Trong những năm gần đây, hòa chung với xu thế phát triển của đất n ớccác di tích lịch sử - văn hóa dần đợc phục hồi, tôn tạo và phát huy tác dụng,nhiều giá trị đợc bảo lu và đang ngày cà
Trang 1kế thừa và phát huy sáng tạo những giá trị văn hóa mới phù hợp với xu thếphát triển của thời đại Những di tích ấy sẽ trở nên có ý nghĩa hơn nếu chúng
ta đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, từng lớp văn hóa chứa đựng trong
nó để góp phần hiểu sâu hơn về cội nguồn dân tộc để gìn giữ bảo tồn nhữngtinh hoa văn hóa, truyền thống đạo đức góp phần xây dựng nền văn hóa ViệtNam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, từ đó kết hợp hài hòa giữa quá khứhiện tại và hớng tới tơng lai
Trong những năm gần đây, hòa chung với xu thế phát triển của đất n ớccác di tích lịch sử - văn hóa dần đợc phục hồi, tôn tạo và phát huy tác dụng,nhiều giá trị đợc bảo lu và đang ngày càng trở nên có ý nghĩa thiết thực hơn.Ngời ta thừa nhận rằng, chính những di tích lịch sử - văn hóa đã và đanggóp phần nhỏ bé vào sự hoàn thiện con ngời, đa con ngời tới một cuộc sốngtốt đẹp hơn, biết tôn trọng những thành quả vật chất và tinh thần của quákhứ, từ đó kế thừa khai thác phục vụ những mục đích hiện tại của con ngời
Một trong những vấn đề cấp bách của sự nghiệp xây dựng nền văn hóacũng nh đi cùng với nó là phát triển du lịch của n ớc ta là công tác bảo tồn,trung tu, khai thác những giá trị tốt đẹp của văn hóa và lịch sử ý thức đợctầm quan trọng của vấn đề này, là sinh viên năm thứ 4 chuyên ngành văn hóa
Trang 2- du lịch tôi nhận thức đợc rằng việc nghiên cứu tìm hiểu những di sản quýbáu của thế hệ trớc để lại là một trong những phơng thức giáo dục thế hệhôm nay, đồng thời để phát huy giá trị văn hóa quý báu đó vào sự nghiệpphát triển văn hóa thời đại mới cũng nh góp phần vào việc khai thác và pháttriển du lịch trong xu thế hội nhập Tôi chọn đề tài “Tỡm hiểu di tớch ĐềnCuụng để phục vụ cho phỏt triển du lịch Nghệ An” để nghiên cứu tìm hiểu
di tớch Đền Cuụng nhằm phát huy giá trị của nó để khai thác phục vụ pháttriển du lịch Nghệ An
2 Mục đớch nghiờn cứu.
Tiểu luận cú mục đớch tỡm hiểu lịch sử, sự ra đời và quỏ trỡnh tồn tại củachựa đền Cuụng, tỡm hiểu thực trạng của di tớch và đề xuất một số giải phỏp nhằmbảo tồn, tụn tạo và phỏt huy giỏ trị của di tớch phục vụ cho sự phỏt triển của du lịch
3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu.
Đối tượng nghiờn cứu chớnh là di tớch đền Cuụng
Phạm vi nghiờn cứu đặt di tớch đền Cuụng trong khụng gian lịch sử văn húa
xó Diễn An, huyện Diễn Chõu, tỉnh Nghệ An
4 Phương phỏp nghiờn cứu.
Để thực hiện đề tài này em đó sử dụng cỏc phương phỏp nghiờn cứu liờnngành: phương phỏp lịch sử, bảo tàng học, dõn tộc học, xó hội học, văn hoỏ dõngian…Kết hợp với cỏc phương phỏp nghiờn cứu đặc thự như khảo sỏt điền dó tạithực địa (quan sỏt, miờu tả, đo vẽ, chụp ảnh), hồi cố, phỏng vấn, kể chuyện… Vàtận dụng cỏc kiến thức vốn cú từ cỏc tài liệu, sỏch bỏo, tạp chớ viết về chựa chiềnViệt Nam, cỏc sỏch viết về phong tục lễ hội, cỏc sỏch viết về phong thuỷ, kiến trỳcnghệ thuật, hội họa…
Trang 3Bằng các phương pháp khác nhau để nghiên cứu đề tài này, em hi vọng sẽdựng được một bức tranh toàn cảnh về di tích đền Cuông và những giá trị văn hoátồn tại trong nó.
