LUẬN VĂN THẠC SĨ CAO HỌC VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. ........................................................................................................ LUẬN VĂN THẠC SĨ CAO HỌC VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. ........................................................................................................
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã ngành: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hằng
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêutrong luạn̂ van̆ là trung thực và chua̛ từng đuợ̛c bảo vệ truớ̛c bất kỳ hộiđồng nào truớ̛cđây
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 4Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, giáo viên môn Sinh học, học sinh khối
10 năm học 2018 - 2019 trường THPT Lưu Nhân Chú - Đại Từ, trường THPT YênNinh - Phú Lương, trường THPT Thái Nguyên, trường THPT Lương Ngọc Quyếntỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thựcnghiệm sư phạm
Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, khuyến khích tôitrong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp mới của đề tài 4
8 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tình hình nghiên cứu và vận dụng mô hình lớp học đảo ngược 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Khái niệm về lớp học đảo ngược 9
1.2.1 Lớp học đảo ngược là gì? 9
1.2.2 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược 10
1.2.3 Các mô hình của lớp học đảo ngược 13
1.3 Mối quan hệ giữa dạy học đảo ngược với việc hình thành và phát triển năng lực của học sinh 14
1.4 Thực trạng dạy học môn Sinh học và dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược ở trường phổ thông 18
1.4.1 Mục đích và phương pháp điều tra 18
1.4.2 Kết quả điều tra 19
Kết luận chương 1 24
Trang 6Chương 2 VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY
HỌC SINH HỌC SINH HỌC TẾ BÀO Ở TRƯỜNG THPT 25
2.1 Đặc điểm nội dung phần Sinh học tế bào (Sinh học 10 THPT) 25
2.1.1 Đặc điểm môn Sinh học ở trường THPT 25
2.1.2 Nội dung phần Sinh học tế bào ở trường THPT 30
2.2 Thiết kế kế hoạch dạy học Sinh học tế bào theo mô hình lớp học đảo ngược 34
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng bài học Sinh học theo mô hình lớp học đảo ngược 34
2.2.2 Quy trình thiết kế kế hoạch lớp học đảo ngược 35
2.2.3 Thiết kế các hoạt động dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 36
2.3 Tổ chức dạy học Sinh học tế bào theo mô hình lớp học đảo ngược 41
2.3.1 Nguyên tắc tổ chức hoạt động học tập theo mô hình lớp học đảo ngược 41
2.3.2 Phương pháp vận dụng lớp học đảo ngược trong dạy học Sinh học tế bào 41
2.3.3 Tổ chức dạy học Sinh học tế bào theo mô hình lớp học đảo ngược 41
2.3.4 Dự kiến phương án kiểm tra đánh giá cho lớp học đảo ngược trong dạy học Sinh học tế bào 42
Kết luận chương 2 45
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 46
3.1 Mục đích thực nghiệm 46
3.2 Phương pháp thực nghiệm 46
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 46
3.3.1 Chọn các trường thực nghiệm 46
3.3.2 Chọn các lớp thực nghiệm 46
3.4 Nội dung thực nghiệm sư phạm 46
3.5 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 47
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 47
3.6.1 Kết quả phân tích định lượng bài kiểm tra 47
3.6.2 Kết quả phân tích định tính 52
Kết luận chương 3 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Lợi ích của các hoạt động trong mô hình lớp học đảo ngược 11
Bảng 1.2 Mô hình lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược 15
Bảng 1.3 Kết quả điều tra hoạt động học tập môn Sinh học của học sinh 20
Bảng 1.4 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học 21
Bảng 1.5 Nhận thức về vai trò của mô hình lớp học đảo ngược 22
Bảng 1.6 Những khó khăn khi vận dụng dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược23 Bảng 2.1 Chương trình Sinh học ở trường THPT hiện hành 25
Bảng 2.2 Nội dung cốt lõi môn Sinh học trong chương trình GDPT mới 27
Bảng 2.3 Một số điểm khác biệt trong chương trình Sinh học hiện hành và chương trình Sinh học mới 28 Bảng 2.4 Nội dung cơ bản phần Sinh học tế bào môn Sinh học cấp THPT 30
Bảng 2.5 Nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt của phần Sinh học tế bào 30
Bảng 2.6 Gợi ý mô tả biến đổi của tế bào qua các kì của chu kì tế bào 37
Bảng 2.7 Hoạt động nhóm ở giai đoạn trong lớp học 39
Bảng 3.1 Đối tượng tham gia thực nghiệm 46
Bảng 3.2 Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra 48
Bảng 3.3 Tần suất điểm kiểm tra lần 1 48
Bảng 3.4 Bảng tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra 1 49
Bảng 3.5 So sánh các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1 49
Bảng 3.6 Tần suất điểm kiểm tra lần 2 50
Bảng 3.7 Bảng tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra lần 2 51
Bảng 3.8 So sánh các tham số đặc trưng bài kiểm tra 2 51
Bảng 3.9 Nhận thức của học sinh về vai trò của mô hình lớp học đảo ngược 52
Bảng 3.10 Kết quả thực hiện các kỹ năng học tập qua hoạt động học tập 53
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các mức độ của hoạt động trong lớp học truyền thống và LHĐN 15
Hình 1.2 Các mức độ nhận thức và năng lực tư duy trong LHĐN 17
Hình 1.3 Biểu đồ thái độ của học sinh đối với môn Sinh học 19
Hình 1.4 Biểu đồ đánh giá vai trò của môn Sinh học 19
Hình 1.5 Biểu đồ mức độ tìm hiểu của giáo viên về mô hình LHĐN 22
Hình 2.1 Quy trình thiết kế lớp học đảo ngược 35
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra lần 1 48
Hình 3.2 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra 1 49
Hình 3.3 Biểu đồ tần suất điểm bài kiểm tra lần 2 50
Hình 3.4 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra 2 51
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT không những là đòi hỏi tất yếu của thờiđại mà còn là nhu cầu tự thân của nền giáo dục Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế [1]
Nghị quyết trung ương số 29-NQ/TW đã xác định đổi mới căn bản toàn diện vềmục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, thiết bị và đánh giá chất lượnggiáo dục Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 28/11/2014, Quốc hội khóa XIII
đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, SGK GDPT [11].Trong định hướng đổi mới đó, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo tiếp tục đổi mới PPDH nhằmphát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học và vận dụngkiến thức, kỹ năng của HS (Theo công văn số 3535/BGDĐT - GDTrH ngày27/05/2013 về áp dụng phương pháp “Bàn tay năn bột” và các phương pháp DH tíchcực khác) [2] Đổi mới đánh giá giờ dạy GV cũng được thay đổi, đẩy mạnh việc vậndụng DH giải quyết vấn đề, DH theo dự án,…, tích cực ứng dụng CNTT phù hợp vớinội dung bài học [3]
Trong Chương trình GDPT tổng thể, mục tiêu chung của các môn học là gópphần hình thành và phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung cốt lõi vànăng lực chuyên môn
1.2 Xuất phát từ ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược
LHĐN nói về sự đảo chiều của phương pháp giảng dạy truyền thống, là nơi mà
HS có sự tiếp xúc đầu tiên với các tài liệu mới bên ngoài lớp học, thường là qua cácbài đọc hoặc video bài giảng, sau đó thời gian trên lớp sẽ được sử dụng để giải quyếtvấn đề khó hơn là lĩnh hội kiến thức thông qua các chiến lược như giải quyết vấn đề,thảo luận hoặc tranh luận Bản chất giờ học trên LHĐN tập trung giải quyết các nộidung vốn trước đây được coi là bài tập về nhà và dành nhiều thời gian hơn cho việcthảo luận, đào sâu kiến thức
Trang 11Trong LHĐN, HS được lựa chọn cách thức, thời gian, địa điểm học tập phù hợpvới mình, được linh hoạt trong đánh giá, đánh giá quá trình và đánh giá kết quả Trênlớp có thể sử dụng nhiều phương pháp tích cực hóa hoạt động người học như hoạtđộng nhóm, giải quyết vấn đề… để nghiên cứu vấn đề sâu sắc hơn Nội dung DHđược người dạy thiết kế có định hướng nhằm giúp người học có thể tự nghiên cứutrong thời gian ngoài lớp học [10].
