1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề ly hôn theo pháp luật việt nam và thực tiễn giải quyết tại toà án nhân dân thành phố vinh

60 123 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 308 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, muốn giải quyết ly hôn chính xác, vừa đảm bảoquyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, vừa đảm bảo lợi ích gia đình và xãhội, cán bộ thẩm phán cần nắm vững quy định của pháp lu

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

1 ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH PHỐ VINH

Thành phố Vinh đô thị loại 1 trung tâm tỉnh Nghệ An,có diện tích1005km,dân số 29.200.000 người,đơn vị hành chính có 25 phường xã(16phường, 9 xã) là trung tâm của chuyến du lịch Đông Nam Á, hội tụ đủ các loạihình giao thông: có bến cảng, sân bay, các tuyến du lịch đông nam á, các tuyếnđường sắt, đường quốc lộ 1a đi qua lưu thông giữa hai miền bắc- nam với nhau

Là nơi tập trung đông dân cư nhất tỉnh Nghệ An Nền kinh tế, văn hóa, xãhội….ngày càng phát triển Vì thế đây là địa bàn thuận lợi nên các tội phạm ởthành phố Vinh ngày càng tăng, đặc biệt là tội trộm cắp tài sản,cướp giật, buônbán ma túy, mại dâm, kinh doanh, thương mại…

2.ĐƠN VỊ TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

1.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Tòa án nhân dân thành phố Vinh –Nghệ An thành lập ngày 13/9/1945.Từkhi ra đời và phát triển TAND thành phố vinh có các tên gọi khác nhau Để bảo

vệ chính quyền cách mạng và trấn áp bọn phản cách mạng.Ngày 13/9/1945,chính phủ lâm thời đã ban hành sắc lệnh thành lập các tòa án quân sự ở bắc bộ,trung bộ tại các tỉnh Huế, Quảng Ngãi và Vinh được thành lập Ngày04/01/1946 - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành sắc lệnh số 13/SL về tổchức các tòa án và các ngạch thẩm phán Theo sắc lệnh ngày 09/03/1946 tạimột địa điểm trong dinh thương(thành nghệ an cũ) tòa án sơ cấp thị xã Vinh -Bến thủy được thành lập và tồn tại đến cuối năm 1947 Toàn quốc kháng chiến,thị xã Vinh thực hiện tiêu thổ để kháng chiến, triệt để tản cư, nhằm đáp ứng tìnhhình mới tòa án Hưng Thịnh được lập ra để tiếp tục công việc của cả 2 khu vựcHưng nguyên và thị xã Vinh-Bến thủy.Cuối năm 1950 TAND thị xã Vinh được

Trang 2

trách ra từ tòa án hưng thịnh hoạt động 1 thời gian thì cải cách ruộng đất và tòa

án đặc biệt giải quyết Tòa án thị xã Vinh được gọi với tên gọi mới là: Tòa ánnhân dân thành phố Vinh cho đến nay Tòa án nhân dân thành phố Vinh 65 nămxây dựng và trưởng thành,luôn luôn đoàn kết và hòan thành tốt mọi nhiệm vụđược giao với rất nhiều thành tích Nhiều năm liền là đơn vị dẫn đầu trong cácphong trào thi đua,là cơ sở đảng vững mạnh,là tập thể lao động tiêu biểu, điểnhình, là đơn vị văn hóa của thành phố

2 CHỨC NĂNG-NHIỆM VỤ THẨM QUYỀN CỦA TAND THÀNH PHỐ VINH

3 CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN-TAND THÀNH PHỐ VINH

3.1 Cơ cấu tổ chức:

Qua các năm,cơ cấu tổ chức của tào án nhân dân thành phố vinh có sựthay đổi,tuy nhiên cơ cấu cảu ngành không vượt quá chỉ tiêu ,số lượng cán bộcông chức biên chế của pháp luật quy định

Trang 3

TAND thành phố Vinh gồm: Chánh án, phó chánh án, thẩm phán, thư

ký, các bộ công tác văn phòng, thi hành án, hội thẩm nhân dân

Hiện nay, TAND thành phố vinh có 28 biên chế,trong đó có:

Tập thể cán bộ luôn luôn nêu cao tinh thần đoàn kết nhất trí cùng nhau nỗlực phấn đấu hoàn thành xuất sắc,nhiệm vụ được giao, được viện kiểm sát vànhà nước và nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý

b.Đặc điểm hoat động

Đơn vị -TAND thành phố vinh đã tổ chức hoạt động nhiều nội dung côngtác dưới sự lãnh đạo của người đứng đầu-chánh án

-Về hoạt động lãnh đạo,chỉ đạo:

+ Tập trung hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn đặc biệt là công tác xét

xử các loại án, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu các loại án về số lượng, đồng thờinâng cao chất lượng không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội, đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp cho người dân,không để án kéo dài quá hạn luậtđịnh.Các hoạt động công tác khác như thi hành án hình sự, giám đốc kiểm tả,hướng dẫn nghiệp vụ, giải quyết đơn thư khiếu nại được thực hiện đồng bộ cóhiệu quả

+ Tăng cường hoạt động công tác công đoàn,Đoàn thanh niên,nữ côngtrong toàn ngành làm nòng cốt cho phong trào thi đua

- Về hoạt động giải quyết các vụ án:

Trang 4

Tòa án nhân dân thành phố vinh đã thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ ánvới các loại án khác nhau.

+ Án hình sự: TAND đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tốtụng nên việc giải quyết nhanh, nghiêm túc, đúng người, đứng tội, đứng phápluật, đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm.Việc thực hiện tổ chức phiên tòađược đổi mới và dân chủ, tòa án đã tạo điều kiện đảm bảo cho những ngườitham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình

+ Án dân sự, hôn nhân , gia đình, hành chính, kinh doanh, thương mại, laođộng cũng gặp nhiều khó khăn,phức tạp Lãnh đạo tòa án nhân dân thành phốVinh đã tập trung chỉ đạo giải quyết các loại án này và quán triệt tinh thần cảicách tư pháp,các hội thẩm,cán bộ đã tích cực trong việc xây dựng hồ sơ vụán,tăng cường công tác hòa giải,đồng thời việc triển khai thủ tục xét hỏi và tranhluận tại phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Do vậy, chấtlượng xét xử các loại án đã đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của cácđương sự

- Về hoạt động thi hành án

Tòa án nhân dân thành phố Vinh đã có nhiều cố gắng để hoàn thành tốtnhiệm vụ.Các bản án có hiệu lực đảm bảo thi hành nghiêm túc, đã ra các quyếtđịnh thi hành án, số bị án hưởng án treo, cải tạo không giam giữ được đưa vàođịa phương quản lý, theo dõi, giáo dục Việc tạm hoãn thi hành án đúng phápluật, làm đúng quy định xóa án tích, xét giảm thời hạn thử thách và án treo thôngqua đó để bảo vệ kịp thời các quyền lợi, hợp pháp của những người bị kết án

- Về hoạt động giải quyết đơn thư khiếu nại

+ Tòa án thực hiện sổ sách ghi chép rõ ràng,đảm bảo bí mật trong côngtác văn thư lưu trữ, tiếp dân tốt Đã xem xét đơn thư kịp thời đúng quy định củapháp luật

+ Công tác báo cáo thống kê xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đượcthực hiện đúng thời hạn theo quy định của ngành

Trang 5

+ Xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy chế của ngành: Quy chế dân chủ

cơ sở, quy chế công khai tài chính và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quychế chi tiêu tài chính nội bộ

