Khi người nghệ sĩ không tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội, khi con người đã thoát ly khỏi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng lại không thể hòa hợp được với cuộc sống xã hội nh[r]
Trang 1vậy là vì văn học phải phục vụ con người, những cảnh đời bất hạnh, những chiến công oanh liệt, những hạnh phúc đau thương, buồn vui, những tội lỗi của con người… tất cả đều là đề tài cho văn học phản ánh nhằm phụng sự chính cuộc sống con người và đó cũng
là thức ăn nuôi sống văn học Tất nhiên, phản ánh bằng cách nào, phản ánh ra sao thì điều
đó là do phong cách sáng tác, do quan điểm sáng tác của nhà văn trong mỗi thời đại làm
nên Nhà văn Đức Franz Kafka – người được mệnh danh là thiên tài nghịch dị của văn
học thế kỷ XX đã là một trong những người đầu tiên thành công trong việc phát hiện và khám phá những tội lỗi trong bản thể của mỗi con người Để từ đó đánh thức họ và cứu
họ ra khỏi những cơn ác mộng Phong cách ấy đã bắt đầu du nhập vào văn học Việt Nam tiêu biểu là các tác giả như Phạm Thị Hoài trong cách xây dựng nhân vật và tác giả Nguyễn Huy Thiệp trong cách xây dựng không gian và thời gian Văn học hiện đại Việt Nam trong vòng một thập niên trở lại đây đã chứng kiến một bước tiến mới trong thể loại truyện ngắn, một loạt những cây bút trẻ nổi lên trên văn đàn với những tác phẩm xuất sắc
mà đặc biệt là có sự xuất hiện của nhiều cây bút nữ Cùng với Y Ban, Võ Thị Hảo, Đỗ Bích Thúy, Thùy Linh… là Nguyễn Ngọc Tư đã mang đến cho truyện ngắn hiện đại Việt Nam một luồng gió mới Ở cô người đọc vừa thấy được một phong cách đậm chất Nam
Bộ thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh và đặc biệt là thông qua hệ thống các nhân vật trong các sáng tác của mình Mặt khác, ở Nguyễn Ngọc Tư còn bộc lộ một phong cách mới: những sáng tác của nữ nhà văn trẻ này đều tập trung vào miêu tả, phản ánh hiện thực cuộc sống của xã hội hiện đại nhưng đã có sự “đột biến” trong cái phản ánh
đó Không giống với cách miêu tả hiện thực của Nam Cao, của Vũ Trọng Phụng và nhiều bậc đàn anh khác của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trước đây Nguyễn
Trang 2Ngọc Tư có sự cách tân rõ rệt và xuất sắc trong việc miêu tả hiện thực một cách gián tiếp
Tác giả không trực tiếp lên án ai, không ra mặt bênh vực ai mà dùng cách “dìm” nhân vật
của mình – những con người nhỏ bé, những con người nghèo khổ xuống tận đáy cùng của sự bất hạnh Từ đó, mở ra cho họ những con đường mới, những số phận mới.Tức là tác giả đã có sự đổi mới trong cách xây dựng nhân vật văn học – một yếu tố không thể thiếu của bất kỳ tác phẩm văn học nào
Truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư để lại dư vị sâu đậm trong
lòng người đọc cũng vì đã thể hiện được điều đó Đọc các tác phẩm của cô, người đọc nặng trĩu một nỗi buồn, tất cả các nhân vật dường như sống trong những nỗi buồn, những nỗi cô đơn, những bi kịch của cuộc đời để rồi kết thúc câu chuyện vẫn là cái buồn, vẫn là cái cô đơn, cái bi kịch ấy Nó làm day dứt lòng bạn đọc, nó bắt bạn đọc phải thoát ra khỏi cái tiềm thức vẫn tồn tại bấy lâu, nó bắt đọc giả phải suy nghĩ, phải trăn trở về số phận của nhân vật để từ đó thừa nhận một điều rằng: cuộc sống vẫn còn có rất nhiều những bi kịch như thế về con người, thay vì chúng ta sống mãi trong những cái kết thúc có hậu đôi khi là sự sắp đặt thì chúng ta hãy sống với sự thật này, hãy dũng cảm để đối mặt với nó Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư ám ảnh bạn đọc chính là ở điều này Hình ảnh những con người nghèo khổ, cô đơn, lạc lỏng ngay giữa chính dòng đời chúng ta đang sống thời nay có lẽ là hình ảnh để lại cho độc giả những nỗi niềm day dứt và trăn trở nhất Nhân vật của cô xuất hiện trong sự cô đơn và kết thúc vẫn ở trong nỗi hiu quạnh ấy Tìm hiểu về kiểu nhân vật này trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cũng chính là đi khám phá thế giới tâm hồn của tác giả, một tâm hồn trong trẻo nhưng nặng trĩu những nỗi niềm của một người phụ nữ luôn nhìn mọi người trong sự cô đơn, đồng thời cũng thấy được những quy luật của cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm
Nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học là đi tìm những nét riêng biệt, nổi bật mang tính phong cách độc đáo mà nhà văn đã sáng tạo ra trong tác phẩm của mình Đây là đề tài đã và đang được quan tâm nhiều trong giới nghiên cứu và phê bình văn học Chính nghệ thuật xây dựng nhân vật đã làm nên linh hồn cho tác phẩm văn học Vì vậy đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác phẩm là đi tìm sức sống của tác phẩm, tìm ra phong cách của tác giả cũng như những tư tưởng của tác giả về nhân sinh quan, về con người và xã hội mà tác giả đã phản ánh Chính vì vậy mà nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm luôn là một
đề tài mang tính thời sự nóng hổi của bất cứ thời kỳ văn học và trường phái văn học nào
Trang 3Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ và là một hiện tượng đặc biệt vừa mới xuất hiện trên bầu trời văn học Việt Nam trong những năm gần đây Sự xuất hiện của nhà văn này
đã mang đến cho văn học Việt Nam một luồng gió mới, tạo nên một sắc thái mới đặc biệt hơn, cá tính hơn và đậm đà bản sắc văn hóa của dân tộc hơn Trước sự ảnh hưởng của những tinh hoa văn học phương Tây đã du nhập vào Việt Nam từ những năm 30 của thế
kỷ trước và đặc biệt là “lối viết không giống ai” của một số nhà văn trẻ như Phạm Thị
Hoài, Nguyễn Huy Thiệp những năm cuối thế kỉ XX, văn học Việt Nam đã từng bước sử dụng thành công lối phản ánh hiện thực bằng phương thức miêu tả gián tiếp Đến Nguyễn Ngọc Tư mặc dù không phải là lần đầu tiên sử dụng lối viết này nhưng cô lại là một trong những nhà văn đầu tiên vận dụng thành công nhất nghệ thuật gián tiếp trong phản ánh hiện thực Cách kể chuyện vô tư, tự nhiên như kể một câu chuyện bình thường nhưng lại khiến cho người đọc phải luôn day dứt và bị ám ảnh mãi bởi cách kể tự nhiên ấy Nguyễn Ngọc Tư đã rất xuất sắc trong việc xây dựng thành công những hình tượng điển hình Những con người trong sáng tác của cô là cả một thế giới thu nhỏ của xã hội Việt Nam
thời hậu hiện đại Đặc biệt, trong Cánh đồng bất tận, tác giả chỉ tập trung miêu tả bốn
nhân vật nhưng lại là bốn số phận khổ cực, bất hạnh và nổi trôi đến nghiệt ngã Mới bắt gặp họ, người đọc tưởng như không hề có những con người như thế trên cuộc đời thực
mà chỉ là một sự hư cấu không hơn không kém Tuy nhiên, theo họ vào sâu trong tác phẩm mới ngỡ ngàng rằng những con người này mình đã gặp ở đâu đó trong cuộc đời, thậm chí có những độc giả còn bắt gặp chính mình ở những con người nổi trôi và lênh
đênh ấy Sự thành công và mới mẽ của Cánh đồng bất tận trong nghệ thuật xây dựng
nhân vật chính là chỗ đó Không lên gân phê phán ai, không giảng đạo để dạy dỗ ai và cũng không ra mặt bênh vực ai nhưng tính nhân văn của tác phẩm vẫn ngời ngợi sáng, buộc người đọc phải suy nghĩ lại, nhìn nhận lại chính mình sau mỗi lần đọc
Một điểm đáng lưu ý nữa là ở Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã mạnh dạn
đưa yếu tố dục tính vào trong tác phẩm một cách tinh tế và tự nhiên hết sức bất ngờ Nó không phải là thể hiện tư tưởng phản đạo đức hay là tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy như một số nhà phê bình đã chỉ trích một cách phiến diện và cực đoan Mà trái lại, yếu tố dục tính ở đây một mặt là phê phán một bộ phận người dân ăn chơi trụy lạc trong lúc cuộc sống còn nhiều khó khăn và cơ cực; phê phán những kẻ cầm quyền lạm dụng chức
vụ để hạch sách người dân Nhưng mặt khác nhân văn hơn là Cánh đồng bất tận với rất
nhiều cảnh gợi dục ấy đã được chứng kiến và cảm nhận dưới con mắt của hai đứa trẻ lạc
Trang 4lòng Để rồi cuối cùng, chính Nương đã lên tiếng bảo vệ cho sự tiếp xúc thể xác chẳng có
gì là sai xấu Điều đó đã làm cho Cánh đồng bất tận trở nên thật hơn, gần gũi hơn với
những suy nghĩ, cảm nhận của con người – điều mà văn học phương Tây đã đạt được nhiều thành tựu ngay từ thời kỳ văn hóa Phục hưng
Tất cả những đặc điểm nổi bật đó đều là nhờ ở đổi mới nghệ thuật xây dựng nhân
vật mà Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng thành công trong Cánh đồng bất tận Tìm hiểu về
những tính cách và cuộc sống của những con người trong đó tức là chúng ta cũng đã tìm hiểu về cuộc sống của người dân Nam bộ nói riêng và của con người hậu hiện đại nói chung Đây vừa là đề tài mới mẽ mang tính thời sự cuộc sống vừa là điều kiện để chúng
ta có thể hiểu rõ hơn về sự phá cách táo bạo và độc đáo mà tác giả đã đạt được Từ đó đưa ra một cách nhìn nhận mới đúng đắn hơn, xác đáng hơn về quan điểm nghệ thuật của một người cầm bút trong thời đại ngày nay Đó cũng chính là lý do để chúng tôi quyết
định chọn đề tài Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư trong Cánh
đồng bất tận để nghiên cứu trong khóa luận này
2 Lịch sử vấn đề
Nhân vật văn học là phạm trù có vai trò quan trọng hàng đầu trong nghiên cứu văn học Nghiên cứu văn học theo hướng loại hình – nhân vật đã, đang và sẽ là một hướng nghiên cứu đầy triển vọng Trong nghiên cứu văn học và lý luận văn học, loại công trình nghiên cứu theo hướng này trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn khảo cứu nhìn chung còn ít ỏi và thiếu tính hệ thống, đặc biệt là truyện ngắn Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX đến nay
Có thể nói tất cả các loại nhân vật văn học, đều có quyền bình đẳng trong nhận thức
và phản ánh mọi hiện tượng đời sống Tuy nhiên, từ trước tới nay, khi nói đến nhân vật trong truyện ngắn Nam Bộ nói chung và truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư nói riêng thì
vấn đề này vẫn còn mới chỉ được ngiên cứu một cách sơ khai Tác phẩm Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng thành công một hệ thống nhân vật hoàn chỉnh và
xuất sắc theo một phong cách mới khác với những motive nhân vật của các nhà văn Nam
Trang 5có nhiều truyện ngắn và tập truyện ngắn được xuất bản như: Ngọn đèn không tắt (2000),
Nước chảy mây trôi (2005), Cánh đồng bất tận (2005), Gió lẻ (2008)… và gần đây nhất
là tập Khói trời lỗng lẫy ra mắt bạn đọc vào tháng 11/2010 cùng với sự kiện đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình chuyển thể thành công bộ phim Cánh đồng bất tận từ tác
phẩm cùng tên của Nguyễn Ngọc Tư Có thể nói ngay từ khi ra mắt bạn đọc những tác phẩm đầu tay của mình, những tác phẩm của cô đã nhận được rất nhiều sự đánh giá, phê bình của độc giả, gây ra một làn sóng dư luận với nhiều màu sắc Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được nghiên cứu và phê bình, đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau
Có nhà nghiên cứu gọi cô là “Đặc sản miền Nam” sau khi đã đi tìm hiểu về giọng điệu, từ ngữ, hình ảnh trong các tác phẩm của cô: Nguyễn Trọng Bình - Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Không gian trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cũng
là đối tượng cho nhiều nhà nghiên cứu hướng đến Có thể kể đến các bài nghiên cứu
được đăng tải trên website: w.w.w.viet-studies.info như Nguyên Ngọc với: Không gian… của Nguyễn Ngọc Tư; Thụy Khuê với bài Không gian sông nước trong truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư; Kiệt Tấn - Sông nước Hậu giang và Nguyễn Ngọc Tư; và rất nhiều bài
viết khác: Nguyễn Trọng Bình - Nguyễn Ngọc Tư và hành trình “trở về”; Nguyễn Trọng Bình - Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự; Nguyễn Trọng Bình - Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hoá; Trần Hữu Dũng - Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền nam… Từ đó có những nghiên cứu, đánh giá về
phong cách truyện ngắn của cô
Riêng truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện lần đầu tiên trên trang 1 báo Văn Nghệ số ra ngày 13/8/2005 Từ khi ra đời đến nay, tác phẩm đã có
một sức thu hút rất lớn với nhiều người đọc nói chung và nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học nói riêng Một làn sóng phê bình với nhiều thái độ khác nhau đã đổ dồn về phía tác phẩm trong suốt một thời gian dài Có người chỉ trích nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã phá vỡ nét bản sắc văn hóa của dân tộc ở những trang viết gợi tả dục tính trong tác phẩm
