PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM ĐỐI VỚI TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG tiểu luận cấu thành tội phạmtiểu luận hình sự 1tiểu luận các yếu tố cấu thành tội phạmhình sự và hình sự 2TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 1
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM ĐỐI VỚI
TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ
Tp.HCM, 07/2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 2
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam 2
1.1.1 Khái niệm của việc quy định tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam 2
1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam 4
1.2 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội gây rối trật tự công cộng 4
1.2.1 Chủ thể của tội phạm 4
1.2.2 Khách thể của tội phạm 5
1.2.3 Mặt khách quan của tội phạm 5
1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm 7
1.3 Quy định về tội gây rối trật tự công cộng theo Bộ Luật Hình Sự 2015 7 1.4 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm gần giống trong pháp luật hình sự Việt Nam 9
1.4.1 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 9
1.4.2 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội đua xe trái phép 9
1.4.3 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội chống người thi hành công vụ 10
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ XÉT XỬ VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 12
2.1 Một số vấn đề tồn tại trong quá trình áp dụng, xét xử tội gây rối trật tự công cộng 12
Trang 32.1.1 Định tội danh không chính xác dẫn đến bỏ lọt tội gây rối với vai trò đồng phạm và bỏ lọt hành vi phạm tội khác 12 2.1.2 Định khung hình phạt không chính xác và quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác không phù hợp 13
2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của bộ luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng 18 KẾT LUẬN 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
Dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế trong những năm qua, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, kinh tế xã hội có những thay đổi đáng kể, tác động tích cực đến đời sống nhân dân cả nước Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực không thể phủ nhận: đất nước ta đứng trước những thách thức
về an ninh phi truyền thống, trong đó tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội có nhiều diễn biến phức tạp, tình hình tội phạm xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng ngày càng gia tăng, gây ra thiệt hại không nhỏ về tài sản, sức khỏe của công dân mà còn ảnh hưởng đến hoạt động chung của xã hội Hành vi này xâm phạm đến quy tắc xử sự chung được đặt ra nơi công cộng, gây tổn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân Hành vi gây rối thường được thực hiện công khai và diễn ra ở những nơi đông người, hình thức biểu hiện là tụ tập đánh nhau, hò hét, hành hung, đập phá tài sản ở nơi công cộng, tụ tập đua xe, lạng lách đánh võng gây huyên náo đường phố….hậu quả kèm theo đó là thương tích, hủy hoại, hư hỏng tài sản, thậm chí là chết người Đặc biệt một số vụ việc phức tạp, nổi cộm còn là cơ hội cho những đối tượng phản động sử dụng để bôi nhọ, xuyên tạc tình hình an ninh, chính trị ở nước ta làm cho dư luận xã hội hoang mang, gây lo lắng trong dân
Do đó vấn đề giữ gìn an ninh trậ tự tại địa phương là nhiệm vụ quan trọng
Vì vậy nhóm đã làm đề tài “Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm đối
với tội gây rối trật tự công cộng và thực tiễn xét xử” nhằm nghiên cứu những
vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề này, từ đó tìm ra những vướng mắc,
những tồn tại trong xã hội cũng như đề xuất một số kiến nghị để duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao
Trang 5CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT
TỰ CÔNG CỘNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm của việc quy định tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm trật tự công cộng
Giữ gìn trật tự công cộng, an toàn công cộng là những thuật ngữ chúng ta
thường bắt gặp trong đời sống hàng ngày Theo Giáo sư Nguyễn Lân: “Trật tự là
tình trạng ổn định, có thứ bậc trên dưới, trước sau ” 1
Mặt khác, theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Trật tự công cộng là
sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận; tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi Hay nói cách khác là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo” 2
Còn dưới góc độ pháp lý, Từ điển Luật học được Viện khoa học pháp lý - Bộ
tư pháp giải thích cụ thể “trật tự công cộng” là: Trạng thái ổn định, có tổ chức, có
kỷ luật ở nơi công cộng Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát được tổ chức sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh Quy tắc bắt buộc phải tuân theo để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, thể hiện toàn bộ yêu cầu cơ bản của xã hội về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội 3
Như vậy, từ các khái niệm, định nghĩa có liên quan được nêu trên: “Trật tự
