Lí luận: - Học sinh phân dạng được các dạng bài tập hóa học và có phương pháp giải các dạng bài tập đó thì việc làm bài tập hóa học không còn là vấn đề khó khăn đối với các em nữa, các [r]
Trang 1.PHÂN DẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ DẠNG
BÀI TẬP HểA HỌC LỚP 9
I: PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 ĐẶT VẤN Đấ̀
Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sỏng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, lýluận dạy học hiện đại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trớ chủ thể hoạtđộng nhận thức, học trong hoạt động HS bằng họat động tự lực, tớch cực của mỡnh
mà chiếm lĩnh kiến thức Quỏ trỡnh này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ gúp phầnhỡnh thành và phỏt triển cho học sinh năng lực tư duy sỏng tạo
Hoỏ học là bộ mụn khoa học quan trọng trong nhà trường phổ thụng Mụnhoỏ học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thụng, cơ bản và thiếtthực đầu tiờn về hoỏ học, giỏo viờn bộ mụn hoỏ học cần hỡnh thành ở cỏc em một
kỹ năng cơ bản, thúi quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng cho việcgiỏo dục xó hội chủ nghĩa, phỏt triển năng lực nhận thức, năng lực hành động Cúnhững phẩm chất thiết như cẩn thận, kiờn trỡ, trung thực, tỉ mỉ, chớnh xỏc, yờuchõn lớ khoa học, cú ý thức trỏch nhiệm với bản thõn, gia đỡnh, xó hội cú thể hoàhợp với mụi trờng thiên nhiên.Việc nắm vững cỏc kiến thức cơ bản gúp phần nõngcao chất lượng đào tạo ở bậc phổ thụng, chuẩn bị cho học sinh tham gia cỏc hoạtđụng sản xuất và cỏc hoạt động sau này
Trong mụn hoỏ học thỡ bài tập hoỏ học cú một vai trũ cực kỳ quan trọng nú lànguồn cung cấp kiến thức mới, vận dụng kiến thức lớ thuyết, giải thớch cỏc hiệntượng cỏc quỏ trỡnh hoỏ học, giỳp tớnh toỏn cỏc đại lượng: Khối lượng, thể tớch, sốmol , giỳp giỏo viờn kiểm tra đỏnh giỏ đợc kết quả học tập của học sinh, Từ đúphõn loại học sinh để cú kế hoạch sỏt với đối tượng Việc giải bài tập sẽ giỳp họcsinh được củng cố kiến thức lớ thuyết đó được học, vận dụng linh hoạt kiến thức vàolàm bài Để giải được bài tập đũi hỏi học sinh khụng chỉ nắm vững cỏc tớnh chất hoỏhọc của cỏc đơn chất và hợp chất đó học, nắm vững cỏc cụng thức tớnh toỏn, biếtcỏch tớnh theo phương trỡnh húa học và cụng thức hoỏ học Đối với những bài tậpđơn giản thỡ học sinh thường đi theo mụ hỡnh đơn giản: Như viết phương trỡnh hoỏhọc, dựa vào cỏc đại lượng bài ra để tớnh số mol của một chất sau đú theo phươngtrỡnh hoỏ học để tớnh số mol của cỏc chất cũn lại từ đú tớnh được cỏc đại lượng theoyờu cầu của bài Nhưng đối với nhiều dạng bài tập thỡ nếu học sinh khụng nắm đượcbản chất của cỏc phản ứng, khụng phõn dạng được bài tập, khụng nắm được phương
Trang 2pháp giải thì việc giải bài hóa học của học sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn vàthường là giải sai.
