Ngày 02012015, Công ty TNHH Kim Lân (Công ty Kim Lân) và Công ty TNHH Nhật Linh (Công ty Nhật Linh) ký hợp đồng nguyên tắc số 012015NLBNKL, hạn thực hiện 12 tháng.Công ty TNHH Kim Lân đã giao hàng đúng theo hợp đồng. Tuy nhiên, phía Công ty TNHH Nhật Linh chưa thanh toán tiền hàng cho Công ty Kim Lân theo như hợp đồng số 012015NLBNKL.Ngày 2522016 và ngày 0852016, Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh ký các biên bản đối chiếu công nợ với nội dung chính: Đến hết ngày 3042016, Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân tổng số tiền mua hàng là 3.270.212.570 đồng.Ngày 0952016, Công ty Kim Lân gửi Công văn số 0506ĐNCV về việc yêu cầu Công ty Nhật Linh thanh toán số tiền là 3.270.212.570 đồng.Ngày 1752016, Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã có làm việc với nhau để giải quyết việc thanh toán tiền hàng. Tại công văn số 77CVNL ngày 2752016 Công ty Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: Mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền là 300 triệu đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 3072016.Ngày 1072016, Công ty Kim Lân gửi đơn khởi kiện Công ty Nhật Linh đến Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu buộc Công ty Nhật Linh trả tiền nợ gốc là 3.270.212.570 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật.Ngày 17112016, Công ty Nhật Linh có Đơn phản tố gửi đến Tòa án yêu cầu Công ty Kim Lân ký xác nhận bảng thống kê tài sản và hoàn trả toàn bộ tài sản của Nhật Linh.Ngày 26122016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122016QĐXXSTKDTM.
Trang 1VKSND TỈNH BẮC NINH
VKSND HUYỆN THUẬN THÀNH
Số: 69/PBST-VKS-DS
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bắc Ninh, ngày … tháng … năm 2021
PHÁT BIỂU CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;
Căn cứ Điều 21, Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hôm nay, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp kiện đòi nợ tiền hàng” giữa:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân
Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh
Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa
án nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về những nội dung sau:
I VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
1 Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại 48 BLTTDS như thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải, triệu tập nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Trang 2- Về thẩm quyền thụ lý: Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh đều là tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
Do đó Do đó căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Điều 317 Luật thương mại năm 2005 Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền
- Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng tư cách những người tham gia tố tụng như nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan và người làm chứng theo đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS
- Về xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ được thực hiện đúng quy định tại Điều 96, 97 BLTTDS
- Về trình tự thụ lý thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 195 BLTTDS, thông báo về việc thụ lý vụ án cho các đương sự, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí và VKS theo đúng quy định tại Điều 96 BLTTDS; gửi các văn bản tố tụng theo đúng quy định Điều 175, Điều 177, Điều 178 BLTTDS
Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án thụ lý vụ án ngày 21/ 8/ 2016 nhưng do là trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án nên đến ngày 26/12/2016 tòa án mới đưa vụ án ra xét xử là đúng thời hạn chuẩn bị xét xử theo đều 203 BLTTDS
- Về việc chuyển giao hồ sơ và gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử thẩm phán đã thực định đúng quy định tại Điều 220 BLTTDS
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
- Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử
sơ thẩm vụ án
2 Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Đối với nguyên đơn Công ty TNHH Kim Lân, bị đơn Công ty TNHH Nhật Linh, đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS như cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình theo Điều 70, 71, 72 BLTTDS như: giao nộp chứng