Có người lại vì thế mà cho rằng Nguyễn Ngọc Tư “bắt chước” phong cách của các nhà văn phương Tây hay là “Âu hóa” văn học dân tộc; thậm chí ngay khi tác phẩm vừa mới
ra đời Nguyễn Ngọc Tư còn bị Ban tuyên giáo tỉnh ủy Cà Mau kiểm điểm vì tác phẩm không có tính giáo dục, nói xấu người nông dân Nam bộ
Tuy nhiên, với những giá trị to lớn của mình, chỉ một thời gian sau, với sự bảo vệ của đông đảo các văn nghệ sĩ và bạn đọc trong và ngoài nước, tác phẩm đã chính thức trở
Trang 6thành một trong những giá trị tinh thần quí báu của người Việt Cũng từ đó, các nhà phê bình, nghiên cứu văn học, các bạn đọc có tâm huyết bắt đầu có những bài viết xác đáng
về những giá trị của tác phẩm Xin kể ra đây một số bài viết tiêu biểu: Hoàng Thiên Nga
- Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh Đồng Bất Tận; Đoàn Nhã Văn - Nắng, gió, vịt, và đàn
bà giữa những Cánh Đồng Bất Tận; Thảo Vy - Nỗi đau trong Cánh Đồng Bất Tận; Nguyễn Thị Hoa - Giọng điệu trần thuật của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện “Cánh đồng bất tận”; Cao Huy Thuần - Vẽ cây, vẽ chim; Nguyễn Trọng Bình - Phong cách truyên ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật về con người; Nguyễn Trọng Bình - Những dạng tình huống thường gặp trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư… Mỗi một độc giả nghiên cứu và nhìn nhận về tác giả Nguyễn Ngọc Tư và tác phẩm
Cánh đồng bất tận với một cách nhìn riêng và từ những khía cạnh riêng khác nhau Tuy
nhiên, như trên đã nói cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu về Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn của cô, hầu hết đó là các bài nghiên cứu, bình luận trên các website hoặc các bài nghiên cứu khoa học hay niên luận, khóa luận của sinh viên, một vài luận văn thạc sĩ Hi vọng rằng trong một ngày không xa những người hâm mộ truyện ngắn của cô sẽ có những chuyên luận sâu hơn để tìm hiểu về
Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn của nhà văn nữ đầy bản lĩnh này
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Cánh đồng bất tận không phải là lần đầu
tiên được chúng tôi nghiên cứu Tác giả Trần Thị Dung (Khoa Ngữ văn – Đại học Vinh)
cũng đã có bài viết với nhan đề: Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư
qua tập truyện Cánh đồng bất tận dài khoảng 1500 từ đăng trên Trang chủ Nguyễn
Ngọc Tư do Trần Hữu Dũng làm quản trị viên Tuy nhiên đây mới chỉ là một bài viết
ngắn gọn đưa ra một vài luận giải và cảm nhận của người viết đối với hệ thống nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư Tác giả Trần Thị Dung đã có sự chấm phá đúng đắn về nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư Tuy nhiên, cúng như các tác giả của các bài viết kể trên, Trần Thị Dung chưa đi sâu vào phân tích được sự phá cách mới mẽ trong việc khám phá bức tranh đời sống của người dân Nam bộ qua những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư Nhìn chung, từ khi nhà văn xuất hiện và từ khi gây tiếng vang lớn trên văn đàn nước nhà cho tới nay, nghiên cứu và phê bình văn học chưa có một công trình nào thực sự đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư nói
chung và của Cánh đồng bất tận nói riêng
Trang 7Từ cơ sở của những bài viết trên đây cùng với lòng say mê, hâm mộ của bản thân
đối với tài năng của Nguyễn Ngọc Tư; cũng như sự hấp dẫn của Cánh đồng bất tận mà
đặc biệt là sự khác lạ và độc đáo của các nhân vật trong truyện, chúng tôi mạnh dạn chọn
đề tài Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận
làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp này
Hy vọng sự thành công của đề tài này sẽ là một trong những cơ sở và là động lực để thúc đẩy tất cả chúng ta đến với công việc nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư nói chung và
về Cánh đồng bất tận nói riêng Từ đó, có cái nhìn đúng đắn và khách quan đối với
những thành tự mà văn chương đương đại Việt Nam đã thu được trong thời gian qua
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trong khóa luận này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu về hệ thống nhân
vật trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Có thể nói qua Cánh
đồng bất tận, người đọc thấy xuất hiện một số kiểu nhân vật nổi bật như kiểu nhân vật bi
kịch, nhân vật cô đơn bị bỏ rơi, nhân vật trên hành trình kiếm tìm hạnh phúc và cả những nhân vật đang vật lộn để được tham gia vào cộng đồng xã hội con người Để nghiên cứu
về đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng là các nhân vật trong Cánh đồng bất tận mà
đặc biệt là tập trung vào 4 nhân vật: Người cha (Út Vũ), cô gái mại dâm và hai chị em Nương và Điền
Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sẽ đi tìm hiểu và nghiên cứu về những thủ pháp nghệ thuật mà tác giả đã
sử dụng để xây dựng nên những hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Cánh đồng bất
tận qua tập truyện ngắn cùng tên đã được xuất bản của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Ngoài
ra, để phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, chúng tôi cũng sử dụng cả một
số tác phẩm khác của Nguyễn Ngọc Tư để so sánh và đối chiếu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Trang 85 Đóng góp của đề tài
Hiện nay những nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trên các phương diện nội dung, nghệ thuật ngày càng được mở rộng, thông qua bài viết này, ngoài mục đích hiểu rõ thêm về Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn của cô chúng tôi còn hi vọng có thể đóng góp một phần nào nghiên cứu của mình vào việc nghiên cứu chung về truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trên khía cạnh về nhân vật Hi vọng bài viết này sẽ được dùng như một tài liệu hữu ích cho các bạn sinh viên yêu thích tác giả Nguyễn Ngọc Tư nói riêng và văn học hiện đại của nước nhà nói chung
6 Cấu trúc bài khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm ba chương:
Chương 1 Sự khởi đầu của văn học Việt Nam thế kỉ XXI
Chương 2 Các kiểu nhân vật trong Cánh đồng bất tận
Chương 3 Thủ pháp xây dựng nhân vật của trong Cánh đồng bất tận
Trang 9NỘI DUNG
Ở ĐẦU T M T
1 ự kh ng định phong cách trong nền v n học iệt am hậu hiện đại
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 trong 1 gia đình nghèo ở huyện Đầm Dơi - tỉnh Cà Mau Nhưng cũng chính cái nghèo ấy đã mang Ngọc Tư đến với văn học, đến với tất cả
chúng ta Cô nói "Với tôi, ước mơ đã từng là những gì không tốt đẹp bởi vì ước mơ làm cho tôi yếu đuối Nhưng tôi không thể bắt bản thân không suy nghĩ và hình dung về những gì xảy ra quanh mình Để tự do hơn trong hoàn cảnh này, tôi đã tập viết nhật ký"
99 Năm 1996, Tác giả gửi tập truyện ngắn đầu tiên, dựa trên một phần nhật ký của
mình đến Tạp Chí Văn Học và Nghệ Thuật Cà Mau với nhan đề Đ i th y Mục đích
chính của cô là để có tiền nhuận bút chứ không theo đuổi nghề viết lách Tuy nhiên, sau
khi tạp chí đăng tập truyện Đ i th y, tác giả mới nhận thấy rằng không ai có thể sống mà
không có hy vọng và ước mơ Cô nói "Tôi quyết định nuôi dưỡng khát vọng sống của tôi
và mọi người quanh tôi thông qua các tác phẩm Đây là hoài bão lớn nhất của tôi" [99]
Từ đó cái tên Nguyễn Ngọc Tư dần tỏa sáng trên bầu trời văn nghệ Khi nói về cuộc đời,
cô tâm sự: “chúng ta từng bị xơ cứng bởi cuộc sống tẻ nhạt buồn tênh, nhưng nguy hiểm hơn, chúng ta lại trở nên trơ lì bởi chính cuộc sống bon chen, bận rộn - khi người ta không còn đủ thời gian để mà vui hay buồn”… 93] Chính vì thế mà nhà văn mới thừa nhận rằng: "Đời đã dạy tôi tại sao và bằng cách nào để chia sẽ với mọi người" đó là
những tâm sự từ tận đáy lòng mà Nguyễn Ngọc Tư đã đúc kết, chia sẽ với bạn
đọc Người đọc tìm thấy trong những trang văn của cô biết bao điều tươi đẹp đã bị hắt hủi
đi khi ta sống thiếu sự rung động với cuộc đời này Nó là kết quả của việc nhà văn luôn rong ruổi tìm lại chính mình trên từng cây số thời gian của con đường cuộc đời Phong cách sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cũng từ đó mà định hình trên những nỗi đau của kiếp
người – một phong cách độc đáo với một lối viết “không giống ai” đã mang Nguyễn
Ngọc Tư nhanh chóng đến với bạn đọc cả trong lẫn ngoài nước
“Phong cách là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách Chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có được phong cách độc đáo” 28; 212] Nguyễn Ngọc Tư có được thành công rực rỡ, được bạn đọc đón
Trang 10nhận một cách nồng nhiệt nhất, ưu ái nhất chính là nhờ phong cách độc đáo của cô Cùng với sức viết thần tốc cộng với niềm đam mê nghề nghiệp, cô đã cho ra đời bảy tập truyện ngắn đắc địa và hai tập tạp văn Giai đoạn này, Đồng bằng Sông Cửu Long xuất hiện một
số cây bút nữ tiêu biểu, đặc biệt bộ ba rất được yêu thích: Trầm Nguyên Ý Anh, Nguyễn Thị Diệp Mai và Nguyễn Ngọc Tư
Chỉ trong một thời gian ngắn, Nguyễn Ngọc Tư đã giành được một loạt giải thơngr
danh giá của cả trong và ngoài nước Truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc
Tư đã đoạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác n học tuổi 20 lần II (năm 2000) do báo
Văn nghệ và Bộ Giáo dục & Đào tạo phát động; Giải B của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2000) và Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn Học - Nghệ Thuật
Việt Nam (năm 2001) Năm 2003, Nguyễn Ngọc Tư nhận danh hiệu một trong “Mười
nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của n m 2002” Năm 2006, với truyện ngắn Cánh đồng
bất tận, Nguyễn Ngọc Tư nhận Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Mới đây, tập
truyện ngắn mang tên Cánh đồng bất tận và truyện ngắn Cuối mù nh n sắc do Hội
Nhà văn Việt Nam đề cử, đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Hàn và nhận Giải thưởng văn học quốc tế ASEAN tại Thái Lan vào tháng 10/2008
So với Ý Anh, Diệp Mai thì Nguyễn Ngọc Tư đậm chất Nam bộ hơn cả, cô viết rất
tự nhiên thoải mái, không câu nệ Vì vậy, người đọc bị choáng váng một cách thích thú với nồng độ phương ngữ Phương ngữ đó tích tụ của một thính giác tinh nhạy, cô nghe được những thanh âm trong trẻo của cuộc sống xung quanh và chuyển những âm thanh
đó vào trong tác phẩm của mình một cách tự nhiên
Nguyễn Ngọc Tư trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề nhưng cô chinh phục được độc giả bởi phong cách đặc sệt Nam bộ vừa quen lại vừa rất lạ Cái mới trong truyện chính là cái
cũ, cái quen thuộc, cái lạ ở tài khui mở những sinh hoạt, những phong tục và những con người sống thân thuộc bên hông nhà mình Nhà văn đưa ra một tấm gương sáng, để chúng ta nhìn thấy những sinh hoạt hàng ngày Lạ thay, qua tấm gương lại nhìn thấy sự cộng hưởng văn chương và cuộc đời, ở đó ta khám phá mọi ngõ ngách tâm hồn của chính
cuộc đời ta Đặc biệt khi Cánh đồng bất tận ra đời, ngay lập tức cô rực sáng, rộ lên mọi
lời khen chê Khen chê nó như một thuộc tính của mỗi con người, chẳng một ai sống mà không nhận được lời khen chê dẫu là trực tiếp hay gián tiếp, chỉ có điều với cô độc giả đã đúng Từ nông thôn đến thành thị, từ trí thức đến dân cày, từ già đến trẻ… tất cả đều mua
Trang 11sách vì họ “bắt được sóng” (chữ dùng của Hữu Thỉnh) từ trái tim và tài năng của cô Cô
lao tâm khổ cứu trên con đường nhà văn - nhà báo không ngừng nghỉ Vì vậy, tác phẩm đều đặn ra đời được các nhà chuyên môn đánh giá cao, ăn khách đối với nhà xuất bản, lọt vào tầm ngắm các nhà đạo diễn điện ảnh Bao nhiêu đó cũng đủ để Nguyễn Ngọc Tư vượt qua các gương mặt văn học lão làng và trở thành gương mặt sáng giá, triển vọng nhất trong đội ngũ các nhà văn đương đại (đứng sau Nguyễn Huy Thiệp)
Nguyễn Tý đã có lý khi cho rằng truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thể hiện nỗi đau đời
mà dẫu vô tình hoặc cố ý khi xây dựng nhân vật, cô cũng tạo nên một phong cách không
lẫn vào ai Cô trăn trở rất nhiều về con đường văn nghiệp, cái “khó nhất là vượt qua sự nhàm chán lặp lại chính mình, leo qua những cái đỉnh do mình dựng nên, thoát ra khỏi cái vòng tròn do mình vẽ Và khó nữa là làm sao thu xếp với bản thân” Vì cô biết, con đường văn chương “nhọc nhằn khủng khiếp, qua đoạn hoa hồng là đoạn đầy gai Nhưng tôi vẫn bước về phía trước, tôi tin phía ấy lại có hoa hồng” 101; 21-26.]