5 Bố cục của tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, tiểu luận đượcchia làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Đền Cuông
Chương 2: Những giá trị tiểu biểu của đền Cuông
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Cuông phục vụ cho dulịch
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH ĐỀN CUÔNG 1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
1.1.1 Lịch sử hình thành
Trang 4Theo sách “Diễn Châu – Đông Thành huyện thong chí” của Phan ThúcTrực thì núi Mộ Dạ thuộc địa phận 3 xã Hương Ái, Hương Quan, Tập Phúc thuộctổng Cao Xá Xưa gọi là núi Hạc cho đến khi An Dương Vương chạy về Nam, cầmcái móng vằn 7 tấc đi vào trong biển thì hiển linh đó cứ đêm đến toả ánh sang trênnúi, nhân dân bèn lập miếu thờ và đặt tên núi là Mộ Dạ.
Sách “Đông Thành huyện phong thổ ký” của Ngô Trí Hợp cũng nói tương
tự Như vậy là Đền Cuông có lẽ có từ khi có tên núi Mộ Dạ? Nhưng từ năm tháng,niên hiệu nào?
Trong bài văn bia “An Dương Vương tự bi ký”(1) có đoạn viết: “… lễ thờphụng vốn từ Thôn Phục Khát(?), lời truyền có nhiều phần khác nhau” Thôn PhúcKhát là thôn nào? Như vậy là ngay lúc bấy giờ, người ta cũng không biết được thờiđiểm cụ thể có Đền Cuông Tác giả bài văn bia khiêm tốn chỉ dám nói đến thờihiện tại
Về thời điểm có Đền Cuông, ta có thể đẩy lùi xa hơn nữa Cuối thế kỷ thứ
18, Hoàng Giáp Bùi Huy Bích (1744 -1818) làm Hiệp Trấn Nghệ An thời Lê –Trịnh, trong bài thơ “ Bạng cấp sa” (Bãi Sò) đã cho biết hồi đó đã có Đền Cuông:(1) Có cả bài ở mục “Văn thơ, câu đối Đền Cuông”
“Thứ Bạng cấp sa giả, kỳ lai hà tong? Nam tự Dạ sơn chi Thục Vương miếu,Bắc để phù ông Phùng…”
Trang 5“Đạo xuất Diễn Châu vô cẩm nhục;
Miếu tồn Mộ Dạ hữu kim bài”(2)
Dịch:
(Đường tới Diễn Châu không nệm gấm;
Lưng đồi Mộ Dạ dựng bia thờ)
Dưới thời nhà Nguyễn, năm Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức (1864), ĐềnCuông được trùng tu lại Hiện còn chữ khắc ở vì kẻ hồi phía Đông nhà bái đường Việc trùng tu ấy có sắc chỉ của nhà vua bắt dân miền ngược phải chọn gỗ tốtđốn và dân hàng huyện phải đưa gỗ về
Trung điện làm lại, bái đường làm them Hai hiệp thợ nổi tiếng ở Nam Đàn vàHưng Nguyên được mời về làm trong đó có Cả Sắt là một phó cả giỏi đã từng làm
ở kinh đô nhà vua
(1)Trích ở “Hoàng việt thi văn tuyển” của Bùi Huy Bích
(2)Trích ở “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan
Huy Chú
Trên cơ sở mẫu kiểu đã thống nhất, hai hiệp thợ chia nhau mỗi hiệp làm mộtnửa Hiệp Cả Sắt đinh ninh thế nào cũng giật giải vì hiệp bạn phần lớn thợ trẻ, phó
cả không có tiếng tăm gì lắm Nào ngờ đúng hạn, hai bên đều tuyên bố hoàn thành
và cùng dựng nhà một lúc Dựng đến gian giữa, mộng sàm bên này và bên kia đấuvào nhau khít rìn rịt Ban đốc công đánh giá đường net chạm trổ cũng như các mặtkhác thì thấy bên nào cũng như bên nào, nên đã chia đôi giải bằng nhau cho haibên Nghe nói Cả Sắt nhận nửa giải về tức mình ốm mà chết
Trang 6Tất cả chi phí cho công việc trùng tu Đền Cuông đều do một nguồn: tiềnquyên góp trong hàng tỉnh.