Qua nghiên cứu bài tập Hoá học và trực tiếp giảng dạy bản thân tôi thấy hầuhết học sinh chưa biết phân dạng và chưa có phương pháp giải bài tập hóa học nênmỗi khi giáo viên đưa ra một dạng bài tập nào đó học sinh gặp rất nhiều khó khăntrong việc xác định hướng giải Bên cạnh đó việc không biết giải các bài tập hóahọc hoặc thường xuyên giải sai đã làm cho các em cảm thấy môn hóa là môn họckhó, trở nên chán nản, không yêu thích môn học ảnh hưởng không nhỏ đến kết quảDạy - Học
Từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việctìm tòi phương pháp dạy học thích hợp, làm giảm đi những khó khăn của học sinhtrong quá trình học tập môn hóa, gây hứng thú học tập và lòng yêu thích bộ môn,nhằm phát triển tư duy lô gic giúp các em tích cực, tự lực, chủ động tìm tòi chiếmlĩnh tri thức, tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển tư duy của các em ở các cấp
học cao hơn góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo Nên tôi đã chọn đề tài: " Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9".
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Phân dạng được một số dạng bài tập hóa học và tìm ra được phương phápgiải các dạng bài tập đó một cách dễ hiểu, phù hợp với từng đối tượng học sinh,giúp các em giải tốt các dạng bài tập, từ đó có hứng thú với môn hóa học nhằmnâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn
Quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sẽ giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyênmôn nghiệp vụ cho bản thân đồng thời tích luỹ thêm kinh nghiệm trong quá trìnhgiảng dạy
I.3 THỜI GIAN – ĐỊA ĐIỂM
I.3.1 Thời gian:
- Một năm trong các giờ chính khóa, giờ ôn tập và tự rèn luyện ở nhà
I.3.2 Địa điểm:
- Trường THCS Thị Trấn Ba chẽ - Quảng Ninh
I.3.3 Phạm vi của đề tài:
I.3.3.1 Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối 9 trường THCS Thị Trấn Ba
chẽ
I.3.3.2 Đối tượng nghiên cứu: Bài tập hóa học lớp 9.
I.3.3.3 Địa bàn nghiên cứu: Trường THCS Thị Trấn ba chẽ
I.4 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÍ LUẬN THỰC TIỄN.
Trang 3I.4.1 Lí luận:
- Học sinh phân dạng được các dạng bài tập hóa học và có phương pháp giảicác dạng bài tập đó thì việc làm bài tập hóa học không còn là vấn đề khó khăn đốivới các em nữa, các em sẽ tránh được những sai lầm trong khi giải bài, khi gặp bất
kể một bài toán hóa học nào các em cũng có thể làm được một cách dễ dàng, khôngngần ngại, giáo viên cũng có nhiều thời gian hơn để đào sâu, mở rộng, nâng caokiến thức, đưa ra được nhiều cách giải hay, cách giải nhanh giúp các em học tập tốt
bộ môn từ đó yêu thích và hứng thú với môn hóa học hơn, chất lượng dạy - học sẽđược nâng lên
I.4.2 Thực tiễn:
Qua các giờ giảng dạy trên lớp, giờ phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng họcsinh khá giỏi GV tổ chức, hướng dẫn học sinh phân dạng bài tập hóa học trongchương trình hóa học lớp 9 đồng thời hướng dẫn các em xây dựng phương pháp giảicho các dạng bài tập đó nhằm phát triển kỹ năng làm bài tập hóa học, giúp các emchủ động giải quyết các bài tập hóa học một cách dễ dàng
II: PHẦN NỘI DUNG
II.1:CHƯƠNG1: CƠ SỞ LÍ LUẬN II.1 1.Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
- Trong những năm gần đây SGK biên soạn theo hướng tích cực hóa hoạtđộng của học sinh nên nội dung thường rất ngắn gọn và tương đối khó hiểu, dòi hỏigiáo viên phải nghiên cứu, tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp đặc biệt là việcphân dạng và đề ra phương pháp giải các dạng bài tập hóa học, hiện nay khối lượngbài tập hóa học dành cho học sinh tự luyện ở nhà cũng tăng lên nhiều so với trướcđặc biệt là có đầy đủ các dạng bài tập để học sinh luyện tập tuy nhiên để học sinh tựphân dạng và tự đưa ra phương pháp giải các dạng bài tập là một điều rất khó đốivới các em
Ở chương trình THCS môn hóa học bắt đầu được học từ lớp 8, các em họcsinh cũng mới được làm quen với các dạng bài tập hóa học đặc biệt là các dạng bàitập hóa học lớp 9 mặc dù thời gian tiếp xúc với bộ môn là rất ngắn so với bộ mônToán, văn và một số bộ môn khác, tuy nhiên việc giải tốt các dạng bài tập hóa họclớp 9 sẽ tạo nền móng vững chắc cho việc học hóa học của các em ở cấp THPT
Đã có nhiều chuyên đề bàn về bài tập hóa học nhưng sáng kiến kinh nghiệm
về " Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9" ít được
nghiên cứu mặc dù trong quá trình dạy học giáo viên cũng đã đưa ra nhưng chưa có
hệ thống , còn rời rạc và chưa thường xuyên
Trang 4- Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy đa số các em học sinh không xác địnhđược dạng bài tập và chưa có phương pháp giải bài tập nên tôi mạnh dạn đi sâunghiên cứu chuyên đề này, để giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn trong quá trìnhlàm bài tập hóa học Nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh và nângcao chất lượng trong giảng dạy.