- Về hoạt động tổ chức cán bộ

+ Chăm lo đào tạo,bồi dưỡng cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực tráchnhiệm, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức lần lượt đi hoạc trunghọc, cao cấp, đại học chính trị và chuyên ngành khác

+ Chuẩn bị tốt nhân sự để bổ sung cán bộ lãnh đạo, thẩm phán khi có yêucầu

+ Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở là một trong những nhân tố khôngthể thiếu được, tạo nên sự đoàn kết thống nhất cao trong cơ quan

+ Tăng cường công tác kiểm tra, giữ nguyên kỷ luật của cơ quan, thựchiện tốt chương trình hành động của cơ qaun đề ra, xây dựng lối sống làm việc,văn minh hiện đại

- Hoạt động công tác xây dựng đoàn thể

+ Tập thể cán bộ,công chức đều đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ công tác củangành và địa phương, nội bộ đoàn kết, tập trung dân chủ

+ Chi bộ cơ quan luôn làm tốt công tác lãnh đạo,giáo dục về chính trị tưtưởng cho đảng viên,cán bộ công chức

+ Công tác xây dựng Đảng cũng được quan tâm ,nhất là việc phát triểnĐảng viên mới,chi bộ TAND thành phố Vinh là chi bộ trong sạch,vững mạnhhàng năm kết nạp được thêm nhiều đảng viên mới

+ Tổ chức công đoàn thanh niên, phụ nữ cũng có vai trò đáng kể trongviệc chăm lo, động viên cán bộ phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

4 ĐÁNH GIÁ KHÁT QUÁT CHUNG

Tòa án nhân dân thành phố vinh 65 năm xây dựng và trưởng thành, vớichức năng là cơ quan xét xử và nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa vàgiáo dục công dân, đã trở thành đơn vị tiêu biểu của ngành, đơn vị văn hóa củathành phố Vinh Là tòa án xét xử khá nhiều vụ án Tập thể cán bộ công chức của

Trang 6

cơ quan luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, vượt qua mọi khó khăn thử thách,đoàn kết nhất trí cùng nhau nỗ lực phấn dấu haòn thành xuất sắc nhiệm vụ đượcgiao Đạt nhiều kết quả cao trong công tác hoạt động, chỉ đạo, xét xử,…và thànhtích nổi bật mang tính chuyên môn của ngành là trong lĩnh vực xét xử giải quyếtcác loại án với số lượng lớn và nhiều loại án khác nhau như: hình sự, dân sự,hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại…Với việc xét xử những hành viphạm tội, tòa án thành phố đã góp phần vào công cuộc phòng và chống tội phạmcũng như giáo dục công dân sống lành mạnh không vi phạm pháp luật Tòa ánnhân dân đã góp phần sức mình vào việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội trên địabàn thành phố Vinh Tòa án nhân dân thành phố Vinh là tập thể lao động xuấtsắc, là tòa án điển hình, xuất sắc của tỉnh Nghệ An Đơn vị văn hoá của ngànhtòa án nhân dân nói chung, được TAND tối cao công nhận đơn vị văn hóa.

Trong thời gian thực tập tại cơ quan, bản thân tôi không chỉ rèn luyệnđược vốn kiến thức của mình mà còn học hỏi thêm được rất nhiều kỹ năngnghiệp vụ làm việc, giải quyết và tiếp xúc với đương sự Bên cạnh đó, sự nhiệttình chỉ bảo và sự thân thiện mà cô chú, anh chị trong cơ quan đã dành cho đoànthực tâp nói chung và bản thân tôi nói riêng đã tiếp thêm sức mạnh để yêu nghề

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

do dân và vì dân Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta thì cầnphải có con người xã hội chủ nghĩa, đó là đòi hỏi tất yếu khách quan Nhưngmuốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải có một gia đình mẫu mực, bởi giađình quyết định một phần rất lớn tới bản chất con người Gia đình hiện nay cònđược xem là tế bào của xã hội, do vậy muốn có một xã hội phát triển và lànhmạnh thì cần phải có gia đình tốt – gia đình văn hoá mới Gia đình là nơi sảnsinh ra con người, nuôi dưỡng và giáo dục con người cho xã hội, vì vậy Đảng vàNhà nước ta trong những năm qua luôn luôn quan tâm tới vấn đề gia đình Luậthôn nhân và gia đình có vai trò góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độhôn nhân gia đình tiến bộ, nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộhạnh phúc và bền vững Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về gia đình được

ghi nhận tại Điều 64 Hiến pháp 1992: “ Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt, con cháu có bổn phận chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước

và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.”

Mặc dầu đường lối chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhànước đã đề cập như vậy, song hiện nay có không ít gia đình vì những lý do khácnhau đã không thực hiện tốt chức năng của nó Một trong số các nguyên nhân đó

là cha mẹ, vợ chồng sống không hạnh phúc, bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộdẫn tới ly hôn

Ngày nay, dưới sự tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, cùngnhững lối sống tiêu cực, ham hưởng thụ hoặc chạy theo đồng tiền làm cho vợchồng, cha mẹ, con cái bỏ bê, không quan tâm chăm sóc nhau Tranh chấp về ly

Trang 8

hôn ngày càng nhiều trên phạm vi toàn quốc trong những năm gần đây, tìnhtrạng ly hôn ở nước ta diễn ra rất phổ biến, lý do rất đa dạng, phức tạp cả về chủthể lẫn nội dung Theo báo cáo của ngành Toà án, những án kiện về hôn nhângia đình luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các án kiện dân sự Trong các ánkiện về hôn nhân gia đình thì án kiện về ly hôn luôn chiếm khoảng 90%.

Ở Thành phố Vinh trong những năm qua, số lượng án về ly hôn có phầntăng Đối với loại án này mỗi vụ việc có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũngkhác nhau, nên việc giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn trong nhậnthức vận dụng pháp luật cũng như những khó khăn từ khách quan mang lại Tuyvậy, quá trình giải quyết ly hôn ở Thành phố Vinh trong những năm qua đã đạtđược những kết quả nhất định góp phần giải quyết các mâu thuẫn bất hoà tronghôn nhân, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của các đương sự đặc biệt là quyền vàlợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em Thông qua việc giải quyết ly hôn đã gópphần làm ổn định các quan hệ trong hôn nhân, giữ gìn kỷ cương pháp luật, giữ

ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần tăng cường nền pháp chế trêntoàn tỉnh Nghệ An

Bên cạnh những mặt đã đạt được, trong hoạt động xét xử ở Toà án nhândân Thành phố Vinh cũng đã bộc lộ một số tồn tại như xét xử oan sai, án tồnđọng, còn có vụ vi phạm thời hạn tố tụng , một số vụ án bị sửa, …làm ảnhhưởng đến quyền lợi của các đương sự Hơn nữa, ảnh hưởng của ly hôn theohướng tiêu cực như: sự ly tán gia đình, sự phân chia tài sản, trẻ em thiếu sựchăm sóc, giáo dục trực tiếp của cha mẹ … đang là những gánh nặng, những hậuquả để lại cho gia đình và xã hội mà đang là những câu hỏi lớn đặt ra cần đượcgiải quyết?

Xuất phát từ những lý do trên, người viết chọn đề tài “ Vấn đề ly hôn theopháp luật Việt Nam và thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân Thành phố Vinh

từ năm 2008 đến năm 2011” là rất cần thiết Qua quá trình nghiên cứu, chúng ta

có thể làm rõ những quy định của pháp luật về ly hôn, những điểm cần hoàn

Trang 9

thiện nhằm góp phần làm nâng cao cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luậtgiải quyết các tranh chấp từ các án kiện ly hôn hiện nay.