Nguyễn Ngọc Tư chưa đi khỏi vùng đất Nam bộ, song truyện của cô đã vượt qua địa hạt vùng miền, đến với bạn đọc trong cả nước và chu du sang cả các nước ngoài Số lượng tác phẩm chưa đồ sộ nhưng cô vừa ấn tay vào cánh cửa văn chương ngay lập tức tạo ra một tiếng vang lớn, có cô, văn học Nam bộ được biết đến nhiều hơn trong cả nước Đạt được điều này cũng nhờ vào việc nhà văn đã biết kế thừa và có sự cách tân trong
nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc
Khác với tiểu thuyết, truyện ngắn thể hiện một “lát cắt” của cuộc đời con người
Mỗi nhà văn đều có cái nhìn riêng về đời sống nhằm thể hiện tài năng bút lực, có nhiều người cho rằng, truyện của Nguyễn Ngọc Tư hay trước hết do giọng văn Nam bộ Bản thân tôi lại cho rằng không hẳn như vậy, vì truyện của các nhà văn như: Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Diệp Mai,… ai cũng đầy chất Nam bộ, nên về điểm này Nguyễn Ngọc Tư cũng giống họ, cái đắc địa là cô biết tái tạo, làm mới lại đề tài và làm mới lại hình ảnh của những con người quen thuộc xung quanh chúng ta
Đề tài chiến tranh là một đề tài rộng lớn trong văn học thế giới xưa nay Cô sinh ra sau thời chiến, nhờ có độ lùi thời gian nên con mắt nhìn về cuộc chiến và viết về nó khác các nhà văn tiền bối Nhưng Nguyễn Ngọc Tư có cách khác để nói về chiến tranh vẫn làm hiện rõ hậu quả mà không bị lạc lỏng giữa văn chương thời đại mới Lĩnh hội từ thế
Trang 12hệ đàn anh, Nguyễn Ngọc Tư làm mới đề tài cũ bằng cách nhìn mới về con người Cô có
đủ độ lùi của thời gian nên khai phá, nhìn nhận cuộc chiến khá tinh tế và sâu sắc: “Chiến tranh, theo tôi biết, có nhiều người nhói đau khi nhắc về nó Những huân chương, huy chương chỉ làm ấm ngực, niềm đau khuất ở một góc lòng, có kẻ nhìn thấy, có người không…” 90; 78 Chiến tranh khép lại, cánh cửa cuộc đời mở ra với nhịp sống không
ngừng phát triển đi lên ngày càng giàu đẹp, phồn vinh Nhưng hậu quả của chiến tranh không qua nhanh mà cứ tồn tại dai dẳng trong hiện tại và kéo dài mãi đến tương lai Những hội chứng sau chiến tranh vẫn chưa chấm dứt; những nỗi đau mất người thân vẫn chưa nguôi ngoai Hơn ai hết, người Việt Nam - vừa chứng kiến hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ ác liệt nên chúng ta thấm thía những hậu quả do chiến tranh để lại Đến đây, chúng ta đã hình dung được phần nào những hậu quả nghiêm trọng của chiến tranh và những tổn thất nặng nề về vật chất lẫn tinh thần mà người Việt Nam phải gánh
chịu Tuy nhiên, những kẻ đi khiêu chiến thường bỏ qua điều đó, theo G.Grass: “tôi thường nói, chiến thắng làm ta ngu ngốc Hãy xem một bằng chứng sống: cường quốc mạnh nhất thế giới, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, cho đến nay vẫn chưa thấu hiểu thất bại tại Việt Nam, và điều này nữa, một cuộc chiến tranh phi lý có thể dẫn đến thảm hoạ cho cả một khu vực” 105; 269 Đến nay người Mỹ vẫn chống chế về tội ác mình gây ra, nỗ lực của người dân Việt Nam đòi đền bù một chút cho bệnh nhân bị nhiễm chất độc đi-ô-xin
Song, họ kêu là không có tội trong việc này nên chưa chấp nhận Thật phi lí !
Đề tài đời tư, đời thường, sau 1975 đặc biệt thời kỳ đổi mới, hàng loạt nhà văn chuyển mình dữ dội trong quan niệm, trong cách nhìn ngắm con người Đề tài đời tư, đời thường được các nhà văn khai thác và gặt hái được nhiều thành công, đáng chú ý có các nhà văn: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Ấm v.v… Đến Nguyễn Ngọc Tư, văn phong tưng tửng đã
chọn cho mình một lối đi riêng Cô khơi được một “mỏ quặng” (chữ dùng của nhà văn
Dạ Ngân) văn chương mà người đời lãng quên Qua tác phẩm hiện lên nhiều cung bậc tình cảm, những cái ngỡ rằng chẳng có gì cô cũng viết thành truyện được Con người với bao nhiêu buồn vui, sướng khổ, bao nỗi nhọc nhằn cho cơm áo gạo tiền, trên hết mọi sự
vấn đề trái tim luôn có lý lẽ của riêng nó Đời như ý, tên truyện chứa đựng niềm hạnh
phúc tột cùng, đối lập với ước mơ tươi sáng là một gia đình bi hài kịch, khác xa sự tưởng
tượng của người cha, bởi làm gì có chuyện Đời như ý khi bên cạnh người cha mù lòa
cộng thêm một bà vợ tâm thần cùng với hai đứa con xấu xí, nghề nghiệp của cả gia đình
Trang 13dắt nhau đi hát rong xin tiền, lấy bầu trời làm nhà, lấy đất làm chiếu Truyện khép lại với
sự ngậm ngùi đau xót Chú Đời đã lìa đời trong lời ru miên man của người vợ khờ, tiếng khóc ngậm ngùi đau khổ của con Như, còn con Ý giờ này đang ở đâu? Cuộc đời của gia đình này trôi về đâu? Đói, nghèo, mù chữ là những vấn đề đè nặng lên đôi vai cô, tầng
lớp thất học và bần cùng nhất phải kể đến dân vạn đò Mỗi gia đình gói gọn trên một
chiếc đò nan, trôi dạt hôm đây mai đó, nó vừa là nguồn sống vừa là nơi sinh hoạt Cảnh này cô chứng kiến tường tận Có lẽ, cô vừa vừa là nhà văn - nhà báo nên nỗi đau trong truyện phô ra rất thật, cứ thấm dần làm day dứt không nguôi cõi lòng bạn đọc tri âm Nguyễn Ngọc Tư kêu gọi các cấp, nghành có những giải pháp quan tâm tới số phận của
người dân vạn đò, những con người sống đời du mục lênh đênh Cho họ có nơi để định
cư nhằm ổn định cuộc sống, giúp cho bọn trẻ được đến trường, không còn phải lo mình
sẽ học được mấy ngày thì gia đình nhổ neo đi
Văn học phụng sự cuộc sống, cho nên văn học cũng hành động vì con người Cái gì
có ở cuộc đời tất có ở văn học và cái gì có trong văn học tất có ngoài cuộc đời Khi độc giả thấy quá quen thuộc với những câu chuyện dân dã hồn hậu, khi Nguyễn Ngọc Tư
không còn gây lạ nữa sau những tập truyện Ngọn đèn không tắt, Giao thừ , Nước chảy
mây trôi… Độc giả hân hoan cổ vũ, động viên khuyến khích và chờ đợi ở cô Tư sẽ cho ra
một cái gì đó mới hơn, lạ hơn, khác hơn lối đi “đèm đẹp” cũ Bất ngờ, Cánh đồng bất tận
xuất hiện, họ sững sốt, họ lên án, họ kiểm điểm và họ đòi trục xuất cô ra khỏi quê hương Nam bộ của mình Vì Nguyễn Ngọc Tư dữ dội trong việc tạo ra những con người khác thường, những con người dã man, hận thù, đói khổ đến không ngờ Cho nên, tác phẩm gây ra phản ứng gay gắt, một số người kết tội cô nói xấu, bôi đen vùng đất có nhiều lịch
sử và con người Nam bộ Ban tuyên giáo tỉnh ủy Cà Mau ra hai công văn số (35 và 41) kiểm điểm nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Người khen kẻ chê, nhưng chủ yếu là khen ngợi
Họ là hàng ngàn độc giả mua sách (bằng chứng xuất bản 5.000 bản bán hết sạch) và đã rưng rưng khi đọc truyện Độc giả hôm nay nhìn nhận rất công minh, bởi đây là tác phẩm văn học chứ không phải bút ký mà văn học có quyền hư cấu theo quan niệm riêng nhà
văn muốn Họ đánh giá rằng tác phẩm Cánh đồng bất tận đáng để đọc vì nó hay đến
sững sờ Cái gì làm nên điều này? Đề tài cũ nhưng cách nhìn mới về con người đã tạo
nên “hiệu ứng” tài năng ở cô Cũng chỉ quẩn quanh với những người nông dân chân lấm
tay bùn, nhưng những câu chuyện bàng bạc được cô luồn lách vào tận cùng hang hẻm
mỗi cuộc đời để phân tích mổ xẻ Cô nói rằng: “Mai sau thế sự có đổi thay tôi vẫn viết về
Trang 14miền quê mình đã sinh ra, nơi ấy tôi mới sống với khát vọng cháy bổng của con tim mình” 04] Nguyễn Ngọc Tư đi vào tận cùng trái tim để khám phá và nhận chân giá trị
con người và cuộc sống
Đề tài tình yêu luôn luôn là lực hấp dẫn đối với nhà văn, nhà thơ Carver, tác giả
của truyện Chúng tôi nói gì khi bàn về tình yêu (What We Talk About When We Talk
About Love) (Lê Huy Bắc, dịch) Carver đã nhìn thấy bản chất cũng như quy luật của tình yêu Tình yêu là nỗi say đắm cuồng nhiệt, nhưng trong thời Hậu hiện đại, độ trường tồn của tình yêu ngắn ngủi hơn bao giờ hết Người ta yêu nhau, người ta cưới nhau, người
ta li hôn, rồi yêu người khác, rồi cưới mà cảm giác vẫn cứ đắm say như thủa ban đầu Họ yêu thôi chứ không bận tâm cũng chẳng có trách nhiệm gì với nhau cả Thời đại này khác
xa thời Phục hưng, không còn có kiểu tình yêu sống chết vì nhau như Romeo và Juliet
Trong xã hội nàyngười ta yêu nhau thực tế đến mức hệt như một chiến lược kinh doanh của những thương gia Bởi trong cuộc đời không có nhiều người quyết sống chết vì tình như đôi tình nhân thời Phục hưng kia
Thâm nhập vào truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ta bắt gặp những mối tình già, những mối tình tay ba Thế nên, khi đọc truyện chúng ta nhận thấy nó như một bài ca cải lương,
âm hưởng của truyện cực kì buồn Họ yêu nhau say đắm nhưng không đến được với nhau
vì không có tiền để cưới, không dám ngõ lời, rào cản gia đình không thể vượt qua như:
Chiều vắng, Một mối tình, Hiu hiu gió bấc…Tình yêu ấy như hành trình rượt đuổi trên
một vòng tròn vô định, người này nhìn thấy người kia nhưng người kia lại đi tìm nữa khác Tình yêu không thể vắng mặt trong cuộc đời, nó hàn gắn được mọi đau khổ buồn phiền và xóa đi tội lỗi Biết rằng, đi bên cạnh hạnh phúc, tình yêu luôn có khổ đau, tình yêu được ví như trái cấm nên ai cũng thèm khát Nguyễn Ngọc Tư đã lay động lòng người đến cao độ, có được thành công này là do biết cách làm mới đề tài và đặc biệt là làm mới hình ảnh của con người trong văn học, để họ gần với cuộc sống hơn, thật hơn Nhờ làm mới mình trong nghệ thuật xậy dựng nhân vật mà Nguyễn Ngọc Tư đã đưa truyện ngắn Nam bộ tiến một bước dài về tương lai, khẳng định tính Hiện đại và Hậu hiện đại trong kỹ thuật viết truyện ngắn Văn học Nam bộ rút ngắn được khoảng cách để hội nhập vào dòng chảy văn học hai miền Bắc, Trung và thế giới Nhưng không hòa tan đặc
trưng Nam bộ trong sáng tác của mình
Trang 15Với Nguyễn Ngọc Tư, tự bao giờ đến tận bây giờ vẫn luôn là một cây bút đầy nữ tính, viết
như để "trả nợ" những yêu thương và cả những chấp chới, khổ đau mà cô nhận được từ cuộc đời
Đến với Nguyễn Ngọc Tư và giây phút yên bình, chúng ta gạn lọc tâm hồn bằng những trăn trở rất đời, bỗng chốc mỗi con người sẽ lớn lên thêm
2 Tác phẩm Cánh đồng bất tận - sự th ng hoa của một phong cách mới
Cánh đồng bất tận là sự thành công đặc biệt của Nguyễn Ngọc Tư trong việc miêu
tả nỗi đau, những nỗi đau bất tận trước những tình cảnh làm quặn thắt lòng người Có vẻ khó tin, khi một người nghĩ rằng, chỉ cần mình hết lòng yêu thương, gánh hết sự kiếm sống nhọc nhằn cho người mình yêu thương thì sẽ được đền đáp xứng đáng? Nỗi đau đã vắt kiện sức người cha, để rồi anh ta thiêu rụi tất cả hiện tại để ra đi nhưng chẳng biết sẽ
đi đâu chỉ biết là bước vào một cuộc sống tăm tối, mịt mù
Sau khi Cánh đồng bất tận ra mắt công chúng ít lâu, Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Cà
Mau đã yêu cầu Hội Văn nghệ tỉnh này kiểm điểm Nguyễn Ngọc Tư với lý do là dám nói lên sự thật về cuộc sống lam lũ, đói khát, cùng quẫn và có phần bặm trợn của những con người vùng đất cực Nam của Tổ quốc Như vậy là Tư đã nói xấu, bôi nhọ quê hương Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cần phải chịu hình thức kỷ luật thỏa đáng Nhưng, trước sự ủng hộ của dư luận, sự lên tiếng của những người có trách nhiệm đối với sự phát triển của nền văn học nước nhà, mọi việc cũng dần được thanh minh và làm rõ Có lẽ vì thế mà
tập truyện ngắn mang tên Cánh đồng bất tận của Ngọc Tư được coi là hiện tượng “nóng
hổi” trên văn đàn Việt, với số lượng bán ra hàng chục ngàn bản và là tác phẩm “best seller” (bán chạy nhất) nhất trong một thời gian khá dài Dù vậy, đây có thể coi là vị đắng đầu tiên mà Ngọc Tư từng phải nếm trải trên con đường chinh phục đỉnh cao vinh quang Phải chăng, với một nữ nhà văn trẻ như Nguyễn Ngọc Tư, từng nhận được nhiều giải