II.1.2 Cơ sở lý luận:
Bài toán hoá học được xếp trong giảng dạy là một trong hệ thống các phươngpháp quan trọng nhất, để nâng cao chất lượng giảng dạy và nó có những tác dụngrất lớn
Làm cho học sinh hiểu sâu các khái niệm đã học: Học sinh có thể học thuộclòng các định nghĩa, khái niệm nhưng nếu không thông qua việc giải bài tập, họcsinh chưa thể nào nắm vững được cái mà học sinh đã thuộc
Mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm nặng nềkhối lượng kiến thức của học sinh
Củng cố kiến thức cũ một cách thường xuyên và hệ thống hoá các kiến thứchoá học
Thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, cần thiết về hoá học.Việc giải quyết các bài tập hoá học giúp học sinh tự rèn luyện các kỹ năng viếtphương trình hoá học, nhớ các ký hiệu hoá học nhớ các hoá trị của các nguyên tố,
Phân dạng bài tập hóa học thực chất chính là việc lựa chọn, phân loại các bàitập có những đặc điểm tương tự nhau, cách giải giống nhau để xếp vào cùng mộtnhóm
Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhấtđịnh, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định do đó phương pháp giải bài tập hóahọc cũng chính là cách thức, là con đường, phương tiện để giải các bài tạp hóa học
Trong giáo dục đại cương, bài tập được xếp trong hệ thống phương pháp dạyhọc, thí dụ phương pháp luyện tập Phương pháp này được coi là một trong nhữngphương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Đây cũng làmột phương pháp học tập tích cực đối với học sinh Ở nhà trường THCS, giáo viênhóa học cần nắm vững các khả năng vận dụng bài tập hóa học, nhưng quan trọnghơn là cần lưu ý tới việc sử dụng bài tập hóa học sao cho phù hợp, đúng mức nhằmnâng co khả năng học tập của học sinh nhưng không làm quá tải hoặc nặng nề khối
Trang 5lượng kiến thức của học sinh Muốn làm được điều này, trước hết người giáo viênhóa học phải nắm vững các tác dụng của bài tập hóa học, phân loại chúng và tìm raphương hướng chung để giải.
II.2.CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
II.2.1 Thực trạng của việc giải bài tập hóa học.
Khi được phân công giảng dạy môn hóa học khối lớp 9 tôi đã tiến hành khảosát chất lượng bộ môn và thu được kết quả như sau:
* Để nắm được học sinh có hứng thú với môn hóa hay không tôi đã tiến hànhlàm phiếu thăm dò 65 em học sinh khối 9 của trường THCS Thị Trấn
Câu hỏi:
