1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU VIỆC KHAI THÁC tài NGUYÊN văn hóa PHI vật THỂ của TỈNH NGHỆ AN để PHỤC vụ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH

46 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 255 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chung việc khai thác tài nguyên văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch của Nghệ An 2.5.Tiểu kết Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tài

Trang 1

TÌM HIỂU VIỆC KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA TỈNH NGHỆ AN ĐỂ PHỤC VỤ CHO PHÁT

TRIỂN DU LỊCH

Mục lục

Mở đầu

1.Lý do chọn đề tài

2.Mục đích, ý nghĩa của đề tài

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.Phương pháp nghiên cứu

5.Bố cục

Chương 1: Tài nguyên văn hoá phi vật thể của tỉnh Nghệ An

1.1 Khái quát về tỉnh Nghệ An

1.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của Nghệ An

1.1.2.Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên

1.1.3 Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội

1.2 Tài nguyên văn hoá phi vật thể

1.2.1 Phong tục tập quán tiêu biểu

1.2.2 Lễ hội tiêu biểu

1.2.3 Các tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu

1.2.4 Các làng nghề truyền thống

1.2.5 Ẩm thực truyền thống tiêu biểu

1.2.6 Nghệ thuật diễn xướng tiêu biểu

1.3 Tiểu kết

Chương 2: Thực trạng khai thác tài nguyên văn hoá phi vật thể phục vụ phát

Trang 2

triển du lịch của Nghệ An

2.1 Lao động trong du lịch văn hóa tỉnh Nghệ An

2.2 Thực trạng khai thác các sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể

2.2.1 Du lịch lễ hội ở Nghệ An

2.2.2 Du lịch làng nghề ở Nghệ An

2.2.3 Nghệ thuật diễn xướng trong du lịch ở Nghệ An

2.2.4 Ẩm thực truyền thống trong du lịch ở Nghệ An

2.3 Thị trường khách du lịch văn hoá tại tỉnh Nghệ An

2.4 Đánh giá chung việc khai thác tài nguyên văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch của Nghệ An

2.5.Tiểu kết

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác

nguồn tài nguyên du lịch văn hoá phi vật thể ở tỉnh Nghệ An

3.1 Các giải pháp

3.1.1 Giải pháp về tổ chức quản lý trong du lịch văn hoá ở tỉnh Nghệ An

3.1.2.Giải pháp về nâng cao chất lượng lao động du lịch văn hóa

của Nghệ An

3.1.3 Giải pháp về sản phẩm du lịch văn hóa của Nghệ An

3.1.4 Giải pháp về bảo tồn các tài nguyên văn hóa phi vật thể trong du lịch NghệAn

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nghệ An là vùng đất địa linh nhân kiệt, có bề dày lịch sử truyền thống và cónguồn tài nguyên nhân văn khá đa dạng phong phú như các lễ hội, phong tục tậpquán, con người…rất thuận lợi cho việc khai thác phục vụ cho phát triển du lịch.Nghệ An có vị trí nằm trên trục giao thông Bắc Nam, có các cửa khẩu giao thươngvới Lào và đường bộ với Thái Lan, có cảng biển, hệ thống đường bộ, đường sông,hàng không thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với mọi miền cả nước và cácnước trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan vàkhách quan ngành du lịch Nghệ An còn nhiều tồn tại bất cập đặc biệt là trong lĩnh

vực du lịch văn hóa Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu việc khai thác tài nguyên

văn hóa phi vật thể của tỉnh Nghệ An để phục vụ cho phát triển du lịch ” qua

khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm, điều kiện khai thác nguồn tài nguyên

du lịch văn hóa phi vật thể ở tỉnh Nghệ An để có thể tìm ra những nguyên nhân tồntại, những hạn chế khó khăn trong việc khai thác các loại tài nguyên văn hóa phivật thể của tỉnh Nghệ An phục vụ cho phát triển du lịch từ đó đưa ra chiến lượckhai thác hiệu quả và sản phẩm du lịch phù hợp để nâng cao chất lượng đáp ứngmọi nhu cầu của khách du lịch, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa vàhướng tới thị trường nước ngoài nhằm tăng hiệu quả kinh tế, giao lưu văn hóa vàphát triển du lịch cũng như bảo tồn nguồn tài nguyên nhân văn và các yếu tố vănhoá bản địa

2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài:

Trang 4

Thông qua việc tìm hiểu nghiên cứu các đặc điểm, điều kiện của nguồn tàinguyên văn hóa phi vật thể của tỉnh Nghệ An trong việc phục vụ phát triển du lịch,

đề tài hướng tới những mục đích và ý nghĩa sau:

Xác định được vai trò nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể trongphát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An nói chung Từ đóthấy được tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong đời sống con người và trong xãhội cũng như vai trò của nó trong phát triển kinh doanh du lịch nhằm phục vụchính con người về tinh thần và vật chất, qua đó còn bảo tồn và phát huy lưu giữcác giá trị cho thế hệ mai sau

Đánh giá và phân tích việc khai thác nguồn tài nguyên du lịch này hiện nay

ở tỉnh Nghệ An Để thấy được những thuận lợi, hay những hạn chế khó khăn trongviệc khai thác nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể tại các điểm du lịch,các loại hình du lịch nói riêng và của toàn tỉnh nói chung từ đó đưa ra cái nhìn tổngthể, những nhận xét đánh giá thực trạng của ngành du lịch Nghệ An

Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch phi vậtthể ở tỉnh Nghệ An Thông qua việc tìm hiểu thực trạng khai thác các tài nguyênvăn hóa của tỉnh Nghệ An đưa ra cái nhìn tổng quát về thực tế du lịch Nghệ An, đềtài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao những mặt đã đạt được và giải quyếtnhững hạn chế tồn tại…

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đè tài là các loại tài nguyên du lịch văn hoá củatỉnh Nghệ An, di sản văn hoá phi vật thể của Nghệ An, các sản phẩm du lịch vănhoá Trong đó có các tài liệu, các vấn đề thực tế các hoạt động du lịch văn hoá ởNghệ An, những tồn tại ở các công ty du lịch, cơ quan quản lý du lịch

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: hoạt động du lịch văn hoá phi vật thể ở Nghệ An trong khoảngthời gian hiện tại từ năm 2000 đến 2013