thưởng văn chương như thế liệu có trở thành “vài cái bẫy trên con đường không có điểm cuối, nổi tiếng hay vô danh, vinh quang hay sự mòn mỏi đều có cách để giết chết người viết” 27 như chính cô đã từng nói? Nếu như không đủ nghị lực và lòng dũng cảm,
không đủ tỉnh táo và cảnh giác với chính mình, thì chính vinh quang lại luôn là một cái bẫy ngọt ngào với bất cứ ai đang cố gắng trèo lên đỉnh vinh quang Tóm lại, sau nhiều
giải thưởng giành được từ những tác phẩm của mình, Cánh đồng bất tận thực sự đã đánh
một dấu mốc quan trọng cả trong cuộc đời lẫn trong sự nghiệp của nhà văn trẻ tài năng
Đất Mũi này Hơn thế nữa, Cánh đồng bất tận còn là sự thăng hoa của một phong cách
Trang 16sáng tác mới của chủ nghĩa hiện thực – điều mà mãi đến Nguyễn Ngọc Tư mới thực sự thành công rực rỡ
Cùng với Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành một trong bốn tác giả đã được công chúng ghi nhận là những người đóng góp rất
nhiều vào việc đưa văn học Việt Nam đến với bạn đọc thế giới Vũ Trọng Phụng với Số
đỏ, Nguyễn Huy Thiệp với một loạt truyện ngắn xuất hiện từ khoảng nửa đầu những năm
80 đến giữa những năm 90 của thế kỷ trước, Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, và Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận, đều là những tác phẩm phản ánh quá trình
nhận thức lại lịch sử, hoặc nói một cách chính xác hơn là nhận thức và phản ánh chân thực về lịch sử, gần như nó vốn có Họ đã bằng tác phẩm của mình đem đến cho bạn đọc một cái nhìn chân thực về cuộc sống và con người ở các giai đoạn lịch sử khác nhau Đối với nhiều tác giả và tác phẩm khác, chủ yếu là thời kỳ văn học 1945-1985, ít nhiều đã bị lớp bụi thời gian và những định kiến cũ che lấp đi, biến tác phẩm của họ trở thành hoặc là cái loa phát ngôn cho các quan điểm chính trị và đạo đức hiện thời của tác giả, hoặc là
các hoạt kê về tập tính mang thông điệp loài, thay vì là những con người cụ thể, bằng
xương, bằng thịt mang trong mình những khát vọng cá nhân nhưng lại đầy ắp tinh thần nhân văn Đấy là những nét nổi bật đáng ghi nhận của ba tác giả này
Những nhân vật trong các tác phẩm của bốn tác giả nói trên, từ ông vua Quang
Trung trong Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp), đến ông docter Xuân trong Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), những anh lính sau chiến tranh trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) và người nông dân Nam Bộ trong Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư) đều là những con người
thực, rất cụ thể và sinh động Cái hiện thực cụ thể, tươi rói và những con người sống động ấy là những số phận rất đáng trân trọng, lại vừa đáng thương và cần được cảm thông chia sẻ Từ thẳm sâu trong những thuộc tính cơ bản của bản chất người, với tư cách
là những thực thể mang giá trị nhân văn cao cả, những nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư đã khiến công chúng có thể ngưỡng vọng, học hỏi và noi theo Để hiểu được những điều đó, chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở những phần sau
Như vậy, với những thành công rực rỡ trên con đường sự nghiệp văn chương của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra một dấu mộc quan trọng trên tiến trình văn học Việt Nam Từ sau hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp ở cuối thế kỉ XX, người đọc đã luôn chờ đợi, mong mỏi sự xuất hiện của một hiện tượng mới, một phong cách mới khác ở giới nhà
Trang 17văn Như đáp ứng lại nhu cầu ấy của độc giả, từ trong cuộc sống bận rộn của chúng ta, từ nhịp sống hối hả của con người, Nguyễn Ngọc Tư đã bước ra với một dáng vẻ kỳ lạ mà gần gũi, giản dị mà tài năng Sự xuất hiện của cô đã mang đến cho văn xuôi đương đại Việt Nam một luồng gió mát, tạo nên một sức sống mới của văn học nước nhà Đặc biệt,
tiếng vang của Cánh đồng bất tận đã đưa nền văn học Việt Nam đến gần hơn, hòa nhập
hơn vào dòng chảy của văn học thế giới Hơn thế nữa, với những tác phẩm đặc sắc của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã rút ngắn khoảng cách giữa văn học Nam bộ với văn học của hai miền: Bắc – Trung, xóa nhòa đi những ánh nhìn không mấy hấp dẫn của phần đa độc giả đối với văn học Nam bộ…
Trang 18C 2 Á ỂU Â ẬT TRO CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
M Gorki có lần khuyên một nhà văn trẻ rằng: “Anh hãy bỏ nghề viết đi Đấy không phải là việc của anh, có thể thấy rõ như thế Anh hoàn toàn không có khả năng miêu tả con người cho sinh động, mà đấy lại là điều chủ yếu” 24; 126 Con người mà Gorki yêu
cầu nhà văn phải miêu tả ở đây chính là nhân vật – linh hồn của tác phẩm Theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, công cụ nhận thức và khám phá chân lý đời sống của chủ nghĩa hiện thực là những tính cách điển hình Những tính cách này đòi hỏi phải có tính khái quát cao và sâu và tất nhiên là phải chân thực [55; 58]
Như vậy, yêu cầu về mặt nghệ thuật hiện đại đòi hỏi những nhân vật ấy phải sống động, có cá tính độc đáo, phải là những con người cụ thể tưởng chừng như đó là những
cá nhân có thực trên đời Và điều quan trọng hơn là qua những nhân vật ấy, người ta hiểu được bản chất và qui luật của đời sống con người Những con người tương tự như thế tưởng chừng như không hề có tính cá biệt lại thấy đầy rẫy trong xã hội chúng ta Cũng như Chí Phèo của Nam Cao, Xuân tóc đỏ, cụ cố Hồng, phó Đoan của Vũ Trọng Phụng… tưởng chừng như không hề có một con người thứ hai như thế vậy mà ngay sau khi gấp trang sách lại, chúng ta mới thấy xung quanh chúng ta không hề hiếm những con người như thế? Đến với Nguyễn Ngọc Tư, những nhân vật của cô cũng tương tự (tương tự ở đây là xét về mặt cá biệt, điển hình của hình tượng nhân vật đã nói ở trên) Sau mỗi lần đọc tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta không ai không khỏi bồi hồi, xao xuyến và nao lòng trước những con người mà chúng ta vừa mới gặp trong trang sách Lúc đó, trong tâm trí ta hiển hiện lên một cách rõ ràng những con người vì yêu thương, vì tôn thờ để rồi
suốt một đời cô đơn tìm kiếm và ngóng chờ như ông Sáu Đèo (Biển người mênh mông),
cũng không ít người vì không chịu nỗi nhọc nhằn vất vả đã phụ bạc ra đi tìm chốn giàu sang như nhiểu nhân vật không tên tuổi trong Nguyễn Ngọc Tư Quả thật, những nhân vật của cô luôn gây cho chúng ta những day dứt, ám ảnh khi đọc xong tác phẩm Phần lớn những nhân vật trong tác phẩm của cô đều thuộc vào những kiếp người bình thường nhỏ bé, nhưng lạ thay họ đều không hề tầm thường; thậm chí không ít nhân vật có sự hi
sinh đầy cao thượng, có tính cách có thể nói là cao cả Nương và Điền (Cánh đồng bất
tận) – hai đứa trẻ cô độc, bị mẹ bỏ rơi từ nhỏ, suốt cả tuổi thơ phải sống trong sự đối xử
tàn tệ của cha Mặc dù vậy, hai đứa trẻ không hề oán giận mẹ, cũng không hề trách hận người cha bất nhân, tàn nhẫn với đời và với chính hai đứa con của ông Trái lại, Nương
và Điền vẫn luôn cố gắng hết sức để chăm sóc cha, hết mực thương cha phải sống trong
Trang 19cuộc sống tăm tối của cõi hận; nhân vật Sương mặc dù theo nhận xét của Nương là một ả
điếm nghiện sex: “Chị cần nhiều hơn, nhiều hơn, nhiều khủng khiếp, tưởng như chị có thể ngốn ngấu, bào mòn tất cả đàn ông trên thế gian này Lúc đầu là kiếm sống, nhưng lâu dần, sự chung đụng của thể xác làm chị nghiện” [90; 206] nhưng dù sao thì chính cái
tính xấu ấy đã một lần cứu cái gia tài của cả gia đình Nương: chị đổi thân xác của mình
để cứu bầy vịt Ngoài ra, điều chúng ta ít ngờ tới, đó chính là những con người lao động
bé nhỏ kia, lại có thể là kẻ suốt đời ôm mộng, chạy theo một niềm say mê của mình
Ngoài những giấc mộng đẹp như của ông Hai (Cái nhìn khắc khoải), ông Mười (Mối
tình năm cũ), bà Đào Hồng, ông Chín Vũ (Cuối mù nh n sắc)… thì nhân vật người
cha (Út Vũ) trong Cánh đồng bất tận cũng ôm một giấc mộng Giấc mộng của nhân vật
này khác hoàn toàn với những giấc mộng của những nhân vật kia: một giấc mộng không
ai mong muốn, cái mộng ấy đã gần như giết chết chính ông ta và làm hại biết bao cuộc
đời khác Và rồi cũng chính vì ôm mộng mà Điền cũng đã vứt bỏ tất cả để ra đi tìm chị
(Sương) với tình yêu và những khát khao đầu đời… Tất cả họ đều là những con người hết sức bình thường và nhỏ bé về địa vị, tiếng tăm trong xã hội nhưng lại là những con người
có tâm hồn rất dữ dội Do đó, tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc
Tư trong Cánh đồng bất tận sẽ góp phần giúp chúng ta đánh giá đúng những sáng tạo
của cô trong truyện ngắn Về nhân vật, tác giả đã dựng lên những thân phận người, ở đó
số phận và bi kịch trong từng hoàn cảnh có nét tương đồng: Phần lớn là những người phụ
nữ gặp cảnh tréo ngeo trong duyên số, những anh chàng Hai Lúa yêu mà hổng dám ngỏ lời, những ông già cuối đời vẫn sống cô đơn và hơn nữa là biết chấp nhận Chấp nhận để đồng cảm với những thân phận trẻ dầu chỉ thoáng chốc chung sống như tình cảm ruột thịt
ở ông già Năm Nhỏ (Cải ơi!) hay ông Chín trong Nhớ sông – những người đàn ông chịu
đựng và cảm thông ở ông Năm Nhỏ, ông Chín và ở người cha (Út Vũ) của hai đứa trẻ (Nương và Điền) lại lặng im (một biểu hiện của sự chấp nhận) tìm cách ‘trả thù” người
vợ phụ tình trên thân xác những người phụ nữ nhẹ dạ cả tin khác… Và những chàng
thanh niên gặp những chị phụ nữ lỡ làng nên duyên vợ chồng trong Duyên phận so
le, Một trái tim khô, Cuối mù nh n sắc, Hiu hiu gió bấc, Mối tình năm cũ… đều có
tình yêu thương của con người bằng đời mà đối xử “tử tế” với nhau (chữ dùng của nhạc
sĩ Trịnh Công Sơn), để cuối cùng là hạnh phúc nhưng ở từng trang viết của mình tác giả lại có cái kết quá day dứt và hơi quá đời thật khi cái hậu của mỗi câu chuyện thường là
dở dang, lận đận Và phải chăng từ truyện Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư mới để
Trang 20manh nha một chút cái ác có phần nhẫn tâm trong ba số phận của một hoàn cảnh: người cha (Út Vũ), Nương (chị gái) và Điền (em trai)? Chúng tôi cho rằng đấy chính là sự đột phá mạnh mẽ và cũng từ đó mà tạo nên một phong cách sáng tác mới bắt đầu cho bước tiến mới, ngã rẽ mới trong sự nghiệp của nhà văn Xét về ảnh hưởng của việc xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư đối với một số lớp người trong xã hội hiện nay cũng như dựa trên nội dung tư tưởng mà tác phẩm phản ánh thông qua hệ thống nhân vật trong tác
phẩm, chúng tôi đưa ra một số kiểu nhân vật tiêu biểu trong Cánh đồng bất tận như sau:
2.1 Kiểu nhân vật khổ đau giữa dòng đời phụ bạc
“Khi nào bạn bực tức, giận dữ, hãy bất động! Ngay tại đó! Đừng cử động! Đừng làm gì cả! Đừng nói gì – dù chỉ một lời Hãy im lặng và bất động hoàn toàn Tuyệt đối không biết gì đến kẻ hoặc sự việc làm cho mình giận dữ” (Hạn chế sân hận, trải rộng tình
thương) Đoạn văn này được Nguyễn Ngọc Tư trích dẫn trong lời phi lộ của Cánh đồng bất tận Tác giả cũng đáp lại rằng: “Trời ơi, mình giận muốn chết, muốn gào thét, muốn
cào cấu, muốn đập phá mà không cho mình nhúc nhích, sao có thể hả hê?” [90; 162] Và
trong Cánh đồng bất tận, cô đã đưa một nỗi đau vào trong cõi hận Cánh đồng bất
tận trước hết được bao trùm bởi một nỗi hận: nỗi hận bị vợ bỏ
Đầu tiên đó là người cha tìm cách giải quyết sinh lý đối với người đàn bà mà ông cúi xuống từ nỗi đau hằn học bị vợ theo trai để đánh đổi thân xác Xong, vứt bỏ như
người ta vứt đồ ăn thừa: “Cha đưa cho chị một ít tiền ngay trong bữa cơm, khi nhà đủ mặt, “Tôi trả cô hồi hôm…” “Rồi cha điềm nhiên phủi đít đủng đỉnh đứng lên, sự khinh miệt và đắc thắng no nê” [90; 173] Cảnh đời trôi dạt không bờ, không bến, ngày mai ở