1 Em có thích học môn Hoá không?
a, Có b, Bình thường c, Không thích
Trang 6* Nhận xét: Qua kết quả điều tra cho thấy phần lớn các em học sinh thích
học môn hoá nhưng khi hỏi các em có phân dạng và xác định được hướng giải cácbài tập hóa học không thì hầu hết các em trả lời là không và tất cả các em học sinhđều muốn giáo viên giúp các em phân dạng và xác định phương pháp giải Như vậy
có nghĩa là trong quá trình dạy học người giáo viên ngoài việc truyền thụ đủ kiếnthức theo yêu cầu của chương trình còn cần sáng tạo hơn trong việc truyền tải kiếnthức đến học sinh, cần có những phương pháp tích cực trong quá trình giảng dạy đểđến được đích cuối cùng là học sinh hiểu bài, làm được các bài tập có liên quan vàvận dụng tốt trong học tập, lao động và trong cuộc sống
II.2 2 Nguyên nhân học sinh không phân dạng được bài tập và không xác đinh được hướng giải các bài tập
- Khả năng nhận thức, phân tích tổng hợp của học sinh còn hạn chế
- Nhiều học sinh chưa chủ động trong học tập, còn lười làm bài tập ở nhà
- Sách giáo khoa đã đưa dược ra các dạng bài tập hóa học áp dụng với tínhchất là để củng cố lại phần kiến thức đã học trong bài như củng cố tính chất hóa họccủa ôxit, axit, bazo, muối mà các dạng bài tập lại không nằm gọn trong một phầnkiến thức nào cả, có thể trong một phần kiến thức rất nhỏ cũng có rất nhiều dạng bàitập để học sinh luyện tập, điều đó đòi hỏi học sinh phải tích cực, tự giác trong việc
tự học ở nhà, làm đi làm lại nhiều lần để có kỹ năng từ đó mới phân dạng được bàitập và rút ra được phương pháp giải các dạng bài tập đó
- Thời gian trên lớp chỉ đủ cho giáo viên truyền thụ hết lượng kiến thức mới
mà chương trình yêu cầu hoặc chỉ giải được rất ít bài tập nên khó khăn cho việcphân dạng và đưa ra phương pháp giải cho học sinh
Để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, đúc rútkinh nghiệm, tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, phân dạng được một số dạngbài tập hóa học đơn giản và xác định được phượng pháp giải các dạng bài tập đó
II.3 CHƯƠNG III: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
III.1 Đề xuất biện pháp giúp học sinh học tốt bộ môn hóa học
Trước những thực trang và nguyên nhân trên tôi mạnh dạn đưa ra một số biệnpháp giúp học sinh học tốt bộ môn nhằm nâng cao chất lượng dạy – học đó là:
- Học sinh phải có hứng thú học tập bộ môn
Trang 7- Biết phân dạng các dạng bài tập hóa học
- Xác định được phương pháp giải các dạng bài tập đó muốn vậy không aikhác giáo viên phải nghiên cứu và đưa vào thực tế giảng dạy
III.2.: Một số dạng bài tập hóa học lớp 9 và phương pháp giải
Dạng 1: Hoàn thành sơ đồ phản ứng Dạng 2: Phương pháp giải bài tập nhận biết Dạng 3: Phương pháp giải bài tập tách biệt Dạng 4: Bài toán hỗn hợp
Dạng 5: Bài tập về lượng chất dư:
Dạng 6: Bài tập về ôxit axit tác dụng với bazo Dạng 7: Tìm công thức hóa học của hợp chất hữu cơ
Dạng 8: Bài tập về đốt cháy hiđrocacbon
III 3 Phương pháp giải các dạng bài tập:
Dạng 1: HOÀN THÀNH SƠ ĐỒ PHẢN ỨNG
Phương pháp: Nắm chắc kiến thức về tính chất hóa học của các chất vô cơ ,mối quan hệ giữa các hợp chất, điều chế các hợp chất.