Lễ khánh thành trùng tu Đền Cuông, nhà vua ban thưởng một đồng tiềnvàng mang niên hiệu Tự Đức để làm bảo vật của đền
Niên hiệu Khải Định năm thứ nhất (1916), Đền Cuông lại được tu lý lạiphần xây nề bên ngoài và phần tô vẽ bên trong sơn thuốc đã phai nhạt Người đượcmời chọn là Cả Long, quê ở Trang Thân(1), một phó nề tài hoa nổi tiếng Cả Longdung rất ít thợ bạn và chỉ giao cho làm phần thô, còn phần kỹ thuật đều tự tay ônglàm lấy
Cả Long có tài làm việc kỹ thuật bằng hai tay Vẽ,xây, đắp hình nửa đền bênphải thì ông cầm bút, cầm bai bằng tay phải, ve , xây, đắp hình nửa đền bên trái thìông cầm bút, cầm bai bằng tay trái Tay ông làm trông như múa nên người xem rấtđông
(1) Nay thuộc xã Diễn Phúc
Lễ khánh thành tu lý Đền Cuông, Cả Long được thưởng mấy vác tiền đồng vàhang huyện may cho một bộ đồ màu đỏ để lạy Đức Thánh
Những sự việc trên đây, chúng tôi kể tỷ mỉ với mong muốn làm rõ long tônsung của nhân dân đối với vua Thục trong việc xây dựng ngôi đền thiêng liêng này.Tất cả những điều đó đều đã được ghi chép đầy đủ trong Ngọc phả của đền(1).Trong nhân dân, các bậc cha chú cũng thường kể lại cho con cháu nghe để mà biết Việc phụng sự tế lễ ở Đền Cuông đã thành khoán và được thực hiện rất nghiêmtúc Làm sai thì bị phạt, làm tốt thì được khen thưởng theo khoán ước
Trang 7Sách “Đông Thành huyên phong thổ ký” của Ngô Trí hợp viết: “Trải nhiều triều(Thần Đền Cuông – tác giả) được phong thượng đẳng phúc thần, lại ban hưởngquốc tế Hoàng triều (Tự Đức – tác giả) riêng tặng cho một đạo
chiếu văn, tôn xưng là Nam quốc đế vương, hang năm sai quan đến tế lạy khôngphải tuân theo lễ truy tặng như đối với bách thần”
Đền Cuông là đền quốc tế nhưng việc phụng sự, tổ chức tế lễ do tổng Cao Xá,phủ Diễn Châu đảm nhiệm
Đền Cuông còn là đền Thành Hoàng của bốn làng ở quanh đền: Tập Phúc naythuộc xã Diễn An, Cao Quan, Cao Ái, Yên Phụ nay thuộc xã Diễn Trung gọi chung
là Tứ thôn Tứ Thôn cũng có những kỳ tế riêng ở Đền Cuông
(1) Trong một đền lớn có hai cuốn sách “Ngọc phả” và “Thần phả” Hai cuốn
sách này của Đền Cuông nay không còn nữa
Ban phụng sự ở Đền Cuông có 35 người do Tứ Thôn cử ra vừa đảm đương tráchnhiệm của hang tổng và đảm đương trách nhiệm của Tứ Thôn Phân nhiệm trongban như sau:
- 3 chủ tế trong đó một người trưởng điều hành mọi công việc trong ban;
- 24 từ đường luân phiên nhau lo việc hương khói ngày đêm ở đền;
- 4 tri đồ giữ đồ đạc của đền;
- 4 tri điện trông nom điện
Những kỳ đại tế, ban phụng sự phải đảm nhiệm mọi công việc, điều hành cáctrai tráng và những người các làng cử về phục vụ
Trang 8Mỗi người trong ban phụng sự được cày 3 sào ruộng tế điền, hoa lợi hàng nămtrích một phần để biện lễ cúng ở điền vào những ngày sóc vọng và tuần tiết.
Về tài sản lấy hoa lợi phục vụ cho tế lễ, đền còn có cả một rừng cây ở núi Mộ
Dạ và gần hai chục mẫu ruộng tế điền ở các nơi sau đây:
- 10 mẫu ở đồng Hàng Tổng thuộc làng Xuân Dương nay thuộc xã DiễnPhú;
- 5 mẫu ở đồng Bục Bục thuộc làng Tập Phúc;
- Khoảng 4,5 mẫu ở các làng Yên Lãng nay thuộc xã Diễn Thành, các làng
Lý Nhân, Hữu Bằng nay thuộc xã Diễn Ngọc
Nơi nào cày ruộng thì đến kỳ tế phải làm xôi đưa đến Tiền mua trâu bò, lợn
gà để mổ và sắm các lễ vật khác lấy ở khoản tiền bán củi rừng Mộ Dạ (chỉđược đốn cành chứ không được chặt cây) Công việc này do làng Tập Phúcđảm nhiệm dưới sự giám sát của ban phụng sự
1.1.2 Quá trình phát triển
Đền Cuông được xây dựng vào cuối thời hậu Lê, Triều Nguyễn cho tu sửa
và mở rộng vào các năm: 1822,1864,1897 Sau ngày hoà bình lập lại đảng và nhànước quan tâm tu sửa nhiều lần vào các năm 1962 – 1963,1977-1978 Ngày16/12/1996,UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số 4570/QD-UB phê duyệt dự ánđầu tư tôn tạo và nâng cấp khu di tích đền Cuông va được Uỷ ban UNESSCO tàitrợ 10.000 USD , Bộ VHTT hỗ trợ 200.000.000 đồng tu sửa di tích và phục hồi lễhội đền Cuông
Ngày 05 tháng 3 năm 1999,UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số788/QĐ-UBKH và Quyết định số 793/QĐ-UB về phê duyệt quy hoạch chi tiết khu
Trang 9du lịch lịch sử văn hóa đền Cuông – Cửa Hiền và quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế - xã hội vùng cầu Cấm – đền Cuông thời kỳ 1996 – 2010 do Trung tâmKhoa học Công nghệ và Kiến trúc Hà Nội – Hội Kiến trúc sư Việt Nam lập Với
Hàng loạt những động thái thể hiện sự quan tâm sát sao từ xưa đến nay củacác cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, ta có thể thấy tầm quan trọngđặc biệt về mặt tâm linh cũng như về lịch sử - văn hóa – xã hội của đền Cuông đốivới không chỉ nhân dân địa phương mà còn đối với nhân dân cả nước
Chương 2
Trang 10NHỮNG GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA DI TÍCH ĐỀN CUÔNG 2.1 Giá trị về mặt cảnh quan.