1.3 Xuất phát từ đặc điểm dạy học Sinh học tế bào ở trường THPT
Môn Sinh học phát triển ở HS năng lực tìm hiểu tự nhiên, bao gồm các năng lựcnhận thức kiến thức sinh học, năng lực tìm tòi khám phá thế giới sống dưới góc độsinh học và năng lực vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn [5]
Trong Chương trình GDPT môn Sinh học, phần SHTB bao gồm các nội dungkhái quát về tế bào, thành phần hóa học, cấu trúc, trao đổi chất và chuyển hóa nănglượng, thông tin trong tế bào, kiến thức về chu kì tế bào và phân bào, công nghệ tếbào, công nghệ enzyme và một số thành tựu Phần lớn những nội dung này cũng đượcthể hiện trong chương trình, SGK Sinh học 10 hiện hành
Tuy nhiên, việc thực hiện chương trình, SGK hiện hành của các môn học ởtrường phổ thông hiện nay đang được tiến hành theo từng bài/tiết Các nội dung đượcphân chia thành những đơn vị kiến thức cụ thể, theo từng bài học và được sắp xếptuần tự, phù hợp với tiến trình lĩnh hội kiến thức cho HS Cách thiết kế này thuận lợicho việc tổ chức DH trên lớp cũng như quản lý việc DH và phân phối chương trìnhhiện đang được áp dụng Nhưng không phát huy được năng lực học tập của HS, HScòn bị động trong việc lĩnh hội tri thức, dẫn đến việc lưu giữ kiến thức không bềnvững và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn gặp khó khăn
Vậy để tiếp cận với chương trình giáo dục mới, chúng ta cần áp dụng các PPDHnào mang lại hiệu quả DH Sinh học nói chung và DH SHTB nói riêng? Tiếp cận môhình LHĐN có ý nghĩa như thế nào trong tiến trình đổi mới PPDH môn học ở trườngTHPT?
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Vận
dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Sinh học tế bào ở trường
trung học phổ thông”.
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
- Thiết kế được kế hoạch DH vận dụng mô hình LHĐN trong DH SHTB ở trường THPT
- Vận dụng được kế hoạch đã thiết kế vào thực tiễn DH
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình LHĐN trong DH SHTB ở trường THPT
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình DH Sinh học ở trường THPT
4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của mô hình LHĐN và điều tra thực trạng DH Sinh học theo mô hình LHĐN
- Nghiên cứu nội dung chương trình, kiến thức SHTB để xác định các nội dung
DH phù hợp với mô hình LHĐN
- Xây dựng quy trình và kế hoạch DH mô hình LHĐN trong DH SHTB
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và đánh giá tính khả thi và hiệu quả của kế hoạch DH SHTB theo mô hình LHĐN
5 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và vận dụng được mô hình LHĐN trong DH SHTB thì sẽ nâng cao hiệu quả học tập và năng lực tự học của HS
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Văn bản của Bộgiáo dục và đào tạo về thực hiện đổi mới giáo dục ở trường phổ thông
Nghiên cứu các tài liệu về mô hình LHĐN, về tâm lý học, giáo dục học, về DHtheo định hướng phát triển năng lực người học để xác định cơ sở khoa học của đề tài.Nghiên cứu các tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo về SHTB để xây dựng quytrình DH theo mô hình LHĐN và vận dụng quy trình đó trong DH SHTB ở trườngTHPT
6.2 Phương pháp điều tra sư phạm
Điều tra thực trạng DH môn Sinh học và DH theo mô hình LHĐN ở trường phổthông để làm cơ sở thực tiễn của đề tài
Trang 136.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành DH theo mô hình LHĐN có ĐC để kiểm định tính phù hợp và hiệu quả của giả thuyết khoa học
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lý, phân tích, tổng hợp các kết quả điều tra và TN
sư phạm
7 Đóng góp mới của đề tài
- Thiết kế và vận dụng được kế hoạch DH theo mô hình LHĐN trong DH SHTB
ở trường THPT
- Kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các GV, HS, SV trong quá trình dạy và học theo mô hình LHĐN tại trường THPT
8 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Bước đầu nghiên cứu, thiết kế kế hoạch và tổ chức DH 3 nội dung thuộc phần SHTB vận dụng mô hình LHĐN
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tình hình nghiên cứu và vận dụng mô hình lớp học đảo ngược
1.1.1 Trên thế giới
Mô hình LHĐN được xác định là có vai trò cần thiết cho người học trong thờihiện đại, được áp dụng ngày càng phổ biến ở một số nước có nền giáo dục phát triểnnhư Australia, Mỹ, các nước châu Âu,…
Khái niệm “đảo ngược” một lớp học xuất hiện từ những năm 90 của thập kỉ XX.Alison King (1993) đã tập trung vào tầm quan trọng của việc sử dụng thời gian trong lớphọc để xây dựng ý nghĩa thay vì truyền tải thông tin, được trích dẫn như một động lựccho một sự đảo ngược, tạo một không gian giáo dục cho việc học tập tích cực Năm
1997, Eric Mazur đã xuất bản cuốn sách có tựa đề Peer Instruction: A User's Manual,
trong đó ông cho thấy phương pháp được ông sử dụng đã chuyển tải thông tin ra khỏi lớphọc, thay vì giảng bài, ông thường xuyên thảo luận và trao đổi với SV [17]
LHĐN chính thức được áp dụng từ năm 2006 khi Bill Brantley đưa ra hình thứchọc tập đảo ngược ở hội thảo DH chính trị, khoa học của Mỹ Trước đó, từ năm 2004,khái niệm về LHĐN cũng đã được Tenneson và McGlass đưa ra trong DH thực tiễn.Trong bài báo có tựa đề được tạm dịch là “Đảo ngược lớp học: Cánh cổng tạo ramôi trường học tập hòa nhập”, Lage, Platt và Treglia đã thảo luận về các LHĐN ởcấp đại học ngành kinh tế, cho thấy có thể tận dụng thời gian trên lớp nhờ phươngpháp đảo ngược lớp học Các tác giả cho rằng có thể chuyển bài thuyết trình ra khỏilớp học sang phương tiện truyền thông như máy tính hoặc VCR để đáp ứng được nhucầu của SV với nhiều phong cách học tập đa dạng [19]
Năm 2004, Học viện Khan được thành lập bởi Salman Khan, xuất phát từ việcngười anh em họ đang được Khan dạy kèm cảm thấy những bài học được ghi chép lạithật phiền chán, Khan cần phải quay video bài học cho họ rồi cùng thảo luận vấn đềhọc tập gây nhiều phiền toái Đây là một dạng của phương pháp học tập đảo ngược[21] Bên cạnh đó, trung tâm tập trung vào nghiên cứu và ứng dụng “học tập đảongược và pha trộn) cũng được ra đời bởi Wisconsin Cấu trúc lớp học theo yêu cầucủa họ là lớp học chứa công nghệ và không gian học tập thân thiện cho sự cộng tác,
Trang 15còn người tham gia chương trình được đặt vào các chiến lược giảng dạy phi truyềnthống như LHĐN Mô hình “Flipped-Mastery” được hình thành từ năm 2007 và pháttriển bởi các GV hóa học thuộc trường trung học Woodland Park JonathanBergmann Họ đã ghi lại các bài giảng của mình và đăng chúng lên mạng, tạo cơ hộihọc tập cho các HS bỏ lỡ lớp học [18].
Trên trang báo điện tử của news.zing.vn giới thiệu mô hình LHĐN ở Mỹ Ở Mỹ,phần lớn các cơ sở giáo dục đã đảo ngược quy trình nghe giảng bài trên lớp, về nhàlàm bài tập Mô hình DH mới này được gọi là Flipped Classroom (LHĐN) Theo mộtcuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành, số lượng
GV áp dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trongnăm 2014, so với 48% vào năm 2012 Trong đó, các GV tham gia khảo sát đều đồng
ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm sốcủa HS tăng lên 67% so với cách học truyền thống Ngoài ra, 3/4 trong tổng số180.000 HS trung học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng ý rằngFlipped Classroom mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với bình thường [24] Các
theo cách mà SV có thể truy cập chúng trong suốt học kỳ của một khóa học dựa trênbài giảng về tâm lý giáo dục Các giáo sư đã khảo sát cách các SV sử dụng các công
cụ giáo dục của họ: tham dự các bài giảng và xem hoặc tua lại video Sau đó, SVđược xếp hạng (theo thang điểm từ 1 = không đến 6 = gần như tất cả) mức độ thườngxuyên họ sử dụng các tài liệu này Phần lớn các SV (68,1%) dựa vào việc xem cácpostcard nhưng có tỷ lệ tham gia thấp so với việc sử dụng postcard của họ Phần cònlại, các SV hiếm khi xem postcard (19,6%) hoặc phần nào sử dụng postcard (12,3%),nhưng cả hai đều có bài giảng tương tự Những SV đã xem các video nhiều hơn cácbạn đồng trang lứa của họ thực hiện tốt hơn những người chọn khác [20]
Không chỉ các trường đại học sử dụng mô hình LHĐN, các trường phổ thông
2011 đã sử dụng PPDH đảo ngược trong lớp học Theo đó, GV xây dựng kế hoạchcho các LHĐN Họ tiến hành thử nghiệm và so sánh giữa hai lớp được cung cấp tàiliệu và bài tập giống hệt nhau, nhưng 1 lớp thực hiện theo kế hoạch DH truyền thống,
Trang 161 lớp thực hiện theo kế hoạch LHĐN Sau 20 tuần học, HS trong LHĐN đã có kếtquả học tập vượt trội so với lớp thông thường.