Ví dụ 1: Viết phương trình phản ứng hóa học theo sơ đồ chuyển hóa sau:
Trang 8(4) FeCl3 + 3AgNO3 3AgCl + Fe(NO)3
(5) Fe(NO3)3 + 3NaOH Fe(OH)3 + 3NaNO3
b) Viết phương trình hóa học theo sơ đồ trên
a) Sơ đồ chuyển hóa:
Na Na2O NaOH NaHCO3 Na2CO3 NaCl NaClO
Na2SO4 + BaCl2 BaSO4 + NaCl
NaCl + H2O điện phân dd NaClO + H2
Không mn
Ví dụ 3: Có những chất sau: Zn, Zn(OH)2, NaOH, Fe(OH)3, CuSO4, NaCl,HCl Hãy chọn chất thích hợp điền vào mỗi sơ đồ phản ứng sau và lập phương trìnhhóa học:
Trang 9Dạng 2: PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP NHẬN BIẾT
Phương pháp:
1 Nguyên tắc:
Dùng hóa chất thông qua phản ứng có hiện tượng xuất hiện để nhận biết cáchóa chất đựng trong các bình mất nhãn
2 Phản ứng nhận biết:
Phản ứng nhận biết phải là phản ứng đặc trưng: tức là phản ứng xảy ra:Nhanh, nhay, dễ thực hiện, phải có dấu hiệu, hiện tượng dễ quan sát ( kết tủa, hòatan kết tủa, thay đổi màu sắc, sủi bọt khí, có mùi )
3 Các kiểu câu hỏi nhận biết thường gặp:
Kiểu 1: Nhận biết với các chất (rắn, lỏng, khí) riêng biệt.
Với kiểu bài nhận biết này, nếu có n chất, ta cần nhận biết n - 1 chất, chất còn lại là chất thứ n VD: Bằng phương pháp hóa học, nhận biết 4 dung dịch đựng
trong 4 lọ: NaCl, Na2CO3, NaNO3, Na2SO4
Kiểu 2: Nhận biết hóa chất trong cùng hỗn hợp
Trong trường hợp này với n chất ta phải nhận biết n chất trong cùng một hỗn
hợp VD: Làm thế nào để nhận biết được 3 axit HCl, HNO3, H2SO4 cùng tồn tại
trong một dung dịch loãng
4 Các dạng bài nhận biết trong mỗi kiểu:
Dạng 1: Nhận biết với thuốc thử không hạn chế.
VD: Bằng phương pháp hóa học, nhận biết các dung dịch sau: BaCl2,AgNO3, NaOH, H2SO4
Dạng 2: Nhận biết với thuốc thử hạn chế ( có thể thuốc thử cho sẵn hơcj phải
tìm) VD: Chỉ dùng nước có thể nhận biết 3 chất rắn: BaO, Al2O3, MgO đựng trong
3 lọ sau không? Nếu có hãy nhận biết
Dạng 3: Nhạn biết mà không dùng thuốc thử ngoài.
VD: Không sử dụng thuốc thư ngoài, nhận biết 5 dung dịch sau:HCl,Na2CO3, BaCl2, Na2SO4, NaCl
5 Cách trình bày một bài nhận biết (gồm 4 bước chính).
Cách 1: Dùng phương pháp mô tả.
- Bước 1: Trích mẫu thử( Thường là lấy ra mỗi chất một ít làm mẫu thử)
- Bước 2: Chọn thuốc thử ( tùy thuộc vào yêu cầu đề bài: Thuốc thử khônghạn chế, ạn chế hoặc không dùng thuốc thử ngoài)
- Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu thử, trình bày hiện tượng quan sát được từ
Trang 10Quy ước: (-): Không có dấu hiệu gì xảy ra( mặc dù có thể có phản ứng), (///)
Na2SO4 + BaCl2 BaSO4 + 2NaCl
Cho hai mẫu thử của hai dung dịch còn lại vào hai cốc đựng dung dịchAgNO3 Mẫu thử nào tạo kết tủa trắng là NaCl:
NaCl + AgNO3 AgCl + NaNO3
Mẫu còn lại không có hiện tượng gì là NaNO3