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về ly hôn, qua việc sosánh đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan chuyên trách gópphần tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân Qua việc phân tích, tìm ranhững vướng mắc, thiếu sót, đề xuất những kiến nghị phù hợp với yêu cầu tấtyếu khách quan của xã hội trong giai đoạn hiện nay

Qua đề tài, chúng tôi muốn góp phần công sức nhỏ bé của mình vàonhiệm vụ chung của toàn xã hội để xây dựng một chế độ pháp lý ngày cànghoàn thiện góp phần nâng cao hiệu lực pháp luật, xây dựng một nhà nước phápquyền ngày càng vững mạnh Hy vọng khoá luận này sẽ là một tài liệu thamkhảo và là gợi ý, hướng dẫn cho việc áp dụng và thực hiện các quy định củapháp luật về ly hôn

3 Mục đích và phương pháp nghiên cứu đề tài

Khi đi tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này chúng ta không chỉ thấy được thựctrạng ly hôn đang diễn ra như thế nào mà qua đó chúng ta còn có thể đi sâu tìmhiểu các nguyên nhân dẫn tới ly hôn và sự tác động của vấn đề ly hôn tới tìnhhình kinh tế - xã hội của đất nước

Thông qua việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng ta có được cách hiểusâu hơn, đúng đắn hơn cơ sở lý luận của vấn đề ly hôn theo pháp luật hôn nhân

và gia đình

Nghiên cứu đề tài này còn nhằm thu thập các số liệu tìm ra những vướngmắc, bất cập khi áp dụng giải quyết để từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp, gópphần xây dựng và hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình và nhằm bảo vệ chế

độ hôn nhân gia đình tiến bộ, bền vững kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹpcủa gia đình Việt Nam

Khi thực hiện đề tài của mình, người viết tuân thủ phương pháp nghiêncứu chủ đạo là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ

Trang 10

nghĩa Mác- Lênin Trên cơ sở phương pháp luận đó, người viết sử dụng phươngpháp cụ thể như so sánh, phân tích, tổng hợp để hoàn thành đề tài của mình.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung tìm hiểu, nghiên cứu những quy định của pháp luật hiệnhành về chế định ly hôn và những văn bản hướng dẫn thi hành đồng thời có sự

so sánh đối chiếu với các quy định về vấn đề ly hôn trong các văn bản pháp luật

về hôn nhân gia đình trước đó để thấy được những điểm khác và điểm mới qua

đó thấy được những bước tiến trong quá trình lập pháp ở nước ta Bên cạnh đó,

đề tài còn được tiến hành nghiên cứu, tiếp xúc thực tiễn tại Toà án nhân dânThành phố Vinh – cơ quan chuyên trách giải quyết các án kiện hôn nhân trên địabàn Thành phố Vinh

Do lần đầu tiên tiếp cận với việc nghiên cứu một đề tài và có giới hạn vềmặt thời gian nên khoá luận chưa thể đi sâu nghiên cứu các vấn đề khác như vềthủ tục tố tụng của một vụ án ly hôn hay vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Vìvậy, quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót mong quý thầy

cô và các bạn góp ý, bổ sung để khoá luận được hoàn thiện hơn

5 Bố cục của đề tài

Cơ cấu của đề tài bao gồm:

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1: Khái quát chung về ly hôn và cơ sở pháp lý của ly hôn

Chương 2: Thực tiễn giải quyết vấn đề ly hôn tại Toà án nhân dân Thànhphố Vinh và một số giải pháp nhằm đảm bảo việc giải quyết vấn đề ly hôn tạiToà án nhân dân Thành phố Vinh

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 11

B PHẦN NỘI DUNGChương 1: Khái quát chung về ly hôn và cơ sở pháp lý của nó

1.1 Khái niệm và đặc điểm của ly hôn

1.1.1 Khái niệm

Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân Nếu kết hôn là một hiện tượngbình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là một hiện tượng bấtbình thường, là mặt trái của quan hệ hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếuđược khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ Trong trường hợp đó ly hôn làmột việc cần thiết cho cả vợ chồng và cho xã hội, vì nó giải phóng cho tất cảmọi người, cho cả vợ chồng, các con cũng như những thành viên trong gia đìnhthoát khỏi xung đột, mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống chung Thực hiện nguyêntắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ, bảo đảm quyền tự do hôn nhân bao gồmquyền tự do kết hôn của nam nữ và quyền tự do ly hôn của vợ chồng

Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì ly hôn là việc hai vợ chồng bỏ quan

hệ vợ chồng chính thức, vì những nguyên nhân nào đó mà không đạt được mụcđích hôn nhân Việc ly hôn có thể xảy ra ở hai thời kỳ: sau khi dạm hỏi( trướckhi cưới) và sau khi cưới khi hai vợ chồng đã ăn ở với nhau một thời gian thậmchí sau khi đã sinh con cái

Trước năm 1945, vợ chồng muốn ly dị phải trình làng, làng xử khôngđược phải đến cửa quan( quan huyện, quan phủ) Đàn ông muốn bỏ vợ phải viết

tờ ly dị Vợ cầm tờ giấy ấy trình làng, trình quan xong mới được lấy vợ khác.Dưới các chế độ phụ quyền, đặc biệt là xã hội phong kiến phương Đông, với tưtưởng trọng nam khinh nữ, trong ly hôn nữ giới chịu nhiều thiệt thòi hơn namgiới

Hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945đến nay quy định về vấn đề ly hôn với quan điểm vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự

do ly hon chính đáng của vợ chồng, vừa quy định giải quyết ly hôn có lý, có

Trang 12

tình Bằng pháp luật nhà nước kiểm soát quyền tự do ly hôn của vợ chồng vì lợiích của gia đình và xã hội.

Tại khoản 8 Điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân( trong đó có lyhôn) là hiện tượng xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc Pháp luật của Nhà nướcphong kiến, tư sản thường quy định hoặc là cấm vợ chồng ly hôn, hoặc là đặt racác điều kiện hạn chế quyền ly hôn của vợ chồng, hoặc quy định giải quyết lyhôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình ởnước ta dưới thời phong kiến, thực dân đã thể hiện luận điểm trên Dưới chế độ

cũ, quyền yêu cầu ly hôn và các duyên cớ ly hôn theo luật định thường dựa trênquan hệ “ bất bình đẳng” giữa vợ và chồng Ly hôn là một hiện tượng xã hộiphức tạp, vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi, hạnh phúc của vợ chồng, đến lợi íchcủa gia đình và xã hội Trong những năm gần đây, các việc ly hôn ở nước ta vàcác nước trên thế giới gia tăng đáng kể Những nguyên nhân, lý do ly hôn cũngrất đa dạng và phức tạp Vì vậy, muốn giải quyết ly hôn chính xác, vừa đảm bảoquyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, vừa đảm bảo lợi ích gia đình và xãhội, cán bộ thẩm phán cần nắm vững quy định của pháp luật, điều tra, tìm hiểu

kỹ lưỡng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, tâm tư tình cảm, nguyệnvọng của mỗi đương sự, đồng thời phải lưu ý đến các đặc điểm về tình hình kinh

tế - chính trị và xã hội tác động vào quan hệ hôn nhân trong thời điểm giảiquyết ly hôn, để kết hợp đúng đắn đường lối chính sách cụ thể của Đảng và Nhànước đối với việc giải quyết từng loại án kiện về ly hôn