Trang 5

Phạm vi không gian: các hoạt động du lịch văn hoá phi vật thể trên địa bàn tỉnhNghệ An

Phạm vi vấn đề: Nghiên cứu tài nguyên du lịch văn hoá phi vật thể của Nghệ an,thực trạng khai thác tài nguyên văn hoá trong du lịch ở Nghệ An Một số đề xuất

và kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại để phát triển du lịch văn hoá phi vật thểtại tỉnh Nghệ An

4 Phương pháp nghiên cứu :

Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu và xử lý thông tin Và những tàiliệu, thông tin về ngành du lịch của tỉnh Nghệ An, về tài nguyên du lịch Nghệ An,các tài liệu, sách báo, bài viết về Nghệ An từ đó có cái nhìn tổng quan và cụ thểcác vấn đề liên quan giúp cho tác giả khai thác thông tin, xử lý thông tin cung cấpcho đề tài

Phương pháp quan sát sự vật hiện tượng

Phương pháp điều tra thực địa

5 Bố cục: Bao gồm các phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung kết cấu ba

chương là:

Chương 1: Tài nguyên văn hóa phi vật thể của tỉnh Nghệ An

Chương 2: Thực trạng khai thác tài nguyên văn hóa phi vật thể phục vụ pháttriển du lịch của Nghệ An

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tàinguyên du lịch văn hoá phi vật thể ở tỉnh Nghệ An

Trang 6

CHƯƠNG 1: TÀI NGUYÊN VĂN HOÁ CỦA TỈNH NGHỆ AN

1.1 Khái quát về tỉnh Nghệ An

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Nghệ An

Lịch sử Nghệ An nằm trong dòng chảy lịch sử dân tộc, các thế hệ cha ôngnơi đây đã góp phần cùng nhân dân cả nước dựng nên nền văn minh sông Hồng,văn minh Đại Việt, chinh phục cải tạo tự nhiên, xây dựng xóm làng, chống ngoạixâm, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc Từ thời tiền sử, các di tích khảo cổ chothấy dấu tích của người vượn cổ phát hiện ở hang Thẩm Ồm, Thẳm Bua, ĐồngBua huyện Quỳ Châu có niên đại cách đây hai mươi vạn năm Một số dấu tíchngười tối cổ ở đồi Dùng, đồi Rạng thuộc nền văn hóa Sơn Vi, cho đến văn hóa HòaBình, miền ven biển thuộc văn hóa Quỳnh Văn…Họ sống bầy đàn, hái lượm, sănbắt bằng công cụ thô sơ, cư trú vùng núi phía Tây và trung du Nền nông nghiệpnương rẫy, lúa nước dần hình thành Đến thời Văn Lang - Âu Lạc cùng với các tộcngười khác ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, các tộc người cổcùng xây dựng đất nước Văn Lang – Âu Lạc, họ lao động và đạt nhiều thành quảnhất định như trình độ tinh xảo trong kỹ thuật chế tác đá và khai thác, luyện đồngtạo nên công cụ lao động, vũ khí, nhạc cụ…Sự phát triển của nghề luyện kim thúcđẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến chuyển biến sâu xa trong đờisống xã hội Cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lúa nước, hái lượm săn bắn,đánh cá, chăn nuôi, làm gốm, dệt vải Đặc biệt là chế tác kim loại, luyện kim làngành thủ công tác động to lớn đến kinh tế, xã hội của Nghệ An thời đó Con

Trang 7

người sống gắn bó quan hệ cộng đồng làng xóm, họ tổ chức hội hè, ca nhạc từtrống đồng, khèn, sáo, chuông, hát dân ca, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng…

Dưới triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nghệ Tĩnh là vùng biên giới phía Nam giápvới Chăm Pa Thời Lý Thái Tông năm (1030) lấy tên Nghệ An thay cho tên HoanChâu Thời Trần, Nghệ An đổi thành trấn Lâm An và Diễn Châu đổi thành trấnVọng Giang Trong thời kỳ độc lập này, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóacủa Nghệ An thấp hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng Thời Trần nơi đây cóhọc trò ưu tú tham gia thi Hội, thi Đình đỗ trạng nguyên và nhiều nhà văn hóa nổitiếng Năm 1279, xây dựng đền Cờn ở Quỳnh Lưu là kiến trúc tín ngưỡng dân gianđầu tiên của Nghệ An

Thế kỷ XV, Nghệ An là căn cứ chủ yếu hai cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi, TrầnQuý Khoáng, Nguyễn Vĩnh Lộc Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn,Thanh Hóa Năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn tiến vào đóng quân ở Nghệ An, nhờsức người quân Lam Sơn tiêu diệt toàn bộ quân địch và xây thành Lục Niên ở núiThiên Nhẫn làm căn cứ và thừa thắng tấn công ra Bắc giành được thắng lợi, cuốinăm 1427, Vương Thông rút quân về nước, quân Lam Sơn toàn thắng

Sang thế kỷ XVI đến XVIII, Nghệ An bước sang thời kỳ chiến tranh TrịnhMạc, Trịnh Nguyễn phải chịu nhiều hậu quả nặng nề giữa sự tranh chấp của cácthế lực phong kiến Quang Trung đã đánh bại hoàn toàn quân Thanh và có ý địnhdời đô ra Nghệ An đóng tại thành Phượng Hoàng Trung Đô cạnh núi Quyết vàsông Lam Sau khi Quang Trung mất, năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi ở PhúXuân đã dời thành từ Lam Thành-Phù Thạch về Yên Trường, Vĩnh Yên huyệnChân Lộc, nơi đây trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của trấn Nghệ

An Năm Minh Mệnh thứ 12(1831), trấn Nghệ An chia làm hai tỉnh là Nghệ An và

Hà Tĩnh Năm Tự Đức thứ 6(1853) bỏ tỉnh Hà Tĩnh cho nhập vào Nghệ An Thời

Trang 8

vua Hàm Nghi (1885-1888) Nghệ An tách ra 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Việc táchnhập diễn ra nhưng nhà Nguyễn luôn chọn Vinh là trung tâm của cả vùng Thời kỳnày văn hóa dân gian phát triển phong phú đa dạng, lễ hội với nhiều sinh hoạt nhưhát ví, hát dặm, đánh cờ, đánh đu