Đền Cuông – một ngôi đền nguy nga ở lưng chừng núi Mộ Dạ, kề đườngthiên lý, nay là đường quốc lộ I Một công trình kiến trúc cổ ở giữa một khungcảnh thiên nhiên tuyệt đẹp Rừng cây bốn mùa xanh tươi, chim muông muôn thứ,đặc biệt là chim Cuông với bộ lông lộng lẫy như gấm thêu vậy
Mộ Dạ là một ngọn núi của dãy Đại Hải Sau núi là biển cả mênh mông ngàyđêm song vỗ rì rào Và cứ mỗi ban mai, vầng dương từ biển biếc nhô lên phủ chocảnh vật một hào quang rực rỡ
Địa thế Đền Cuông rất đẹp, mang dáng một con phượng ngậm thư – phụng hàmthư
Đền Cuông được xếp một trong tám cảnh đẹp của đất Đông Thành – ĐôngThành bát cảnh
(1) Cảnh ngày xưa
(2) Tám cảnh đẹp ở Đông Thành là:
1 Diễn Thành thanh bảo tức thành Phủ Diễn cũ;
2 Cao Xá Long Cương tức dải cồn ở Cao Xá;
3 Xíu lĩnh xuân vân còn có tên Côn Sơn;
4 Phùng giang thu nguyệt: trăng thu trên sông Bùng;
5 Dạ sơn linh tích tức núi Mộ Dạ nơi đặt Đền Cuông;
6 Bích hải quy phàm: thuyền về trên biển Thanh Bích;
Trang 117 Diệu ốc lien đàm: Đầm sen ở Diệu ốc;
8 Thiên uy thiết cảng tức kêng Sắt ngày nay
2.2 Giá trị về mặt kiến trúc
Sân dưới Đền Cuông chiếm một khoảng chân núi Mộ Dạ san bằng, cao hơnmặt đường thiên lý khoảng một mét Cộng vào có hai cột nanh đồ sộ, đỉnh nắpnghê chầu gắn mảnh sứ cổ Cách cộng khoảng mười mét ngay chính giũa là tácmôn, mặt ngoài đắp một con hổ chống đôi chân trước nhìn ra đường Nếu ngườivào đền đông, đến đây rẽ ra hai phía
Đôi câu đối ở mặt ngoài cột nanh của Hoàng Giáp
Đặng Văn Thụy như sau:
Vạn cổ anh linh khai cố quốc;
Cửu trùng cung điện đối Cao Sơn
Dịch:
( Ngàn năm trước đấng anh linh khai nước cổ Chín tầng cung điện sánh CaoSơn)
Ở giữa sân là bồn hoa Lối đi hai bên dẫn tới cổng thứ hai, cũng cột nanh đồ sộ
có voi ngựa đắp đứng chầu hai bên
Chỉ cách cổng mấy bước, ngay chính giữa là nhà bia, kiến trúc cổ điện rất mỹthuật Bia đá cao 1m47 do Phó bảng Phạm Hy Lượng quê ở Thọ Xương, Hà Nội,lúc bấy giờ làm quan ở Nghệ An soạn niên hiệu Tự Đức năm Giáp Tuất ( 1874 ) Đứng dưới nhìn lên, cổng tam quan cao vời vợi Cổng tam quan cổ kính, trên
có ba lầu, lầu giữa cao hơn một bậc, rêu phong phủ một lớp áothời gian dày
Trang 12Những cây si nẩy mầm từ các kẽ nẻ bám rễ leo lên tận lầu thượng làm tăng them
Nhưng quanh ta còn biết bao nhiêu là câu đối làm ta choáng ngợp, mỗi cột nanh
có từ một đến hai, ba câu đối, nếu ai hiểu được mà ngẫm nghĩ thì thật là thú vị Qua cổng tam quan vào sân thượng hai bên là tả vu và hữu vu Bái đường ởgiữa một ngôi nhà ba gian đồ sộ, bốn góc mái đầu rồng nghển lên trời; đại bờ,đường giải đều đắp trang trí rồng phượng
Mái đường mặt tiền để ngỏ Nhà toàn gỗ lim chạm trổ tinh xảo, cột to, cột nàocũng có câu đối khắc vào gỗ sơn son thiếp vàng