Nhà nước bảo hộ hôn nhân, bảo đảm quyền tự do ly hôn của vợ chồngkhông có nghĩa là giải quyết ly hôn tuỳ tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợchồng muốn sao làm vậy mà bằng pháp luật, Nhà nước kiểm soát việc giải quyết

ly hôn Bởi vì, trong quan hệ hôn nhân không phải chỉ có lợi ích riêng tư của vợchồng mà còn có lợi ích của Nhà nước và xã hội thể hiện qua những chức năng

Trang 13

của gia đình - tế bào của xã hội và lợi ích của con cái – thành viên của gia đình

và xã hội Vì vậy vợ chồng không thể chỉ chú ý đến hạnh phúc cá nhân mà xin

ly hôn một cách tuỳ tiện

1.1.2 Đặc điểm của ly hôn

Xuất phát từ khái niệm ly hôn được quy định tại khoản 8 Điều 8 luậtHNGĐ năm 2000, ly hôn có hai đặc điểm sau đây:

Thứ nhất: Việc ly hôn phải theo ý muốn của một hoặc của cả hai vợchồng( khi còn sống), hoặc theo ý muốn của một bên khi bên kia bị toà án tuyên

bố là mất tích Xuất phát từ đặc trưng quan hệ hôn nhân gia đình là một quan hệđặc biệt gắn liền với nhân thân của cả hai vợ chồng, do đó chỉ có họ mới quyếtđịnh việc tồn tại hay chấm dứt quan hệ vợ chồng mà không ai có quyền yêu cầuhoặc can thiệp Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986( Điều 40), luậtHNGĐ năm 2000( khoản 1 Điều 85) cũng chỉ quy định vợ hoặc chồng mới cóquyền ly hôn Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cũng quy định đối với việc lyhôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tốtụng ( khoản 3 Điều 73 BLTTDS 2004)

Thứ hai: Việc ly hôn do TAND giải quyết bằng việc ra quyết định côngnhận thuận tình ly hôn hoặc bằng bản án Vì việc kết hôn là xác lập quan hệ hônnhân do cơ quan hành chính thực hiện cụ thể là Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặcUBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương( đối với trường hợp kết hôn cóyếu tố nước ngoài) nhưng ly hôn để chấm dứt quan hệ vợ chồng thì thuộc cơquan tư pháp, cụ thể là Toà án nhân dân Cho dù thực tế họ đã chấm dứt quan hệ

vợ chồng, trên thực tế họ không còn chung sống với nhau nữa hoặc chính quyềnđịa phương đã có quyết định khác như biên bản hoà giải đoàn tụ không thànhcủa Uỷ ban nhân dân cấp xã, nhưng về mặt pháp lý, quan hệ hôn nhân vẫn còntồn tại, khi chưa có quyết định hoặc bản án của Toà án có thẩm quyền giữangười vợ và người chồng vẫn còn ràng buộc pháp lý về quan hệ nhân thân, quan

hệ tài sản và quan hệ con cái Chỉ khi Toà án xem xét giải quyết và quyết địnhcho họ chấm dứt hay tiếp tục tồn tại quan hệ hôn nhân đó, quyết định của Toà án

Trang 14

là quyết định cuối cùng Trường hợp Toà án xử cho ly hôn bằng một bản án hay

ra một quyết định công nhận thuận tình ly hôn, khi đó giữa người vợ và ngườichồng không còn sự ràng buộc về mặt pháp lý cả về quan hệ nhân thân lẫn quan

hệ tài sản Quyết định của Toà án là quyết định có giá trị cao nhất

1.2 Các căn cứ ly hôn theo pháp luật Việt Nam

“ động cơ” ly hôn, hay “ mục đích” ly hôn, hai khái niệm này đồng nghĩa nhưngkhông được coi là những điều kiện ly hôn quy định trong luật

Trong xã hội có giai cấp, ly hôn cũng thể hiện tính giai cấp Việc quy định

về ly hôn và căn cứ cho ly hôn thể hiện ý chí và quan điểm của giai cấp thống trị

xã hội

Quan điểm của những nhà làm luật tư sản cho rằng hôn nhân thực chất làmột “khế ước” , một hợp đồng do hai bên nam nữ tự do, tự nguyện xác lập, vậythì chỉ được xoá bỏ hôn nhân, khế ước đó trên cơ sở lỗi của các bên Bộ luật dân

sự Pháp quy định: “ Vợ chồng có thể xin ly hôn do những sự việc bên kia gây ra,

vi phạm nghiêm trọng và liên tục bổn phận và nghĩa vụ hôn nhân khiến cho đờisống chung không thể duy trì được”(Điều 242 mục III Thiên VI) Theo đó, việcgiải quyết các hậu quả của ly hôn cũng như quyền lợi về tài sản, trách hiệm đốivới con cái, cũng dựa trên căn cứ này

Luật hôn nhân và gia đình các nước Xã hội chủ nghĩa quy định giải quyết

ly hôn theo đúng thực chất của vấn đề, hoàn toàn không dựa vào lỗi của vợ

Trang 15

chồng, trên cơ sở nhìn nhận khách quan, đánh giá đúng thực chất của quan hệhôn nhân thực sự tan vỡ.

Ở nước ta căn cứ ly hôn được quy định trong các văn bản pháp luật ở từnggiai đoạn khác nhau

Trong cổ luật Việt Nam, các căn cứ ly hôn thường được biết tới với têngọi “ duyên cớ” ly hôn hay “ các trường hợp ly hôn” Các duyên cớ ly hôn trong

cổ luật cũng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng nho giáo, nghĩa là chúng dựa trên sựbất bình đẳng giữa vợ - chồng và nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi gia đình, giatộc hơn là quyền lợi cá nhân Chính trong ý nghĩa này mà duyên cớ ly hôn trong

cổ luật được chia làm ba loại: rẫy vợ, ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình

Rẫy vợ là việc người chồng được đơn phương bỏ vợ ngoài tầm kiểm soátcủa tất cả các thiết chế xã hội Điều 310 Bộ luật Hồng Đức quy định, nếu người

vợ phạm vào một trong các điều “ thất xuất” thì chồng phải bỏ vợ, không bỏ sẽ

bị tội biếm Theo Hồng Đức Thiện chính thư( đoạn 164) và bộ luật Gia Long(Điều 108) đã nêu rõ đó là bảy trường hợp sau: không có con, dâm đãng, khôngthờ bố mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông và bị ác tật

Ly hôn bắt buộc là trường hợp khi việc kết hôn vi phạm các điều kiệnthiết yếu của hôn nhân thì vợ chồng bị buộc phải ly dị Chẳng hạn Điều 308 Bộluật Hồng Đức quy định: “ Chồng bỏ lửng vợ 5 tháng thì mất vợ”, Điều 108 Lệthứ hai luật Gia Long cũng quy định : “ Nếu người chồng mất tích hoặc bỏ trốn

3 năm không về thì người vợ được trình quan xin phép cải giá và nhà vợ khôngphải hoàn lại đồ sính lễ”.Đặc biệt Điều 108 luật Gia Long quy định khi vợ chồngphạm phải điều “nghĩa tuyệt” thì buộc phải ly hôn “ Nghĩa tuyệt” có thể là dolỗi của vợ ( mưu sát chồng), hoặc lỗi của chồng ( chồng bán vợ, cho thuê vợ haycầm vợ), nhưng cũng có thể là do lỗi của cả hai vợ chồng ( người chồng đem vợbán cho nhân tình của vợ)

Thuận tình ly hôn là việc hai vợ chồng bất hoà tự nguyện xin ly dị [9,55]Căn cứ ly hôn trong pháp luật chính quyền nguỵ quyền Sài Gòn trước

