1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài liệu Mở rộng đô thị: Những vấn đề cần quan tâm pptx

5 469 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mở rộng Đô Thị: Những Vấn Đề Cần Quan Tâm
Tác giả ThS. Nguyễn Anh Khoa
Trường học Viện Kinh tế Xây dựng
Chuyên ngành Kinh tế đô thị
Thể loại Bài thuyết trình
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 96,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau và chưa có tổng kết nào phù hợp để áp dụng cho những thành phố đang phát triển, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là vấn đề mở rộng đô thị vừa

Trang 1

Mở rộng đô thị

Mở rộng đô thị

những vấn đề cần quan tâm

ThS Nguyễn Anh Khoa

Viện Kinh tế Xõy dựng

õn số tại cỏc thành phố lớn của cỏc

nước đang phỏt triển dự tớnh sẽ tăng

gấp đụi trong vũng 30 năm tới, từ

khoảng 2 tỷ người trong năm 2000 tới xấp xỉ

4 tỷ người trong năm 2030 Theo ước tớnh

ban đầu của ngõn hàng thế giới (WB), những

thành phố cú quy mụ trờn 100.000 dõn trong

năm 2000 chứa khoảng 1,7 tỷ người và tổng

diện tớch xõy dựng (tớnh trung bỡnh mật độ

khoảng 8000 người/km2) sẽ cần 200,000 km2

Nếu mật độ trung bỡnh tiếp tục giảm với tỷ lệ

hàng năm là 1,7% (tỷ lệ trong suốt cả thập kỷ

qua), diện tớch xõy dựng cần thiết của cỏc

thành phố đang phỏt triển đến năm 2030 sẽ

tăng lờn đến hơn 600.000 km2 Núi một cỏch

khỏc, đến 2030, những thành phố này sẽ mở

rộng thờm 3 lần diện tớch địa hạt của mỡnh,

làm biến đổi đỏng kể tớnh chất của nhiều

vựng đất

Toàn bộ diện tớch xõy dựng của đụ thị

toàn thế giới tại năm 2000 là khoảng 400.000

km2, tương ứng với 0,3% tổng diện tớch đất

của cỏc quốc gia (ước chừng 130 triệu km2)

Đất thành phố tại năm 2000 bằng khoảng 3%

đất trồng trọt (ước chừng 14 triệu km2) và

đến năm 2030, cỏc thành phố dự tớnh sẽ tăng

gấp 2,5 lần về diện tớch, khoảng 1 triệu km2,

hoặc 1,2% tổng diện tớch đất của cỏc quốc

gia Khi đú, diện tớch đất xõy dựng đụ thị sẽ

bằng khoảng 5-7% tổng diện tớch đất trồng trọt

Tại cỏc thành phố, sự mở rộng đụ thị

cú thể diễn ra với mật độ giống nhau (tỷ lệ người/km2) như những số liệu đó nờu trong cỏc vựng xõy dựng hiện tại hay nú cú thể diễn ra với mật độ tăng lờn hoặc giảm đi Nú

cú thể tập trung thờm tại cỏc vựng đất đó được xõy dựng với một mật độ cao hơn, thụng qua việc lấp đầy những khoảng khụng gian cũn trống tại đõy, hay thụng qua việc đụ thị húa vào những khu vực trước đõy chưa được sử dụng của đụ thị Vựng phỏt triển mới này cú thể tiếp giỏp những vựng đó được xõy dựng hoặc cú thể nằm rải rỏc khụng liờn tục trong phạm vị thành phố, tỏch xa vựng xõy dựng cũ

Sự mở rộng mới cú thể làm tăng lờn, giữ nguyờn hoặc giảm mật độ dõn cư, do tỏc động của cỏc cơ hội nghề nghiệp Cú nhiều

cơ hội nghề nghiệp mới, đồng nghĩa với cú nhiều dõn cư mới Sự di chuyển dõn cư này

cú thể tập trung trong một số vựng đất hoặc trải rộng ra toàn bộ vựng bị đụ thị húa Sự mở rộng cú thể diễn ra theo dọc hành lang, tạo ra thành phố cú dạng hỡnh ngụi sao hay kộo dài

ra (dạng chuỗi), hoặc diễn ra tiếp giỏp ngay sỏt trung tõm thành phố, tạo ra thành phố cú