Nghệ An từ năm 1858 đến 1918, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhândân đã sôi sục nhiệt huyết đánh giặc bảo vệ tổ quốc

Từ năm 1919 đến 1930 sau chiến tranh thế giới lần thứ 1, Pháp tiến hànhkhai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô lớn ở Đông Dương Nghệ An là nơi ghidấu ấn đầu tiên của truyền thống đấu tranh cách mạng vô sản ở Việt Nam với caotrào Xô viết Nghệ tĩnh 1930 - 1931, mở đầu cho cao trào cách mạng vô sản trong

cả nước

Từ năm 1936 – 1945, các phong trào dân chủ phát triển, các cơ sở từ tỉnh,huyện cho đến xã khôi phục Năm 1945 công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chínhquyền đẩy mạnh Các cuộc khởi nghĩa xảy ra và giành thắng lợi Việt Minh thànhlập Ủy ban khởi nghĩa giành chính quyền, lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa vũtrang ở nhiều huyện xã Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong vòng 10 ngàyđập tan mọi xiềng xích, chính quyền cách mạng được thành lập

Sau khi giành được chính quyền, nhân dân Nghệ An đứng trước khó khănkinh tế suy kiệt, thiên tai, dịch bệnh, kẻ địch lăm le trở lại Nhân dân quyết diệtgiặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, bảo vệ chính quyền, xây dựng chế độ mới Vàtrở thành hậu phương vững chắc chi viện nhân lực cũng như lương thảo cho miềnNam góp phần làm nên thắng lợi Đông xuân 1953 – 1954 chấm dứt kháng chiếnchống Pháp Năm 1954, Nghệ An xây dựng lại cơ sở vật chất, củng cố an ninh địa

Trang 9

phương và biên giới Năm 1955, phát động cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác

xã, sản xuất nông nghiệp, cải tạo công thương, bộ mặt kinh tế có nhiều thay đổi…

Từ 1965 – 1975, trong chiến tranh chống phá hoại miền Bắc của đế quốc

Mỹ, Nghệ An là trọng điểm bị bắn phá ác liệt Nhân dân cả tỉnh chống trả, cùngnhau thi đua bắn trả máy bay, tàu chiến địch và hết sức chi viện cho miền Nam vàcùng nhân dân cả nước giành thắng lợi năm 1975 Ngày 27 – 12 – 1975, Nghệ An

và Hà Tĩnh hợp thành tỉnh Nghệ Tĩnh nhằm tạo thế và lực trong xây dựng chủnghĩa xã hội

Năm 1991, Nghệ An lại thành lập trở lại cho đến nay bộ mặt đô thị đã cónhiều thay đổi, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định, đời sống nhân dân cảithiện và được chú ý trên mọi mặt

1.1.2 Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên

*Vị trí địa lý: Tỉnh Nghệ An thuộc bắc trung bộ nước cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, toạ độ địa lý từ 18o33'10" đến 19o24'43" vĩ độ Bắc và từ103o52'53" đến 105o45'50" kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá PhíaNam giáp tỉnh Hà Tĩnh Phía Tây giáp nước bạn Lào Phía Đông giáp với biểnĐông với bờ biển dài 82 km

Tỉnh Nghệ An có 01 thành phố loại 1, 02 thị xã và 17 huyện: Thành phốVinh; Thị xã Cửa Lò; Thị xã Thái Hòa; 10 huyện miền núi: Thanh Chương, KỳSơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, QuỳHợp, Nghĩa Đàn; 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, NghiLộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành

Trang 10

Nghệ An có lợi thế đặc biệt về địa lý kinh tế và chính trị, vừa gắn liền lụcđịa, vừa thông thương với đại dương Nghệ An có vị trí giao thông thuận lợi, nằmtrên trục đường quốc lộ 1A nối liền Bắc – Nam Có giao thương đường bộ với Làoqua các cửa khẩu Thu hút khách du lịch từ thị trường Lào, Đông Bắc Thái Lan vàcác nước châu Á đến tham quan du lịch ở Việt Nam Có cảng biển, có giao thôngđường sông và đường hàng không, đường sắt Nằm trên hành lang kinh tế ĐôngTây nối liền Myanma – Thái Lan – Lào – Việt Nam – Biển Đông, là cửa ngõ chocác nước trong khu vực với Biển Đông và thế giới Cho nên tỉnh có vị trí giaothương, giao lưu kinh tế, văn hóa với mọi miền trong cả nước và nước ngoài Đây

là tiền đề quan trong để phát triển và mở rộng du lịch quốc tế

*Địa hình: Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa

dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từTây - Bắc xuống Đông - Nam Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ởhuyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, YênThành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanhhuyện Quỳnh Lưu) Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh

*Tài nguyên nước: Nghệ An có tài nguyên nước rất phong phú và dồi dào từ

nước ao, nước hồ, sông, suối, biển đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, nuôitrồng thủy hải sản cho con người Ngoài ra, Nghệ An còn có rất nhiều sông hồ aosuối kết hợp với cảnh quan tự nhiên tạo ra phong cảnh hữu tình có giá trị phục vụcho hoạt động du lịch và phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi cho du khách.Ngoài ra, còn có nguồn nước khoáng và suối nước nóng có lợi sức khỏe con ngườinhư ở Giang Sơn – Đô Lương, Bản Khang, suối Nước Mọc – Con Cuông…

Trang 11

Biển, bờ biển: Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40m trở vào nhìn

chung đáy biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồncát Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao

Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, đó là lợi thếcho việc phát triển ngành du lịch ở Nghệ An, và là điều kiện thuận lợi phát triểncác loại hình sản phẩm du lịch như du lịch thể thao mạo hiểm các trò chơi, lặn Bờbiển Nghệ An có chiều dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho việc vận tải biển,phát triển cảng biển và nghề làm muối (1000 ha) và nuôi trồng thuỷ hải sản

*Khí hậu - Thời tiết: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác

động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và giómùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Các hiện tượngthời tiết khác như chịu nhiều ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, trung bìnhmỗi năm 2 đến 3 cơn bão lớn, sức gió mạnh cấp 12 tập trung từ tháng 8 đến tháng

10, bão kèm mưa lớn nên gây lũ lụt làm thiệt hại tài sản và con người Hiện tượngsương muối trên địa bàn tương đối nhiều tập trung ở các vùng núi cao, trung duảnh hưởng mùa màng nhân dân Vào mùa khô nóng chịu ảnh hưởng gió lào nóngrát, hạn hán Nhìn chung khí hậu có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động du lịch và tạonên tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch

*Các loại sinh vật: Nghệ An có hệ động thực vật vô cùng đa dạng, hiện nay

còn lưu giữ rất nhiều loại động thực vật quý và hiếm như:

Tài nguyên thực vật: Phát hiện 1.193 loài thuộc 163 họ - 537 chi Trong đó

có 4 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng Các loài có trong sách đỏ bao gồm: Lim xanh,giáng hương, giổi, lát hoa

Trang 12

Tài nguyên rừng: Tổng diện tích rừng 745.557 ha, độ che phủ đạt 45,2%(theo số liệu năm 2004) Trữ lượng gỗ có trên 52 triệu m3 gồm nhiều loại gỗ quýnhư pơmu, samu, lim, sấu, đinh hương, sến Tre, nứa, mét: có trên 1 tỷ cây; ướctính có khoảng 226 loài dược liệu và nhiều lâm sản quý.

Tài nguyên động vật: Phát hiện 342 loài thuộc 91 họ - 27 bộ Trong số 342

loài trên, có 48 loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Ngoài ra các lớp khác chưa cónghiên cứu cụ thể

Tài nguyên biển: Có trên 267 loài cá thuộc 91 họ, trong đó có 62 loài có giátrị kinh tế cao, có thể chia thành 2 nhóm sau: Nhóm gần bờ có 121 Nhóm xa bờ

146 loài Trữ lượng cá biển trên 80.000 tấn, trong đó cá xa bờ khoảng 50.000 tấnchiếm gần 62%, cho phép khai thác từ 30.000-35.000 tấn, có nhiều loại cá có giátrị kinh tế cao như: cá chim; cá thu; cá hồng, nục Có 20 loài tôm thuộc 8 giống

và 6 họ trong đó có tôm he, tôm rảo, tôm bộp, tôm vàng, tôm sắt, tôm đất, tôm sú

và tôm hùm Ngoài ra, tài nguyên biển Nghệ An còn có một số loại hải sản quýkhác, đó là mực Mực phân bố khắp vùng biển và có nhiều loài, nhưng qua thực tếkhai thác một số loài có sản lượng cao là mực cơm, mực ống và mực nang

1.1.3 Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội

* Điều kiện kinh tế

Ngành công nghiệp và xây dựng: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp- xây

dựng tăng bình quân hàng năm là 18%, riêng giai đoạn 2001-2008 có mức tăngtrưởng 23%- 24,5%/năm (vượt chỉ tiêu đề ra) Cơ cấu ngành công nghiệp tiếp tụcchuyển dịch theo chiều hướng khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ lớn Nghệ An

có 4 khu công nghiệp với tổng diện tích 803,4 ha, bao gồm: khu công nghiệp BắcVinh, khu công nghiệp Nam Cấm, Khu công nghiệp Cửa Lò, Khu công nghiệpHoàng Mai 08 cụm công nghiệp nhỏ tại các huyện; có 2 khu công nghiệp đi vào

Trang 13

hoạt động và thu hút đầu tư 42 dự án trong và ngoài nước với tổng vốn đầu tư

12868 triệu USD; 35 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư hơn 1950 tỷđồng

Ngành nông – ngư – lâm nghiệp: Tổng giá trị sản xuất toàn ngành đạt tốc độ

tăng trưởng bình quân là 5,08%, cao hơn mức bình quân cả nước và vùng

Ngành chăn nuôi đạt tốc độ phát triển nhanh về số lượng và đàn, tỷ trọng giátrị sản xuất của chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất trong nông nghiệp năm 2005đạt 31,61%

Tốc độ che phủ rừng nhanh, công tác giao đất và khoán rừng ngày càng pháthuy có hiệu quả; tỷ lệ che phủ rừng đạt từ 47 – 52%

Thuỷ sản có giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 10,%/năm, vượt kếhoạch đề ra Phong trào nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng, chế biên thuỷ sản theohướng đa dạng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường

có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, sân bay và cảng biểnsớm hình thành phát triển và đang được đầu tư nâng cấp nên đã góp phần thuậntiện cho việc đi lại giữa các vùng tạo điều kiện giao lưu, phát triển kinh tế trên địabàn Hệ thống đường bộ nối liền quốc tế , các tỉnh, khu vực kinh tế và một sốđường liên thôn, liên xã đến các điểm du lịch, khu dân cư vừa tạo điều kiện chophát triển kinh tế xã hội, vừa góp phần đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và

Trang 14

khách du lịch Tuy nhiên, hệ thống giao thông đến các vùng sâu, vùng xa đang cònnhiều khó khăn, đặc biệt là các điểm du lịch miền núi phía Tây ảnh hưởng pháttriển du lịch.

* Điều kiện về văn hoá, xã hội

Dân số: 3.103.400 người (Sơ lược Trung bình năm 2007-Theo Tổng Cục Thốngkê)

Dân tộc: Việt (Kinh), Khơ Mú, Thổ, Thái, H'Mông, Ơ Đu với dân số trên mộttriệu người

Mật độ dân số trung bình: 188 người /km2

Về dân cư, dân tộc: Nghệ An có 20 đơn vị hành chính gồm TP Vinh, 02 thị

xã và 17 huyện Dân số Nghệ An là 3.003.170 người, tỷ lệ tăng dân số là 1,2%; sốngười trong độ tuổi lao động là 1.734.230 người (chiếm 59% dân số) trong đó laođộng thành thị là 192.009 người và lao động ở nông thôn là 1.190.345 người Mật

độ dân cư phân phối không đồng đều, tại thành phố Vinh có mật độ cao nhất là

3439 người/km2, huyện Tương Dương có mật độ thấp nhất là 26người/km2 Về cơcấu dân số, dân cư nông thôn chiếm 85%, khu vực đô thị chiếm khoảng 15%; có

06 dân tộc như: Kinh, Thái, H’mông, Thổ, Khơ Mú, Ơ Đu… Mỗi dân tộc có nhữngđặc điểm riêng về nét sinh hoạt văn hoá độc đáo, các dân tộc còn lưu giữ đượcnhiều giá trị văn hoá, phong tục tập quán và lễ hội quý hiếm

Văn hoá, thể thao: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá,

xây dựng thiết chế văn hoá, thông tin, thể thao đồng bộ được đẩy mạnh Có 32%làng bản, khối xóm đạt tiêu chuẩn làng văn hoá, 75% gia đình được công nhận làgia đình văn hóa Hệ thống thông tin tuyên truyền có hiệu quả, bám sát nhiệm vụchính trị Các công trình văn hoá được đầu tư nâng cấp Phong trào thể dục thể

Trang 15

thao được duy trì và phát triển; nhiều công trình thể thao được đầu tư nên đã thumột số thành tích đáng kể Các hoạt động thể dục thể thao góp phần quan trọngtrong thu hút một lượng khách trong và ngoài nước đến tham dự kết hợp với thamquan du lịch.