1975 ( ở Miền Nam): Luật gia đình 1959 của Ngô Đình Diệm quy định cấm ly

Trang 16

hôn chỉ cho ly thân, trừ một số trường hợp phải có tổng thống xét là tối đặc biệtmới cho ly hôn Để biện hộ cho quy định này Trần Lệ Xuân nêu lý do: Cấm cho

ly hôn nhằm bảo vệ và củng cố gia đình dành thời gian xoa dịu các mối bất hoà,cho đôi bạn có cơ hội đoàn tụ, làm cho thanh niên lựa chọn bạn đời thận trọnghơn

Đến năm 1964, sau khi chính quyền bị lật đổ lúc này mới đề nghị xét lạiquy định trên Do vậy, Bộ Dân luật 1972 của chính quyền Thiệu đã quy định vợchồng có thể xin ly hôn vì ba duyên cớ: và sự ngoại tình của bên kia, bên kia bịkết án trọng hình về thượng tội, vợ chồng bị ngược đãi không thể ăn ở được vớinhau

Căn cứ ly hôn các văn bản sau năm 1945: Sau khi nước nhà độc lập, nhànước ta đã ban hành sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950, sắc lệnh 159/SL ngày17/11/1950 Theo sắc lệnh 159, xoá bỏ các duyên cớ ly hôn được quy định trongcác bộ dân luật của thực dân phong kiến trước đó và đề ra năm căn cứ ly hôncho cả và chồng bao gồm: ngoại tình, một bên can án phạt giam, một bên bịbệnh điên, hoặc một bệnh khó chữa khỏi, vợ chồng tính tình không hợp hoặc đối

xử với nhau đến nỗi không thể chung sống được ( Điều 2)

Luật hôn nhân và gia đình 1959 (Điều 6), luật HNGĐ 1986 ( Điều 40), vàluật HNGĐ năm 2000 ( Điều 89) đã quy định căn cứ ly hôn dựa trên quan điểmchủ nghĩa Mác – Lênin, theo đó không quy định căn cứ riêng biệt mà quy địnhthống nhất về căn cứ ly hôn dù là trường hợp hai bên thuận tình ly hôn hay một

bên vợ hoặc chồng yêu cầu: “ Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn” Ngoài ra, còn quy định: “ Trong trường hợp vợ hoặc chồng bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.

1.2.2 Nội dung các căn cứ ly hôn

Khi vợ chồng hay cả hai vợ chồng có yêu cầu ly hôn, sau khi thụ lý vụkiện, Toà án phải tiến hành điều tra và hoà giải, nếu hoà giải không thành và xét

Trang 17

thấy giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm yêu thươg không còn nữa,mục đích của hôn nhân không đạt được, Toà án mới giải quyết cho ly hôn”.

Điều 89 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“ 1 Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quết cho ly hôn.”

“ Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” ở đây cần

được hiểu là giữa vợ chồng có nhiều lục đục, mâu thuẫn sâu sắc đến mức vợchồng không thể chịu đựng được nhau nữa, các thành viên trong gia đình khôngthể nào sống chung bình thường, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại được, sựtan vỡ của hôn nhân và ly tán của gia đình là không thể tránh khỏi Vì thế khôngthể hiểu đơn thuần “ tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài”chỉ là biểu hiện tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa Khi nói đến tình yêutrong quan hệ vợ chồng còn hay hết là mới chỉ nói đến quan hệ tình cảm có tínhchất riêng tư của vợ chồng mà chưa thấy hết mọi mặt khác trong đời sống vợchồng nói riêng và đời sống gia đình nói chung Và như vậy, khi giải quyết việc

ly hôn, Toà án cần phải thẩm tra, xem xét lợi ích của vợ chồng, của con cái, củagia đình và xã hội trong quan hệ hôn nhân đó ra sao? Có nhìn nhận một cáchtoàn diện như vậy thì giải quyết ly hôn chính xác mới mang lại kết quả tích cựcthúc đẩy các quan hệ hôn nhân và gia đình phát triển phù hợp với đạo đức Xãhội chủ nghĩa, phù hợp với lợi ích chung toàn xã hội

Mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồngthẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định củaLuật hô nhân gia đình năm 2000 đã nêu rõ:

a Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hô nhân không đạt được.

Trang 18

a.1 Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc chồng muốn sống

ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của ho hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập hoặc có hành vi xúc phạm khác đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan,

tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

a.2 Để có cơ sở nhận định đời sống chung không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3 Mục đích của hôn nhân không đạt được có nghĩa là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt”.

Khi thực tế quan hệ vợ chồng ở trong “tình trạng trầm trọng, đời sốngchung không thể kéo dài” thì thường dẫn tới “ mục đích hôn nhân không đạtđược” Mục đích hôn nhân dưới chế độ XHCN là nhằm mục đích xây dựng giađình ấm no, bình đẳng , tiến bộ, hạnh phúc và bền vững ( Điều 1 Luật HNGĐ2000) Tờ trình về dự luật hôn nhân gia đình 1959 của Chính phủ trước Quốc

Trang 19

hội đã chỉ rõ: “ Mục đích của hôn nhân trong chế độ ta là xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người thương yêu, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và bảo đảm cho nòi giống được lành mạnh, tương lai con cái được tốt đẹp, cho xã hội được phát triển thịnh vượng và làm cho mọi người trong gia đình đều phấn khởi lao động, cùng nhau cải thiện đời sống và kiến thiết tổ quốc.”Điều đó thể hiện mối liên hệ hài hoà, gắn bó giữa

mặt riêng tư và mặt xã hội trong quan hệ hôn nhân Nếu hạt nhân của xã hội tồntại không bình thường và lành mạnh, quan hệ vợ chồng tồn tại không có lợi chogia đình và cho xã hội thì ly hôn là tất yếu không tránh khỏi

Theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

“ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin lyhôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn” Quy định này đã cụ thể hoá hậu quả củaviệc Toà án tuyên bố công dân bị mất tích trong Bộ luật dân sự của Nhà nước ta.Trong quan hệ hôn nhân và gia đình việc chồng hoặc vợ bị mất tích đã ảnhhưởng sâu sắc đến quan hệ vợ chồng và các thành viên trong gia đình Cần phảigiải phóng cho vợ hoặc chồng thoát khỏi “ hoàn cảnh đặc biệt” này, khi họ cóyêu cầu được ly hôn với người chồng ( vợ) đã bị Toà án tuyên bố mất tích

Như vậy căn cứ ly hôn trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000của Nhà nước ta được quy định dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin

có cơ sở khoa học và thực tiễn kiểm nghiệm trong mấy chục năm qua Từ khiNhà nước ta ban hành Luật HNGD năm 1959, khi giải quyết ly hôn không thểhiểu đơn thuần “ tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mụcđích hôn nhân không đạt được” là tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa màđiều đó nói lên một thực trạng hôn nhân đã tan vỡ, quan hệ vợ chồng không thểtồn tại được nữa vì “ sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối” và ly hôn làmột giải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng cũng như các thành viênkhác trong gia đình khỏi cảnh “bất bình thường” đó, bảo đảm lợi ích của vợchồng, của gia đình và xã hội

Trang 20

1.3 Quyền ly hôn

Ly hôn thực chất là mặt trái của quan hệ hôn nhân Việc ly hôn là bất đắc

dĩ khi quan hệ vợ chồng đã đổ vỡ không thể hàn gắn được

Trước đây, do ảnh hưởng của những quan niệm cũ lạc hậu thì việc ly hôn

bị coi là hiện tượng không bình thường, phần nào bị xã hội lên án và bị hạn chếnhất là đối với phụ nữ việc chủ động ly hôn là điều khó có thể chấp nhận