D

Trang 2

dạng gần giống hình tròn Nó có thể tuân

theo sự sắp xếp (phụ thuộc vào địa hình, địa

chất khu vực) hoặc chẳng theo thứ tự gì Chất

lượng của cơ sở hạ tầng đi kèm với sự mở

rộng đô thị có thể rất đa dạng, phản ảnh mức

độ đầu tư, sự bảo tồn, nâng cấp, sửa chữa

khác nhau Sự phát triển các vùng đất mới có

thể bị khống chế bởi mục đích sử dụng, phù

hợp mục đích đơn lẻ hay mục đích hỗn hợp

Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm khác

nhau và chưa có tổng kết nào phù hợp để áp

dụng cho những thành phố đang phát triển,

nhưng một thực tế không thể phủ nhận là vấn

đề mở rộng đô thị vừa có lợi, vừa bất lợi, ảnh

hưởng đến mức thu nhập cũng như điều kiện

sống của người dân tại đây Một vài hậu quả

có thể xảy ra liên quan đến sự mở rộng đô

thị, ví dụ như là sự tăng lên của hiệu ứng nhà

kính và lưu lượng ô tô gia tăng tại những

thành phố có mật độ dân số nhỏ

Một vài vấn đề có thể nảy sinh khi

phát triển đô thị theo hướng mở rộng nhảy

cóc là giảm đáng kể diện tích môi trường tự

nhiên, không gian mở, các vùng đất nông

nghiệp có giá trị; tăng đáng kể mức độ giao

thông cơ giới, dẫn đến có thể gây ô nhiễm

môi trường và sử dụng năng lượng tăng cao,

gây ra hiệu ứng nhà kính lớn hơn; khó khăn

trong việc tổ chức giao thông và phát triển hệ

thống giao thông công cộng; tăng đáng kể

đầu tư cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, có

thể phần nào đó làm giảm mức độ đầu tư tại

những khu vực đô thị cũ đang cần phải nâng

cấp; giảm thiểu tương tác xã hội và khiến

nhịp sống sôi nổi ở đô thị có thể trầm xuống;

làm gia tăng khoảng cách và sự phân đoạn xã

hội về mặt kinh tế; có thể làm phát sinh thêm

chi phí cho người dân, khó khăn hơn trong

việc quản lý xã hội

Những vấn đề bất cập nêu trên phần nào đó có thể được giải quyết qua sự quản lý chặt chất thải ô nhiễm môi trường, đưa ra chính sách tiết kiệm năng lượng, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như tiêu chuẩn mới về khí thải, đưa ra những chính sách phù hợp để phát triển mạng lưới giao thông chống ách tắc, các vùng đất cần bảo tồn liên quan đến không gian mở và môi trường cần có kế hoạch bảo vệ thông qua việc quản lý chặt của chính quyền và sự thống nhất chung của cộng đồng Những yếu

tố bên ngoài liên quan đến sự phát triển mới

có thể biến thành những yêu tố bên trong thông qua cách áp đặt các loại thuế phù hợp

Và ít nhất tại một số thành phố, các vùng trung tâm có thể và đang được làm sống lại khi những cư dân vùng lân cận trở về thành phố tìm kiếm một cuộc sống thành thị thuận lợi hơn Có nhiều quan điểm cho rằng sự mở rộng đô thị mạnh mẽ, có thể và trên thực tế đã dẫn tới sự phát triển kinh tế nhanh chóng và

có hiệu quả hơn, tạo ra nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn, nơi ở rộng và phù hợp với túi tiền hơn, tỷ lệ sở hữu nhà ở tăng lên, dịch vụ công

rẻ và tốt hơn, chất lượng cuộc sống cao hơn

Liên quan đến quy mô, đặc điểm và động lực của việc mở rộng đô thị, một số giả thuyết đã được kiểm chứng, đúc rút qua việc

sử dụng khối lượng lớn thông tin của các thành phố công nghiệp hóa Sự khác nhau trong hình thức mở rộng đô thị do bị tác động bởi: ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, ảnh hưởng của nhân khẩu học, ảnh hưởng của nền kinh tế, ảnh hưởng của hệ thống giao thông vận tải, ảnh hưởng của sự ưu tiên của người dân cho khoảng cách và ảnh hưởng của