1.2 Tài nguyên văn hoá phi vật thể

1.2.1 Phong tục tập quán tiêu biểu

Nghệ An là vùng đất đai khô cằn, khí hậu khắc nghiệt, nắng gắt, gió lào, bão

lũ thiên tai, mùa đông thì lạnh cắt da cắt thịt…cho nên cuộc sống con người nơiđây khó khăn, vất vả hơn các vùng miền khác Nhưng cũng vì lý do đó nên conngười nơi đây sống lam lũ, chịu thương, chịu khó và có sức sống mãnh liệt vươnlên khó khăn Người Nghệ có tính cộng đồng cao, các phong tục tập quán tốt đẹpnhư: truyền thống yêu nước, truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống khoabảng

Vì điều kiện đời sống sinh hoạt khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, chịu ảnhhưởng thiên tai bão lụt, đất đai khô cằn, cuộc sống khó khăn cho nên người Nghệxưa có sự tích “cá gỗ” và khẩu vị ăn thường ăn mặn, cay, uống nước chè chát, tínhcách thì có phần “gàn” Trong sinh hoạt gia đình và mối quan hệ trong gia đìnhngười Nghệ giống phong tục miền Bắc, thường coi trọng nam giới, người chồng làchủ gia đình, có tính cách gia trưởng, phụ nữ đa số là lam lũ chịu thương chịu khóchăm sóc gia đình Quan hệ con người trong làng xóm, gia đình, họ hàng, tổ chức

xã hội có ảnh hưởng nhiều của Nho giáo Trong giao tiếp ứng xử người Nghệ coitrọng tính cộng đồng, hiếu khách, “làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau” Nhìn chungphong tục tập quán của người Nghệ An về tục cưới hỏi, ma chay, thờ phụng tổtiên, chăm sóc mồ mả ông bà tổ tiên, lễ tết, hội hè, truyền thống gia đình cũngtương tự những phong tục của người dân miền đồng bằng Bắc Bộ Người Nghệxưa ưa tính cộng đồng làng xã, tạo nên tổ chức cộng đồng chặt chẽ, mỗi làng xã làmột vùng kinh tế có đủ các thành phần như nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ

Trang 16

công nghiệp, giao thương buôn bán Tuy nhiên kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp,làng xã có tục lệ riêng, có thờ thành hoàng và những người anh hùng có công xâydựng bảo vệ tổ quốc, mỗi vùng có lễ hội riêng, nhân dân cùng nhau tụ tập tổ chứctham gia lễ hội và tập trung ở các đình làng, đền chùa miếu mạo, nhà thờ lớn củalàng Đến nay văn hóa làng xã vẫn có nhiều ảnh hưởng tới suy nghĩ và cuộc sốngcon người nơi đây nhưng với thời kinh tế mở cửa con người đang dần thay đổi đểthích nghi với cuộc sống hiện đại.

Một số huyện miền núi phía Tây Nghệ An với nhiều các dân tộc thiểu số anh

em cùng nhau sinh sống như: Thái, Khơ Mú, Mông, Ơ đu, Tày Poọng(Thổ)…tạonên nền văn hóa đa dạng về bản sắc từ các phong tục tập quán sinh hoạt hằng ngàycho đến các tập tục ma chay, cưới hỏi, kiến trúc nhà ở, trang phục, món ăn Các tộcngười có địa bàn cư trú riêng, sống theo nhiều làng bản dọc các thung lũng núi đồi,khe suối, có tập tục, quan niệm về tổ chức xã hội khác nhau, tiếng nói, chữ viết, tínngưỡng gắn liền với kho tàng văn học dân gian về các vị thần, về câu chuyện cuộcsống xa xưa của tổ tiên dân tộc họ đầy màu sắc sử thi và huyền bí

1.2.2 Lễ hội tiêu biểu

Lễ hội xưa là hình thức sinh hoạt văn hoá tập thể của nhân dân sau thời gianlao động vất vả Thông qua lễ hội có thể hiểu phong tục tập quán, đó là những hìnhthức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phản ánh nhiều mặt đời sống của mỗi dân tộc, lễ hộithường gắn liền với các di tích lịch sử văn hoá Đó cũng là dịp mọi người thể hiệnlòng nhớ ơn các vị anh hùng, tổ tiên đất nước, phần lễ có liên quan các nghi thứctôn giáo, tín ngưỡng hoặc hướng tới sự kiện văn hoá, lịch sử, kinh tế của địaphương đất nước…kết hợp với phần hội là những hoạt động vui chơi giải trí, biểudiễn văn hoá nghệ thuật của quần chúng nhân dân, hoạt động thể thao…

Nghệ An gắn đất văn vật, là khí thiêng của Đại Việt xưa, có nhiều dân tộcthiểu số, phong tục tập quán, lễ hội có nét truyền thống văn hoá lúa nước, mùamàng Nghệ An có 24 lễ hội chủ yều là về lịch sử, dân gian, tín ngưỡng, lễ hội dân

Trang 17

tộc, hát sắc bùa, sài sán, cầu mưa…Một số lễ hội do điều kiện khách quan khácnhau có thể mất đi, một số lễ hội mới lại ra đời theo yêu cầu của cuộc sống Các lễhội chính của Nghệ An:

Lễ hội Vua Mai Thúc Loan (Huyện Nam Đàn) - Ngày 14-16/01 (Âm lịch)

Lễ hội Đền Quả Sơn (Huyện Đô Lương) - Ngày 10-21/01 (Âm lịch)