Tuy nhiên những năm gần đây cách nhìn nhận vấn đề ly hôn có xu hướngthoáng hơn và ly hôn được xem như là một hiện tượng bình thường, một quyềndân sự của cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

Bộ luật dân sự 1995 ( Điều 38) và BLDS 2005 ( Điều 42) đã quy định “

vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án cho chấm dứtquan hệ hôn nhân khi có lý do chính đáng” Ly hôn là mặt trái của quan hệ hônnhân chỉ đặt ra khi hạnh phúc gia đình không còn tồn tại, cuộc sống chung nảysinh nhiều mâu thuẫn, mục đích của việc kêt hôn không đạt được Với đặc điểmcủa quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, quyền kết hôn, ly hôn là quyềnnhân thân không thể chuyển giao, chỉ có chủ thể của quan hệ pháp luật mới cóquyền yêu cầu giải quyết Nên cha mẹ bên vợ hoặc bên chồng hay bất cứ ngườinào khác không thể yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn, mà chỉ có vợ chồnghoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn khi có lý do chính đáng.Theo khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: “…đối vớiviệc ly hôn đương sự không được uỷ quyền thay cho người khác thay mặt mìnhtham gia tố tụng” Như vậy, quyền yêu cầu Toà án giải quyêtts cho ly hôn làquyền của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng Quyền này gắn liền với nhân thâncủa vợ chồng, không thể chuyển gia Nhưng hiện nay bàn về vấn đề quyền lyhôn đã xó một số vướng mắc giữa quy định của luật nội dung và luật hình thức

Cụ thể là sự không phù hợp giữa luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và Bộluật tố tụng dân sự

Thứ nhất: đó là trường hợp bố mẹ có quyền đại diện cho người con bị tâmthần khởi kiện xin ly hôn hay không? Trong thời gian qua có một vài vụ việc bố

Trang 21

hoặc mẹ viết đơn gửi Toà án với tư cách là người đại diện xin ly hôn thay chongười con của mình mắc bệnh tâm thần, các Toà án đã lúng túng trong xử lý?

Có Toà án trả lại đơn kiện, có Toà án thụ lý vụ án và xem xét yêu cầu mà ngườiđại diện đưa ra Thực tế cũng có trường hợp trong hồ sơ đơ xin ly hôn do người

bị bệnh tâm thần đứng tên, và bố hoặc mẹ có đơn gửi Toà án xin là người đạidiện cho con đang bị tâm thần đã mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết lyhôn cho con

Đối với loại việc này nên xử như thế nào hiện còn có nhiều quan điểmkhác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Luậthôn nhân gia đình, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 62, 67, 139 Bộ luậtdân sự thì việc xin ly hôn là một loại quan hệ nhân thân gắn liền với mỗi chủthể, không thể tách rời Do đó, không ai có thể uỷ quyền cho người khác thaymặt mình trước Toà án để giải quyết việc ly hôn; nếu người đó mất năng lựchành vi dân sự thì cũng không ai có thể đại diện họ để khởi kiện xin ly hôn vàđại diện cho họ trước Toà để giải quyết quan hệ nhân thân này Do đó, Toà ánphải trả lại đơn khởi kiện của bố hoặc mẹ đứng đơn với tư cách là người đại diệncho người con mất năng lực hành vi dân sự trong vụ án ly hôn, vì những ngườinày không có quyền khởi kiện để xin ly hôn hay chia tài sản chung thay chogười mất năng lực hành vi dân sự

Quan điểm thứ hai cho rằng: Khi người vợ hoặc người chồng của ngườimất năng lực hành vi dân sự mà thiếu trách nhiệm vi phạm nghiêm trọng nghĩa

vụ vợ chồng với người đang mất năng lực hành vi dân sự, thì bố hoặc mẹ sẽ làngười giám hộ, người đại diện đương nhiên cho con mình khởi kiện xin ly hôn,chia tài sản, con cái… Toà án phải thụ lý giải quyết đơn của họ Nếu Toà ánthấy không thể duy trì được quan hệ vợ chồng thì Toà án cho người vợ hoặcngười chồng bị mất năng lực hành vi dân sự ly hôn và giải quyết các quan hệkhác kèm theo nếu người đại diện yêu cầu

Trang 22

Quan điểm thứ ba cho rằng bố hoặc mẹ của người mất năng lực hành vidân sự không có quyền đại diện thay con để xin ly hôn, vì đó là quan hệ nhânthân không được uỷ quyền, không được đại diện Bố hoặc mẹ của người đó chỉ

có quyền đại diện cho con để khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết quan hệ concái, tài sản, yêu cầu buộc bên kia cấp dưỡng và Toà án phải thụ lý, giải quyếtquan hệ con cái, tài sản khi bố mẹ đại diện yêu cầu

Như vậy, để xác định bố mẹ có quyền đại diện cho người con bị bệnh tâmthần khởi kiện xin ly hôn hay không thì cần phải nghiên cứu chế định đại diện

và chế định giám hộ được quy định trong Bộ luật dân sự Tại khoản 2 Điều 24Luật hôn nhân gia đình quy định rõ: “ vợ chồng đại diện cho nhau khi một bênmất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ”.Nhưng nếu người vợ ( hoặc chồng) mất năng lực hành vi dân sự mà ngườichông ( hoặc vợ) không chăm sóc, không chung thuỷ, thậm chí còn đánh đậphành hạ họ và lấy tài sản chung cho người tình hoặc tẩu tán tài sản chung thìtrong trường hợp này người chồng ( hoặc vợ) không làm được vai trò là ngườigiám hộ, là người đại diện mà pháp luật đã trao cho họ, vậy ai có quyền đại diệncho người vợ ( hoặc chồng) mất năng lực hành vi dân sự để khởi kiện bảo vệquyền nhân thân như quyền ly hôn, quyền tài sản cho họ không? Vấn đè nàyđang đặt ra nhiều vướng mắc mà vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể

Thứ hai: Về vấn đề người đại diện theo pháp luật trong vụ án ly hôn Căn

cứ vào quy định của pháp luật về hôn nhân và thực tế trong đời sống xã hội, đã

có nhiều nam nữ vừa câm, vừa điếc hoặc nam nữ đều mù hai mắt mà đã kết hônvới nhau Hoặc khi kết hôn, nam nữ đều là người bình thường, nhưng trong quátrình chung sống, lao động, sản xuất, làm việc, sinh hoạt thì một bên vợ ( chồng)trở thành người mắc bệnh tâm thần hoặc là người có nhược điểm về thể chấthoặc là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và họ lại có yêu cầu Toà ángiải quyết ly hôn Như vậy, trong thực tế đã có các trường hợp ly hôn đối vớingười mắc bệnh tâm thần hoặc đối với có nhược điểm về thể chất Vấn đề đặt ra

là trongg các trường hợp ly hôn này, thì đương sự có đại diện tham gia tố tụng

Trang 23

không? Nếu có thì người đại diện nào? Thủ tục giải quyết như thế nào là hợppháp?