Ví dụ 2: Chỉ dùng nước và khí cacbonnic có thể phân biệt 5 chất bột trắng
sau đây không? NaCl, Na2CO3, Na2SO4, BaCO3, BaSO4 Nếu được hãy trình bàycách nhận biết
Bài giải:
Ta có sơ đồ nhận biết:
Dd (1)
Phương trình hóa học:
CO2 + H2O + BaCO3 Ba( HCO3)2
Ba( HCO3)2 + Na2CO3 BaCO3 + 2NaHCO3
Ba( HCO3)2 + Na2SO4 BaSO4 + 2NaHCO3
CO2 + H2O + BaCO3 Ba(HCO3)2
Ví dụ 3: Không dùng hóa chất khác, nhận biết: HCl, K2CO3, NaCl, Na2SO4 vàBa(NO3)2
Bài giải:
Cho các dung d ch tác d ng v i nhau t ng ôi m t, k t qu ụng với nhau từng đôi một, kết quả được trình ới nhau từng đôi một, kết quả được trình ừng đôi một, kết quả được trình đôi một, kết quả được trình ột, kết quả được trình ết quả được trình ả được trình đôi một, kết quả được trìnhược trìnhc trình
b y b ng sau:ày ở bảng sau: ở bảng sau: ả được trình
Trang 11- Dung dich không tạo hiện tượng gì là NaCl
- Dung dịch tạo kết tủa trắng với một dung dịch khác là Na2SO4
- Dung dịch tạo kết tủa trắng với hai dung dịch khác là Ba(NO3)2
- Dung dịch vừa tạo CO2 vừa tạo kết tủa trắng với hi dung dịch khác là
K2CO3
Dạng 3: PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP TÁCH BIỆT
Phương pháp:
1 Nội dung:
Có hỗn hợp nhiều chất trộn lẫn với nhau dùng phản ứng hó học kết hợp với
sự tách, chiết, đun sôi, cô cạn, để tách một chất ra khỏi hỗn hợp hay tách các chất rakhỏi nhau
2 Các dạng toán tách riêng
a) Tách một chất ra khỏi hỗn hợp.
Dạng toán này chỉ cần tách riêng một chất ra khỏi hỗn hợp, loại bỏ các chấtkhác, ta có một trong hai cách giải sau:
* Cách 1: Dùng hóa chất phản ứng tác dụng lên các chất cần loại bỏ, còn
chất được tách riêng không tác dụng sau phản ứng được tách ra dễ dàng
Ví dụ 1: Có hỗn hợp Cu, zn, Fe Hãy Cu ra khỏi hỗn hợp.
Trang 12Ví dụ 3: Cĩ hỗn hợp khí CO2 và O2 làm thế nào cĩ thể thu được khí O2 ừ hỗnhợp trên? Trình bày cách làm và viết phương trình hĩa học
Bài giải:
Dãn hỗn hợp vào dung dịch nước vơi trong dư, lúc đĩ CO2 bị hấp thụ hồntồn theo phản ứng:
CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O
Cịn O2 Khơng phản ứng, thốt ra khỏi dung dịch được thu lấy
Cách 2: Dùng hĩa chất tác dụng với chất cần muốn tách riêng tạo ra sản
phẩm mới, sản phẩm dễ tách khỏi hỗn hợp và dễ tái tạo lại chất ban đầu
Ví dụ: Cĩ hỗn hợp ba muối rắn BaCl2, KCl, NaCl Hỹ tách riêng BaCl2 khỏihỗn hợp
Bài giải:
Cho hỗn hợp vào cốc đựng dung dịch Na2CO3 dư
BaCl2 + Na2CO3 BaCO3 + 2NaClLọc tách BaCO3, rồi cho tác dụng với dung dịch HCl:
* Đặt ẩn ( a,b …) cho số mol của mỗi chất trong hỗn hợp
* Viết PTHH tính theo PTHH với các ẩn
* Lập các phương trình tốn liên lạc giữa các ẩn và các dữ kiện
* Giải phương trình tìm ẩn
* Hồn thành yêu cầu của đề
3) Dạng 3: Hỡn hợp chứa mợt chất có CTHH trùng sản phẩm của chất kia.