Gian nào trên xà cũng có hoành phi Hoành phi giữa niên hiệu Tự Đức – TânHợi (1851) có bốn chữ đại tự:
(1)Tác giả Đăng Văn Thụy (1858-1936) đỗ Hoàng giáp khoa Giáp Thìn, niênhiệu Thành Thái (1904) đợt tu lý năm 1975, vế một câu đối khắc sai hiệu như sau:
“Văn cổ văn minh khai tổ quốc”
Trang 13“Viêm phương triệu tích”
(Phương nam dựng sự tích)
Bức hoành phi do đại thần Phạm Phú Thủ(1) bái phụng; các béc hoành phi đều
do các vị quan trong hạt bái tặng Gian giữa tận cùng đặt một tương án to cao,chiếc lư đồng luôn luôn nghi ngút khói Hai hạc gỗ cao quá đầu người đứng trênlưng rùa đá chầu hai bên
Hai gian bên, hai ngựa gỗ như ngựa thật, yên bành thêu kim tuyến lộng lẫy(nay không còn nữa)
Trước thềm, một dãy chậu cảnh bằng đá, chậu nào cũng có khắc tên ngườicúng tặng Cây cảnh được chăm bón tốt, hoa lá xanh tươi
Có một điều khác lạ là hương án ở bái đường đặt tên ván Nếu lật ván lên sẽthấy ở dưới là một cái hố chữ nhật sâu gần hai mét và gọi là giếng Ngọc
Tương truyền rằng ngày xưa đây là một cái giếng tự nhiên rất sâu thông ramãi ngoài biển, nhưng nước ngọt trong veo Về sau dựng nhà bái đường đầu thầnkhất âm dương xin lấp nhưng vẫn còn giữ lại vết tích cũ
Trung điện bề thế - một ngôi nhà trùng diêm tám mái, kề sát với bái đường,cửa sơn đó luôn luôn đóng kín, từ đường hang ngày vào thắp hương phải qua cửanách
Trung điện cũng toàn bằng gỗ lim, rồng phượng chạm nổi tinh xảo, cột vẽrồng, và cột nào cũng có câu đối
Bức hoành phi treo ở gian giữa, ba chữ đại tự thiếp
Vàng lấp lánh:
Trang 14(1) Quê Điền Phước, Quảng Nam, tiến sĩ Thượng thư Bộ hình, Hiệp biện Đại
học sĩ
“ Phối Cao Sơn”
(Sánh với núi cao)
Ban thờ kê ở giữa rất cao, trước có hương án Đây là nơi thờ tướng quân Cao
Lỗ, có tượng gỗ để ở trên
Gian hai bên cũng bày bàn thờ nhưng không có bài vị Nay đã thay thế để haikiệu rồng(1) Cờ, biển gươm, giáo, thương, trượng, bát xà mâu…cắm giá thành haidãy dọc ở hai bên Chiêng trống các loại cũng đều treo giá Trống đại mặt hơn mộtmét đường kính sơn đỏ chỉ được đánh khi có việc hệ trọng
Mặt hậu trung điện có hai cửa nách ra sân thượng tới thượng điện – nơi thờthần Thục An Dương Vương
Trước điện có ba chữ đại tự:
“Phối cao thiên”
(Sánh với trời cao)
Mặt tiền thượng điện cửa sơn đỏ luôn luôn đóng kín, từ đường vào thắp hươngcũng phải qua cửa nách
Cung thờ Thần An Dương Vương bốn mặt ghép ván, cửa ở mặt tiền có khoá.Mặt dưới mái nhà cũng ốp ván, sơn đỏ, vẽ trang trí
Long ngai to và cao tận mái nhà, phủ vải điều, bài vị như sau:
“Đông hải quốc gia thống quản đế vương thái Mộ Dạ tôn chư duệ hiệu thượngthượng thượng đẳng tối linh thánh đế đại vương ngự vị”
Trang 15(1)Trước đây kiệu ở đình làng Hai nơi đây bày hai bàn thờ không có bài vị dànhcho các tướng lĩnh dưới quyền.