Lễ hội Hang Bua (Huyện Quỳ Châu) - Ngày 21-23/01 (Âm lịch)

Lễ hội Đền Cờn (Huyện Quỳnh Lưu) - Ngày 19-21/01 (Âm lịch)

Lễ hội Đền Cuông (Huyện Diễn Châu) - Ngày 14-16/02 (Âm lịch)

Lễ hội Làng Sen (Kim Liên - Nam Đàn) - Ngày 18/5/2005(Dương lịch)

Lễ hội Uống nước nhớ nguồn (Anh Sơn ) - Ngày 25-27/7 (Dương lịch)

Lễ hội Sông nước Cửa Lò (Khai mạc mùa du lịch biển) - Ngày 30/4-1/5

Lễ hội Đền Hoàng Mười (Huyện Hưng Nguyên) - Ngày 10/10 (Âm lịch)

Lễ hội đền Hồng Sơn (Vinh) 20 tháng 08 âm lịch

Lễ hội đình Võ Liệt (Thanh Chương) tháng 1 - 2 âm lịch

Lễ hội đền Quả Sơn (Đô Lương 19-21 tháng giêng âm lich)

Lễ hội đền Bạch Mã (Thanh Liệt - Thanh Chương)

Lễ hội đền Nguyễn Xí (Nghi Lộc, 29-30 tháng 2 âm lịch)

Lễ hội rước Hến (Hưng Nguyên, 5-6 tháng hai âm lịch)

Lễ hội dòng họ Nguyễn Cảnh (Tràng Sơn - Đô Lương, 14-15/3 âm lịch)

Lễ hội dòng họ Hồ (Quỳnh Đôi-Quỳnh Lưu, 11-12 tháng 1 âm lịch)

Lễ hội Xăng khan (miền núi Nghệ An, 21-23 tháng 1 âm lịch)

Lễ hội làng Vạc (Nghĩa Đàn, 7-9 tháng 2 âm lịch)

Lễ hội Mai Hắc Đế (Nam Đàn, 13-15 tháng 1 âm lịch) …

Một số lễ hội truyền thống đã bị thất truyền như: Lễ hội đền vua Lê, lễ hội đềnBạch Mã, lễ hội Pi mờ, lễ hội cúng bản – cúng mường, lễ hội mừng cơm mới – nhàmới của một số dân tộc ít người miền Tây Nghệ An

Trang 18

Dân tộc Thái ở miền núi phía Tây Nghệ An có các lễ hội như lễ hội XăngKhan, ba hoặc bốn năm tổ chức một lần do “mo môn” tổ chức và chủ trì cúng tổ sưnghề mo môn và các vị thần linh của tổ sư mo môn …Hay các lễ hội như: Cầuphúc, đón sấm đầu xuân, tạ ơn hồn lúa, vua ruộng xên nhà, xên bản, xên mương…với các trò chơi dân gian như ném còn, nhảy sạp, gõ máng, uống rượu cần, bắn nỏ,hát dân ca…

Dân tộc Thổ có lễ hội đền Vạn – Cửa Rào ở huyện Tương Dương và một số lễhội cúng thành hoàng, trời đất Dân tộc H’Mông có các lễ hội như: hội chọi bò ở xãTam Hợp, huyện Tương Dương, lễ hội mừng năm mới, chợ phiên và cúng tổ tiên,trời đất với các trò chơi dân gian như đánh quay, chọi bò, thi bắn nỏ, hát dân canhư điệu cự Xia, Lù tố, Vàng hủa…, biểu diễn nhạc cụ như múa khèn của nam,múa ô của nữ

Dân tộc Khơ Mú có các lễ hội cầu mưa, lễ hội mừng cơm mới, lễ hội mừngnhà mới với các điệu hát Tơm cùng các điệu nhảy mừng nhà mới mô phỏng độngtác sản xuất, săn thú khá nổi tiếng nhưng hiện nay bị mai một

Dân tộc Ơ đu lễ cúng trời đất, đón sấm tại bản Xốp Pột và tổ chức các trò chơibắn nỏ, đánh quay, uống rượu, hát dân ca…

1.2.3 Các tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu

Nhân dân Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng có tục thờ thần và thờthành hoàng, đó là vị thần bảo vệ thành luỹ, là phạm trù thần linh bảo hộ thành trícủa phong kiến Trung Quốc đã du nhập vào nước ta, nhưng ở các miền quê ViệtNam các không có các thành trì mà chỉ có luỹ tre làng, thành hoàng làng là một vịthần được dân thờ sau đó được vua phong với chức danh thành hoàng Như vậythần được quan chức hoá để cai quản một thôn xã, phù hộ cho dân làng an khangthịnh vượng Đối với dân làng thần hay thành hoành là biểu hiện của lịch sử, phongtục cùng đạo đức, pháp luật, niềm hy vọng cả làng hoặc nhiều làng là thứ quyền uysiêu việt, là mối liên hệ vô hình nhưng vô cùng chặt chẽ, khiến cho cả làng thành

Trang 19

một cộng đồng có tổ chức, có hệ thống, gắn bó giữa các mối quan hệ trên dưới vềtuổi tác, trong ngoài (chính cư hay ngụ cư) giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.Trong giai đoạn Việt Nam bị đế quốc cai trị có du nhập tôn giáo tin lành thờChúa Giêsu, hiện nay tôn giáo này có mặt trên từng địa phương, ở đâu cũng cógiáo dân và nhà thờ cùng cha đạo truyền đạo Các nhà thờ ở đây có sự hỗ trợ tàichính từ các tổ chức nước ngoài trong việc xây dựng, tổ chức và truyền bá đạo.Tuy nhiên phật giáo vẫn là chính giáo tại Việt Nam và có nguồn gốc từ xa xưa, còncác dòng đạo này chỉ là du nhập không được xem là quốc đạo.