khởi xướng việc học đảo ngược, đã đưa ra sáng kiến Toàn cầu học tập theo mô hìnhlớp LHĐN, do Errol St.Clair Smith lãnh đạo Vào ngày 26 tháng 1 năm 2018, Sángkiến này đã giới thiệu Khoa Quốc tế của mình, được tạo ra để cung cấp một tiêuchuẩn đào tạo nhất quán và hỗ trợ liên tục cho các trường học và hệ thống trường họctrên khắp thế giới [24]
Với nhiều ưu điểm nổi bật, LHĐN đã được nhiều cơ sở giáo dục trên thế giới ápdụng trong giảng dạy, từ cấp trung học đến đại học
1.1.2 Ở Việt Nam
Do LHĐN được ứng dụng dựa trên sự phát triển của công nghệ E-Learning vàphương pháp đào tạo hiện đại nên ở nước ta, việc nghiên cứu và áp dụng mô hình DHnày còn chưa phổ biến
Mô hình LHĐN được biết đến trong vài năm gần đây, chủ yếu là các bài viếtgiới thiệu trên các trang web, trang tin của các trường hoặc cơ sở đào tạo [23], [26],[27], [28] Một số cơ sở giáo dục sử dụng mô hình LHĐN trong giảng dạy như Đạihọc FPT, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo, trường họcVinschool, trường THCS Đức Trí, THPT Trần Khai Nguyên và trang web giáo dụctrực tuyến Zuni.vn,
Trường THPT Trần Khai Nguyên (TP HCM) đã thử nghiệm ứng dụng mô hìnhLHĐN vào giảng dạy môn Giáo dục công dân Để có tiết học này, GV đã tận dụngFacebook của mỗi lớp và tải lên đó đoạn phim ngắn bài giảng - thường là tình huốngthực tế (khoảng 10 phút) HS theo dõi video và được phân công công việc theo nhóm,
có thể giải quyết tình huống bằng cách giới thiệu và giải thích những kiến thức cơ bảnhoặc có thể diễn tiểu phẩm, hoặc có thể viết các câu khẩu hiệu, vẽ tranh cổ động,…tùy theo sở trường của mỗi nhóm Trước khi kết thúc tiết học, GV gợi mở để HS thảoluận và đưa ra những thắc mắc cần giải đáp Cách tổ chức này đã gây được sự hứng
Trang 17Vischool là trường học thường xuyên tổ chức những chương trình tọa đàm, trao đổi
về những kinh nghiệm, phương pháp giáo dục hiện đại và cách áp dụng trong môn họccủa mình Một trong những phương pháp gây được ấn tượng là phương pháp LHĐN.Một số môn học được áp dụng như Ngữ văn, Mỹ thuật,… cho thấy nguyên lý chung là
HS tự tìm hiểu về nội dung bài học ở nhà qua mạng, sau đó trình bày tại lớp, tương táccùng GV và các bạn khác để củng cố nội dung kiến thức Nhờ đó, HS có thêm sự hứngthú trong việc tìm hiểu bài, phát huy các kĩ năng, đồng thời cho phép GV có thêm thờigian để củng cố kiến thức, đi sâu hơn vào nội dung bài học [23]
Những áp dụng mô hình LHĐN ở các trường học ở nước ta chủ yếu vẫn mangtính thử nghiệm Tác giả Nguyễn Hoài Nam, Vũ Thái Giang đã giới thiệu nội hàmlớp học đảo trình dựa trên các lý thuyết học tập và đề xuất mô hình LHĐN trong bồidưỡng kỹ năng CNTT cho SV sư phạm Tác giả đã giới thiệu tiến trình áp dụngLHĐN gồm 4 bước (Phân tích → Thiết kế → Tổ chức/vận hành → Đánh giá/thunhận phản hồi) và phân tích tính khả thi, nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực củangười học [10] Tuy nhiên, tác giả chưa làm nổi bật được tính chất “đảo ngược” trongquy trình này Tác giả Nguyễn Quốc Vũ, Lê Thị Minh Thanh, giới thiệu khả năngứng dụng việc dạy học với mô hình LHĐN trong dạy học chuyên đề kĩ thuật số theo 3bước là trước giờ học trên lớp, trong giờ học trên lớp, sau giờ học trên lớp ở trườngĐại học Đồng Tháp Nghiên cứu đã cho thấy mô hình này tạo hứng thú học tập, nângcao kết quả học tập và giúp sinh viên phát triển năng lực tư duy sáng tạo [12] Tuynhiên, nghiên cứu chưa cho thấy sự hình thành và phát triển năng lực tự học củangười học
Vận dụng mô hình LHĐN nhằm phát triển năng lực và năng lực tự học cho HSđược đánh giá là khá hiệu quả trong dạy học một số môn học trường phổ thông.Trương Thị Phương Chi trong luận án nghiên cứu sử dụng E-learning hỗ trợ dạy - tựhọc theo mô hình LHĐN đã thiết kế tiến trình bồi dưỡng năng lực tự học với hệ thốngE-learning và thực nghiệm trong dạy học kiến thức Hạt nhân nguyên tử Vật lí 12 chothấy HS có sự yêu thích và hình thành được năng lực tự học, có thể tự học suốt đời[7] Nghiên cứu của Phan Đức Duy và Nguyễn Văn Nhật về phối hợp phương phápdạy học đảo ngược và dạy học trực tuyến trong phần Sinh thái học, Sinh học 12 đã
Trang 18xác định quy trình 3 giai đoạn, trong đó ở bước 1 và bước 3 của giai đoạn 2, HS học,trao đổi trực tuyến, tự học, HS có nhiều điều kiện để trải nghiệm, thảo luận kiến thức,thể hiện thái độ, rèn luyện kỹ năng và đặt trong những tình huống thực tế, giúp HShình thành và phát triển năng lực [9].
Như vậy, LHĐN được xem là một mô hình DH có hiệu quả cao, đã được nghiêncứu và áp dụng trong DH ở trường phổ thông, trường đại học ở Việt Nam, đều đánhgiá cao hiệu quả áp dụng mô hình này trong việc phát triển năng lực của HS Tuynhiên, nghiên cứu vận dụng cụ thể về việc áp dụng mô hình này trong dạy học Sinhhọc nói chung, dạy học phần Sinh học tế bào nói riêng cần được quan tâm hơn nghiêncứu đầy đủ hơn
1.2 Khái niệm về lớp học đảo ngược
1.2.1 Lớp học đảo ngược là gì?
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về LHĐN:
Theo Garrison và Kanuka (2004): Mô hình LHĐN đã tạo ra được môi trườnghọc thực học (deep learning), học có ý nghĩa (meaningful learning) cũng như pháttriển tư duy phê phán và hình thức học cấp cao, nó cũng tạo ra môi trường làm việcđộc lập và tự kiểm soát việc học” [18]
Theo Strayer (2012): LHĐN (Flipped classroom) là một phương thức thiết kế
DH theo mô hình kết hợp, đã và đang phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới và cócách thức tổ chức dạy-học đảo ngược so với lớp học truyền thống” [22]
Theo Flipped Learning Network: Học tập đảo ngược (Flipped Learning) là mộtphương pháp sư phạm, ở đó việc hướng dẫn trực tiếp chuyển từ không gian học theonhóm sang không gian học cá nhân và do đó không gian nhóm trở thành môi trườnghọc tập năng động và tương tác, nơi nhà giáo hướng dẫn SV áp dụng các khái niệm
và tham gia một cách sáng tạo vào các vấn đề [26].