cứ, tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ
và tiếp cận công khai chứng cứ, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án tại phiên tòa và chấp hành tốt nội quy phiên tòa
II Ý KIẾN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
Đại diện VKS xin không tóm tắt lại nội dung vụ án
Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của công ty TNHH Nhật Linh:
Trang 3Ngày 21/11/2016 của công ty TNHH Nhật Linh đơn đề nghị ngày 21/11/2016
về việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng hình thức phong tỏa tài sản Đối tượng đang tranh chấp ở đây là tiền chứ không phải công trình đầu
tư trên đất vì vậy mà tòa án đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản trên đất của Công ty Kim Lân (bút lục 85) chưa hợp lý Trường hợp này
đã vi phạm thủ tục tố tụng
Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Kim Lân và yêu cầu phản tố của công ty TNHH Nhật Linh:
Căn cứ vào biên bản đối chiếu công nợ ngày 25 tháng 2 năm 2016 thì các bên thống nhất số tiền mà Công ty TNHH Nhật Linh còn nợ phía Công ty TNHH Kim Lân là: 3.270.212.570 đồng Các bên thống nhất với nhau đây là khoản nợ năm 2015 Các bên đã tiến hành ký xác nhận công nợ trên (bút lục 27) Biên bản này có đầy đủ chữ ký đại diện và con dấu của hai bên, Công ty Nhật Linh đã xác nhận khoản nợ và nghĩa vụ trả nợ của mình bằng con dấu Công ty Điều này xác nhận một sự thật khách quan rằng có khoản nợ này trên thực tế
Tại biên bản làm việc ngày 17 tháng 5 năm 2016 phía bên Công ty nhật Linh cam kết thanh toán số tiền công nợ nêu trên theo đúng lộ trình cho phía Công ty TNHH Kim Lân (bút lục 33)
Ngày 27/5/2016, Công ty TNHH Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau mỗi tuần mỗi tuần thanh toán 1 lần trả số tiền là 300.000.000 đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016 Tuy nhiên trên thực tế phía Công ty Nhật Linh không thực hiện đúng như lộ trình thanh toán đã cam kết
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/11/2016 Công ty Nhật Linh đã thừa nhận
đã ký xác nhận tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2015, như vậy nghĩa
là Công ty Nhật Linh nợ công ty Kim Lân số tiền như biên bản đã đề cập đến Còn về lý do công ty Kim Lân không chấp nhận số tiền được thể hiện trong Biên bản xác nhận công nợ ngày 25/2/2016 là không có cơ sở Bởi vì, 02 ủy nhiệm chi mà Công ty Nhật Linh đã thanh toán là thanh toán cho hóa đơn số 000086,84, còn số tiền Công ty Kim Lân buộc Công ty Nhật Linh trả là phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ký ngày 02/01/2015 Từ đó cho thấy, Công ty Nhật Linh chưa từng thanh toán bất cứ khoản nợ nào cho Công ty Kim Lân phát sinh
từ Hợp đồng nguyên tắc ngày 02/01/2015 đã được ghi nhận trong biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016
Từ những chứng cứ nêu trên Công ty Nhật Linh đã xác nhận công nợ phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc, nên Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân tiền
hàng và chưa thanh toán số tiền gốc là 3.250.319.430 đồng là đúng thực tế.
Trang 4Tiếp theo, Phía Công ty TNHH Kim Lân yêu cầu phía Công ty TNHH Nhật Linh trả lãi trên số tiền mà các bên đã đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 là hoàn toàn đúng pháp luật và có cơ sở, cụ thể:
Điều 306 Luật Thương Mại 2005 quy định về việc trách nhiệm
chậm thanh toán: Quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán: “ Trường
hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”
Về mức lãi suất chậm trả áp dụng trong trường hợp này, căn cứ vào Điều
11 quy định về xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật Thương Mại của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì lãi suất chậm trả áp dụng để nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là lãi suất quá hạn trung bình của 03 ngân hàng Vietcombank, ViettinBank và Agribank ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nơi Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành đang giải quyết vụ án