Ngoài ra ở các huyện miền núi có các tập tục thờ cúng của các đồng bào dântộc anh em như người Thái tin thờ thần, tổ tiên, một số loài chim, thú theo thuyếtvan vật hữu linh, thờ nhiều loại ma như ma rừng, ma suối, ma nhà…Ông mo làngười có quyền uy lớn nhất nắm giữ linh hồn con người

Dân tộc Thổ thờ nhân thần, phúc thần ở đền, miếu, thờ tổ tiên ở trong nhà vànhà thờ họ Dân tộc H’Mông tin thờ trời đất, thần linh và nhiều loại ma(ma trâu,

ma lợn, ma bếp, ma rừng, ma cửa…) theo thuyết vạn vật hữu linh Dân tộc Khơ

Mú tin thờ trời đất, thần linh, ma theo thuyết vạn vật hữu linh Họ chọn một số loàinhư chim sẻ(Dịt), họa mi(Lăng Tu), quốc(Khứt), hổ(RơVai), hươu nai(Ti oóc),chồn(Moong), khỉ(Hoa) và một số cây làm vật tổ và lấy đó làm họ của tộc mình,kiêng không ăn thịt và giết các vật tổ Đối với họ quan trọng nhất là ma nhà, sauđến ma bản và ma rẫy Đây là dân tộc có nhiều hủ tục kiêng khem nhất trong cácdân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An, điều đó ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống vàsức khỏe của con người

Dân tộc Ơ đu tin và thờ nhiều loại ma, thần theo thuyết vạn vật hữu linh, trong

đó ma nhà(ma Chủ) chi phối các hoạt động của con người, rồi đến ma ruộng, mamường, ma bản nhưng hiện nay các phong tục này đã mai một nhiều

1.2.4 Các làng nghề truyền thống

Trang 20

Để phát huy tinh thần dân tộc cũng như giữ gìn các giá trị văn hóa và pháttriển các làng nghề phục vụ cho nhu cầu đời sống mang lại hiệu quả kinh tế, tỉnh

có các chủ trương đường lối chính sách để phục dựng khuyến khích phát triển cáclàng nghề truyền thống Hiện nay sức sống của các làng nghề đang được xây dựng

và tương lai sẽ đưa vào phục vụ du lịch nhằm quảng bá sản phẩm du lịch địaphương, phát triển kinh tế Một số sản phẩm thủ công truyền thống như: đan nứatrúc ở Xuân Nha (Hưng Nguyên), rèn ở Nho Lâm (Diễn Châu), chạm trổ đá ở DiễnBình ( Diễn Châu), dệt ở Phường Lịch (Diễn Châu), gốm gia dụng bằng tay và bànxoan Viên Thành (Yên Thành), dệt thổ cẩm, thêu đan của đồng bào dân tộc Thái,Mường, H’mông…ở các huyện miền núi phía Tây Nghệ An

Làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ, làng mây tre đan, dệt thổ cẩm, làngđóng mới và sửa chữa tàu thuyền vỏ gỗ ở huyện Nghĩa Đàn, Nghi Lộc, QuỳnhLưu, Yên Thành, Con Cuông ,tạo ra các sản phẩm cho con người, cho khách dulịch và xuất khẩu ra nước ngoài Quan trọng nhất là lưu giữ những giá trị văn hóatruyền thống bản địa trên các sản phẩm, lưu giữ những giá trị của cộng đồng làngxóm…đó là nguồn tài nguyên quý giá mà chúng ta để lại cho con cháu đời sau.Theo thống kê một số làng nghề đủ tiêu chuẩn như:

Về ngành mây tre đan có làng Phong Anh, Phong Cảng, xã Nghi Phong,huyện Nghi Lộc Làng Thái Thọ, Thái Lộc, xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc LàngPhú Liên, xã Quỳnh Long, Huyện Nghi Lộc Làng Thọ Thành, xã Thọ Thành,huyện Yên Thành

Về ngành trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa có làng Kim Tân, huyện DiễnChâu Làng Ngộc Sơn, huyện Đô Lương Làng Khánh Sơn, Làng Xuân Lâm,huyện Nam Đàn Làng Tường Sơn, huyện Anh Sơn Làng Đăng Sơn, huyện ĐôLương

Ngành dệt thổ cẩm của các huyện miền núi phía tây Nghệ An có làng YênThành, xã Lục Dạ, huyện Con Cuông Làng Hoa Tiến, xã Châu Tiến, huyện Quỳ

Trang 21

Châu Làng Diềm, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp Làng Môn Sơn – Lục Dạ, xãChâu Tiến, huyện Quỳ Châu.

Đá mỹ nghệ có làng mỹ nghệ thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp

Đến Nghệ An du khách đều biết một số đặc sản như kẹo cu đơ được nấu bằngmật và lạc, lạc rang hạt đều thơm đổ vào bánh đa giòn có vị ngọt đậm ăn kèm vớinước chè rất ngon, các làng nghề nấu kẹo lạc tập trung ở ven sông Lam huyệnHưng Nguyên có từ thời Pháp thuộc và làng nghề nấu kẹo lạc ở huyện Diễn Châu.Ngoài ra còn có đặc sản tương bần ở thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn nổi tiếngcâu “Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn” đã có từ xa xưa, tương có hương vịriêng khác hẳn với các loại tương ở các vùng miền khác, là sản phẩm có thể dùnglàm quà cho du khách khi đến thăm quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh

Làng nghề phát triển giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung,lao động vùng biển nói riêng, góp phần giữ gìn và phát triển văn hoá truyền thống,đặc biệt đẩy nhanh quá trình đô thị hoá cho nông thôn để nông dân ly nông nhưngkhông ly hương và làm giàu trên chính quê hương mình Ngoài ra, làng nghề còn

có ý nghĩa nhân văn, đó là sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà cáckhu vực kinh tế khác không nhận

Một số làng nghề truyền thống xưa đã mất đi do thời gian, chiến tranh và sựthay đổi của cuộc sống, ngày nay có nhiều làng nghề xuất hiện đáp ứng nhu cầucủa cuộc sống và khôi phục những làng nghề xưa, đề cao giá trị cách lao động sảnxuất của ông cha xưa truyền lại cho con cháu ngày nay Cách Thành phố Vinh11km về phía Đông của thị xã Cửa Lò, là làng nghề nước mắm Nghi Hải Hiện naynước mắm Cửa Lò đang được quy hoạch thành làng nghề xây dựng thương hiệu để

du khách tham quan làng nghề và bán sản phẩm truyền thống đặc trưng văn hóa ẩmthực Nghệ An