Các quan điểm tuy khác nhau về LHĐN nhưng đều nói về sự đảo chiều củaPPDH truyền thống, là nơi mà HS có sự tiếp xúc đầu tiên với các tài liệu mới bênngoài lớp học, thường là qua các bài đọc hoặc video bài giảng, sau đó thời gian trênlớp sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề khó hơn là lĩnh hội kiến thức thông qua cácchiến lược như giải quyết vấn đề, thảo luận hoặc tranh luận Bản chất giờ học trên
Trang 19LHĐN tập trung giải quyết các nội dung vốn trước đây được coi là bài tập về nhà vàdành nhiều thời gian hơn cho việc thảo luận, đào sâu kiến thức.
Trong môi trường LHĐN, GV hướng dẫn HS áp dụng các khái niệm vào thực tế
và tham gia các hoạt động sáng tạo trong các chủ đề Đồng thời tổ chức này còn đưa
ra 4 trụ cột của học tập đảo ngược được thể hiện theo các chữ cái đầu tiên trong thuậtngữ F-L-I-P [25] Đặc điểm của 4 chữ cái này được diễn tả như sau:
F - FLEXIBLE ENVIRONMENT - Môi trường linh hoạt: LHĐN cho phép kếthợp nhiều cách thức học tập GV thường sắp xếp lại không gian học tập trong lớp học
để có thể hỗ trợ cho HS làm việc theo nhóm hoặc cá nhân HS có thể chọn không gian
để trao đổi, thảo luận và học tập Việc đánh giá và tự đánh giá giúp cho HS và GVhiểu được các vấn đề để kịp thời điều chỉnh, khắc phục
L - LEARNING CULTURE - Văn hóa học tập: Trong mô hình LHĐN, cách tiếpcận là lấy HS làm trung tâm, thời gian học tập trên lớp không còn là việc giảng giải thuầntúy mà là nơi để HS được khám phá sâu hơn về chủ đề học Qua đó, HS sẽ tích cực thamgia xây dựng kiến thức và đánh giá việc học của mình một cách ý nghĩa
I - INTENTIONAL CONTENT - Nội dung có chủ ý: GV thường xác địnhnhững gì cần để giúp HS tiếp cận bài học, để giúp HS tự mình khám phá Việc thiếtkế nội dung bài học theo hướng cá nhân hóa hoặc một nhóm sẽ giúp việc học của HSđược tốt hơn
P - PROFESSIONAL EDUCATOR - Chuyên gia giáo dục: GV trong mô hìnhLHĐN không phải là người truyền thụ kiến thức mà là những chuyên gia về tri thức vàtâm lý học Suốt thời gian lên lớp, GV liên tục quan sát, cung cấp cho SV những thôngtin về kiến thức, kỹ năng, thái độ và những chính sách liên quan đến kiểm tra đánh giá
1.2.2 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Hiện nay, chúng ta đã khá quen thuộc cách học của HS là đến trường để lĩnh hộikiến thức rồi về nhà làm bài tập Nhưng LHĐN lại trái ngược hoàn toàn với mô hìnhlớp học truyền thống đó ở chỗ nội dung DH thường diễn ra bên ngoài lớp học và đembài tập vào trong lớp, trọng tâm của các buổi học là duy trì sự tham gia tích cực củangười học, do đó cần thiết kế các nhiệm vụ trước và sau giờ học [13], [15], [16]
Trang 20Trong mô hình LHĐN, bài giảng của GV được chuyển tải để nghiên cứu trướckhi đến lớp, thời gian trên lớp được dành cho các hoạt động tích cực của HS, các kĩnăng giao tiếp, học tập độc lập, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, cũng như tươngtác giữa GV với HS, giữa HS với HS được tăng cường Mô hình LHĐN tạo ra môitrường học tập linh hoạt, uyển chuyển, các kĩ năng để học tập suốt đời, suy nghĩ sâu
và nhiều phẩm chất tích cực, người học được tham gia nhiều với bài giảng [14].Với những địa phương có điều kiện về công nghệ thì việc áp dụng LHĐN kháhiệu quả HS có thể học mọi lúc, mọi nơi với những thiết bị smartphone Trong lớphọc, một số công cụ hỗ trợ cho mô hình này là:
- Các công cụ trình chiếu: Zoho Show; 280 Slides; PowerPoint; WondersharePPT2Flash Professional
- Công cụ học tập xã hội: Những công cụ này sử dụng sức mạnh của phươngtiện truyền thông xã hội giúp cho việc học tập và kết nối được dễ dàng hơn: Edmodo,Moodle, Grockit, EduBlogs, Skype, Wikispaces, Pinterest; Schoology, Quora, Ning,OpenStudy, ePals, WiZiQ, Adobe Acrobat Connect Pro, Edublogs
- Công cụ học tập: Những công cụ giúp GV chuẩn bị bài giảng thú vị và hiệuquả: Khan Academy, MangaHigh, FunBrain, Educreations, Animoto, Socrative,Knewton, Kerpoof, StudySync, CarrotSticks Ngoài ra, có thể sử dụng Facebook,Zalo, Group Mail để hỗ trợ mô hình LHĐN
1.2.2.1 Ưu điểm của lớp học đảo ngược
Trong mô hình LHĐN, có khá nhiều các hoạt động Những lợi ích của các hoạtđộng trong mô hình LHĐN được thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Lợi ích của các hoạt động trong mô hình lớp học đảo ngược
MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC
Trang 21Qua bảng 1, nhận thấy, cách hiểu đơn giản nhất về LHĐN là “chuyển đổi nhữngsự kiện diễn ra trong lớp học truyền thống ra bên ngoài lớp học và ngược lại” [19].Một số ưu điểm của LHĐN:
- HS luôn nhận được sự trợ giúp bất cứ lúc nào khi học tập đảo ngược Vì mộttrong những thách thức lớn nhất của lớp học truyền thống là thông qua một bài giảng
về kiến thức mới ở trên lớp, các câu hỏi vận dụng được đưa về nhà để áp dụng nhữngđiều đã học trên lớp mà không có bất cứ sự trợ giúp nào Do vậy HS thường gặp khókhăn với bài tập Trong một LHĐN, công việc thực hiện tại nhà là xem một video bàigiảng và khi gặp khó khăn thì HS đặt câu hỏi, sau đó khi lên lớp thảo luận với GV thì
HS được giải đáp thắc mắc Tư duy bậc cao được phát huy trong lớp học
- Tương tác giữa GV và HS được nâng cao: Ở lớp học truyền thống, GV thườnggiảng trực tiếp ở trên lớp, mang tính “thuyết trình” Nhưng ở LHĐN, GV di chuyểnbài giảng đó ra ngoài lớp nên tiết kiệm được nhiều thời gian cho GV, để GV có thểtương tác với HS hoặc trong nhóm nhỏ với các HS Kết quả là GV có thời gian thảoluận với mỗi HS trong mỗi bài học
- LHĐN phù hợp với sự khác biệt giữa mỗi HS : Với LHĐN, nhu cầu cá nhâncủa người học dễ dàng được đáp ứng Những HS kém hơn được chú ý và những HSxuất sắc được giao những nhiệm vụ thích hợp với khả năng để tiến bộ
- Tạo ra bầu không khí học thực sự: Trung tâm của hoạt động học tập là hỏi đápthắc mắc, từ đó giúp HS tập trung vào chủ đề học tập Tạo bầu không khí “học tập”hơn là “giảng dạy” nên sẽ đạt mục tiêu bài học tốt hơn HS chủ động trong việc lĩnhhội tri thức và làm chủ việc học của bản thân
- HS học theo tiến độ của bản thân: Khi giảng bài mới trên lớp GV thường nóiquá nhanh (thường đối với HS kém) hoặc quá chậm (đối với HS học tốt) Khi học quavideo ngoài giờ lên lớp, HS có thể điều chỉnh tốc độ bài giảng phù hợp với bản thân
- Do có sự tương tác giữa các HS trong khi thực hiện nhiệm vụ học tập nên mốiquan hệ giữa các HS sẽ tốt hơn, GV có thời gian quan sát HS nên có thể hiểu về cánhân từng HS hơn GV có thể trò chuyện và lắng nghe vấn đề của HS GV nhận biếtđược đơn vị kiến thức mà HS đang gặp khó khăn và hướng dẫn HS Giúp cho GV cóthể giải đáp cho HS vào đúng vấn đề tại thời điểm mà HS cần
Trang 221.2.2.2 Hạn chế của lớp học đảo ngược
- Không phải bài học nào cũng có thể sử dụng hình thức học tập đảo ngược
- Phương pháp này gắn bó chặt chẽ với phương pháp E-learning nên GV phải giỏi về công nghệ, vững về phương pháp, bởi vậy khó áp dụng rộng rãi
- Phụ thuộc vào phong cách học tập của HS và không phải HS nào cũng hứng thú hợp tác và có đủ công nghệ để thực hiện bài học E-learning
- GV mất nhiều thời gian, công sức cho việc soạn bài
- Với điều kiện ở trường phổ thông của nước ta hiện nay, phương pháp này cầncân nhắc về tính khả thi vì số lượng môn học nhiều và khối lượng kiến thức khổng lồtrong năm học của HS