công cộng là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật và các nội quy, quy tắc về trật tự chung, an toàn chung, mà đòi hỏi mọi thành viên của xã hội phải tuân theo những quy định chung đó nhằm
1 Giáo sư Nguyễn Lân, “Từ điển từ và ngữ Hán - Việt”, Nxb Văn học, (2003) [10, tr 704]
2 Viện từ điển bách khoa, Từ điển bách khoa Việt Nam - tập 3, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, (1999) [21,
tr 755]
3 Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội, (2006), [20, tr 809];
Trang 6đảm bảo cho cuộc sống, lao động, sinh hoạt bình thường của mọi người trong xã hội”
1.1.1.2 Khái niệm tội phạm
Theo quy định tại của BLHS hiện hành thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự 4
1.1.1.3 Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng
Tội gây rối trật tự công cộng là một loại tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, do vậy khái niệm tội gây rối trật tự công cộng cần được nhìn nhận dưới góc
độ khái niệm chung của tội phạm Tuy nhiên, trong khoa học hình sự vẫn có nhiều điểm khác nhau về khái niệm tội gây rối trât tự công cộng
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Gây rối trật tự công cộng là nhóm các hành vi xâm phạm trật tự công cộng được Nhà nước bảo vệ bằng quy định điều luật trong pháp luật hình sự và đáng bị trừng phạt theo những quy định của điều luật này5; quan điểm thứ hai lại định nghĩa: xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi làm phá vỡ sự ổn định của trật tự công cộng, vi phạm pháp luật, văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán đảm bảo trật tự công cộng, làm cản trở hoạt động bình thường, tuần tự của mọi người tại không gian công cộng6
Mặc dù các quan điểm này đã nêu bật được khách thể mà tội phạm xâm phạm đến, nhưng vẫn chưa nêu cụ thể hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này
Thêm một quan điểm khác cho rằng: “Gây rối trật tự công cộng là hành vi
làm náo loạn trật tự nơi công cộng” 7 Quan điểm này mới chỉ nêu định nghĩa hành
vi gây rối trật tự công cộng chứ chưa làm rõ khái niệm tội gây rối trật tự công cộng,
4 Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
5 Vũ Thế Công, Trật tự công cộng và một số biện pháp phòng chống gây rối trật tự công cộng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, (2007), [tr.25]
6 Vũ Thế Công, Trật tự công cộng và một số biện pháp phòng chống gây rối trật tự công cộng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, (2007) [tr.25]
7 Phạm Văn Beo, Bài 10 - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Luật hình sự Việt Nam" (Quyển 2 - Phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2010), [13, tr.13]
Trang 7hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 Bộ luật hình sự
Tóm lại, khái niệm tội gây rối trật tự công cộng cần thể hiện được đầy đủ các bình diện tương ứng với những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm đã nêu trên Chiếu theo định nghĩa tội phạm tại Điều 8 của BLHS hiện hành thì Tội gây rối
trật tự công cộng là hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người
khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại cho trật tự, an toàn công cộng, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình
sự Việt Nam
Trong thời gian gần đây các hành vi gây rối trật tự công cộng có xu hướng gia tăng, ngày càng diễn biến phức tạp, nhiều người tụ tập, la hét, đập phá, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội Nhận thức rõ điều này, Nhà nước Việt Nam luôn sẵn sàng dùng những biện pháp khác nhau nhằm đảm bảo sự ổn định về chính trị Chính sách của Nhà nước được thể hiện một cách toàn diện thông qua nhiều công cụ khác nhau, trong đó có pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng
Trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm thì các quy định của pháp luật hình sự là một trong những biện pháp phòng ngừa quan trọng, khi các hành vi
vi phạm pháp luật nào được coi là tội phạm thì giúp các quan hệ xã hội ổn định, bền vững Biện pháp xử lý hành chính cũng có tác dụng nhưng nó không đủ mạnh như pháp luật hình sự Khi chủ thể có ý định thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, những chủ thể này sẽ có thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi (phải chịu hình phạt) nếu thực hiện Chính vì vậy, quy định tội gây rối trật tự công cộng là việc sử dụng biện pháp xử lý hình sự với mục đích làm công cụ chính, hiệu quả để răn đe, ngăn ngừa và trừng trị người thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng cũng như răn đe người có ý định thực hiện hành vi gây mất an ninh trật tự
1.2 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội gây rối trật tự công cộng
1.2.1 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo
Trang 8quy định tại Điều 12 BLHS Theo quy định này chủ thể của tội phạm nói chung và chủ thể của tội gây rối trật tự công cộng nói riêng là con người cụ thể, đang sống - thể nhân Tuy nhiên theo quy định tại Điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình
sự thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại những những điều luật cụ thể, nhưng không có tội gây rối trật tự công cộng Như vậy, chúng ta có thể xác định chủ thể của tội gây rối trật tự công cộng là chủ thể thường, đó là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên và