Tượng đồng cửa ngài để ngay phía trước như một con người thật mặc triềuphục, tay đặt đầu gối uy phong lẫm liệt Lại có cả cung, kiếm, trống lệnh nữa Hai cọc nến bằng đồng toả ánh sang lung linh Đứng trước bàn thờ vén bứctrứoc gẫm thì ai cũng tưởng như mình đang đứng trước Thần Thục An DươngVương Khói trầm từ chiếc lư đồng to nghi ngút toả lên, gieo vào lòng người mộtcảm giác linh thiêng vô hạn
Bức hoành phi treo trên cao có ba chữ đại tự:
“Tế như tại”
(Tế Thần như còn ở đây)
Cung thờ Thần Thục An Dương Vương là một cõi tĩnh mịch
Đền Cuông thật là quy mô và xây dựng ở một vị trí rất đẹp, đất phụng hàm thư( chim phượng ngậm thư)
Từ dưới lên trên, cả khu đền đều có thành xây bao bọc, ngăn cách với rừng câybên ngoài Phía sau núi Mộ Dạ, ở một nơi hẻo lánh, có một phiến đá tự nhiênvuông vắn, bằng phẳng Ban đêm, chẳng ai dám lui tới Ấy thế mà có đêm vẫnnghe có tiếng cười, tiếng lách cách như tiếng quân cờ ngà chập vào bàn Có ngườinói rằng đêm hôm đó thần Kim Quy ở biển Đông lên đánh cờ với Thần An DươngVương
Cách Đền Cuông khoảng dăm chục mét, dưới chân núi Mộ Dạ, có một cáimiếu nhỏ Đó là miếu thờ công chúa Mỵ Châu Miếu đó trong kháng chiến bị bomgiặc đánh tan
Trang 162.3 Các nghi lễ chính trong năm của đền Cuông
Ở đền Cuông không tổ chức lễ hội như ở Cổ Loa mà chỉ có lễ tế thần; mỗinăm có một kỳ đại tế gọi là quốc tế vào ngày 15 tháng 2 âm lịch Lễ tế thần phải đủtam sinh (trâu hoặc bò, lợn và gà)
Kỳ đại tế hàng tổng rất long trọng Khu đền rợp cờ, lọng, tàn Một lá cờ đại
to phấp phới trên đỉnh cổng tam quan Trống chiêng vang dậy cả khu rừng Người
về dự lễ, người đi xem đủ lứa tuổi nườm nượp khắp đường Từ chiều ngày 14 đãbắt đầu lễ cáo yết Kiệu rước từ làng Cao Ái về
Tương truyền rằng ngày xưa, rất xưa, một buổi sáng dân chài ra biển thấymột chiếc kiệu từ biển Đông trôi vào cửa Hiền(1) Sóng đẩy kiệu lên bờ Dân cáclàng ven đấy ra khiêng, nhưng không sao khiêng nổi Nhưng đến khi dân làng Cao
Ái ra khiêng thì khiêng nổi Và kiệu được rước về đình làng Đó là hồn thiêng củavua Thục từ biển Đông về nhập điện Ngài đã chọn dân Cao Ái rước kiệu về Từtruyền thuyết đó về sau mới có lễ rước kiệu như đã nói ở trên
Sáng hôm sau thì làng Tập Phúc rước cỗ lên đền Lễ rước cỗ cũng khôngkém phần long trọng, có đủ cờ, trống, bát âm… Cỗ những mâm thịt ở trên có chiếcthủ được để
Trên án thư rước có lọng che
(1) Nay đã bị lấp thuộc địa phận xã Diễn Trung
Những người được về dự tế ở đền là các vị hưu quan văn võ trong tổng Cao Xá
và các kỳ lão từ 80 tuổi trở lên Quan tri phủ Diễn Châu có lễ riêng về tế thần vàcùng dự Các đại quan và đại khoa ở các tổng khác là khách mời
Trang 17Chủ tế là quan Tổng Đốc An – Tĩnh Nhưng thương các quan tỉnh chỉ về dựcòn chủ tế thì mời các đại thần, đại khoa hưu trí trong hạt làm Vì chứ tước vàkhoa bảng của các vị ấy có khi còn cao hơn cả chức tước, khoa bảng của quanTổng Đốc Cách đây không xa lắm, ta còn thấy Đông Các Đại Học sĩ Cao XuânDục, Tế Tửu Hoàng Giáp Đặng Văn Thụy nhiều lần làm chủ tế ở Đền Cuôngnhững năm các vị về hưu ở quê nhà.