- Kiểm tra đánh giá chưa có tiêu chí rõ ràng, toàn diện nên GV vẫn đang trong thực trạng “thi gì dạy nấy”, kế hoạch DH của GV chưa đồng bộ
1.2.3 Các mô hình của lớp học đảo ngược
LHĐN chuẩn mực/thông thường: Người học được giao “bài tập về nhà” xem video
các giờ giảng và đọc các tài liệu liên quan đến buổi học ngày hôm sau Trong giờ học,người học TH điều các em đã học được thông qua bài tập ở trường theo truyền thống, với
GV được giải phóng, dành thời gian cho việc hỗ trợ thêm mang tính cá nhân
LHĐN chú trọng vào thảo luận/Discussion-Oriented Flipped Classroom: GV
giao các video bài giảng, cũng như các video hay tài liệu tham khảo khác liên quanđến giờ học hôm đó — hãy nghĩ đến những chương trình như TED Talks, YouTubevideos và các nguồn khác Khi đó, thời gian trên lớp học được dành cho thảo luận vàkhám phá về chủ đề/môn học Đây là cách tiếp cận đặc biệt hiệu quả đối với nhữngmôn học mà bối cảnh có thể là bất cứ thứ gì – hãy nghĩ đến lịch sử, nghệ thuật haytiếng Anh
LHĐN chú trọng vào việc thể hiện/trình diễn/Demonstration-Focused Flipped Classroom: Đây là dạng lớp học đặc biệt phù hợp đối với những môn học đòi hỏi
người học phải ghi nhớ và lặp lại các hoạt động một cách chính xác — hãy nghĩ đếnHóa học, Vật lý, và mọi giờ Toán — sẽ rất hữu ích nếu có một video để có thể tua vàxem lại Trong mô hình này, GV sử dụng phần mềm ghi lại màn hình (screenrecording software) để trình diễn hoạt động theo cách cho phép HS/SV học theo tốc
độ của chính các em
Trang 23LHĐN Faux/The Faux-Flipped Classroom: Một ý tưởng tuyệt vời mà
EducationDrive khám phá ra rất phù hợp với lứa tuổi nhỏ, độ tuổi mà bài tập về nhàtheo đúng nghĩa là không thích hợp Mô hình LHĐN theo cách này thay bằng việcyêu cầu người học xem video ở lớp thì cho các em cơ hội đọc/xem tài liệu theo tốc độcủa riêng mình, GV đi từ em này sang em khác và hỗ trợ mỗi HS nhỏ tuổi theo cáchcác em cần
LHĐN dựa vào nhóm/The Group-Based Flipped Classroom: Mô hình này bổ
sung yếu tố mới để giúp SV/HS học được từ nhau/hỗ trợ nhau học Lớp học bắt đầunhư mọi lớp học khác, với video bài giảng và những nguồn học liệu khác được chia
sẻ từ trước đó Sự thay đổi xảy ra khi SV/HS đến lớp, ghép thành nhóm để giải quyếtbài tập ngày hôm đó Hình thức này cho phép SV/HS học từ nhau và giúp nhaukhông chỉ tìm ra câu trả lời đúng mà còn học được cách giải thích cho bạn tại sao câutrả lời lại đúng
LHĐN ảo: Đối với những SV/HS lâu năm hơn và trong một vài khóa học,
LHĐN có thể loại bỏ hoàn toàn nhu cầu về thời gian cho lớp học Một số giảng viên
ở trường đại học và cao đẳng hiện nay chia sẻ bài giảng cho SV xem, giao bài tập vànhận bài thông qua các hệ thống quản lý trực tuyến và chỉ cần người học gặp trực tiếpmột thầy một trò dựa trên nhu cầu của từng cá nhân
“Đảo ngược” giáo viên: Tất cả video được tạo ra cho LHĐN không nhất thiết
phải bắt đầu và kết thúc với GV HS cũng có thể sử dụng video để thể hiện tốt hơntrình độ và khả năng của mình GV có thể giao nhiệm vụ cho mỗi SV/HS các hoạtđộng đóng vai/TH để thể hiện năng lực hoặc yêu cầu mỗi SV/HS quay phim bản thântrình bày một chủ đề hoặc kỹ năng mới như một cách để "dạy GV"
Điều quan trọng là người GV phải phân tích để áp dụng được mô hình LHĐNmột cách hợp lý, khoa học đối với môn học của mình
1.3 Mối quan hệ giữa dạy học đảo ngược với việc hình thành và phát triển năng lực của học sinh
Mô hình lớp học truyền thống khá quen thuộc đối với chúng ta: HS hàng ngàyđến trường, nghe thầy cô giảng bài, ghi chép và về nhà làm bài tập Bởi vậy, trongmột khía cạnh nào đó, lớp học truyền thống không phù hợp với phong cách học tập
Trang 24của HS Còn theo mô hình LHĐN, HS xem bài giảng ở nhà qua Internet và làm cácbài tập (thường bài tập mức thấp), đến lớp, HS làm bài tập (mức cao) và thực hiệnmột số hoạt động mang tính tương tác Nhờ đó, HS tự tin hơn, GV có nhiều thời gianhơn với từng cá nhân HS chưa hiểu kỹ bài giảng (Hình 1.1).
Vai trò của GV và HS trong mô hình lớp học truyền thống và mô hình LHĐN
có sự khác nhau, được trình bày ở bảng 1.2
Ở lớp học truyền thống, HS đến lớp ngồi nghe giảng thụ động, GV có nhiệm vụtruyền đạy kiến thức mới - theo thang tư duy Bloom thì được xếp vào mức “Biết” và
“Hiểu” Trong LHĐN, GV định hướng việc tìm hiểu kiến thức, HS phải thực hiệnnhiều hoạt động, sẽ hình thành các mức nhận thức cao hơn (vận dụng, phân tích, đánhgiá, sáng tạo)
Hình 1.1 Các mức độ của hoạt động trong lớp học truyền thống và LHĐN Bảng 1.2 Mô
hình lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược
Điểm so sánh Lớp học truyền thống Lớp học đảo ngược
luận trên lớp và nhận được sự hỗ trợ cánhân khi cần thiết
Trang 25Như vậy, LHĐN có điều kiện để hình thành và phát triển năng lực của HS:
- Năng lực tìm hiểu kiến thức: Mô hình LHĐN đã tạo điều kiện giải phóngngười thầy khỏi áp lực về thời gian, có nhiều cơ hội tương tác, động viên để HS tiến
bộ hơn, HS hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi tới lớp
Hoạt động tự học ở nhà sẽ giúp HS hình thành thói quen tự nghiên cứu tài liệutrước khi đến lớp Để hình thành được thói quen này, HS cần phải nhận biết, hiểu,phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc và hiểu biết đã có để tựmình lĩnh hội kiến thức Rèn luyện thói quen khám phá, tìm tòi, nâng cao dần lên HS
sẽ chủ động, tự lực nghiên cứu, độc lập tự giác trong học tập và tăng dần là học được
nề nếp làm việc khoa học
- Năng lực đặt câu hỏi: Khi tự học trước ở nhà sẽ có nhiều nội dung HS chưathực sự hiểu rõ Với những vấn đề chưa hiểu, HS chủ động hỏi thầy về những gì mình
có nhu cầu Khi biết mình cần hỏi gì, hỏi đúng trọng tâm chính là HS đã biết cách đặtcâu hỏi
Trong LHĐN, HS được thỏa mãn nhu cầu trao đổi, tương tác với bạn, với thầy
HS có thể bộc lộ sản phẩm học của mình qua thảo luận, biện luận, phản biện về cácsản phẩm mới kiến tạo, để mỗi HS được chia sẻ thông tin, học hỏi lẫn nhau; qua diễnđạt (lập luận) và hỏi lại (phản biện) tự soi xét lại sản phẩn mới học được của mình, bổsung, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm về cách học
- Hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ: Trong mô hình LHĐN, giờ học ởlớp sẽ được GV tận dụng tối đa tổ chức cho HS vận dụng, TH kiến thức, thảo luậnnhóm hoặc triển khai các dự án, giải quyết các vấn đề mở Trong các hoạt động này,
HS được rèn luyện các kĩ năng phát biểu ý kiến trước nhiều người (nhóm học tập,lớp, các GV), kĩ năng tham gia, trao đổi ý kiến trong học tập dưới hình thức thảoluận, xemina, TH theo nhóm, biết sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp với từng cá nhânkhác nhau với tư cách cá nhân hay tư cách là người đại diện cho nhóm Ngoài ra, HS
có thể học thêm các kĩ năng tự phê bình và phê bình, kĩ năng làm việc cùng nhautrong nhóm hợp tác Khi được rèn luyện các kĩ năng trên, HS sẽ dần hình thành vàphát triển năng lực ngôn ngữ GV có thể hướng dẫn HS cách tổng hợp, đánh giá, bằngnhiều hình thức khác nhau: bằng lời văn, bảng biểu, sơ đồ, bản đồ tư duy…bằng ngôn
Trang 26ngữ của chính HS, diễn đạt theo cách hiểu của các em, chứ không phải là chép lại nội dung trong tài liệu.