Trang 3

sự quản lý của chính quyền

Các yếu tố của môi trường tự nhiên có

thể gây ảnh hưởng đến sự mở rộng đô thị bao

gồm khí hậu, đặc điểm địa hình, địa chất và

sự tồn tại của những tầng nước ngầm có thể

khoan tới Ảnh hưởng nhân khẩu học có thể

bao gồm sự nhập cư từ nông thôn và sự tăng

trưởng dân số tự nhiên tại thành phố, mức độ

đô thị hóa tại quốc gia và sự phân chia hệ

thống cấp bậc tại đô thị của quốc gia ấy Khía

cạnh kinh tế có thể gây ảnh hưởng tới sự mở

rộng đô thị bao gồm trình độ phát triển kinh

tế, sự khác biệt giữa thu nhập của các hộ gia

đình, sự tiếp xúc với toàn cầu hóa, mức độ

đầu tư trực tiếp nước ngoài, mức độ phi tập

trung hóa cơ hội việc làm, sự phát triển thị

trường tài chính, bất động sản, mức độ và

tính hiệu quả của việc đánh thuế tài sản

Khía cạnh về hệ thống giao thông vận tại ảnh

hưởng đến sự mở rộng đô thị bao gồm sự ra

đời của những công nghệ giao thông mới và

nổi bật nhất là xe hơi cá nhân, chi phí giao

thông đi kèm với thu nhập gia đình, mức đầu

tư của chính phủ vào đường phố, sự tồn tại

của các trung tâm đô thị đã từng phát triển

trước sự ra đời của phương tiện xe hơi và sự

tồn tại hiện có của hệ thống giao thông công

cộng thuận tiện Sự ưu tiên của người dân

cho khoảng cách có thể ảnh hưởng đến hình

thức mở rộng đô thị bao gồm: sự ưu tiên

dành cho khoảng cách gần với các không

gian mở; những nơi cư trú cho người độc

thân; sự ưu tiên cho việc sở hữu nhà ở;

khoảng cách gần với những người khác và sự

tiện nghi của đô thị; khoảng cách gần với nơi

làm việc; sự hấp dẫn của những vùng đất

màu mỡ trong lòng thành phố Sự đa dạng

trong cách quản lý của chính quyền ảnh

hưởng đến sự mở rộng đô thị bao gồm cơ sở

luật pháp của quốc gia; số lượng các chính quyền độc lập trong khu vực; sự chia sẻ quyền sở hữu công các khu đất thành thị; sự tồn tại của các cơ quan lập kế hoạch, hiệu quả cho khu đô thị; cách thức và chất lượng của việc quản lý điều hành phát triển đô thị Hiện nay, để đánh giá và đo lường sự

mở rộng đô thị trong một khuôn khổ so sánh rộng, không có phương pháp nào đáng tin cậy, thậm chí đối với cả những phương thức

đo lường đơn giản nhất Phổ biến nhất, khi mật độ xây dựng trung bình và mức độ sử dụng đất trên đầu người là hai phương thức

đo lường về ý nghĩa của sự mở rộng đô thị, chúng vẫn có thể bị coi là phản ánh chưa đầu

đủ Ví dụ, khi đô thị mở rộng đột ngột không thể xem xét bằng những công cụ đo lường này Chính vì nếu các điểm xây dựng trong khu vực đô thị tập hợp liên tiếp nhau thành một khu vực đơn nhất hoặc trải rộng dàn đều xuyên suốt, mật độ trung bình của những vùng như thế có thể sẽ giống nhau Tương tự, nếu vùng xây dựng của thành phố là một vòng tròn được lấp đầy bằng công trình xây dựng hoặc là một hình ngôi sao tỏa rộng ra các hướng, thì mật độ trung bình của khu vực xây dựng trong thành phố cũng có thể giống nhau trong cả hai trường hợp

