1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bai thuyet trinh nvsp Đất và người chiến khu Đ

26 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II.Vị trí địa lí : Kháng chiến chống Pháp, phạm vi chủ yếu của chiến khu Đ nằm trên vùng đất: Tây giáp Tân Uyên;  Bắc giáp Sông Bé ,  Đông vẫn giáp Sông Bé  Nam giáp sông Đồng Nai...

Trang 1

Đại học Thủ Dầu Một

Lớp : D14NV01

Sinh viên: Huỳnh Thị Ngọc Châu

Trang 2

Đất và người

chiến khu Đ

Trang 3

A Đất (Chiến khu Đ)

I Hoàn cảnh ra đời

 Thành lập vào tháng 2 năm 1946

 Bao gồm 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch,

Thường Lang, Lạc An (nay thuộc huyện Tân

Uyên, Bình Dương) Cuộc kháng chiến phát triển, Chiến khu Đ ngày càng mở rộng lên

vùng rừng núi hiểm trở từ biên giới Việt Nam - Campuchia đến gần sát các thành phố Sài

Gòn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một

Trang 4

II.Vị trí địa lí :

  Kháng chiến chống Pháp, phạm vi chủ yếu của chiến khu Đ nằm trên vùng đất: Tây giáp Tân Uyên;

 Bắc giáp Sông Bé ,

 Đông vẫn giáp Sông Bé

 Nam giáp sông Đồng Nai

Trang 6

 Sang kháng chiến chống Mỹ,trung tâm căn cứ chuyển dần lên phía Đông Bắc Đến đầu năm 1975, căn cứ được xây dựng

hoàn chỉnh, phạm vi phát triển đến mức cao nhất Toàn bộ căn

cứ địa nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai, phía Tây giáp địa giới hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũ, phía Bắc giáp biên

giới Việt Nam – Campuchia và phía Đông giáp địa giới ba

tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đắc Lắc hiện nay kéo về rừng Cát Tiên phía thượng nguồn sông Đồng Nai bên hữu ngạn

Trang 7

 III Ý Nghĩa

 Là trung tâm kháng chiến

 Nơi ra đời của nhiều lực lượng vũ trang nhân dân như tiểu

đoàn 800, trung đoàn 762, sư đoàn 9, sư đoàn 5

 Chiến khu Đ tồn tại như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của dân Việt, là nguồn

hy vọng, là niềm tin của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và người dân trên địa bàn miền Đông Nam Bộ

Trang 8

Sau Nam Kỳ khởi nghĩa

Trước cách mạng mùa thu

Có một nhóm đồng chí

Ra thành lập chiến khu

Ngồi quanh một ấm chèThảo luận suốt trưa hè

Tên chiến khu bất khuất

Đồng Nai hay Đất Cuốc

Rốt cuộc Chiến khu Đ

Đã bao mùa lá vàng rơi từ ấy

Chiến khu Đ vẫn đỏ máu quân thù.

Trang 10

một chỉ huy quân sự Việt Nam.

 Ông được nhà nước Việt Nam truy

tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng

vũ trang nhân dân, vì những đóng

góp trong thời kỳ chống

Pháp và giải thưởng nhà nước về

nghệ thuật

Trang 11

 Học bậc tiểu học tại làng Mỹ Lộc, quận Tân Uyên và học rất giỏi

 1928, sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học, ông đã giành được học bổng bậc trung học của Trường Petrus Ký

 1932, ông vào làm công chức tại Sở Hỏa xa Đông Dương (Sài Gòn)

 Năm 1937, ông được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất

Trang 12

 1942 ông kịp đào thoát sang Thái Lan

 1944, ông trở về nước bắt liên lạc với Trần Văn Giàu, Bí thư

Xứ ủy Nam Kỳ và được giao lập khu nghĩa quân Đất Cuốc tại quê hương Tân Uyên, Biên Hòa

 Tháng 7 năm 1945, lần thứ hai ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương

 Tháng 5 năm 1946, Tư lệnh Nam Bộ Nguyễn Bình phong cho ông làm Khu bộ phó Khu 7

 Sau tháng 7/1948, Huỳnh Văn Nghệ nhận nhiệm vụ Khu

Trưởng Khu 7

Trang 13

 Năm 1950, sau khi sát nhập khu Sài Gòn - Chợ Lớn vào khu 7, Huỳnh Văn Nghệ là Phó Tư lệnh bộ Tư lệnh Khu 7.

 Năm 1953, ông được cử ra Bắc học tập và tiếp tục công tác

trong Quân đội với hàm Thượng tá, Trưởng phòng Thể dục

Thể thao, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng

Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam

 Rời quân đội, Huỳnh Văn Nghệ chuyển sang làm Tổng cục

phó Tổng cục Lâm nghiệp

Trang 14

 Năm 1965, ông về miền Nam tham gia chống Mỹ, tham gia công tác tại Trung ương Cục miền Nam, giữ các cương vị Trưởng ban Căn cứ, Phó ban Kinh tài và Trưởng Ban Lâm nghiệp.

 Sau khi đất nước thống nhất, ông là Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp (về sau hợp nhất vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

 Ông lâm bệnh và mất tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 3 năm 1977

Trang 21

II Sự nghiệp văn chương

 Ba mươi năm sau, ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm "Chiến khu xanh", "Bên bờ sông xanh",

"Rừng thẳm sông dài" Ngày 17 tháng 4 năm 2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

 Không chỉ là một chỉ huy quân sự tài ba, ông còn là một nhà thơ có những vần thơ in đậm trong tâm trí người đọc Đồng đội và nhân dân miền Nam gọi ông là "Thi tướng rừng xanh".

Trang 22

 NHỚ BẮC

Ai về Bắc, ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Ai nhớ người chăng?

Ôi Nguyễn Hoàng

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ

Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương!

Vẫn nghe tiếng hát trời quan họ

Trang 23

Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn

Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ

Mỗi lần man mác hương sầu riêng

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên

Chinh Nam say bước quá xa miền,

Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm!

Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi

Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa

Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi

Bao giờ mang kiếm trả dân ta?

 Huỳnh Văn Nghệ(Ga Sài Gòn, 1940)

Trang 24

Em Bé Liên Lạc

 Tác giả:  Huỳnh Văn Nghệ

 Tập thơ Huỳnh Văn Nghệ  

 Nhà em ở xóm Cây Dâu

 Trước kia ở đợ giữ trâu cho người

 Nay em đánh giặc được rồi

 Một mình bảo đảm thơ từ qua sông

 Ngày đêm nước lớn, nước ròng

 Em ôm thân chuối bơi không cần thuyền.

 Mẹ em ngồi đứng không yên

 Thương em thù giặc, ngày đêm phập phồng

 Nghe từng loạt súng bờ sông

 Mà nghe như đạn xé lòng, xé gan.

 Quân thù vừa tóm được em

 Mẹ lăn vào bót xin đem em về

 “Nó chăn trâu bắt làm gì

Trang 25

 Nó chưa đủ sức đánh Tây đâu mà ”

Ngày đăng: 06/09/2021, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w