- Hình thành năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề: Trong LHĐN, HSthường xuyên được rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề Đồngthời việc vận dụng những điều đã học vào thực tiễn mang lại hiệu quả cao cũng sẽ cótác động ngược lại, tạo sự ham học, hứng thú với họp tập, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
- Hình thành các kĩ năng khai thác, sử dụng các phương tiện CNTT và truyềnthông hiện đại hiệu quả: HS được rèn luyện các kĩ năng CNTT từ cơ bản nhất nhưcách thức sử dụng máy tính, cách tìm và nghiên cứu tài liệu số hóa, cách lưu trữ, sửdụng các mail, văn bản điện tử để trao đổi thông tin và giao tiếp học tập trên Internet.Rèn luyện các KN khai thác và sử dụng ICT hiệu quả làm cho thế hệ trẻ có ý thứccộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và côngnghệ hiện đại; có tư duy sáng tạo, có kỹ năng TH giỏi, có tác phong công nghiệp, cótính tổ chức và kỷ luật cao
- Về năng lực tư duy, LHĐN có liên quan chặt chẽ với tư duy phản biện và tưduy sáng tạo (hình 1.2)
Hình 1.2 Các mức độ nhận thức và năng lực tư duy trong LHĐN
Trang 27Đặc biệt, LHĐN có liên quan chặt chẽ với năng lực tự học Yêu cầu cần đạt vềnăng lực tự học cấp THPT là HS xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đãđạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế; đánh giá
và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìmkiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ họctập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghinhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạnchế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinhnghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học; biếtthường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân [4].Trong mô hình LHĐN, HS tự học ở nhà với tài liệu điện tử, hoàn thành các bàitập hướng dẫn tự học mà GV giao cho Đến lớp, GV kiểm tra bài tập của HS, HS tiếptục thực hiện theo nhóm để hoàn thành phiếu học tập, thảo luận về những vấn đề bảnthân còn chưa rõ Tự học ở nhà là chìa khóa giúp HS thực hiện tốt hoạt động trên lớp,ngược lại các hoạt động trên lớp giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức, bổ trợ cho tựhọc Qua các hoạt động học tập trong mô hình LHĐN, HS sẽ được rèn luyện tính tựgiác, tích cực, đúng kế hoạch, tự đặt câu hỏi khi tự học ở nhà với E-learning,…Khihọc trên lớp, HS được rèn luyện các kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng viết, nói, thuyếttrình, giải quyết vấn đề, từ đó, kỹ năng tự học được nâng cao hơn
1.4 Thực trạng dạy học môn Sinh học và dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược ở trường phổ thông
1.4.1 Mục đích và phương pháp điều tra
1.4.1.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu tình hình sử dụng PPDH, nhận thức của GV về mô hình LHĐN trong
DH các môn học và thái độ của HS đối với việc học tập môn Sinh học
1.4.1.2 Phương pháp và nội dung điều tra: Khảo sát qua phiếu hỏi, phỏng vấn (Mẫu
phiếu xem phụ lục 1, phụ lục 2)
1.4.1.3 Đối tượng điều tra
Điều tra được tiến hành tại các trường THPT tỉnh Thái Nguyên: Trường THPTLương Ngọc Quyến, trường THPT Thái Nguyên, THPT Lưu Nhân Chú - Đại Từ vàTHPT Yên Ninh - Phú Lương, với số lượng 71 GV và 526 HS tham gia
Trang 281.4.2 Kết quả điều tra
1.4.2.1 Kết quả điều tra và phỏng vấn học sinh
của HS, thu được kết quả như sau:
a Về thái độ của học sinh đối với môn Sinh học
Khảo sát 526 HS thì chỉ có 12,5% HS hứng thú với môn Sinh học, 56,5% HS cóthái độ bình thường, thờ ơ; còn lại 31% bày tỏ ý kiến không thích môn học này Kếtquả được thể hiện qua hình 1.3
Hình 1.3 Biểu đồ thái độ của học sinh đối với môn Sinh
học b Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của môn Sinh học
Khi được hỏi môn Sinh học có tầm quan trọng như thế nào, 34% HS cho rằngđây là môn học quan trọng, 48% HS trả lời bình thường, 18% HS đánh giá đây là mộtmôn học không quan trọng (Hình 1.4)
Hình 1.4 Biểu đồ đánh giá vai trò của môn Sinh học
Trang 29Trao đổi với HS về động cơ học tập môn Sinh học, nhiều em cho rằng để đạtđược kết quả học tập cao, một số HS cho biết chủ yếu học môn này là để thi vào đạihọc, có nhiều ý kiến cho rằng kiến thức Sinh học rất gần gũi với các hiện tượng trongthực tế và ứng dụng trong cuộc sống.
c Về hoạt động học tập môn Sinh học của học sinh
Tìm hiểu hoạt động học tập của HS, chúng tôi thu được kết quả thể hiện quabảng 1.3
Bảng 1.3 Kết quả điều tra hoạt động học tập môn Sinh học của học sinh
Mức độ Thường
Ít khi Không bao
Em thường chuẩn bị như thế nào trước mỗi giờ Sinh học?
Học bài cũ, đọc bài mới trong
SGK và tìm hiểu thông tin liên
quan đến nội dung bài qua các
nguồn tài liệu khác (internet,
sách tham khảo, tạp chí khoa
Nhiệt tình tham gia xây dựng
viên tổ chức trong lớp học
Kết quả bảng 1.3 cho thấy, 53,61% HS không chuẩn bị bài ở nhà HS thườngchỉ làm bài tập GV yêu cầu, không có thói quen tìm hiểu trước bài mới qua tài liệu.Trong giờ Sinh học có HS thường xuyên làm việc riêng (6.08%), hoặc chỉ ngồi chờ
Trang 30GV đọc để chép bài (27%) Tuy nhiên, nhiều HS rất hứng thú và nhiệt tình tham giacác hoạt động tổ chức trong lớp học (52.85%), các em đều mong muốn trong giờ họccác em được hoạt động nhiều hơn, GV có những chỉ dẫn HS rõ ràng và phù hợp vớicác em hơn.
1.4.2.2 Kết quả điều tra và phỏng vấn giáo viên
a Tình hình sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học môn học
Kết quả điều tra về việc sử dụng các PPDH trong DH môn học của các GV
Mô hình LHĐN còn là khái niệm khá mới mẻ với phần lớn GV, có 15,49% GV từng
sử dụng phương pháp này nhưng chưa thường xuyên
b Mức độ hiểu biết về mô hình lớp học đảo ngược
Khi được hỏi, các thầy cô có tìm hiểu về mô hình LHĐN không, có 48% GVchưa từng tìm hiểu về mô hình LHĐN, 37% tìm hiểu qua internet và chỉ có 15% GV
đã sử dụng phương pháp này trong giảng dạy (Hình 1.5)
Trang 31Hình 1.5 Biểu đồ mức độ tìm hiểu của giáo viên về mô hình LHĐN
Khi được tìm hiểu về mô hình LHĐN trong tài liệu phát kèm theo, các GV đãđánh giá về vai trò của vận dụng mô hình LHĐN trong DH môn học Kết quả trả lờiđược trình bày trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Nhận thức về vai trò của mô hình lớp học đảo ngược
Kết quả bảng 1.5 cho thấy, hầu hết các GV đều nhận thức đúng về tầm quantrọng của vận dụng mô hình LHĐN trong quá trình DH Tuy nhiên, nguyên nhân nào
đã làm cho GV chưa vận dụng mô hình này?