Ví dụ 1: Vợ chồng đều mù cả hai mắt mà một bên có yêu cầu ly hôn Anh

Lê Đình M ( mù hai mắt) kết hôn với anh Nguyễn Thị H ( mù hai mắt) đã hơn

10 năm, vào tháng 6 năm 2008, anh M có đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hônvới chị H ( đơn nhờ người khác viết, anh M chỉ điểm chỉ vào đơn) Khi giảiquyết vụ ly hôn giữa anh M với chị H, Toà án huyện P tỉnh H đã có ý kiến khácnhau Có ý kiến cho rằng: nguyên đơn và bị đơn đều phải có người đại diện theopháp luật để tham gia tố tụng Ý kiến khác lại cho rằng: giải quyết ly hôn theothủ tục tố tụng thông thường mà không cần có người đại diện theo pháp luật Vìnhững người mù trong vụ án ly hôn không thuộc trường hợp có người đại diệntheo pháp luật tham gia tố tụng

Ví dụ 2: Ly hôn đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ChịNguyễn Thị L kết hôn anh Trần Văn P từ năm 1998 đã có một con chung Saukhi ly hôn, chị L mới biết anh P là người nghiện ma tuý Anh P đã vào trại cainghiện một thời gian được trở về nhà, nhưng anh P bị nghiện lại.Hậu quả củaviệc tái nghiện là anh P không phụ giúp gì cho vợ con trong sinh hoạt gia đình

mà bán hết tài sản của gia đình để lấy tiền mua ma tuý Anh P nói năng nhưngười huyên thuyên như người không biết gì, thỉnh thoảng lại đánh chưởi vợcon thậm tệ, vợ chồng không thể sống chung được với nhau

Năm 2007, chị L có đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn đối với anh P.Khi giải quyết vụ ly hôn này, oà án huyện C, tỉnh H đã có ý kiến khác nhau Có

ý kiến cho rằng: yêu cầu chị L có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố anh P là người bịhạn chế năng lực hành vi dân sự, nếu Toà án chấp nhận yêu cầu của chị L và raquyết định tuyên bố anh P là người hạn chế năng lực hành vi dân sự thì sau đóToà án sẽ chỉ định người đại diện theo pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều

414 của Bộ luật dân sự để người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng Ý kiếnkhác lại cho rằng: thực hiện theo công văn số 57/KHXX ngày 21/9/1996 củaToà án nhân dân tối cao yêu cầu phía anh P cử người đại diện để tham gia tố

Trang 24

tụng và giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục thông thường mà không cần phảitiến hành thủ tục tuyên bố anh P là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Vấn đề thứ ba: Đó là về vấn đề có được giải quyết việc ly hôn cho người

vợ chưa thành niên không? Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia

đình năm 2000 thì “ Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên có thể đăng ký kết hôn”,và theo các văn bản hướng dẫn Luật hôn nhân gia đình năm 2000 đó là:

Nghị định số 70/2001/ND – CP của Chính phủ ngày 3/10/2001; công văn số268/TP – HT của Bộ tư pháp ngày 19/4/2001; Nghị quyết số 02/2000/NQ –HDTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000 thìkhông buộc nam nữ phải đủ 20 tuổi, nữ phải đủ 18 tuổi trở lên mới được kếthôn, mà chỉ cần nam bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 là đủ điều kiện về

độ tuổi kết hôn Như vậy, đối với nữ “ bước sang tuổi 18” có nghĩa là từ đủ 17tuổi + 1 ngày là có thể đăng ký kết hôn Trong khi đó, theo Điều 20 Bộ luật dân

sự thì người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên Từ đó nảy sinh một vướngmắc là: khi có sự kiện xin ly hôn mà người vợ vẫn chưa đên tuổi thành niên thìToà án có thụ lý giải quyết không?

Về nguyên tắc, khi vợ chồng đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩmquyền thì có thể xin ly hôn ngay sau ngày đăng ký nếu có lý do chính đáng Vídụ: Chị B 17 tuổi 5 ngày kết hôn với anh A 25 tuổi Đăng ký kết hôn được 5ngày thì anh A và chị B đến Toà án xin thuận tình ly hôn Lúc này chị B mới 17tuổi 10 ngày Tuy nhiên nếu thụ lý giải quyết việc xin ly hôn của chị B( người

vợ chưa thành niên) Toà án sẽ gặp vướng mắc về pháp luật tố tụng Cụ thể theoquy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì đương sự phải làngười từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Nghĩa

là từ đủ 18 tuổi trở lên họ mới có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết các

vụ việc dân sự ( trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 57 đối với tranh chấplao động) Như vậy, theo các quy định trên thì có thể thấy rằng, người vợ chưathành niên không thể tự mình tham gia tố tụng để giải quyết việc ly hôn củachính mình, đồng thời pháp luật cũng không cho phép người khác đại diện thay

Trang 25

cho người vợ chưa thành niên trong vụ án ly hôn (khoản 3 Điều 73 BLTTDS2004) Rõ ràng ở đây có sự “ xung đột” giữa luật nội dung( luật HNGD) và luậthình thức ( Luật TTDS) Việc quy định không thống nhất giữa luật nội dung vàluật hình thức đã dẫn đến những cách hiểu và xử lý khác nhau giữa các cơ quanxét xử Thiết nghĩ, nếu Toà án để cho đương sự đủ 18 tuổi mới giải quyết thì sẽkhông đảm bảo quyền lợi cho các bên, đặc biêt là lợi ích của người vợ Trongkhoảng thời gian đó sẽ không lường trước được bao nhiêu quyền lợi, lợi ích củangười vợ bị xâm phạm, không biết bao nhiêu hậu quả sẽ phát sinh Như vậy,nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cho người vợ và con không bảo đảm Do đó, cầnphải có một thủ tục tố tụng quy định riêng đó là: “ Vợ chồng đã kết hôn hợppháp thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn”.

lý, hợp tình nhằm đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và của con cái, bảo vệ lợi íchgia đình và xã hội

Theo nghị quyết số 02/2000/NQ – HDTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn ápdụng một số quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2000 thì luật chỉ quy định

“ vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Do đó, khi người vợđang thuộc một trong các trường hợp này ( không phân biệt người vợ có thai với

ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), mà người chồng lại có yêu cầu

ly hôn thì giải quyết như sau:

Trang 26

+ Trong trường chưa có thụ lý vụ án thì Toà án áp dụng điểm b khoản 1Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 trả lại đơn kiện cho người nộp đơn.

+ Trong trường hợp đã thụ lý vụ án thì Toà á giải thích cho người nộp đơnbiết là họ chưa có quyền yêu cầu xin ly hôn Nếu người nộp đơn rút yêu cầu xin

ly hôn thì Toà án áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 ra quyếtđịnh đình chỉ giải quyết vụ án Nếu người nộp đơn không rút yêu cầu xin ly hônthì Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và quyết định bác yêucầu xi ly hôn

Ngoài ra, tuy pháp luật tố tụng không quy định nhưng theo hướng dẫn tạiđiểm c muc 10 Nghị quyết 02/2000/NQ – HDTP TANDTC đã chỉ rõ: Đối vớingười có đơn xin ly hôn mà bị Toà á bác đơn xin ly hôn thì sau một năm kể từngày bản án, quyết định của Toà án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật,người đó mới lại được yêu cầu Toà án giải quyết việc xin ly hôn Đây là thờigian hợp lý nhằm tạo điều kiện cho cả hai vợ chồng suy nghĩ lại về quyết đinhxin ly hôn của mình

Lưu ý, điều kiện hạn chế ly hôn này chỉ áp dụng đối với người chồng, màkhông áp dụng đối với người vợ Trong trường hợp người vợ đang có thai hoặcđang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng rất sâu sắc,tình cảm yêu thương giữa vợ chồng đã hết, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽkhông có lợi cho sức khoẻ của mình, của thai nhi hay của con mới sinh, màngười vợ có yêu cầu ly hôn thì Toà án vẫn thụ lý đơn yêu cầu xin ly hôn củangười vợ và giải quyết vụ án theo thủ tục chung

1.5 Nguyên nhân dẫn tới ly hôn

Có thể nói rằng ly hôn là một vấn đề hết sức phức tạp và tế nhị Sau khi

đã kết hôn với nhau, đôi vợ chồng sẽ cùng nhau xây dựng tương lai của họ, xâydựng một gia đình hạnh phúc, hoà thuận và bền vững Nhưng thực tế không phảicặp vợ chồng nào cũng làm được điều đó, hoặc để đạt được điều đơn giản ấy họphải mất rất nhiều thời gian, vượt qua rất nhiều khó khăn của đời thường và tất

Trang 27

nhiên trong số đó không ít cặp vợ chồng đã tan vỡ, họ đã không bao giờ đếnđược mục đích mà họ muốn đến, muốn vươn tới.