Nghi thức tế lễ ở Đền Cuông cũng là nghi thức tế lễ cổ truyền như ở các nơikhác, nhưng các vị về tế lễ ở Đền Cuông đều là hưu quan và quan đương chức mặctriều phục, người nào cũng áo mũ cân đai làm cho buổi tế thần càng uy nghiêmkhông khác gì một buổi thiết triều trước cung điện nhà vua vậy!
Ngày 16 tháng 2, Tứ Thôn lại tiếp tục tế lễ ở Đền Cuông
Tứ Thôn còn một kỳ tế nữa vào 15 tháng 6 âm lịch
Trong các kỳ tế lễ, ban đêm đều có hát tuồng, hát chèo, đốt đèn bong, đènhoa thật là vui vẻ
Ngoài những kỳ tế lễ đã nói trên và những ngày sóc vọng tuần tiết do banphụng sự cúng lễ, hàng ngày vẫn có người đến tế thần cầu ban phúc Nhưng lễ cầulớn nhất là lễ cầu đảo
Cầu đảo là cầu Thần lên tâu với trời xin mưa
Những năm hạn hán to, đồng điền khô nẻ không cày cấy được nên nhân dânphải “lạy trời mưa xuống” Ở Đền Cuông, trước hết làng Cao Ái, Cao Quan, YênPhụ, Tập Phúc làm lễ cầu đảo trước Nếu không có kết quả thì cả tổng Cao Xá và
có khi cả huyện cùng làm lễ cầu đảo
Trang 18Lễ cầu đảo ở Đền Cuông: Trước đền dựng đàn tế rất cao, ở trên khói hươngnghi ngút Đền cửa rộng mở, đền nến sáng trưng Tiếng trống đại thiêng liêngchậm rãi vang lên như cho thấu tận thiên đình Chủ lễ rạp đầu vái lạy đọc sớ tâulên trời xin mưa Tiếp đó đại diện các thôn xã lần lượt vái lạy.
Ở ngoài, trong rừng cây trước Đền Cuông, kiệu thần các xã rước đến sắpthành hàng Thần các làng xã được rước đến để cùng hộ lời cầu xin
Cờ lọng rợp trời Quang cảnh lễ cầu đảo thật là uy nghi và thiêng liêng
Lễ cầu đảo kéo dài ít nhất một hai ngày và có khi hàng tuần Đã có lúc đanglàm lễ cầu thì bỗng trời nổi vân vũ và đổ mưa Chủ lễ phải vội vàng làm lễ tạ Cáclàng, các xã rước hữu thần của làng mình về dưới trời mưa mà long vô cùng phấnkhởi
Thần thục An Dương Vương là một vị Thánh Đế “bảo quốc hộ dân” như đãnói lên trong các câu đối khắc ở đền
Cách mạng tháng Tám thành công Đền Cuông được Nhà nước xếp hạng ditích lịch sử
Trải qua những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đền Cuông khôngcòn giữ được vẻ xưa, đặc biệt là phần bên trong Năm 1975, hai tỉnh Nghệ An và
Hà Tĩnh sáp nhập, 1976 Ty Văn hoá Thông tin đã đứng ra tổ chức tu lý lại
Trong hoàn cảnh lịch sử mới, việc tế lễ hàng năm như trước đây không thể nàothực hiện được, vì các đơn vị làng, xã tổng trước đây không còn nữa và quyền sởhữu ruộng đất cũng đã đổi thay Tuy nhiên ở Đền Cuông vẫn có từ đường để loviệc hương khói
Trang 19Mùa xuân năm Quý Dậu (1993), Huyện uỷ và Uỷ ban nhân dân huyện DiễnChâu đã quyết định lấy ngày 15 tháng 2 âm lịch tổ chức lễ hội Đền Cuông hàngnăm Phòng Văn hoá – Thể dục thể thao Diễn Châu phối hợp với Đảng uỷ vàChính quyền xã Diễn An thành lập ban tổ chức.