Tiếp tục phân tích ý kiến của GV về những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng
mô hình LHĐN trong DH, kết quả thu được ở bảng 1.6 Kết quả bảng 1.6 cho thấy:
- Về phía chủ quan: hầu hết GV chưa đuợc tập huấn biện pháp, kỹ thuật vậndụng mô hình LHĐN trong DH Vì vậy, GV nhận thấy khó khăn không nắm đượcquy trình thực hiện (97,18%)
Trang 32Về phía khách quan: cơ sở vật chất không đảm bảo, nhiều HS không có đủphương tiện về máy tính, mạng để thực hiện bài học đảo ngược (78,87% ý kiến) HScòn thụ động hay lớp quá đông, thi cử nặng về tái hiện kiến thức cũng là những trởngại để vận dụng mô hình LHĐN (97,18% ý kiến).
Bảng 1.6 Những khó khăn khi vận dụng dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược
- GV thường phải tự cập nhật các phần mềm hỗ trợ xây dựng bài giảng, phải tự tìmngười tham vấn khi có thắc mắc hay vấn đề nảy sinh trong quá trình sử dụng phần mềm
- GV chưa được tập huấn và cũng chưa có những tài liệu đầy đủ về lí luận và cách thức tổ chức DH theo mô hình này để giúp GV nắm vững quy trình
- Điều kiện DH về cơ sở vật chất, kế hoạch DH, chương trình,… chưa đảm bảođáp ứng cho vận dụng phổ biến mô hình DH này
- HS chưa thực sự chủ động học tập, nhất là tự học
Trang 33Kết luận chương 1
(i) LHĐN là một mô hình DH đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới quantâm nghiên cứu và sử dụng Ở nước ta, việc nghiên cứu và vận dụng mô hình LHĐNcần có những nghiên cứu cụ thể về lý luận và thực tiễn
(ii) Có nhiều quan niệm khác nhau về LHĐN Chúng tôi đồng ý rằng LHĐN nói
về sự đảo chiều của PPDH truyền thống, là nơi mà HS có sự tiếp xúc đầu tiên với cáctài liệu mới bên ngoài lớp học, thường là qua các bài đọc hoặc video bài giảng, thờigian trên lớp sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề khó hơn thông qua các chiến lượcnhư giải quyết vấn đề, thảo luận hoặc tranh luận
(iii) LHĐN có liên quan mật thiết hình thành và phát triển NL của HS, trong đóchú ý tới năng lực tìm hiểu kiến thức và năng lực tư duy (tư duy phản biện)
(iv) Qua điều tra về tình hình DH Sinh học và vận dụng LHĐN ở một số trườngTHPT tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi nhận thấy việc vận dụng mô hình LHĐN trong
DH còn nhiều hạn chế, cần có hướng nghiên cứu và vận dụng phù hợp
Những phân tích về lý luận và thực tiễn cho thấy mô hình LHĐN là phù hợp vớiquá trình DH ở trường THPT, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay Vậndụng mô hình LHĐN trong DH Sinh học nói chung và DH SHTB nói riêng là rất cầnthiết, góp phần thực hiện đổi mới GDPT theo định hướng phát triển NL HS
Trang 34Chương 2 VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC SINH HỌC TẾ BÀO Ở TRƯỜNG THPT 2.1 Đặc điểm nội dung phần Sinh học tế bào (Sinh học 10 THPT)
2.1.1 Đặc điểm môn Sinh học ở trường THPT
2.1.1.1 Môn Sinh học trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành
Trong chương trình GDPT hiện hành, ở cấp THPT, SH cũng như các môn họckhác được thực hiện theo hai loại chương trình là cơ bản và nâng cao Chương trình
cơ bản thể hiện những yêu cầu mang tính tối thiểu mọi HS cần và có thể đạt; Chươngtrình nâng cao có mức phân hóa nâng lên 20% so với chương trình cơ bản
Nội dung cơ bản của hai chương trình Sinh học đều được trình bày trong 7 phần,nhưng thời lượng của hai loại chương trình này có sự khác nhau, đặc biệt ở lớp 10 và
12, thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Chương trình Sinh học ở trường THPT hiện hành
Đặc điểm chung của chương trình Sinh học cấp THPT hiện hành:
- Sinh học là môn học bắt buộc trong chương trình GDPT
- Các kiến thức Sinh học được trình bày này phù hợp với một đặc điểm của Sinhhọc hiện đại là dựa trên lí thuyết về các cấp độ tổ chức của sự sống, từ các hệ nhỏ đếncác hệ trung lên các hệ lớn: tế bào cơ thể quần thể loài quần xã hệ sinhthái, cuối cùng tổng kết những đặc điểm chung của các tổ chức sống theo quan điểm
Trang 35tiến hoá- sinh thái Điều này làm cho tầm hiểu biết của HS THPT được mở rộng hơn
so với HS THCS (môn Sinh học cấp THCS chủ yếu đề cập tới cấp độ cơ thể, sơ lược
về các cấp tổ chức dưới cơ thể và trên cơ thể)
- Các kiến thức trong chương trình là các kiến thức Sinh học đại cương, chỉ ranhững nguyên tắc tổ chức, những quy luật vận động chung cho giới sinh vật Cácphần SHTB, Sinh học cơ thể, Di truyền học, Tiến hoá, Sinh thái học; đề cập tớinhững quy luật chung, không phân biệt từng nhóm đối tượng Điều này giúp HS cónhững hiểu biết khái quát hơn về những quy luật chung nhất của giới hữu cơ
Sự phối hợp hai quan điểm trên cho thấy chương trình Sinh học THPT có cấutrúc đồng tâm, mở rộng chương trình Sinh học THCS, phù hợp với trình độ kiến thức
và năng lực tư duy của HS THPT
- Chương trình được kế thừa chương trình cải cách giáo dục (áp dụng từ năm
1987 đến nay) và chương trình thí điểm chuyên ban (1993- 2000), có tham khảochương trình một số nước, đảm bảo kiến thức hiện đại, cập nhật Chương trình mônhọc đã xây dựng được chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với năng lực nhận thức của
HS, làm căn cứ để biên soạn SGK, quản lý DH, đánh giá kết quả giáo dục, đảm bảođược tính thống nhất và khả thi của chương trình
- SGK đã bám sát mục tiêu, đã cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và
kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục Hầu hết nội dung trong SGK đảm bảotính chính xác, khoa học, diễn đạt rõ ràng, chuẩn mực về ngôn ngữ; cân đối, phù hợpgiữa kênh chữ và kênh hình, giữa nội dung và hình thức trình bày Về cơ bản, đãbước đầu tạo điều kiện để GV vận dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động, sáng tạo của HS; sử dụng hợp lý phương tiện, thiết bị DH; rèn luyện kỹnăng TH, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết quảhọc tập của HS và giúp HS tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Tuy nhiên, cũng như các môn học khác trong chương trình GDPT hiện hành,kiến thức ở nhiều phần còn mang tính mô tả, ít các kiến thức có tính nguyên lý để làm
cơ sở cho quy trình công nghệ ứng dụng sinh học hiện đại; Kiến thức trùng lặp khánhiều, chưa đảm bảo tính hệ thống kiến thức từ cấp Tiểu học đến cấp THCS và đếncấp THPT; Đặc biệt chương trình chưa chú ý cập nhật các tri thức hiện đại, đi sâu vàocác lĩnh vực mũi nhọn của Sinh học
Trang 362.1.1.2 Môn Sinh học trong chương trình giáo dục phổ thông mới
Trong chương trình GDPT mới, HS được tiếp cận với kiến thức SH trong mônTự nhiên và xã hội (lớp 1, 2, 3), môn Khoa học (lớp 4, 5), một phần của môn KHTN(cấp THCS) và môn SH (cấp THPT)
Ở cấp THPT, SH là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướngnghề nghiệp của HS, với mục tiêu DH chuyên sâu, chuẩn bị cho HS có thể tiếp tụchọc lên cao theo các ngành nghề liên quan trực tiếp đến SH
Theo chương trình GDPT môn SH [5], nội dung giáo dục cốt lõi của môn SHbao quát các cấp độ tổ chức sống từ phân tử đến sinh quyển, với các đặc điểm cấutrúc, chức năng, mối quan hệ giữa cấu trúc, chức năng và môi trường sống Từ đó,chương trình khái quát thành các đặc tính chung của thế giới sống (trao đổi chất vàchuyển hóa năng lượng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản, cảm ứng, di truyền, biến
dị và tiến hóa) Từ các chủ đề nội dung, hệ thống các chuyên đề học tập được xâydựng, góp phần thể hiện các thành tựu công nghệ sinh học trong chăn nuôi, trồng trọt,
xử lí ô nhiễm môi trường, nông nghiệp và thực phẩm sạch, trong y - dược học
Nội dung cơ bản của chương trình môn SH mới được trình bày tóm tắt trongbảng 2.2
Bảng 2.2 Nội dung cốt lõi môn Sinh học trong chương trình GDPT mới
Mạch nội dung Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12
Trang 37Mạch nội dung Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12
nhiễm môi trường
suất cây trồng và nông nghiệp sạch
phòng ngừa, điều trị
Nhìn chung, chương trình môn SH mới có sự kế thừa từ chương trình SH hiệnhành Những kiến thức cốt lõi không có sự xáo trộn nhiều Tuy nhiên, giữa haichương trình SH có một số điểm khác biệt, được thể hiện trong bảng 2.3
Bảng 2.3 Một số điểm khác biệt trong chương trình Sinh học hiện hành và chương trình Sinh học mới
Điểm
CT Sinh học mới CT Sinh học hiện hành phân biệt
Vị trí Ở cấp THPT, Sinh học là môn học được lựa Sinh học là môn bắt buộc trong
chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề chương trình GD cấp THCS và
Quan Được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực Được xây dựng dựa theo hướng
xây 1 Tiếp cận với xu hướng quốc tế: tiếp thu, kế - Đảm bảo tính phổ thông, cơdựng và thừa những ưu điểm của CTSH hiện hành, bản, hiện đại, kĩ thuật tổng hợpphát nghiên cứu sâu CT môn học của một số quốc và thiết thực
triển gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế, từ đó rút
ra những xu thế chung có thể vận dụng cho
chương
Việt Nam:
trình
2 Thực hiện GD định hướng nghề nghiệp: CT
- Thể hiện sự tích hợp các mặtđược thiết kế theo các chủ đề có tính khái quát
giáo dục và liên môn
và dành nhiều thời gian để tổ chức các hoạt
động dạy học giúp HS khám phá khoa học,
phát triển năng lực nhận thức, trong đó chú ý
tổ chức các hoạt động trải nghiệm, thực hành,
ứng dụng và tìm hiểu các ngành nghề liênquan
Trang 38CT Sinh học mới CT Sinh học hiện hành phân biệt
3 Thực hiện giáo dục phát triển bền vững
giúp HS phát triển khả năng thích ứng trong
một thế giới biến đổi không ngừng; khả năng
chung sống hài hoà với thiên nhiên và bảo vệ
môi trường để phát triển bền vững.