* Tổng quát :
(
mới sinh) (ban đầu )
Trang 13* Cách giải :
* Như dạng 2
* Cần chú ý : lượng B thu được sau phản ứng gồm cả lượng B còn lại vàlượng B mới sinh ra trong phản ứng với chất A
4) Một số điểm cần lưu ý khi giải toán hỗn hợp:
* Nếu hỗn hợp được chia phần có tỉ lệ ( gấp đôi, bằng nhau … ) thì đặt ẩn x,y
…cho số mol từng chất trong mỗi phần
* Nếu hỗn hợp được chia phần không có quan hệ thì đặt ẩn (x,y,z …)cho số mol
mỗi chất ở một phần và giả sử số mol ở phần này gấp k lần số mol ở phần kia.
Ví dụ 1: Hòa tan 20 g hỗn hợp 2 ôxit CuO và Fe2O3 cần vừa đủ 200ml dung dịchHCl 3.5M
a, Viết phương trình phản ứng xảy ra, tính thành phần % theo khối lượng của mỗiôxit trong hỗn hợp
b, Tính khối lượng muối sinh ra sau phản ứng
Ví dụ 2: Cho 10.5 gam hỗn hợp 2 kim loại Cu, Zn vào dung dịch H2SO4 loàng
dư người ta thu được 2.24 lit khí (đktc)
a) Viết phương trình hóa học
b) Tính khối lượng chất rắn còn lại sau phản ứng
Bài giải:
a) Chỉ có Zn phản ứng theo phương trình hóa học:
Zn + H2SO4 ZnSO4 + H2
Trang 14b) Từ tỉ lệ phản ứng ta có: nZn = nH2=
2.24 22.4= 0.1 (mol)
Ví dụ phương trình: A + B C + D
Cách giải: Lập tỉ số:
Số mol chất A( theo đề bài) Số mol chất B( theo đề bài)
Số mol chất A (theo phương trình) Số mol chất A (theo phươngtrình)
So sánh 2 tỉ số, tỉ số nào lớn hơn, chất đố dư, chất kia phản ứng hết Tính toán(theo yêu cầu của đề bài) theo chất phản ứng hết
Ví dụ 1: Cho 50 gam dung dịch NaOH tcs dụng với 36.5 gam dung dịch HCl.
Tính khối lượng muối tạo thành sau phản ứng
Phương trình phản ứng: NaOH + HCl NaCl + H2O
Theo phương trình: 1 mol 1 mol
Theo dầu bài: 1.25 1 mol 1 mol
Theo phương trình phản ứng trên và dữ kiện của đề bài ta thấy nNaOH dư nên tính
nNaCl theo nHCl ( nghĩa là tính mNaCl theo mHCl)
nNaCl theo nHCl = 1 x 58.5 = 58.5(g)
Trang 15Ví dụ 2 Trộn một dung dịch có hòa tan 0,2mol FeCl2 với một dung dịch cóhòa tan 20g NaOH Lọc hỗn hợp các chất sau phản ứng được kết tủa và nước lọc.Nung kết tủa đến khối lượng không đổi
a) Viết các phương trình hóa học xảy ra?
b) Tính khối lượng chất rắn sau khi nung?
c) Tính khối lượng các chất tan trong dung dịch lọc?
40 (mol)
FeCl2 + 2NaOH→ Fe(OH)2 + 2NaCl
Theo §B: 1 mol 2 molTheo PT: 0.2mol 0.5 molXÐt tØ lÖ:
0.2
1 <
0.5
2 VËy sau ph¶n øng NaOH d, FeCl2 ph¶n øng hÕt
Theo PTPU (1) vµ (2) chÊt r¾n sau khi nung lµ FeO
nFeO = nFe(OH)2= nFeCl2= 0.2 mol
Dạng 6: BÀI TẬP VỀ ÔXITAXIT TÁC DỤNG VỚI BAZO:
KOH ) có các trường hợp sau xảy ra:
Trang 16Khi cho CO2, SO2 dư vào dung dịch NaOH, dung dịch KOH thì sản phẩm thuđược là muối axit duy nhất.