Bước đầu, ban tổ chức cũng rất khiêm tốn chưa dám tuyên truyền rộng rãi.Nào ngờ đến ngày, người lữ xứ, không những trong huyện mà còn có cả ngoạihuyện, ngoại tỉnh kéo về trẩy hội kể đến hàng vạn Bãi cỏ, sân thượng, sân hạ củađền, đường quốc lộ 1…người đứng chen chân
Muốn vào đền để thắp hương thật là vất vả Và có người không vào được phảiđứng ở ngoài cắm hương ở dưới chân tượng voi, tượng ngựa… trước cổng
Các vị lãnh đạo ở huyện cũng như các cán bộ và đại diện các huyện bạn về dự
lễ đền rất lấy làm ngạc nhiên Thì ra cách đây một thế kỷ rưỡi, Phạm Hy Lượng đãviết trong bài văn bia khắc vào đá ở đền: “…sở dĩ chiêm chu đạo nhi bất cấm kháinhiên dạ” (… Cho nên cũng tùy lòng tín ngưỡng của nhân dân chứ không ngăncấm được)
Lập đền thờ, cúng tế thần thục An Dương Vương, tổ chức lễ hội là một sựthể hiện tấm lòng ngưỡng mộ của nhân dân đối với vua Thục, người đã công khaisáng một quốc gia thống nhất độc lập sơ khai: nước Âu Lạc, mặc dù về sau đóphạm sai lầm mắc âm mưu địch
Chương 3 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐỀN CUÔNG
NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH NGHỆ AN
Trang 203.1 Thực trạng bảo tồn di tớch
3.1.1 Thực trạng bảo tồn di tích
Về cơ bản, toàn bộ diện tích khu vực bảo vệ của di tích đ ợc bảo vệnguyên vẹn, không có sự xâm hại lấn chiếm Phần mái lợp bằng rơm bị mụcnát do thời tiết Một số hiện vật bằng gỗ bị mối mọt, đặc biệt là 5 hiện vậtnguyên bản
3.1.2 Thực trạng phát triển du lịch tại khu di tích
Nhìn chung, di tớch Đền Cuụng đang nằm ở dạng tiềm năng cha thực
sự phát triển du lịch, do cha kết hợp đợc giá trị văn hoá lịch sử với giá trịtham quan của di tích Vì vậy du lịch ở đây cha thực sự là thế mạnh
Công tác giới thiệu, quảng bá đến du khách ch a sâu rộng, ít ngời biết
đến Mặt khác việc đầu t cơ sở vật chất phục vụ du lịch tại di tích còn nhiềuhạn chế Hệ thống cơ sở hạ tầng đã đợc đầu t nâng cấp, song do nằm ở vùngnông thôn nên cha hoàn chỉnh và hiện đại Khuôn viên di tích cha thực sự ấntợng du khách do các dự án quy hoạch du lịch ch a hoàn thiện Cha có cán bộchuyên môn về mảng dịch vụ du lịch Đối t ợng khách còn rất ít, chủ yếu các
đoàn tham quan là Cựu chiến binh, học sinh, sinh viên
3.1.3 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tớch Đền Cuụng
Để gìn giữ những giá trị truyền thống còn l u giữ đợc tại các di tích,việc đầu t tu bổ di tích ngày càng nhận đợc sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc
và toàn xã hội Nhiều di tích đã đợc tu bổ tôn tạo và đang dần trở thànhnhững sản phẩm du lịch - văn hóa hoàn chỉnh, có sức hấp dẫn khách thamquan
Từ lúc đợc phục chế tạo dựng thành khu di tích lịch sử đến nay đã diễn
ra nhiều cuộc hội thảo với nhiều đề xuất kiến nghị khác nhau xung quanhvấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tớch đền Cuụng Để thực hiện đợc vấn
đề đó, trớc hết phải xác định đây là trách nhiệm không chỉ của chính quyền
địa phơng và các Sở ban ngành mà còn là của toàn xã hội
Trang 21Việc bảo tồn và khai thác di tớch đền Cuụng để phục vụ nhu cầu về vănhóa - du lịch cần phải quy hoạch lại không gian và tái tạo lại môi tr ờng lịch
sử của di tích
Tổ chức tọa đàm, hội thảo để thống nhất những biện pháp cách thứcbảo tồn và phát triển khu di tích Phối hợp đồng bộ giữa các ngành các cấptrong công tác quản lý di tích Kêu gọi nguồn kinh phí đầu t tài trợ từ các tổchức, cá nhân tạo nguồn ngân sách để trung tu tôn tạo
Thờng xuyên kiểm tra độ xuống cấp của di tích để có biện pháp tu sửakịp thời nhng không làm biến dạng yếu tố gốc của di tích nhằm giữ nguyêngiá trị lịch sử của nó Không để các hoạt động sản xuất sinh hoạt của ng ờidân làm ảnh hởng đến cảnh quan môi trờng di tích Cần ban hành một bảnquy chế phân cấp trách nhiệm quản lý, trùng tu tôn tạo và phát huy giá trịcủa di tích
Đầu t cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cho di tích, nâng cấp hệthống cơ sở hạ tầng đồng thời đào tạo nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực
du lịch bằng việc nâng cao cả về số lợng lẫn chất lợng đội ngũ cán bộchuyên môn ngành văn hóa du lịch
Xúc tiến quảng bỏ di tớch Đền Cuụng trên các phơng tiện thông tin đạichúng bằng việc đa những hinh ảnh ấn tợng, sống động và chân thực của khu
di tích lên các trang báo, băng rôn, panô…