán số tiền công nợ theo đúng thỏa thuận của các bên là hành vi vi phạm pháp luật Xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH Kim Lân Căn cứ theo quy định pháp luật thì phía Công ty TNHH Kim Lân có quyền yêu cầu phía Công ty Nhật Linh phải trả lãi theo quy định pháp luật về việc chậm thanh toán
Từ những chứng cứ, lập trên tôi cho rằng việc yêu cầu thanh toán của
Công ty TNHH Kim Lân cả tiền nợ gốc là 3.250.319.430 đồng và tiền lãi chậm trả là 250.000.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở, đúng quy định của pháp luật Vì
vậy tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp thuận yêu cầu trên
Thứ hai, không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Nhật Linh vì trái
pháp luật, vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng dân sự 2015
Tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” Tuy nhiên, theo thông
báo số 30/TB-TA ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành thì phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải diễn
ra vào ngày 03/9/2016, đến ngày 17/11/2016 thì Công ty Nhật Linh mới có yêu cầu phản tố (bút lục 69), vậy mà Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành vẫn chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Hành vi này của thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Như vậy, để yêu cầu phản
tố được chấp nhận thì phía bị đơn phải đưa ra yêu cầu của mình trước thời điểm
mở phiên họp còn trong trường hợp này yêu cầu phản tố của phía bị đơn Công
ty Nhật Linh được đưa ra sau phiên họp mà vẫn được Toà án chấp nhận là vi phạm pháp luật về tố tụng dân sự
Đối tượng đang tranh chấp ở đây là tiền chứ không phải công trình đầu tư trên đất Tòa án đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản trên đất của Công ty Kim Lân (bút lục 85) chưa hợp lý Vì Tòa án đã chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn trái quy định pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do vậy việc kê biên phong tỏa tài sản tại Công ty Kim Lân là sai, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của Công ty Kim Lân
Tiếp theo, yêu cầu của bị đơn khi bị đơn cho rằng chỉ thanh toán công nợ cho Công ty Kim Lân khi Công ty Kim Lân ký xác nhận vào bảng thống kê tài
Trang 9sản mà Công ty Nhật Linh đang để lại trên đất Công ty Kim Lân chúng tôi không đồng tình vì hai lý do sau:
Thứ nhất, trong nội dung biên bản tại cuộc họp ngày 17/5/2016 giữa hai
bên ghi rõ như sau “Đề nghị Công ty TNHH Nhật Linh – Bắc Ninh nhanh chóng thực hiện việc thanh toán tiền hàng còn đang nợ của Công ty TNHH Kim Lân và gửi văn bản liệt kê tài sản trên đất của Công ty TNHH Kim Lân mà Công ty TNHH Nhật Linh – Bắc Ninh chưa di dời.”(bút lục 33) Hai việc được thực hiện
riêng biệt nhau qua nội dung trên, chứ không thể hiện nghĩa vụ thanh toán có điều kiện như ý kiến của Công ty Nhật Linh
Thứ hai, việc yêu cầu đòi bù trừ nghĩa vụ tài sản này của phía bị đơn không hợp lý Sau khi bổ sung thành viên góp vốn, bị đơn góp vốn vào Công ty Kim Lân bằng cách bỏ tiền đầu tư xây dựng các công trình (bao gồm nhà xưởng, nhà điều hành, nhà ăn, kho tàng, trạm biến áp ) trên phần đất thuộc Công ty Kim Lân lúc này sự thay đổi chủ sở hữu tài sản thành tài sản chung của công ty
do cả nguyên đơn và bị đơn đều là thành viên góp vốn chứ không thuộc quyền
sở hữu riêng của công ty nào Do vậy Công ty Nhật Linh không có cơ sở đòi khấu trừ tiền vốn này vào số tiền hàng còn nợ mà họ buộc phải thực hiện Nếu Công ty Nhật Linh cho rằng toàn bộ tài sản trên đất trong yêu cầu phản tố của họ
là của mình theo Hợp đồng góp vốn ngày 03/10/2008 thì có thể khởi kiện ra Tòa
án ở một vụ án khác và chúng tôi sẽ tiếp tục giải quyết
Từ những chứng cứ và phân tích ở trên, tôi kính đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Nhật Linh, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân, buộc phía bị đơn Công ty TNHH Nhật Linh phải trả cho Công ty TNHH Kim Lân những khoản nợ sau đây:
- Số tiền nợ gốc: 3.250.319.430 đồng;
- Số tiền lãi chậm trả tính theo lãi suất chậm thanh toán là 250.000.000
đồng (trung bình của 03 Ngân hàng Vietcombank, Techcombank, Agriabank chi nhánh tỉnh Bắc Ninh)
Tổng số tiền: 3.500.319.430 đồng (Ba tỷ năm trăm triệu đồng ba trăm
mười chín nghìn bốn trăm ba mươi đồng)
Trên đây là quan điểm và ý kiến của tôi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe phần trình bày của tôi, xin chân thành cảm ơn!
Bắc Ninh, ngày 01 tháng 11 năm 2020
Luật sư ………
(Đã ký)
PHẦN V: NHẬN XÉT TẠI PHIÊN TÒA
Trang 101 Về khâu chuẩn bị phiên tòa:
T
T
1 Quốc huy
2 Quần áo
3 Bàn ghế
4 Bảng tên chức danh
5 Âm thanh, ánh sáng
2 Về các vai diễn trong phiên tòa
1.1 Thẩm phán/Chủ tọa phiên tòa