đâu là câu hỏi không có câu trả lời để rồi anh ta lại “trả thù” một chị chủ nhà mặc dầu chị
đã “bị” vứt bỏ nhưng vẫn “tin rằng sự lựa chọn nầy là đúng, tình yêu nầy xứng đáng được đánh đổi”, sau khi đã thỏa mãn dục tính với màn kịch: “Cha ghé một chợ nhỏ đầu xóm kinh, biểu chị lên mua một ít của cải muối đem theo Người vừa khuất trong tiệm tạp hóa, cha cười Chị em chúng tôi mãi mãi không quên cái cười đó, nó vừa dữ đội, đau đớn, hoang dã, cay đắng, nghiệt ngã Cái cười thật dài, riết lấy khuôn mặt cha, làm mắt cha hơi lồi ra, ánh lên như có nước Cha quăng đồ đạc của chị lên bờ vung vãi Và nổ máy cho ghe đi” [90; 193]
Với một nỗi hận ghê gớm luôn ngự trị trong tiềm thức và thậm chí nó còn ăn sâu vào tận bản năng của mình, người cha đã thực hiện việc trả thù… toàn bộ giới phụ nữ
Trang 21Ông ta quyến rũ họ, và khi họ vừa bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ chồng, bỏ con để “cuốn gói” đi theo… “tiếng gọi tình yêu” thì ông ta ngay lập tức bỏ rơi họ Nỗi hận ấy làm cho con người không ngượng ngùng, không hổ thẹn và không chùn tay, không sợ hãi khi làm những điều sai xấu
Hổ thẹn và sự sợ hãi đóng vai trò như cái phanh kìm hãm con người làm điều sai xấu, và là bước đầu dẫn tới sự tự điều chỉnh của bản thân Hai thành phần này làm cho cách xử sự của xã hội trở thành văn minh Hổ thẹn ngăn ngừa hành vi sai xấu từ bên trong, sợ hãi ngăn ngừa hành động từ bên ngoài Nhân vật người cha đã sống trong một
“cõi” không có hai yếu tố quan trọng này, nơi không có các trật tự, luật lệ thông thường
của con người Trong “cõi” đó, “…không thể phân biệt được đây là mẹ hay là em; đây là
vợ của anh hay em; đây là vợ của thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng Và thế giới
sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài chó, loài chó sói…” [101;
21-26] nghĩa là chuyện loạn luân sẽ xảy ra Khi sự mê muội trỗi lên thì các yếu tố bản năng như tình dục (ham dục) trở nên mạnh mẽ và sai lệch
Cánh đồng bất tận là sự thiếu vắng của ánh sáng, câu chuyện dường như diễn ra
trong nền cảnh màu xám của các cơn mộng Sự thiếu vắng của ánh sáng là biểu hiện đặc trưng của một cuộc sống tối tăm trong văn học Trạng thái tối tăm này không phải là do
sự thất học, bởi có những người trình độ học vấn cao nhưng lối sống vẫn rất tối tăm Người cha ấy tựa như người đi trong đêm tối, đã rời bỏ chỗ ở của mình, mang theo hai đứa con trong một hành trình vô định Chính do sự mê muội, ông luôn tạo ra nhiều nguyên nhân cho sự đau khổ trỗ quả Sự mê muội ấy làm người đọc vừa thương vừa giận
Sự tăm tối được thúc đẩy bởi lòng tham, nóng giận hay sự suy nghĩ sai nên đã gây
ra không ít điều ác Người cha bị thúc đẩy bởi lòng thù hận người vợ phụ mình, đã tạo ra nhiều tội lỗi Tuy vậy, người cha vẫn lờ mờ cảm thấy một trách nhiệm đối với hai đứa con của mình Chi tiết ông mua cho đứa con gái cái nhẫn để dành đám cưới cũng như
việc “cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con gái Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì
để có thể che cơ thể nó dưới ánh mặt trời”, [90; 218] cho thấy tình thương và sự hối hận
của người làm cha đã sống dậy Đọc đoạn kết của tác phẩm người đọc không thể cầm được nước mắt với cảnh người cha chứng kiến đứa con gái của mình bị hãm hiễm Ở đây, chúng tôi đã có sự liên tưởng đến tình huống của T’nú mà Nguyễn Trung Thành đã xây
dựng trong Rừng xà nu: T’nú phải dương mắt chứng kiến cảnh vợ con bị bọn giặc man
Trang 22rợ giết chết Tuy nhiên, Nguyễn Trung Thành với lý tưởng cách mạng đã để cho T’nú
với “hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn” “nhảy xổ vào giữa bọn lính” và đánh lại
bọn giặc kia mặc dù đã không kịp cứu vợ con mình.… Chất sử thi của Rừng xà nu đã
xây dựng hình tượng T’nú rực sáng với ngọn lửa của chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Còn người cha trong Cánh đồng bất tận, lại khác Cũng chịu đựng nỗi đau, cũng dương
mắt nhìn đứa con gái mười bảy tuổi của mình bị bọn thằng Hận, thằng Thù kia thay nhau
làm nhục mà không thể cứu lấy con gái mình, không thể bảo vệ con mình Ở đây không còn là một nỗi đau căm tức như của T’nú nữa mà đã là cả một bi kịch của một cuộc đời bất hạnh Bởi nỗi đau ở đây còn dữ dội hơn, hãi hùng hơn và có sức giằng xé nhiều hơn:
“Ông liên tục vùng vẫy Một tên côn đồ ối lên một tiếng, bụm lấy mắt, vừa kêu rên vừa chửi bới ngậu xị Không đánh trả, nó có cách trừng phạt khác, nó đè nghiến, giữ cho mặt ông hướng về phía tôi Và bọn chúng thay phiên nhau, giữ cho cha chỉ một tư thế đó”
[90; 217] Cái chết của vợ và con T’nú là cái chết của vinh quang, cái chết mang tính chất
sử thi anh hùng ca Nhân vật Út Vũ tuy không phải chứng kiến cảnh con gái mình bị giết chết nhưng nỗi đau ấy có lẽ còn bi thương hơn cả cái chết Đặc biệt, trong lúc nguy ngập,
đứa con gái của ông đã không gọi mẹ, không gọi cha mà gọi đứa em trai của nó, “trong ý thức cầu cứu, một bản năng đơn giản nhất, đứa con gái đã quên mất người cha” [90;
216] Suốt bảy năm ròng rã (từ khi vợ bỏ đi theo người khác), ông ta đã tự mình (và lôi kéo cả hai đứa con) vào một cuộc sống lầm lũi, lênh đênh, một cuộc sống trong hận thù
và tăm tối Sự hận thù đến điên cuồng đã gây ra bao đau khổ và mất mát cho con cái của mình để hai đứa trẻ đáng thương kia phải nương tựa vào nhau tự học hỏi tất cả và bảo vệ cho nhau Ông ta bắt đầu chán đời từ một nỗi đau và cũng từ đây, ông ta tìm về với cuộc sống bằng một nỗi đau mới dữ dội hơn, quặn thắt lòng độc giả hơn Nguyễn Ngọc Tư đã rất xuất sắc trong việc xây dựng thành công chi tiết nghệ thuật đặc sắc này Nó làm cho cốt truyện phát triển lên đến cao trào và đỉnh điểm của nỗi đau Ở đây, người đọc cảm nhận được mức độ tột cùng của sự ác ôn Nó phản ánh một cuộc sống của những kẻ
“ngoài vòng pháp luật” đầy rẫy những tội lỗi, bất công và loạn lạc, khổ đau và bất hạnh Mặt khác, nó còn nói lên sự báo ứng của những tội lỗi mà bấy lâu nay, người cha đã gây
ra trong đời, điều mà nhân vật Nương đã linh cảm được trước đó: “Sự báo ứng dường như đang ở rất gần” [90; 204] Sự báo ứng ấy dành cho ai? Dành cho người mẹ lăng
loàn, dâm ô, tham sang phụ khó và báo ứng đối với sự trả thù điên cuồng, một sự si tình mộng mị của người cha Nhưng đau đớn nhất là sự báo ứng ấy lại đổ lên đầu đứa con gái
Trang 23vô tội trong trắng và nhân hậu Đứa con gái dịu dàng, xinh đẹp và rất mực nhân hậu đã phải dùng chính thân xác trong trắng và danh dự của một con người để chuộc lại tất cả những lỗi lầm mà bậc sinh thành gây ra
Nếu theo cái tâm trạng tội lỗi và day dứt từ suốt chiều dài của tác phẩm thì đến đây, truyện đã có thể kết thúc (nhằm tăng sự day dứt ấy trong lòng người đọc) Nhưng không, như thế là quá đủ Nguyễn Ngọc Tư ý thức được mình phải làm gì Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh cả nước đang nỗ lực xây dựng xã hội chủ nghĩa và Nguyễn Ngọc Tư cũng là một thành viên xuất sắc trong xã hội chúng ta Với trách nhiệm và sứ mệnh của người cầm bút, tác giả đã mở ra cho nhân vật của mình một lối thoát: lối thoát để đi ra khỏi cõi hận u ám của tác phẩm, hướng tới một tương lai sáng rạng hơn Bằng sự sám hối và giã
từ kiếp sống du mục của hai cha con
2.2 Kiểu nhân vật người đàn bà bị bỏ rơi
Nguyễn Ngọc Tư viết về người phụ nữ đặc biệt là những người phụ nữ đồng quê Nam bộ với tất cả những sự cảm thông chia sẽ sâu sắc Cô còn có nguyên cả một quan
niệm về người phụ nữ trong xã hội hiện đại: “Phụ nữ mạnh mẽ khi không còn ý thức cái
sự - phụ - nữ của mình”; “Tôi thích những người phụ nữ tự tại và tự trọng đến mức coi
như đàn ông biến mất rồi Họ làm đẹp vì chính họ chứ không vì ánh nhìn của đàn ông, để quyến rũ đàn ông; họ làm việc vì họ muốn chớ không phải chứng tỏ mình cũng mạnh mẽ” Nhà văn rất trân trọng hai người phụ nữ trong đời, đó là mẹ và chị gái của mình:
“Má xa lạ với cái câu mà những người phụ nữ quê khác hay thở dài ở đầu môi, “cái
phận đàn bà mình…” ; “Chưa có việc gì mà chị phải trông chờ chồng, với cái lý do người ta hay viện đến “bởi mình là đàn bà mà…” “Hai người phụ nữ này, tôi nghĩ,
không cần ai giải phóng, bởi họ đã giải phóng mình rồi” 97] Quả thực như vậy, nếu tất
cả phụ nữ trong xã hội đều làm được như hai người phụ nữ của Nguyễn Ngọc Tư và làm được như mong muốn của cô thì sẽ không còn những giọt nước mắt âm ĩ bao đêm một mình Có lẽ cũng chính vì những suy nghĩ ấy mà người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư có một vị trí đặc biệt, hiện lên với một hình ảnh không bình thường tiêu
biểu như những hình ảnh trong Cánh đồng bất tận chẳng hạn Những phụ nữ của cô
không mang dáng dấp đô thành, phố thị, mà chỉ có nét dân dã miệt đồng bằng chân chất nhưng sâu lắng Dưới ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, những phụ nữ có nét chân chim ấy, khổ hạnh ấy, bỗng bừng lên những gam màu nồng ấm của đất, nơi sinh ra và nhận về của vạn vật Phụ nữ của cô không triết lí vụn, không hô những câu đau điếng, theo kiểu
Trang 24những người phụ nữ miền quê là một cái đau mặn mòi của biển Tựa như biển, nó khởi
sự bằng nước mắt, nó bao la thăm thẳm, rồi nó nhạt nhoà như bọt sóng Nhà văn tinh tế từng lời thoại, đến nỗi người ta đọc Nguyễn Ngọc Tư, không thể không nhớ đến từng lời từng chữ người ta nói với nhau trong đó Để rồi từ đó, thấy được rằng, người phố thị hời hợt ra sao, bỏ quên lời nhau ngỡ ngàng thế nào
Trong Cánh đồng bất tận, người đọc bị thu hút bởi cái quang cảnh nóng bức, khó
chịu, khô cằn và vất vả ngay từ cái mở đầu: “Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hán hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn.” [90; 163] Những câu mở đầu của thiên
truyện đã mở ra một trúc trắc, một lênh đênh, một khốn khó, đang bủa vây một gia đình
du mục gồm ba người: Cha (Út Vũ), Tôi (Nương) và Điền - đứa em trai, cùng gia tài là
một đàn vịt đang độ lớn, cần thức ăn còn sót lại trên đồng, và nhất là cần nước, trong một mùa nắng chát chúa, khô rát mặt người Từ cái bắt đầu này, những nhân vật khác xuất hiện, mà phần lớn là những người đàn bà không tên, trôi giạt
So với truyện ngắn O Henry, ông nhìn người phụ nữ rất trìu mến, ngưỡng mộ, ưu ái
và đầy trân trọng Họ là những con người đúng với nghĩa “cái đẹp cứu nhân loại” được
thể hiện ở nhiều truyện ngắn như Xuân trên thực đơn, Tiền tài và thần tình ái…
Nguyễn Ngọc Tư có cái nhìn đi ngược lại, cô xây dựng nhân vật nữ không điêu ngoa, dối trá, lừa đảo hay sát nhân… Cái tội xấu xa nhất của người phụ nữ được soi chiếu và nhìn
nhận ở tội ngoại tình Ngoại tình, với người phụ nữ đôi lúc chưa hẳn vì tình, mà vì những lời khen và sự hứa hẹn, đấy là bản năng yêu bằng tai của một nửa phái đẹp
Đầu tiên là nhân vật má – vợ của Út Vũ Đó là một cô gái không tên tuổi, không quê quán, không rõ nguồn gốc, chỉ biết: “Má tôi ngồi khóc bên bực con sông Dài, cha tôi chèo ghe đi ngang, đã qua khỏi một quãng nhưng vì mủi lòng, cha quay mũi lại Cha hỏi,
cô về đâu tôi cho quá giang Má tôi ngước lên, mặt ràn rụa nước, “tôi cũng không biết về đâu” Cha tôi chở người con gái tội nghiệp này về nhà, và trong thời gian suy nghĩ tính coi mình đi đâu, má yêu cha mất rồi, sau đấy thì đẻ hai chị em tôi.” 90; 179] Sự xuất
hiện đột ngột và có phần bí ẩn ấy gợi lên trong ta một cảm giác mông lung không vững vàng, không chắc chắn về cuộc gặp định mệnh và mối nhân duyên đoạn trường ấy Để rồi dẫn đến cái kết cục cho mối nhân duyên ấy là một sự ly biệt mãi mãi Út Vũ mặc dù đã