Tức là:
n( CO2, SO2 ) > n ( NaOH, KOH )Phương trình:
2 2
(NaOH,KOH) (CO ,SO ) ≤ 1 Kết luận: Sản phẩm tạo ra muối axit và CO2 hoặc SO2 còn dư
2 2
(NaOH,KOH) (CO ,SO ) ≥ 2 ( không quá 2,5 lần)
2 2
(NaOH,KOH) (CO ,SO ) < 2
KÕt luËn :S¶n phÈm t¹o ra lµ hçn hîp hai muèi:Muèi axit vµ muèi trung hoµ Phương trình phản ứng
Ví dụ: CO2 + NaOH NaHCO3 (I)
CO2 + 2NaOH Na2CO3 + H2O
Hoặc cách viết:
CO2 + 2NaOH Na2CO3 + H2O
CO2 + Na2CO3 + H2O 2NaHCO3 (II) Hoặc:
CO2 + NaOH NaHCO3
NaHCO3 + NaOH Na2CO3 + H2O (III)
Nhận xét :
Trang 17- Trong cách viết phản ứng (II) ta viết phản ứng tạo thành Na2CO3 trước, sau
đó dư CO2 mới tạo thành muối axit
- Cách này là đúng nhất vì lúc đầu lượng CO2 sục vào còn rất ít, NaOHdư do
đó phải tạo thành muối trung hoà trước
- Cách viết (I) và (III) nếu như giải bài tập sẽ vẫn ra cùng kết quả như cáchviết (II),nhưng bản chất hoá học không đúng.Ví dụ khi sục khí CO2 vào nước vôitrong, đầu tiên ta thấy tạo thành kết tủa và chỉ khi CO2 dư kết tủa mới tan tạo thànhdung dịch trong suốt
CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2OCaCO3 + CO2 + H2O Ca(HCO3)2 tan
Cách viết (I) chỉ được dùng khi khẳng định tạo thành hỗn hợp hai muối, nghĩa là :
n
CO2 < nNaOH < 2 nCO2 Hay:
1 <
n n
2 2
(NaOH,KOH) (CO ,SO ) < 2
Ví Dụ: Dẫn khí CO2 điều chế được bằng cách cho 100 g đá vôi tác dụng vớidung dịch HCl dư, đi qua dung dịch chứa 60 g NaOH.Tính khối lượng muối tạothành:
CO
NaOH
= 1,5 < 2 Kết luận:Sản phẩm tạo ra 2 muối ta có phương trình phản ứng.
*Cách 1:
CO2 + NaOH NaHCO3 ( 2 )NaHCO3 + NaOH Na2CO3 + H2O (3)Theo (2)
nNaOH = nNaHCO3 = nCO2 = 1 mol
nNaOH dư tham gia phản ứng (3) là: 1,5 -1= 0,5 (mol)
Theo (3) nNaOH dư = nNaHCO3 = nNa2CO3 = 0,5 (mol)
Trang 18Sau khi tính số mol lập tỉ số khẳng định sản phẩm tạo ra hai muối:
Ta có thể viết phương trình theo cách sau:
Phương trình phản ứng:
2NaOH + CO2 Na2CO3 + H2O (4)
CO2 + NaOH NaHCO3 ( 5 )Gọi x,y lần lượt là số mol CO2 tham gia phản ứng (4),(5) (hoặc có thể đặt sốmol của hai muối tạo thành )
Ta có:
Phương trình: x + y = 1 (I)Theo (4) => nNaOH = 2nCO2 = 2x (mol)
Theo (5) => nNaOH = nCO2 = y (mol)
nNaOH = 1,5 (mol) do đó ta có: 2x + y = 1,5 (II) Kết hợp (I),(II) ta có hệ phương trình :
x + y = 1 ( I ) x = 0,5 ( mol) => y = 0,5 (mol)
2x + y = 1,5 (II) Vậy:
Số mol Trước P/ư 0,25 0,75
các chất Phản ứng 0,25 0,25 2 0,25
Sau P/ư 0 0,5 0,5
Dung dịch sau phản ứng gồm: Na2CO3 : 0,5 (mol)
NaHCO3 : 0,5 (mol)