Những chính sách cơ bản có tác động lên sự hình thành mở rộng đô thị bao gồm:

a Chính sách tác động lên sự di cư từ nông thôn (hay quốc tế), cả trực tiếp

và gián tiếp;

b Chính sách tác động đến sự phân bổ dân cư thành thị giữa các thành phố;

c Chính sách ảnh hưởng đến quá trình phát triển đô thị trong các thành phố riêng lẻ và các khu vực thành thị

Trang 4

Động lực cho việc theo đuổi các chính

sách của nhóm đầu tiên có rất nhiều: xuất

phát từ suy nghĩ rằng các thành phố thực sự

quá lớn và quá hấp dẫn đối với người dân,

đến những mong ước lãng mạn của lối sống

làng quê, và đến nhu cầu phải tập trung phát

triển khu vực nông thôn, nơi có đa số người

nghèo sống và làm việc Các chính sách áp

dụng rất đa dạng từ việc tăng năng suất nông

nghiệp và nâng cao giáo dục nông thôn đến

việc hạn chế di chuyển vào thành phố bằng

cách yêu cầu giấy chứng nhận thủ tục cư trú

Mặc dù nhiều chính phủ đã nỗ lực quản lý

dòng di cư từ nông thôn ra thành thị nhưng

hầu như không đạt được kết quả mong muốn,

không chỉ ở những nước cho phép tự do di

chuyển chỗ ở, mà còn tại những quốc gia yêu

cầu giấy phép cư trú (hộ khẩu) để được phép

sinh sống trong thành phố (Như một số nước

ở Liên Xô cũ, Trung quốc )

Các chính sách đầu tư của khu vực

nhà nước và các cơ cấu chính trị có ảnh

hưởng lớn đến yếu tố chính sách thứ hai nêu

trên, cụ thể là hệ thống các thành phố phát

triển và giới hạn sự tập trung dân số thành thị

trong các thành phố Họ cũng nhận thấy rằng

sự tập trung ưu tiên phát triển đô thị có thể có

ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế

Hiện nay, các chính sách phân bổ dân cư có

hiệu quả của hình thức kể trên rất ít, hầu hết

các chính phủ đều đã nỗ lực thực hiện chúng

bằng cách này hay cách khác trong quá khứ,

nhưng hầu như không đạt được thành công

Đối với hầu hết các thành phố, sự tăng

trưởng dân số của một thành phố được xác

định theo tỷ lệ sinh tăng tự nhiên của dân số

và tính hấp dẫn đối với những người dân nhìn

thấy có hội và những tiềm năng nơi đây Các

thành phố thành công, nơi tăng trưởng kinh tế cao, công việc sẵn có, dịch vụ đô thị đầy đủ

và chất lượng cuộc sống cao thường hấp dẫn, cuốn hút dân cư đến sinh sống Những thành phố này tự nhiên sẽ phát triển nhanh hơn những thành phố khác, nơi mà cơ hội kinh tế

ít và tiềm năng cho một cuộc sống đầy đủ không lớn Chính vì vậy, thật khó tưởng tượng khi dân cư hoặc các nhà làm chính sách của một thành phố thành công sẽ đồng ý cắt bớt tốc độ tăng trưởng kinh tế của mình, giảm thiểu các dịch vụ đô thị hay chất lượng cuộc sống để ngăn chặn luồng dân di cư đến sinh sống

Các công cụ điều tiết phổ biến cho việc quản lý quá trình phát triển đô thị tại các thành phố và khu vực thủ phủ thường gồm 3 loại chính: kiểm sóat phát triển đô thị; điều tiết phân chia vùng và địa hạt; và các nguyên tắc và tiêu chuẩn xây dựng Các công cụ và biện pháp thực hiện cũng bao gồm 3 loại chính: sự tiếp nhận và phân bổ đất công cộng; đầu tư vào cơ sở hạ tầng công và cơ sở vật chất; và hợp tác giữa nhà nước - tư nhân trong các dự án phát triển đô thị

Kiểm soát phát triển đô thị tại các nước công nghiệp hiện tại bao gồm hệ thống luật bảo vệ khu vực sinh thái và các loại động thực vật đang gặp nguy hiểm gần các khu đô thị hoặc rộng hơn là để bảo vệ đất trang trại; luật vành đai xanh hoặc giới hạn phát triển đô thị nhằm ngăn chặn sự chuyển hóa đất nông thôn thành đất thành thị tại ngoại vi của thành phố; bảo tồn tài nguyên đất, các hạn ngạch và giấy phép xây dựng; kiểm soát chặt việc giao đất công cho việc phát triển các loại hình đô thị; tăng phí cơ sở hạ tầng đối với các nhà đầu tư tư nhân; hạn chế phát triển gây ra tắc