Trang 25rất cố gắng và dành hết tất cả những tình yêu thương, chở che cho vợ, cho con nhưng dường như tình yêu đó của anh không thể thắng nỗi nhu cầu về cật chất Sự gặp gỡ rất dễ dàng và rất tình cờ bao nhiêu thì sự chia ly cũng đơn giản nhưng mà đau đớn bấy nhiêu
Sự xuất hiện ấy của nhân vật má dường như là để gợi lên sự ngắn ngủi của tình yêu trong cuộc sống của những con người vô tình: “má tôi chỉ quá giang một khúc đời rồi đi, ai cũng linh tính vậy, chỉ cha tôi là không, nên bây giờ mới khóc hận, cười đau” 90; 179] Gần giống với nhân vật má là nhân vật chị Mặc dù chị xuất hiện với một cái tên
nhưng cái tên ấy cũng chỉ được xuất hiện một lần duy nhất, cái tên gợi lên trong lòng người nghe một sự mong manh, dễ vỡ, dễ tan: Sương Dù tên bị “mờ hóa” và gần như bị tẩy trắng nhưng nhân vật này vẫn hiện lên rất rõ và tham gia nhiều vào diễn biến của
truyện Chị xuất hiện trong một cảnh đánh ghen: “Môi chị sưng vểu ra, xanh dờn Và tay,
và chân, và dưới cái áo mà tôi đã đắp cho là một cái áo khác đã bị xé tả tơi phơi những mảng thịt người ta cấu nhéo tím ngắt” [90; 164] Cuộc đời trôi dạt khiến “Chị, cũng giống như họ, chớm tàn tạ, đói rã ruột ở thị thành mới chạy xuống quê, cất cái quán nhỏ, giả đò buôn bán bánh kẹo lặt vặt, thực chất là làm nghề” [90; 169] Ở đây có một nghịch
lý là đói rã ruột ở thị thành mới chạy xuống quê khác hẳn với xu thế chung là vì ở quê đói nên mới đua nhau lên thị thành kiếm sống Chính cái nghề “làm đĩ” là nguyên nhân
để dẫn tới cuộc đánh ghen hung tợn ấy và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự gặp gỡ gia
đình tôi
Nếu cha là một người cộc cằn, thô lỗ, kể từ ngày má ra đi, thì chị là một người ăn nói ngọt xớt, trơn tru Chị tỉnh bơ ngay cả với những điều “lớn lao”, so với người khác Chị bổ bã, và có khi táo tợn trong những lúc cần thiết Chính nhân vật chị này là nơi
trung tâm để tác giả diễn tả những cái đau đớn của một người đàn bà, đặc biệt là những người đàn bà tầm thường trong xã hội Và đây là cách mà Nguyễn Ngọc Tư miêu tả cái
đau ấy: “Suốt một quãng đường, chị không hề thay đổi thế nằm, im lìm, lạnh ngắt như người chết Trong ghe chỉ trôi mênh mang những tiếng rên khi dài, khi ngắn, khi thiu thỉu buồn xo, lúc nghe như tiếng nấc nghẹn ngào [ ] Nhưng chiều hôm đó và cả ngày sau chị không ăn Chị từ chối cả uống nước, đợi đôi môi khô đã bắt đầu nứt ra, chị mới chịu hớp một vài ngụm ít ỏi, dường như chỉ đủ ướt môi Đói và khát, nhưng chị còn sợ đau hơn Người ta đã đổ keo dán sắt vào cửa mình của chị ” [90; 165-166] Nếu là bạn, bạn
sẽ diễn tả cái đau của nhân vật này ra sao? Sẽ dùng hàng loạt tính từ để chỉ cái đau, để thấy nét mặt, cái trân mình chịu đau đớn của người đàn bà? Hay bạn sẽ dựng lại những
Trang 26lời rên rỉ, than thân, của một kẻ bị đánh thiếu sống, thừa chết? Trên nhiều trang sách của những tác giả khác, trong những cảnh ngộ thương tâm, họ đã làm thế Và họ đã đi vào con đường mòn Trong nghệ thuật, đi vào đường mòn là tự chọn cho mình một con đường ngắn nhất để đi đến sự lụi tàn và tất yếu sẽ dẫn đến sự quên lãng của độc giả Nguyễn Ngọc Tư thì khác Cái đau của người bị đánh ghen, cô không diễn tả trực tiếp
Cô mượn một hình ảnh khác, một góc nhìn khác, nghệ thuật hơn Cô chọn hình ảnh một đứa con trai mới lớn, từng chịu đựng bao sương gió của cuộc đời, thằng Điền, để diễn tả,
để cài vào người đọc một sự liên tưởng Khi người em trai rời chiếc ghe nhỏ, căn nhà di động của một gia đình ba người, để đi vào xóm, cô chị dặn em trai mình ghé tiệm mua một ít đường cát cho gia đình Một tí đường cát đối với người khác là điều nhỏ nhặt,
nhưng với một gia đình du mục, không phải là nhỏ Vậy mà, “Chắc gió đã bạt mất lời tôi, khi quay về, Điền không mang theo gì, nó lẳng lặng xòe tay trước mặt tôi, tay nó dính một lớp gì đó, bóng mượt, trong suốt, và đang khô quánh lại, khiến những ngón tay đơ ra như đá Điền bảo, “keo dán sắt ” Dường như những người sản xuất ra loại keo này cũng không ngờ nó có nhiều công dụng đến thế Hai chị em tôi tỉ mẫn lột lớp keo ra, mảng da non trên bàn tay nó bỏng đỏ nhừ, tươm máu Chúng tôi cùng ngó về chỗ khoang ghe, nghe tiếng thở thênh thang cùng gió ” [90; 166] Sự tinh tế của tác giả chính là ở
đây Từ sự miêu tả về tác động ghê gớm của keo dán sắt đối với bàn tay chai sần của một cậu thanh niên sẽ liên tưởng đến sự ghê gớm của nó đối với vùng da thịt nhạy cảm nhất
của người phụ nữ Tác giả còn để Nương nhận xét: “dường như những người sản xuất ra loại keo này cũng không ngờ nó lại có nhiều công dụng đến thế” [90; 166] Ngoài công
dụng để dán sắt, loại keo này còn dùng để cho những người đàn bà đánh ghen lẫn nhau Đưa hình ảnh bàn tay của đứa con trai mới lớn, cơ cực theo kế sinh nhai, bị bỏng rát, tướm máu sau khi thử dán bằng keo dán sắt, rồi bỏ lững Cái bỏ lững đầy nghệ thuật để người đọc liên tưởng đến hoàn cảnh của người đàn bà đang nằm bất động trên ghe Bàn tay của thằng con trai đã thế, huống hồ Vâng, đây chính là phép “vẽ mây nẩy trăng” trong nghệ thuật mà Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng một cách tinh tế Và hình ảnh này cũng
là một biểu hiện của việc sử dụng nghệ thuật gián tiếp trong miêu tả hiện thực mà tác giả
Trang 27nhiều chi tiết: hành động và thái độ của Sương đối với gia đình Nương: mua áo quần cho Nương và cả những đồ dùng cho tuổi mới lớn của con gái, quan tâm đến sự phát triển
sinh lý tuổi dậy thì của Nương… chị dành cho Nương và Điền những tình cảm dịu hiền,
nó làm cho hai đứa trẻ nhớ lại hình ảnh của mẹ và làm cho Điền bắt đầu cảm nhận được
sự thương mẹ - điều mà cả hai chị em đã quên từ lúc nào
Cái trách nhiệm ấy, cái đạo nghĩa ấy thậm chí đã làm cho người đọc phải khóc nức lên Hình ảnh một người đàn bà “làm đĩ” đã thương lượng, chấp nhận “đi đêm” với hai gã cán bộ xã, ấp để cứu lấy bầy vịt - toàn bộ gia tài của ba cha con du mục Ở đoạn này, Nguyễn Ngọc Tư viết rất khéo Viết, nhưng mà như kể lại một cách bình thường, chẳng lên gân dạy trò đạo đức, cũng chẳng kêu gào kết án những ai Vậy mà lối viết bình thường ấy đã lôi kéo một cách lạ thường, làm lộ rõ hai mặt của đồng tiền Một, là sự thối tha của những kẻ lúc nào miệng cũng gắn liền: chủ trương, chính sách, triệt để, thi đua,
sự cố v.v nhưng khi cần “đi đêm” thì tất cả đều quẳng vào sọt rác Hai là cái nghĩa cử
cao đẹp, cái đạo trong văn chương - cái đạo của phường làm đĩ Đạo ở đây, không phải là
thứ đạo mà Hoàng Ngọc Hiến đã nhắc tới khi nói về một nền văn học “phải đạo”, trước đây Mà đạo ở đây là đạo làm người Làm một người tử tế (như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng nói) điều mà thật khó để thực hiện được trong cuộc sống hiện nay - sống một đời lương thiện, trong sạch và đạo lý Càng khó hơn, khi sống trong những cảnh khốn
cùng nhân vật chị của Cánh đồng bất tận – một cô gái giang hồ, không chốn dung thân
Nguyễn Ngọc Tư viết về thân phận người phụ nữ nhìn từ phương diện nào cũng thấy bất hạnh Tôi tự hỏi, tại sao họ ngã vào lòng đàn ông nhanh đến thế, họ quyết định ra
đi một cách nhanh chóng, không đắn đo suy nghĩ, không tính toán thiệt hơn Thử nhìn vào một lô đàn bà đi theo cha Nương sẽ biết, ngay sau khi ông ta đồng ý, họ vội vàng
“bán…cái quán nhỏ,…nói lời dứt tình với chồng con,…chia tài sản, có cô gái sắp về nhà chồng…Hết thảy đều cun cút tin và yêu” Trớ trêu thay, ông đang lập trình một chương trình tính toán trả thù đàn bà, sao cho “vừa đủ yêu, vừa đủ đau, vừa đủ bẻ bẽ bàng, và bỏ rơi họ đúng lúc” [90; 196] Hành động ra đi ấy là gì? Là họ muốn một cuộc sống khác hơn hiện tại, nhưng khác bằng cách làm đĩ, ngoại tình ư? Và cái tất yếu, khi trong một
gia đình không có chất keo gắn kết thì người chịu hậu quả nặng nề nhất là con cái
Đâu đó trong cuộc sống của chúng ta vẫn còn rất nhiều những phụ nữ vẫn phải chịu đựng khổ đau Họ đã thoát khỏi sự áp bức của xã hội nhưng vẫn chưa thoát khỏi sự áp
Trang 28bức của một số kẻ đàn ông thất học, vũ phu và tàn nhẫn Cách mạng đã giải phóng cho
người phụ nữ Tuy nhiên, để thực hiện triệt để chính sách nam nữ bình quyền thì toàn xã
hội phải nỗ lực nhiều hơn nữa, đặc biệt là chính người phụ nữ phải tự giải phóng cho chính mình, giải phóng cái ý thức, tư tưởng và cho chính tâm hồn của chính họ… Nếu người phụ nữ không làm được điều đó thì chính họ là tác nhân đầu tiên đưa mình vào với những kiếp sống bất hạnh Để rồi trong những mái nhà, trong những xóm vắng đêm đêm vẫn âm ĩ những giọt nước mắt chảy dài theo những nỗi nhọc nhằn, khổ đau và bất hạnh
Họ - những người phụ nữ Việt Nam mang trong mình bản sắc văn hóa dân tộc với những phẩm chất cao quí, đáng trân trọng: chịu thương, chịu khó, son sắt Nhìn chung, đó là những phẩm chất tốt, song cũng chính những phẩm chất đó đã vô tình biến họ thành những con người cam chịu, mà trong xã hội hiện nay, cam chịu không đúng chỗ, đúng lúc sẽ là điều tai hại
2.3 iểu nhân vật trẻ thơ lạc lòng
Trẻ em là mầm xanh của xã hội, của đất nước, vì vậy chúng phải được sống đầy đủ
trong tình thương yêu dạy dỗ của gia đình - nhà trường - xã hội, được hưởng những gì tốt
đẹp và ưu việt nhất “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” Nhưng trong truyện ngắn Ngọc
Tư bọn trẻ thiếu thốn tình thương, bơ vơ, cô độc, không được đến trường, không được giáo dục giới tính và không được cha mẹ dạy Muốn biết phải tự học và đôi khi trả giá
cực đắt trong cuộc đời Hình ảnh người cha, người mẹ trong Cánh đồng bất tận ăn sâu
vào tiềm thức của Điền Điền miệt thị và căm thù cái gọi là đàn ông Bằng chứng trong
lần câu cá cùng người đàn bà điếm: “Trưa ấy chúng tôi trầm nghịch dưới nước rất lâu…Tự dưng nét mặt chị bổng âu yếm lạ, như đang nựng nịu một đứa bé con, và thằng trai mười bảy tuổi đang đứng đực ra, chết lặng trong nỗi ngượng ngùng Nước cồn cào chổ bụng nó, tôi biết chị đang táo tơn làm gì đó phía dưới Rồi phát hiện ra một mất mát lớn lao, chị thảng thốt kêu lên: “Trời đất ơi, sao vậy nè, cưng?” Sinh lý nhằm thể hiện cái quyền để bảo tồn “nòi giống”, nhưng với “Điền chối bỏ niềm vui được trở thành một người đàn ông thực thụ Nó tự kìm hãm bản năng trỗi dậy mạnh mẽ ở tuổi dậy thì…Nó phản kháng bằng cách trút sạch những gì cha tôi có, cha tôi làm Giãy giụa đến rã rời,…” [90; 174-199]
Đọc Cánh đồng bất tận, người đọc sẽ khó cầm được nước mắt với hình ảnh hai
nhân vật Nương và Điền Và đây cũng chính là hai nhân vật mà Ngyễn Ngọc Tư đã khắc
họa thành công nhất Nương càng lớn càng giống má và chính điều đó đã khiến cô phải
Trang 29chấp nhận gánh chịu những trận đòn trút giận của cha: “tôi càng lớn càng giống má Có bữa, nửa đêm thằng Điền thức giấc, nhìn thấy tôi day lưng lại lui cui vá áo, nó thảng thốt kêu “Má ơi!” Tôi cảm thấy mình thất vọng đến rã rời Những thói quen, những cái gì liên quan đến má tôi phủi gần sạch rồi, nhưng tôi làm sao có thể từ bỏ hình hài này … Tôi đành để cha đánh để ông bớt đau chút lòng Sau này chị em tôi không day dứt chi cho mệt, vì hiểu thấu ra, mình bị đòn chỉ vì là con của má, vậy thôi.” [90; 182-183] Còn
Điền – cậu con trai 16 tuổi, cường tráng nhưng trên mặt bao giờ cũng chảy dài những giọt
nước mắt: bệnh chảy nước mắt sống, cũng xuất phát từ cái cảnh tượng không nên thấy đó: “Đứa mười tuổi quay lưng lại, đứa chín tuổi úp mặt vô áo chị nó, nhưng cả hai vẫn như thấy rõ ràng, trên chiếc giường tre quen thuộc, má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chởm những nốt ruồi Họ cấu víu Vật vã Rên xiết” [90; 176] Nương và Điền – hai