1.2.5 Ẩm thực truyền thống tiêu biểu

Trang 22

Ẩm thực Nghệ An là những món ăn dân dã, dễ tìm trong dân gian, là nhữngmón ăn không cầu kỳ, không cao sang nhưng mang đậm chất dân Nghệ An mà chỉ

có nơi đây mới có mùi vị như vậy Có những loại thực phẩm được gọi bằng thổngữ, nghe rất xa lạ, mặc dù đó là những món bình thường Ngày nay, được chếbiến các món gỏi, rau sống, sa lát ăn có vị chua, ngọt rất lạ miệng Ngay trong cáchchế biến, nấu nướng, người Nghệ An nấu nướng một cách đơn giản, không cầu kỳ

"Chặt to kho mặn" là tác phong quen thuộc của các bà nội trợ Các thứ để gia giảm

họ chỉ thêm những gì dễ kiếm và bình dị nhất "Cá đồng nấu khế, cá bể nấu dưa",hoặc "Cá bống kho tiêu, cá thiều kho mỡ",chè xanh phải là chè cốt (bẻ cả lá vàcành vào nồi nấu chứ không phải chỉ lấy lá) Bát đem xới cơm hay múc nước phải

là loại bát to, gọi là "đọi nậy" Nhưng không phải ở vùng đất này không có nhữngmón ăn cao cấp Người Nghệ An cũng rất thành thạo cách chế biến các thức ăntrong những ngày có cỗ bàn, ngày lễ, tết Người ta biết chọn những thức ăn kết hợpvới nhau, thành một thứ mỹ vị, vừa có giá trị dinh dưỡng, vừa là loại hiếm hoiĐỏvàng son, ngon mật mỡ là chỉ các loại bánh tùng, bánh ngào, có một hương vị rấtriêng, khác với các loại bánh mật ở nơi khác Thịt chó Nghệ An cũng là món thíchkhẩu, và cũng có phần khác, đậm đà hơn ở nhiều nơi Có làm thịt phải là chó mỡ

Nghệ An cũng có những món ăn riêng, được đi vào ca dao, tục ngữ hay đivào cổ tích, đi vào kho tàng đặc sản dân tộc như ở nhiều nơi Điều đặc biệt lànhững món hàng địa phương như thế vẫn bộc lộ cái chân chất, cái thô sơ của miềnquê Nghệ An

Nghệ An có món tương Nam Đàn cũng được nhiều người biết đến trong câu

"Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn" Món nhút mới là món thực phẩm chỉ có ởNghệ An, cũng chỉ là loại dưa muối chua mà thôi, nhưng vật liệu chủ yếu là mítnon và xơ mít Nhút này phải chấm với tương Nam Đàn mới thực là đúng vị Bánhcuốn (người Nghệ An gọi là bánh mướt) bọc hai bên bằng hai lớp bánh đa (ngườiNghệ An gọi là bánh khô

Trang 23

Cái kẹo lạc (nấu bằng mật, chứ không nấu đường), trước đây được bao bằnggiấy, hoặc bằng lá, thì nay được bao bằng bánh tráng, không khó bóc, mà thêmphong vị Nước chè xanh đi với kẹo cu đơ, tạo nên một sự kết hợp tuyệt vời Vịngọt đậm của mật mía, vị bùi bùi của lạc , ăn xong miếng kẹo, chiêu một ngụmnước chè tươi cho đỡ ngán, vị chát của chè trở nên ngọt nhẹ nhàng, mát dịu, khiếncho người ta ăn kẹo mãi không thấy chán Bánh đa Đô Lương ngon nổi tiếng trongtỉnh bởi bánh dày, nhiều mè đen, có lẫn các loại gia vị, tỏi, hạt tiêu, nướng chín ăngiòn tan, bùi, thơm các loại gia vị hạt tiêu, tỏi.

Ở miền xuôi người Nghệ An thường uống rượu gạo, rượu nếp truyền thốngnhà tự nấu sau này một thời gian bị Nhà nước cấm nấu rượu lậu và sự du nhập cácloại rượi bia các loại nước giải khát Nhưng rượu gạo vẫn là loại ưa dùng nhất làtrong các tục lệ ma chay, cúng tế, hội hè, cưới hỏi…Còn ở miền ngược thì các dântộc thiểu số làm và uống rượu cần Sản vật của các huyện miền núi phía Tây Nghệ

An khá đa dạng chủ yếu là các sản vật gỗ quý, động vật và cây thuốc quý Hoa quả

có xoài Tương Dương khá nổi tiếng, quả được trồng trên đất huyện Tương Dương

có vị ngọt thanh riêng, mùi thơm đặc trưng, quả nhỏ gọn, vỏ không trơn bóng, khichín màu vàng ươm, thịt chắc mịn, khi quả xanh ăn rất giòn, mát mà không chuađược nhiều người ưa chuộng

1.2.6 Nghệ thuật diễn xướng tiêu biểu

Trong nghệ thuật diễn xướng tiêu biểu ở Nghệ An có các làn điệu dân ca là mộtloại hình văn học nghệ thuật được hình thành và tồn tại qua bao thế hệ, kho tàng ca

cổ của Nghệ An bao gồm ba thể loại hát chính là hò, ví, dặm hiện nay có các loạikhác là do “lai” qua các giao thoa giao lưu các văn hóa vùng miền khác như thểloại chèo, tuồng… Rất nhiều năm qua các nhà hoạt động trong lĩnh vực văn hóa đãdày công để khai thác kho tàng dân ca Nghệ An trong đời sống dân gian và đượcvăn bản hoá thành một số tập sách của các tác giả như Nguyễn Đổng Chi, Chung

Ngày đăng: 06/09/2021, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Kế Bính (2006), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học Khác
2. Nguyễn Đăng Duy (2001) Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Nxb Văn hoá Thông tin Khác
3. GS.TS. Nguyễn Văn Đính, PGS.TS. Trần Thị Minh Hòa (2004), Kinh tế du lịch, Nxb Lao động - xã hội Khác
4. Trần Kim Đôn (2009), Địa lý tỉnh Nghệ An, Nxb Thời đại Khác
5. Sở du lịch Nghệ An (2006), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An thời kỳ 2006 – 2020 Khác
6. Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng Long (2007), Tài nguyên du lịch, Nxb Giáo dục 7. Bùi Thị Hải Yến (2005), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Khác
8. Cửa Lò, Làng nghề nước mắm Nghi Hải-thị xã Cửa Lò, http:/cualo.vn. 11/11/2009 Khác
9. Văn hoá lễ hội, www.vietnam.tourism.com/nghe an Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w