Yêu cầu CT đưa ra những yêu cầu cần đạt về phẩm chất CT được bổ sung bởi chuẩncần đạt và năng lực chung, năng lực đặc thù Trong kiến thức, kĩ năng, trong đó thể
đó, biểu hiện của năng lực sinh học, năng lực hiện mức độ cần đạt của kiếnkhoa học tự nhiên bao gồm các thành phần thức và kĩ năng
năng lực như nhận thức sinh học, tìm hiểu thế
giới sống, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
được trình bày khá rõ ràng
Quản lí Bộ GD & ĐT quản lí chương trình Quốc gia (1 Bộ GD & ĐT quản lí chươngchương chương trình); Các địa phương phát triển trình (Cấp THPT có 2 chươngtrình chương trình Nhà trường phù hợp; lựa chọn trình: Cơ bản và Nâng cao);
Có những nội dung cắt giảm nhưng có nội Sinh học và với các môn khoadung thì sâu hơn CT hiện hành Các kiến thức học khác
về sinh học phân tử, SHTB được tăng lên (gần
như xuyên suốt trong tất cả các chủ đề)
Các chuyên đề nhằm mở rộng, nâng cao kiến
thức, rèn luyện kỹ năng thực hành để trực tiếp
định hướng, làm cơ sở cho các quy trình kỹ
thuật, công nghệ thuộc các ngành nghề liên
quan đến sinh học
HS có thiên hướng KHTN và công nghệ được
chọn học một số chuyên đề CT chưa chú ý tới tính phân hóaKhác biệt lớn nhất là CT sẽ đi sâu hơn về HS
những mô hình, lý thuyết để có thể giải thích
và thiết kế các mô hình ứng dụng công nghệ
SH trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Trang 392.1.2 Nội dung phần Sinh học tế bào ở trường THPT
Trong cả hai CT, CT SH hiện hành và CT SH mới, nội dung cơ bản của phầnSHTB đều gồm những kiến thức (bảng 2.4):
Bảng 2.4 Nội dung cơ bản phần Sinh học tế bào môn Sinh học cấp THPT
- Chu kì tế bào và phân bào
Ngoài ra, ở CT mới, phần SH tế bào (lớp 10) có thêm nội dung: Thông tin ở tếbào; Công nghệ tế bào và một số ứng dụng; Công nghệ enzyme và ứng dụng
Những nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt của phần SH tế bào được xác định vàthể hiện trong bảng 2.5
Bảng 2.5 Nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt của phần Sinh học tế bào
Khái quát về tế - Nêu được khái quát học thuyết tế bào
bào - Giải thích được tế bào là đơn vị cấu trúc và chức năng của cơ thể
sống
Thành phần hóa học của tế bào
- Các nguyên tố - Liệt kê được một số nguyên tố hoá học chính có trong tế bào (C, H,hóa học trong tế O, N, S, P)
bào - Nêu được vai trò của các nguyên tố vi lượng, đa lượng trong tế bào
- Nêu được vai trò quan trọng của nguyên tố carbon trong tế bào (cấutrúc nguyên tử C có thể liên kết với chính nó và nhiều nhóm chứckhác nhau)
- Nước trong tế - Trình bày được đặc điểm cấu tạo phân tử nước quy định tính chất vậtbào
- Các phân
sinh học trong
bào
tử tế
lí, hoá học và sinh học của nước, từ đó quy định vai trò sinh học củanước trong tế bào
- Nêu được khái niệm phân tử sinh học
- Trình bày được thành phần cấu tạo (các nguyên tố hoá học và đơnphân) và vai trò của các phân tử sinh học trong tế bào: carbohydrate,lipid, protein, nucleic acid
- Phân tích được mối quan hệ giữa cấu tạo và vai trò của các phân tửsinh học
Trang 40Nội dung cụ thể Yêu cầu cần đạt
- Nêu được một số nguồn thực phẩm cung cấp các phân tử sinh học cho cơ thể
- Vận dụng được kiến thức về thành phần hoá học của tế bào vào giảithích các hiện tượng và ứng dụng trong thực tiễn (ví dụ: ăn uống hợplí; giải thích vì sao thịt lợn, thịt bò cùng là protein nhưng có nhiều đặcđiểm khác nhau; giải thích vai trò của DNA trong xác định huyếtthống, truy tìm tội phạm, )
Thực hành xác định (định tính) được một số thành phần hoá học có trong tế bào (protein, lipid, )
Cấu trúc tế bào
- Tế bào nhân sơ
- Tế bào nhân
- Nêu được cấu tạo và chức năng của tế bào chất
- Trình bày được cấu trúc của nhân tế bào và chức năng quan trọng của nhân
- Phân tích được mối quan hệ giữa cấu tạo và chức năng của các bào quan trong tế bào
- Quan sát hình vẽ, lập được bảng so sánh cấu tạo tế bào thực vật và động vật
- Lập được bảng so sánh tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực
- Thực hành làm được tiêu bản và quan sát được tế bào sinh vật nhân
sơ (vi khuẩn)
- Làm được tiêu bản hiển vi tế bào nhân thực (củ hành tây, hành ta,thài lài tía, hoa lúa, bí ngô, tế bào niêm mạc xoang miệng, ) và quansát nhân, một số bào quan trên tiêu bản đó
Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong tế bào
- Khái niệm trao
đổi chất ở tế bào
- Sự vận chuyển
các chất qua
màng sinh chất
- Nêu được khái niệm trao đổi chất ở tế bào
- Phân biệt được các hình thức vận chuyển các chất qua màng sinhchất: vận chuyển thụ động, chủ động Nêu được ý nghĩa của các hìnhthức đó Lấy được ví dụ minh hoạ
- Trình bày được hiện tượng nhập bào và xuất bào thông qua biến dạng của màng sinh chất Lấy được ví dụ minh hoạ
- Vận dụng những hiểu biết về sự vận chuyển các chất qua màng sinh chất để giải thích một số hiện tượng thực tiễn (muối dưa, muối cà)
- Làm được thí nghiệm và quan sát hiện tượng co và phản co nguyênsinh (tế bào hành, tế bào máu, ); thí nghiệm tính thấm có chọn lọccủa màng sinh chất tế bào sống