đứa trẻ cô đơn và lạc lỏng chưa bao giờ thấy trong cuộc đời nhưng được khắc họa một cách chân thực và sinh động, như những con người thực trong xã hội mà chúng ta đã gặp
ở đâu đó Hai đứa trẻ phải sống trong sự thiếu thốn tình cảm từ khi mẹ bỏ mình theo người đàn ông khác Cũng từ đây, cả hai phải xa rời cuộc sống thôn xóm để theo cha lênh đênh trên những cánh đồng bất tận Cũng từ đấy, hai chị em cảm nhận được sự đổi thay
dữ dội ở cha mình, ông trở nên lạnh lùng, khô cằn, dửng dưng và làm mọi chuyện theo
bản năng… và hai chị em cũng là nạn nhân của cái bản năng ấy Người cha hận đời đã
vứt bỏ tất cả những gì thuộc về con người để sống một cuộc sống bản năng đã làm cho người đọc quá day dứt Tuy nhiên, với Nương và Điền còn đau xót hơn Chỉ vì những thói xấu của con người, những ích kỷ của người lớn mà hai chị em phải gánh chịu tất cả những lỗi lầm của họ Là trẻ con nhưng hai chị em phải hoàn toàn tự học tất cả, tự học
cách để sống, tự học cách chiều theo ý của cha theo những tiếng tằng hắng và gậm gừ của ông Và đặc biệt, hai chị em phải tự học lấy bản năng của một con người – điều mà tưởng chừng như có sẵn trong mỗi con người từ lúc mới sinh ra “Buộc phải tự học lấy cách sống Nhiều khi dễ đến không ngờ… Nhiều lúc tôi hơi nhớ con-người… Những gì không biết, chúng tôi thử Những gì không hiểu, chúng tôi chất thành khối trong lòng Nhiều khi thấu đáo được một điều nào đó, chúng tôi phải trả giá cao” [90; 183,205]
Cuộc sống của Nương và Điền cùng với người cha đã dần xa lánh cuộc sống xã hội của
loài người: “Có lẽ vì cuộc sống của họ ngày càng xa lạ, với chúng tôi Họ có nhà để về, chúng tôi thì không Họ sống giữa chòm xóm đông đúc, chúng tôi thì không Họ ngủ với những giấc mơ đẹp, chúng tôi thì không Nằm chèo queo, co rúm, chen chúc nhau trên
Trang 30sạp ghe, chúng tôi đánh mất thói quen chiêm bao Điều này làm tôi và Điền buồn biết bao nhiêu, vì cách duy nhất để được nhìn lại hình bóng má cũng tan rồi [ ] Nên khi hết mùa lúa chín, những người nuôi vịt chạy đồng khác đã trở về nhà còn chúng tôi lại tiếp tục lang thang Đàn vịt đưa chúng tôi đi hết cánh đồng này đến cánh đồng khác Đôi khi không hẳn vì cuộc sống, chúng là cái cớ để chúng tôi sống đời du mục, tới những chỗ vắng người” [90; 185,180] Càng ngày, cái gia đình du mục ấy như chìm vào một cuộc
sống cô độc, hoang dã đến nỗi Nương và Điền đã từng có lúc phải rơi vào cái cảm giác
thèm người và vì thế mà cô đơn, hiu quạnh là tâm trạng chủ yếu của truyện Và nỗi cô đơn ấy đã khiến “chúng tôi đã quen dần với những - hình - ảnh - giống - mình (tức là bị
bỏ giữa đời chơi vơi), thí dụ như nhìn một chiếc đũa gãy, cái nắp nồi vỡ, hay bầy gà con lạc mẹ nhao nhác…” [90; 186]
Cái cô đơn của Nương và Điền là nỗi cô đơn của hai đứa trẻ phải sớm rời xa cái tuổi thơ mà lẽ ra chúng phải được tận hưởng Thiếu vắng tình thương của mẹ, sống trong sự lạnh lùng của cha, hai đứa trẻ dẫu có trở nên lạnh nhạt với những con người khác thì ở chúng người đọc vẫn thấy được hai tâm hồn trẻ thơ trong sáng Đôi khi cái thèm muốn,
ao ước được sống trong tình yêu thương đến với Điền khi chợt nhớ tới mẹ qua những
hành động của chị, hay nhìn những ông già trong những xóm mà mình đã đi qua, rồi những cảnh gia đình họ sum vầy, Điền thèm có mẹ, có ông nội: “thấy mình nghèo rơi nghèo rớt, nghèo đến nỗi không có… ông nội để thương, thèm muốn bên đường…” Với
Nương vì thiếu sự quan tâm chăm sóc của người mẹ mà cô chưa tự ý thức được một cách đầy đủ về đời sống sinh lý của mình Cuộc sống cô đơn, buồn chán đi ngược lại với những gì mà những đứa trẻ khác ở lứa tuổi của Nương, của Điền có được Nương nhớ và thèm muốn được đi học, với cha cô luôn mong ông kết thúc cuộc sống du mục bằng một tình yêu thực sự với một người đàn bà nào đó; điều này cũng có nghĩa Nương ao ước một cuộc sống ổn định, một cuộc sống yên bình với cha, với em trai và với mẹ cho dù đó không phải là người đã sinh thành ra mình Một cuộc sống bên những người hàng xóm thân tình, đươc vui chơi với bạn bè, được đi học như bao đứa trẻ khác Cái mong muốn, cái khát khao ấy đơn giản biết chừng nào, vậy mà… nó vẫn không bao giờ trở thành hiện thực Xót xa biết bao nhiêu khi trong cuộc sống đồng mục mà chúng phải trãi qua ấy,
cũng như ông già trong Cái nhìn khắc khoải hai đứa trẻ sống trong sự cô đơn, buồn chán
đến nỗi chỉ biết làm bầu bạn với lũ vịt “Đắm đuối với loại ngôn ngữ mới, chúng tôi chấp nhận để người ta nhìn mình như những kẻ điên (miễn là tạm quên nỗi buồn của cõi-
Trang 31người) Chị em tôi học cách yêu thương đàn vịt (hy vọng không bị đau như yêu thương một con người nào đó)” [90; 201]
Truyện Cánh đồng bất tận không chỉ đơn giản nói về cuộc sống của gia đình
Nương mà truyện còn đề cập đến một vấn đề khác nữa đó là việc lên án sự thiếu trách nhiệm, quan tâm của những bậc làm cha, làm mẹ đối với con cái của mình Người lớn có quyền làm những gì mình thích thì tại sao trẻ con lại không? Người lớn chỉ biết làm cho nhau đau khổ để rồi kẻ hứng chịu cái tàn dư nặng nề của nó lại là những tâm hồn bé nhỏ ngây thơ… Nếu không phải vì mẹ ham cuộc sống sung sướng, được chiều chuộng; vì cha hận mẹ rồi trở nên câm lặng trong tình người, khô cằn, dửng dưng thì những đứa trẻ liệu
có phải trải qua cuộc sống như vậy không? Liệu Điền có phải bỏ đi, đi tìm người phụ nữ sống bằng nghề bán dâm? Liệu Nương có lặp lại cái bi kịch trong cuộc đời mà chính cha mình đã làm với những người đàn bà khác để rồi chỉ biết câm lặng và chịu đựng? Rõ ràng tác phẩm còn là hồi chuông cảnh tỉnh cho một số thế hệ gia đình Việt Nam hiện đại ngày nay khi mà các bậc phụ huynh chỉ biết làm giàu cho cuộc sống mà quên đi cảm giác của con cái mình
2.4 Kiểu nhân vật cô đơn và hành trình tìm về cuộc sống loài người
Cô đơn là một cảm hứng lớn trong văn học và rất nhiều nghệ sĩ đã đi lên từ cảm hứng cô đơn buồn đau của cuộc đời Yasunari Kawabata - nhà văn lớn của văn học Nhật Bản thế kỉ XX là người đầu tiên nổi tiếng từ chính những nỗi buồn không tên Không những thế, ông còn nhận được giải Nobel Văn học bằng chính những sáng tác buồn thương tinh tế, những sáng tác của Kawabata được xem là một trong những di sản văn hóa tinh thần quí giá nhất của thế giới thế kỉ XX Trong diễn văn đọc tại lễ trao giải
Nobel Văn học 1968, Tiến sĩ Anders Usterling xác nhận: "Yasunari Kawabata là người tôn vinh vẻ đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người Với tư cách nhà văn, ông đã truyền đạt một nhận thức văn hóa có thẩm mỹ và đạo đức cao, bằng một phong cách nghệ thuật độc đáo, do đó đóng góp vào cầu nối tinh thần Đông - Tây theo cách của ông" Còn Kawabata thì thừa nhận: "Không bao giờ tôi trút được ám ảnh rằng mình là người lang thang ưu sầu Là người luôn luôn
mơ mộng, tuy rằng chẳng bao giờ chìm đắm hoàn toàn trong mơ, mà vẫn luôn luôn thức giữa khi mơ Từ sau thất bại, tôi chìm vào nỗi buồn - một nỗi buồn ngự trị triền miên trong tâm thức người Nhật chúng tôi Từ đó trở đi tôi chỉ viết những khúc bi thương!"
[31] Còn trong văn học Việt Nam, cảm hứng sáng tác từ những nỗi buồn cô đơn, hiu
Trang 32quạnh cũng bắt đầu lên ngôi khá sớm đặc biệt là trong khuynh hướng lãng mạn 30 năm
đầu của thế kỷ XX
Khi người nghệ sĩ không tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội, khi con người đã thoát ly khỏi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng lại không thể hòa hợp được với cuộc sống xã hội nhố nhăng, nhũng nhiễu lúc bấy giờ, họ tự tách mình ra khỏi cộng đồng
và lúc ấy cảm giác cô đơn đến với họ là một điều dễ hiểu:
“Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ Một đời người u uất nỗi chơ vơ.”
(Vũ Hoàng Chương)
Còn những con người của văn học thế kỷ XXI nhất là trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư lại khác Cảm giác cô đơn đến với họ không phải vì họ muốn tách ra khỏi cộng đồng mà trái lại họ tìm cách hòa mình vào xã hội nhưng vẫn không chen nổi vào đời sống, không tìm thấy tiếng nói chung với những con người người xung quanh mình Cô đơn vì không biết chăm sóc đến đời sống tinh thần, mãi miết kiếm tìm giá trị vật chất
(Đất màu - Ma Văn Kháng) Cô đơn của bản thân và nhịp điệu sống đơn điệu, rời rạc của
xã hội (Đi bộ và chạy - Trần Đức Tiến) Cô đơn bởi thân phận xa xứ kiếm ăn (Trở về - Thùy Linh) Cô đơn vì mình đang sống cuộc đời vô vị, nhạt nhẽo (Ông gàn- Nguyễn
Phan Hách), Cô đơn vì thấy mình xa lạ với xã hội, với những người xung quanh mình Con người cô đơn - lạc lõng giữa cộng đồng là một trong những cảm hứng chủ đạo cho nhiều cây bút có tiếng vang lẫy lừng trên văn đàn Việt Nam đương đại, tiêu biểu như: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp Tiếp nối mạnh chủ đề cô đơn - lạc lõng của con người trước thiên nhiên và trước xã hội, loài người ngày càng cạnh tranh khốc liệt với muôn vàn vấn đề, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, ở những tác phẩm được đánh giá cao luôn hướng về chủ đề đó
Có người bảo rằng, Ngọc Tư “vẽ” đâu ra những nhân vật như vậy? Tôi nghĩ nhân
vật ấy “không từ trời rơi xuống” mà từ cuộc đời Văn học bao giờ cũng mở ra bóng hình
thời đại Nhà văn người Anh W.Golding, nói: “Sự thật của cuộc sống buộc tôi phải nghĩ rằng nhân loại đau đớn vì những căn bệnh Một khi tôi tin rằng nhân loại đau đớn thì điều đó choán lấy toàn bộ tư tưởng tôi” Đói, nghèo, thất học làm cho “nhân loại đau
đớn” Đối sánh với văn hoá phương Tây có sự khác biệt với phương Đông, phương Tây
Trang 33thiên về con người cá nhân như (Rôbinxơn Cruxô - Đêfô) Phương Đông thiên về con người cộng đồng, cho nên khi tách sự sống của con người cá nhân ra khỏi cộng đồng thì ngay lập tức bị cô đơn - lạc lõng, điều này do văn hoá quy chiếu
Với Nguyễn Ngọc Tư, cô có tài năng đặc biệt khi miêu tả nỗi cô đơn của những con người nhỏ bé trong xã hội, những con người lao động nghèo khổ, là một trong số ít tác giả trẻ miêu tả được nỗi cô đơn bằng những câu văn chân thực và chua xót Nguyễn Ngọc
Tư : “Là phụ nữ, rất dễ nuôi cô đơn để viết” [36], cô cũng từng tâm sự rằng trong cõi văn
chương cô là người cực kỳ cô đơn nên cô rất dễ dàng để nhân vật mình sống trong nỗi cô
đơn tận cùng, trong “hoang hoải, chán chường” Cô cũng như những con người trong
Cánh đồng bất tận, sống giữa nhiều người, sống giữa cộng đồng, sống giữa biển người
mênh mông nhưng luôn có cảm giác bị bỏ rơi Cô bảo không biết cô đơn có bao nhiêu
dạng nhưng “tôi đếm được mình có bốn dạng rồi Đường nào về cũng cô đơn” [50]
Nguyễn Ngọc Tư cũng là một người nghệ sĩ, hơn nữa lại là một người nghệ sĩ luôn
cảm thấy mình cô đơn : “Ngày ngày kẹt giữa đám đông, chen chúc trên những con đường đông nghịt người, nhiều khi tôi giật mình, trời ơi, họ kia, đồng loại mình kia, sao mình lại
cô đơn đến rã rời…” [90; 104] chính vì vậy, hơn ai hết cô hiểu được nỗi cô đơn, hiểu
được sự nhạy cảm và tha thiết với cái Đẹp của người nghệ sĩ
Chính cái cảm giác cô đơn ấy khiến nhà văn viết về nhân vật cô đơn của mình một cách chân thực, khi nhà văn thấy cô đơn thì cái cô đơn của nhân vật không phải là sự áp đặt nữa mà là sự thể hiện cô đơn của chính tác giả Hầu hết nhân vật trong truyện của cô
dù là người nông dân hay nghệ sĩ, là thanh niên hay người già, là nam hay nữ thì cũng nuôi trong mình nỗi buồn sầu cô đơn Họ cô đơn trên hành trình tìm kiếm cái đẹp, cô đơn khi đi tìm hạnh phúc cho bản thân trong một biển người mênh mông mà nhìn đâu cũng