có năng lực trách nhiệm hình sự
1.2.2 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm được quy định tại Điều 8 của BLHS 2015, đó là các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trong chừng mực nhất định Đây là những khách thể chung của tội phạm, trên cơ sở đó, các nhà làm luật phân chia các loại tội phạm có cùng tính chất trong cùng một chương tương ứng tại Phần các tội phạm của Bộ luật này, hay còn gọi là khách thể loại của tội phạm (trong đó có xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng) Tội gây rối trật tự công cộng là tội phạm xâm phạm đến an toàn công cộng, những quy tắc, sinh hoạt, đi lại, làm việc, vui chơi ở nơi công cộng, vi phạm quy tắc, nếp sống văn minh, văn hóa, gây ảnh hưởng đời sống, sinh hoạt của mọi người ở nơi công cộng Đây còn gọi là khách thể trực tiếp của tội phạm (tức là bị tội phạm xâm hại trực tiếp) Ngoài ra, tội gây rối trật tự công cộng còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong cơ quan Nhà nước và xã hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng8
1.2.3 Mặt khách quan của tội phạm
Theo quy định của BLHS, những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm chính là mặt khách quan của tội phạm, gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, không gian, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội… Mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng
có các dấu hiệu sau:
- Về hành vi khách quan: Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối bằng nhiều
phương thức khác nhau, thể hiện qua cử chỉ, hành động và thái độ coi thường trật tự
8 Bùi An Giôn, Về tội gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 BLHS năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân số 15, (2015), [9, tr 25- 28, 48]
Trang 9ở những nơi đông người như chợ, siêu thị, trường học, nhà thờ, rạp hát, công viên, nhà ga, bến xe, bến tàu, quảng trường, nhà văn hóa, câu lạc bộ, sân vận động, trụ sở
cơ quan, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, khu dân cư, trường học, bệnh viện, trên các phương tiện giao thông, trên đường phố v.v , cụ thể như: Có lời nói thô tục hoặc hành vi thô bạo xúc phạm những người xung quanh tại nơi công cộng Có hành vi gây mất trật tự, gây lộn xộn, náo loạn hoặc là những hành vi càn quấy, dùng vũ lực
để quậy phá, làm hư hỏng tài sản của nhà nước, của tổ chức, cá nhân ở nơi công cộng (như đập phá tượng đài, làm hư các biểu tượng, tranh cổ động, xe ô tô …)
- Hậu quả: Người thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng sẽ cấu thành tội
phạm thuộc một trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất: Người thực hiện hành vi gây rối phải gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội Đa số các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hiện đều đang vận dụng Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003
"Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS" về tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng để xử lý đối với loại tội phạm này
Thứ hai: Hoặc tuy chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nhưng đã bị xử hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự
+ Việc xác định dấu hiệu đã bị xử hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
có nghĩa là trước đó, người này đã có hành vi vi phạm về trật tự, an toàn công cộng theo quy định tại Chương 2 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và bị xử phạt hành chính về hành vi đó mà chưa chấp hành xong (trong luật hình sự được xác định là tiền sự) Trường hợp người này đã chấp hành xong quyết định được một thời hạn được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính mà hết thời hạn đó mới vi phạm thì cũng không cấu thành tội này
+ Đã bị kết án về tội này mà còn vi phạm, có nghĩa là trước đó người này đã bị Tòa án xét xử về tội “gây rối trật tự công cộng” nhưng chưa chấp hành xong bản án hoặc tuy đã chấp hành xong bản án nhưng chưa đủ thời gian đương nhiên xóa án tích tính đến ngày phạm tội mới
Như vậy, mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng đều chứa đựng những dấu hiệu ở mặt khách quan của tội phạm nói chung đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả, mối quan hệ nhân quả, không gian, thời gian, còn các dấu hiệu khác như phương tiện, thủ đoạn không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này Điều
đó có nghĩa là người nào có hành vi gây rối mà không gây ảnh hưởng xấu đến an
Trang 10ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc không thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi cùng loại (không có tiền án, tiền sự về tội này) thì không cấu thành tội phạm
1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm được quy định tại Điều 10 và Điều 11 BLHS, đó là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm, gồm: lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm Trong đó, lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Đây là nội dung cơ bản, quan trọng nhất, thể hiện mặt chủ quan của tội phạm và được BLHS phân loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý Trong đó lỗi cố ý trực tiếp là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra, còn trường hợp người phạm tội tuy đều nhận thức được rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có thức thức để mặc cho hậu quả xảy gọi là cố ý gián tiếp Đối với lỗi vô ý được thể hiện dưới hai hình thức là lỗi
vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin được định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 10 BLHS Trong đó lỗi vô ý do do cẩu thả là người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, còn lỗi vô ý do quá tự tin là người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó Đối chiếu với quy định của BLHS hiện hành thì tội gây rối trật tự công cộng, người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý (cả lỗi cố ý trực tiếp và gián tiếp), theo đó người phạm tội này nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra Khác với một số tội phạm khác, đông cơ, mục đích của người phạm tội gây rối trật
tự công cộng không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này Trường hợp động
cơ, mục đích cấu thành một tội phạm khác, thì tùy từng trường hợp người phạm tội
có thể bị truy tố về một tội danh tương ứng
1.3 Quy định về tội gây rối trật tự công cộng theo Bộ Luật Hình Sự 2015
Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 100/2015/QH13 (viết tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) được Quốc hội khóa XIII,
kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015, được Chủ tịch nước công bố vào ngày
Trang 1118/12/2015 Tuy nhiên, đã được sửa đổi bổ sung tại Luật số 12/2017/QH14 được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2017 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018
Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời là một tất yếu khách quan đánh dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, với sự thay đổi căn bản, toàn diện nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Trong đó, tội gây rối trật tự công cộng được quy định tại Điều 318 như sau:
1 Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;
d) Xúi giục người khác gây rối;
đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;
e) Tái phạm nguy hiểm
So với quy định tại Điều 245 BLHS năm 1999, quy định tại Điều 318 BLHS năm 2015 có những điểm mới như sau:
Ở quy định dấu hiệu cấu thành tội phạm: Trong khi Điều 245 BLHS năm 1999 quy định dấu hiệu cấu thành là “gây hậu quả nghiêm trọng” thì ở BLHS 2015 chỉ cần hành vi “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” thì đã có thể bị xem là tội phạm
Mức phạt tiền tại Điều 318 BLHS năm 2015 được quy định “từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”, cao hơn so với Điều 245 BLHS năm 1999 để phù hợp với thực tiễn
Bên cạnh đó, ở khoản 2 Điều 318, các tình tiết định khung tăng nặng, có sự hoán đổi vị trí của điểm a và điểm b so với khoản 2 Điều 245 BLHS năm 1999 Ở tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b Điều 318 BLHS năm 2015 được thay đổi thành “Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách” Như vậy, theo
Trang 12quy định của BLHS năm 2015, thì dùng vũ khí hay hung khí cũng đều được xem là tình tiết định khung tăng nặng của tội gây rối trật tự công cộng
1.4 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm gần giống trong pháp luật hình sự Việt Nam
1.4.1 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
“Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người khác làm cho người
đó mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực vốn có của họ được coi là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việc phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tội gây rối trật tự được phân biệt theo các tiêu chí sau:
Thứ nhất, về chủ thể của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác: Quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nếu hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định khoản 3 của điều luật
Thứ hai, về khách thể của tội gây rối trật tự công cộng là xâm phạm đến an
ninh trật tự, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng; còn khách thể của tội cố ý gây thương tích là xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của con người
Thứ ba, về mặt khách quan: Ở tội gây rối trật tự cộng cộng là hành vi hò hét,
làm náo động, có hành vi hành hung, phá phách gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự; còn tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là hành vi tác động vào cơ thể con người, gây tổn thương một bộ phận hay toàn bộ cơ thể hoặc gây tổn hại làm mất chức năng của một cơ quan nào đó trong cơ thể con người như mù mắt, cụt chân có hậu quả xảy ra là thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác ở mức mà điều luật quy định là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Địa điểm phạm tội cố gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể là bất cứ nơi nào, bất kỳ đâu, chứ không nhất thiết phải diễn ra ở nơi công cộng
như ở tội gây rối
1.4.2 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội đua xe trái phép
Đua xe trái phép là hành vi của hai hoặc nhiều người điều khiển xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ chạy thi trên đường bộ nhằm đuổi kịp