Trang 5

nghẽn cho hệ thống đường xá hiện hành hoặc

tạo thêm ô nhiễm môi trường; hạn chế một số

khả năng tự trị của thành phố nhằm nâng cao

nguồn vốn cần thiết để đầu tư phát triển hệ

thống hạ tầng; yêu cầu nghiên cứu lâu dài và

hiệu quả cùng với quy trình cấp phép; nâng

cao rủi ro với các nhà đầu tư nhà ở khi có về

vấn đề tranh chấp với các nhóm môi trường

Luật phân vùng tại các nước công

nghiệp hóa hiện nay bao gồm các biện pháp

điều tiết và bắt buộc thực thi việc hạn chế sử

dụng đất Những điều lệ này cũng chỉ rõ đất

đai không ưu tiên cho việc phát triển một số

loại hình đầu tư bởi hàng loạt các nguyên

nhân Chúng cũng đưa ra những loại hình cho

phép sử dụng đất, thường hạn chế nhằm mục

tiêu để các loại đất sử dụng cho 1 mục đích

đơn nhất (định cư, thương mại hoặc công

nghiệp), ngăn ngừa các loại hình sử dụng đa

chức năng hoặc sử dụng đất ở cho mục đích

công việc Hạn chế mật độ, tỷ lệ mặt sàn cho

phép (FARs) và hạn chế độ cao xây dựng là

các biện pháp ngày càng phổ biến Điều tiết

phân chia lại vùng và địa hạt có ảnh hưởng

trực tiếp đến mật độ của mở rộng đô thị Tại

các khu vực ngoại ô của Mỹ, chúng thường

bao gồm “quy định sử dụng cho sinh hoạt gia

đình tổng thể; một cấu trúc trên 1 lô đất; kích

thước lô đất tối thiểu, độ bao phủ lô đất tối

đa; diện tích mặt sàn tối thiểu cho căn nhà;

khu đỗ xe trên các phố; các khoảng lùi vào

tại mặt trước, bên cạnh và sân sau; hạn chế

chiều cao tối đa… và các yêu cầu cho việc

phân chia chi phí hạ tầng với nhà đầu tư”

Các nguyên tắc và tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng từ xưa với mục đích sơ khai là để bảo vệ sức khỏe, an toàn cho người dân trong các trường hợp và với mục đích thứ cấp là để đảm bảo “mức độ tối thiểu của nhà ở” Chúng nhằm đảm bảo rằng nhà được xây

sẽ bền vững, giảm thiểu tối đa nguy cơ cháy

nổ, phòng có đủ ánh sáng và không khí, nước sạch và hệ thống thoát nước thải đầy đủ

Đối với các nước đang phát triển, nơi

mà hệ thống luật pháp, các quy định về đô thị đang dần dần hoàn thiện, người dân còn hạn chế trong khả năng chi trả cho các nhu cầu thiết yếu, các biện pháp và công cụ điều tiết cho việc quản lý sự phát triển đô thị cần được cân nhắc, không nhất thiết phải dập khuôn đúng như các nước phát triển để đảm bảo tính khả thi và phát triển lâu dài có định hướng phù hợp với đặc thù đô thị của mình

*

* *

Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, tốc độ đô thị hoá ở Việt Nam cũng đang diễn ra mạnh mẽ Việc mở rộng đô thị có kiểm soát là cần thiết nhằm đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và lợi ích cho xã hội Với những nội dung trên đây, hy vọng phần nào giúp ích cho các nhà hoạch định và quản

lý chính sách, các nhà qui hoạch đô thị của Việt Nam tham khảo khi nghiên cứu về lĩnh vực đô thị để có những đề xuất hợp lý, phù hợp giúp cho các đô thị Việt Nam được phát triển bền vững

(Theo The Dynamics of Global Urban Expansion, WB)

Ngày đăng: 22/12/2013, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w