thấy người xa lạ, khoảng cách: “cuộc sống của họ ngày càng xa lạ, với chúng tôi”, thậm chí thấy xa lạ với cả chính người thân trong gia đình mình: “cái ghe thấy nhỏ, lại rộng vô cùng tận, loay hoay chỉ ba con người, nhưng nhiều năm trôi qua, hai chị em tôi vẫn cảm thấy xa cách cha” [90; 183] Nhờ sự nhạy cảm sẵn trong tâm hồn của một người phụ nữ
cùng với tố chất nghệ sĩ của mình càng làm cho Nguyễn Ngọc Tư rất dễ rung động với cái đẹp, tâm hồn nhạy bén, tinh tế giúp cô cảm rất nhanh với những gì diễn ra hàng ngày, với những tâm tư, xúc cảm của con người để từ đó phản ánh vào trong trang văn của mình
Trang 34Mỗi một con người là một thành viên của xã hội, góp phần tạo nên xã hội Bởi vậy
mà để có thể sống trên đời thì con người cần có sự dung hợp, tổng hòa của các mối quan
hệ xã hội, với con người và với cả đất trời Tuy nhiên, khi họ bị tách ra khỏi một trong những mối quan hệ ấy, họ sẽ mang trong mình cái cảm giác cô đơn Cô đơn vì sống giữa mọi người mà chỉ thấy có một mình, cô đơn vì những bi kịch của cuộc đời, cô đơn còn vì
sự khao khát được hòa nhập, được có một cuộc sống bình thường nhưng không thành Viết về nỗi cô đơn của con người trong đời sống hiện đại Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện
một cách tinh tế và nhạy bén trong những trang văn của mình “Là phụ nữ rất dễ nuôi cô đơn để viết” phải chăng vì thế mà đọc những trang văn của cô người đọc luôn bị ám ảnh
bởi sự cô đơn của những con người sống giữa mọi người mà vẫn thấy cô độc Trong
Cánh đồng bất tận, những nhân vật như người cha, Nương, Điền, chị và cả má của
Nương đều là những con người cô đơn Gia đình Nương từ bỏ ngôi nhà của mình, cho tất
cả vùi vào tro bụi và lênh đênh trên những cánh đồng ấy vừa là cuộc chạy trốn nhưng cũng vừa là hành trình tìm về với cuộc sống của loài người, vượt qua cuộc sống của bản năng…
Người cha hận vợ đã đập phá tất cả đồ đạc, rũ bỏ tất cả những gì liên quan đến người vợ phụ bạc rồi đốt nhà để tất cả trở thành tro bụi và ra đi Ông ta dẫn theo hai đứa con trên một chiếc ghe nhỏ bắt đầu cuộc sống lênh đênh trên những cánh đồng bất tận, những cánh đồng không tên Đó là hành động tự giải thoát cho chính mình – giải thoát khỏi nỗi đau tình ái Từ đây, cuộc sống của ba cha con với nghề nuôi vịt chạy đồng cứ trôi dạt khắp nơi, trên những không gian vô định, trôi dạt khắp nơi nay đây mai đó Và cũng từ đây, hai đứa con (Nương và Điền) bắt đầu phải đối diện với một người cha khác
hẳn: “Cha giống như con thú trở về tổ sau khi no mồi Con thú nằm mơ màng nhấm nháp
lại hương vị của miếng mồi, và ngẩm ngợi thòm thèm con mồi kế tiếp” [90; 195] Miếng
mồi của ông ta chính là tất cả những đàn bà mà ông ta gặp Ông ta muốn hại tất cả những đàn bà nhẹ dạ, cả tin trên đời này, những người giống với vợ ông ta “cha hơi khác con- người Nhạt nhẽo hơn cả việc quan hệ theo mùa, theo bản năng, trong cha tôi không còn một chút cảm xúc nào, nét mặt tràn ngập những rắp tâm, chưa gặp mặt đã tính chuyện phũ phàng” [90; 197] và ông ta lấy đó làm vui Như vậy, người đàn ông hận đời bị vợ bỏ
đã tìm cách giải thoát cho chính cuộc đời mình nhưng vô tình đã đẩy cuộc đời ông ta chệch hướng ra xa “quĩ đạo” của cuộc sống loài người và đến gần với cuộc sống bản
năng của những loài súc vật, đến cả việc tình dục cũng “nhạt nhẽo hơn cả việc quan hệ
Trang 35theo mùa, theo bản năng” Tất cả những gì thuộc về con người đều dần bị ông ta rũ bỏ hết và ngày càng trở nên hờ hững với cuộc đời, với tất cả mọi người, thậm chị sự rủi ro
trong nghề nuôi vịt khiến có người phải uống thuốc sâu tự tử nhưng ông ta vẫn chỉ với cái
điệu bộ ấy: dửng dưng như chẳng có việc gì Và hầu như suốt cả hành trình bảy năm của
cuộc sống du mục, điều mà ông ta làm được nhiều nhất đó là tội lỗi ông ta gây ra cho những phụ nữ vô tội, cho hai đứa con tội nghiệp của ông ta Để rồi đến cuối tác phẩm, chính những nỗi đau đớn đã giúp ông trở về với cuộc đời, trở về với cuộc sống của con
người Đó là chi tiết mà theo như cảm nhận của con gái ông ta là sự báo ứng, chính sự
báo ứng dành cho những tội lỗi cả ông ta đã không giết chết ông ta mà trái lại, sự báo ứng
ấy đã kéo ông về với cuộc sống của một con người bình thường Ông ta bị đẩy ra khỏi xã
hội con người, bị đẩy ra cuộc sống ở những nơi vắng bóng người, và để có thể trở về lại cuộc sống con người, ông ta phải đánh đổi rất nhiều và cái giá đắt nhất đó là trinh tiết của con gái mình
Hai nhân vật Nương và Điền như đã nói ở những phần trên là hai đứa trẻ cô đơn chưa từng thấy, tội nghiệp đáng thương chưa từng thấy Chính hai đứa trẻ này là hai con
người có khát vọng tìm về với cuộc sống của con người nhất: “cuộc sống của họ ngày càng xa lạ, với chúng tôi Họ có nhà để về, chúng tôi thì không Họ sống giữa chòm xóm đông đúc, chúng tôi thì không Họ ngủ với những giấc mơ đẹp, chúng tôi thì không Nằm chèo queo, co rúm, chen chúc nhau trên sạp ghe, chúng tôi đánh mất thói quen chiêm bao.” [90; 185] Nương và Điền từ sau biến cố gia đình đã phải bước vào một cõi sống
dữ dội, buồn tênh Mới lên chín, lên mười đã phải từ bỏ cuộc sống gia đình để theo cha trên những cánh đồng mênh mông hoang vắng, trong một khoảng không vô định và suốt
cả tuổi thơ là một màu đen xám sẫm Một tuổi thơ vắng dần đi những tiếng cười, thay vào
đó là những giọt nước mắt chảy lén cùng những tiếng gậm gừ và tằng hắng của người
cha gần như đã trở thành một con thú hung dữ Đến nỗi, chúng gần như đã quên mất
tiếng nói của con người, xa lạ với những tiếng người và “Đắm đuối với loại ngôn ngữ mới, chúng tôi chấp nhận để cho người ta nhìn mình như những kẻ điên (miễn là tạm quên nỗi buồn của cõi - người) Chị em tôi học cách yêu thương đàn vịt (hy vọng sẽ không bị đau như yêu thương một - con - người nào đó)” [90; 201]
Nương là nhân vật trong cuộc và cũng là người kể chuyện, kể chuyện gia đình cô và cũng là kể về chính chuyện đời của cô đã tái hiện toàn bộ chặng đường phiêu lưu, lênh đênh, trôi nổi trong suốt bảy năm ròng rã Trong suốt thời gian đó, hoàn cảnh sống đã
Trang 36khiến hai chị em dần xa rời cuộc sống của loài người và đã nhiều lần họ thèm khát cái cảm giác của một cuộc sống bình thường như bao con người khác: thèm có ông nội để
được yêu thương, và thèm cái “cái quyền được đưa tiễn, được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay, được nhận vài món quà quê như buồng chuối và hương hay bó rau ngót cắt trong vườn, cùng lời dặn dò quyến luyến, “Đi mạnh giỏi nghen…” [90; 197] Sự hận thù
trong người cha đã vùi lấp bao ước mơ trong hai chị em dù là những ước muốn bình dị nhất mà những đứa trẻ khác không thèm ước cũng có được: thèm được đến trường, thèm được chở che, được yêu thương trong vòng tay của bố và mẹ Hai chị em đã bị đánh mất hết những quyền cơ bản của con người: Nương là cô gái đang tuổi dậy thì nhưng không dám ăn mặc đẹp, không dám để tóc dài; còn Điền thì cũng chỉ biết vịt, chim, chuột và cả
hai đều không được quyền nhớ má, không dám khóc, không dám cười, đến cả căn bệnh
chảy nước măt sống của Điền cũng bị cấm đoán: nước mắt sống cũng chỉ biết chảy lén Tất cả đều là vì: “Cha đẩy chúng tôi trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên.” Hai đứa trẻ
phải theo cha lênh đênh mãi trên những cánh đồng vô định, nơi nào đã đi họ có thể nhớ
nhưng nơi nào sẽ đi tiếp theo là điều mà họ chưa bao giờ đoán biết được, để rồi “Mỗi lần
rời khỏi một nơi nào đó, thật khó để phân biệt, chúng tôi bỏ đi hay chạy trốn” Phải, họ
đang chạy trốn, chạy trốn sự xa lạ của cộng đồng đối với mình sự ngăn cách và lạ lẫm với
cả người cha của mình Họ chạy trốn khỏi sự cô độc đang mãi miết bủa vây lấy họ để tìm
về những nơi nào mà họ có thể sống như những con người…
Nguyễn Ngọc Tư đã rất tinh tế và dày công khi đẩy nhân vật của mình vào tận cùng của sự thù hận (người cha), vào tận cùng của sự khổ đau (Nương) và tận cùng của sự cô độc đến đáng thương (Điền) cùng với đáy sâu của sự tủi nhục (Nương)… và rồi cuối cùng đã mở ra trước mắt họ những con đường về không còn bịt kín Sương được thoát
chết từ vụ đánh ghen và cập bến tại gia đình của Nương, để rồi tại đó, chị được yêu
thương, được trận trọng của hai đứa trẻ và cũng tại đây cô nếm sự khinh miệt lớn nhất từ người cha Nhưng cũng từ đây, sự ra đi của cô đồng nghĩa với việc cô sẽ từ bỏ cái nghề
nhơ nhớp ấy để tìm về một cuộc sống mới tươi sáng hơn: không ê chề như cảnh bán dâm,
không hoang vắng và khô quạnh như giữa những cánh đồng… còn Điền cũng từ bỏ tất cả
(bỏ cha, bỏ chị gái, bỏ những cánh đồng với cuộc sống bùn đất) để đi tìm tình yêu với chị
- một thứ tình yêu đầu đời dù cho người đàn bà đó từng ăn nằm với biết bao nhiêu người, thậm chí cả cha mình, và dù cho đã từng được cậu yêu thương với một tình cảm của một
Trang 37người con dành cho mẹ Dù sao thì Sương cũng là động lực để Điền tiếp tục sống một cuộc đời ý nghĩa, ít nhất thì cũng đánh thức được bản năng của một con người
Quay lại nhân vật người cha và Nương Có lẽ hai con người này bắt đầu tìm lại
được cuộc sống của loài người kể từ sau khi Sương và Điền bỏ đi Sau khi người cha “tha
thểu đằng trước với một thân xác nhừ bùn sau cuộc đánh nhau để giành lại đàn vịt” từ
những kẻ nuôi vịt chạy đồng khác và đứa gái tỏ ra “mừng rỡ khi cha nó bị đánh tả tơi” bởi vì “rõ ràng là cha tôi đang thay đổi, đang sống lại những cảm xúc bình thường nhất.” Và “Tôi thích ông như thế này” Đó chính là dấu hiệu trở về của người cha Ông ta
không còn dửng dưng với mọi chuyện như trước mà đã có trách nhiệm hơn – điều mà ông ta đã bị đánh mất bao năm nay Và sự trở về ấy chính thức được thực hiện sau khi người cha dương mắt nhìn đứa con gái của mình bị bọn người kia hiếp dâm tập thể Nếu
như trước đây, đôi mắt và nụ cười ông ta được Nương cảm nhận là “vừa dữ dội, đau đớn, hoang dã, cay đắng, nghiệt ngã” sau những lúc vừa bỏ rơi một người đàn bà thì giờ đây, trước cảnh con gái ông ta đang bị làm nhục ngay trước mặt ông thì đôi mắt ấy “ầng ậc
nước, tôi không rõ là phèn hay máu nhoèn nhoẹt” Và người cha đã sống lại từ đây:
“Người cha cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con gái Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó dưới mặt trời” Những cảm giác bình thường nhất, những
tình cảm bình thường nhất của một người cha, của một con người đã bắt đầu sống lại, đánh thức một con người đã chết bấy lâu và đánh thức cái tâm hồn của một con người đã
bị thú tính lấn át từ lâu nay mới bắt đầu trỗi dậy giữa lúc tưởng như cận kề với cõi chết và giữa lúc tưởng như vĩnh biệt cuộc sống Kéo theo sự sông lại của người cha là cuộc đời
Nương cũng được cứu thoát khỏi cõi sống du mục, một cõi sống u uất, thoát khỏi “những tháng năm sống tù đọng trên đồng”, giữa những cánh đồng bất tận khắp nơi đều thấy những “tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm” thất học, hung hãn và bản năng, thú
tính
Truyện Chí Phèo, Nam Cao cho một cái kết để mở ra nhiều cái bắt đầu như “Thị Nở
nhìn nhanh xuống bụng” nghĩa là còn có những Chí Phèo con sẽ ra đời, còn những định
kiến xã hội đưa đẩy con người đẩy họ đến sự tha hóa nhân cách và đánh mất mình Nhưng bầu thai của Thị Nở có tác giả là Chí Phèo còn Nương chỉ biết mơ ước cho riêng
mình, nói dại “Không biết con có bị có con không, hả cha?” và "Nó hơi sợ hãi Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con loăn quăn đang ngụp lặn trong nó Đứa con gái thoáng nghĩ, rớt nước mắt, trời ơi, có thể mình sẽ sinh con Nhưng nó chấp nhận việc