Theo nội dung án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại thì chỉ áp dụng lãi suất trả chậm trung bình trên thị trường của 3 ngân hàng trên địa phương thay vì áp dụng theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước với trường hợp Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân thuộc Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh
Căn cứ vào sự việc trên thực tế giữa các bên, việc phía bị đơn chậm thanh toán số tiền công nợ theo đúng thỏa thuận của các bên là hành vi vi phạm pháp luật Xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH Kim Lân Công ty TNHH Kim Lân yêu cầu Công ty TNHH Nhật Linh thanh là có căn cứ
Tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” Tuy nhiên, theo thông
báo số 30/TB-TA ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành thì phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải diễn
ra vào ngày 03/9/2016, đến ngày 17/11/2016 thì Công ty Nhật Linh mới có yêu cầu phản tố (bút lục 69), Thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án là vi phạm thủ tục tố tụng
Trong nội dung biên bản tại cuộc họp ngày 17/5/2016 giữa hai bên ghi rõ
như sau “Đề nghị Công ty TNHH Nhật Linh – Bắc Ninh nhanh chóng thực hiện
Trang 5việc thanh toán tiền hàng còn đang nợ của Công ty TNHH Kim Lân và gửi văn bản liệt kê tài sản trên đất của Công ty TNHH Kim Lân mà Công ty TNHH Nhật Linh – Bắc Ninh chưa di dời.”(bút lục 33) Hai việc được thực hiện riêng biệt
nhau qua nội dung trên, chứ không thể hiện nghĩa vụ thanh toán có điều kiện như ý kiến của Công ty Nhật Linh
Việc yêu cầu đòi bù trừ nghĩa vụ tài sản này của phía bị đơn không hợp
lý Sau khi bổ sung thành viên góp vốn, bị đơn góp vốn vào Công ty Kim Lân bằng cách bỏ tiền đầu tư xây dựng các công trình (bao gồm nhà xưởng, nhà điều hành, nhà ăn, kho tàng, trạm biến áp ) trên phần đất thuộc Công ty Kim Lân lúc này sự thay đổi chủ sở hữu tài sản thành tài sản chung của công ty do cả nguyên đơn và bị đơn đều là thành viên góp vốn chứ không thuộc quyền sở hữu riêng của công ty nào Do vậy Công ty Nhật Linh không có cơ sở đòi khấu trừ tiền vốn này vào số tiền hàng còn nợ mà họ buộc phải thực hiện Nếu Công ty Nhật Linh cho rằng toàn bộ tài sản trên đất trong yêu cầu phản tố của họ là của mình theo Hợp đồng góp vốn ngày 03/10/2008 thì có thể khởi kiện ra Tòa án ở một vụ
án khác
Tiếp theo: Việc dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng hình thức phong tỏa tài sản tại công ty TNHH Kim Lân là trái quy định pháp luật
Điều 126 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định :Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án
Vì yêu cầu phản tố của phía Công ty Nhật Linh đươc tòa án chấp nhận đã
vi phạm pháp luật tố tụng dân sự 2015 do đó mà trong vụ án này đối tượng tranh chấp chỉ còn là tiền mà Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân nên người có nghĩa vụ thanh toán là Công ty Nhật Linh chứ không phải Kim Lân do đó việc
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản là không cần thiết
Từ những phân tích trên đây, đề nghị tòa án căn cứ Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 120, Điều 147, Điều 158, Điều 200 BLTTDS, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, Điều 306, Điều 317 Luật Thương Mại 2005:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Kim Lân;
- Buộc Công ty Nhật Linh phải thanh toán số tiền hàng còn nợ và lãi phát sinh cho việc chậm thanh toán với tổng số tiền là: 3.500.319.430 trong đó:
Trang 6+ Số tiền nợ gốc: 3.250.319.430 đồng;
+ Số tiền lãi chậm trả tính theo lãi suất chậm thanh toán là 250.000.000 đồng
- Không cấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Nhật Linh;
- Chấm dứt việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với công ty Kim Lân
- Về án phí:
Buộc công ty TNHH Nhật Linh phải chịu toàn bộ án phí
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
III NHỮNG YÊU CẦU, KIẾN NGHỊ ĐỂ KHÁC PHỤC VI PHẠM TỐ TỤNG Ở GIAI ĐOẠN SƠ THẨM
Đối với vi phạm của Thẩm phán về áp dụng biện pháp tạm thời và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án có phương hướng khắc phục để việc giải quyết các vụ án trong thời gian tới đảm bảo đúng quy định Trên đây là ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát
Nơi nhận:
- Tòa án cùng cấp;
- Lưu: VT, HSKS
KIỂM SÁT VIÊN