Trong hàng ngàn vụ ly hôn thì mỗi trường hợp có một hoặc nhiều nguyênnhân khác nhau phát sinh trong những hoàn cảnh khác nhau Tuy nhiên, tựuchung lại thì ly hôn xuất phát ở một số những nguyên nhân chủ yếu sau:

1.5.1 Nguyên nhân do ảnh hưởng của những tàn tích lạc hậu của chế

độ hôn nhân và gia đình phong kiến và chế đọ hôn nhân tư sản.

Do ảnh hưởng những mặt tiêu cực của tư rưởng nho giáo, một bộ phậnkhông nhỏ gia đình vẫn tồn tại tư tưởng bất bình đẳng giới, cụ thể là “ trọng namkhinh nữ” với các thuyết “ tam tòng tứ đức”, đối với phụ nữ Những vụ án lyhôn xuất phat từ nguyên nhân này cho đến nay vẫn còn phát sinh và không phải

là ít Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Sự độc tôn gia trưởng trong quan hệ vợ chồng của người chồng

- Ảnh hưởng của gia đình ( cha mẹ hai bên) đến quan hệ hôn nhân Nhiềukhi là nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn ( chẳng hạn nhà chồng hoặc vợ đã trảcon dâu hoặc con rể về bên gia đình vợ hoặc chồng thì con phải nghe theo)

- Vợ hoặc chồng sống buông thả, cờ bạc, rượu chè…

- Không có quan niệm rõ ràng về xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững

- Xây dựng cuộc hôn nhân với ý thức lợi dụng lẫn nhau…

1.5.2 Nguyên nhân về tâm lý, sinh lý, sức khoẻ

Những nguyên nhân này tuy không phải là nhiều nhưng cũng rất đángquan tâm và thường một hoặc hai bên ít thổ lộ ra Biểu hiện của loại nguyênnhân này là:

- Tính tình trái ngược, không phù hợp nhau, thường gây ra những bấtđồng hoặc khó chịu với nhau

- Biểu lộ tình cảm khác nhau, sự quan tâm đến nhau biểu hiện không rõ,

dễ làm hiểu lầm nhau

- Khả năng quan hệ sinh lý không đáp ứng yêu cầu để dẫn đến ngoại tìnhhoặc không thể có con với nhau

Trang 28

1.5.3 Nguyên nhân về kinh tế

Đây là loại nguyên nhân tương đối phổ biến, điều đáng chú ý là nhiều cặp

vợ chồng gặp khó khăn kinh tế sinh ra mâu thuẫn và ly hôn, nhưng một số khácthì do điều kiện kinh tế khá hẳn lên cũng sinh ra mâu thuẫn và ly hôn Biểu hiệncủa loại nguyên nhân này là:

- Kinh tế gia đình đang khá giả thì gặp khó khăn ( như kinh doanh thua lỗ,

bị sa sút ) từ đó vợ chồng lục đục, mâu thuẫn dẫn đến ly hôn

- Phát sinh từ một khoản nợ lớn do vợ hoặc chồng gây ra

- Kinh tế gia đình đang bình thường thì gặp thuận lợi và trở nên khá giảhoặc giàu có vợ hoặc chồng dễ sinh ra nghi kỵ nhau, dành quyến quản lý, tiêupha tiền bạc phug phí hoặc sinh ra tật cờ bạc, quan hệ ngoại tình…từ đó dẫn đếnmâu thuẫn với nhau

- Một hoặc hai bên lo thu vén riêng cho mình như mua sắm tiêu sài riênghoặc cho cha, mẹ, anh,chị,em mà không chăm lo đến vợ hoặc chồng, con nhưxây nhà, mua tài sả cho cha,mẹ.anh.em trong khi vợ hoặc chồng,con thì nheonhóc

1.5.4 Nguyên nhân ngoại tình và ghen tuông

Nguyên nhân này thường là hệ quả của các nguyên nhân khác như tưtưởng đàn ông “trai năm thê, bảy thiếp” tồn tại trong một số người chồng hoặclối sống hưởng thụ cái mới lạ hoặc tình cảm, tính tình không hợp nhau rồi đi tìm

“người khác”, … Tất cả những nguyên nhân trên có thể dẫn đến người vợ hoặcngười chồng ngoại tình, thậm chí có trường hợp “ông ăn chả, bà ăn nem”, cuộcsống vợ chồng không trung thực, chung thuỷ với nhau, mâu thuẫn rồi ly hôn.Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Một hoặc cả hai bên ngoại tình, sống không chung thuỷ với nhau

- Một hoặc cả hai bên có tính ghen và thường ghen tuông vô cớ khiến chomột bên không thể chịu đựng được

Trang 29

1.5.5 Nguyên nhân vợ chồng có sự khác biệt về địa vị xã hội, trình độ học vấn

Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Một bên vợ, chồng có trình độ học vấn khác xa nhau, chẳng hạn mộtngười có trình độ đại học hoặc một người chỉ mới học hết lớp 2 phổ thông

- Một bên vợ chồng có địa vị xã hội cao

1.5.6 Nguyên nhân do thiếu những hiểu biết cơ bản về quan hệ hôn nhân

Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Một hoặc hai bên thiếu hiểu biết, quan niệm không đúng về hôn nhân tựnguyện, tiến bộ

- Không có sự chuẩn bị cho việc chung sống sau kết hôn một cách thực tế

- Kết hôn vội vã, thiếu sự tìm hiểu nhau trước

- Không hiểu biết về luật hôn nhân và gia đình, không nắm vững nhữngnguyên tắc về xây dựng gia đình trong xã hội mới, dẫn đến nhận thức xử sự tráipháp luật từ đó dẫn đến ly hôn

1.5.7 Nguyên nhân về nghề nghiệp, nơi cư trú, môi trường sinh sống

Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Khác biệt về nghề nghiệp làm ảnh hưởng đến tính cách và sinh hoạthàng ngày

- Ảnh hưởng của bệnh nghề nghiệp làm thay đổi cách sống, tính tình, sứckhoẻ

- Thay đổi nơi làm việc như do làm xa nhà, công việc thường xuyên phải

đi công tác xa, di chuyển địa điểm như thuỷ thủ đi tàu viễn dương, tài xế lái xeđường dài, buôn bán đường dài, đi lao động học tập ở nước ngoài, …

- Thay đổi nơi cư trú như một người đi xuất cảnh định cư ở nước ngoài

- Thay đổi điều kiện sinh sống như từ nông thôn lên thành thị

Trên đây là một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ly hôn của nhiều cặp vợchồng hiện nay Ngoài những nguyên nhân vừa nêu, còn tồn tại rất nhiều nguyên

Trang 30

nhân khác trực tiếp và gián tiếp dẫn đến tình trạng ly hôn như vấn đề bạo lực giađình là một hiện tượng rất phổ biến trong xã hội ngày nay Theo số liệu của Toà

án nhân dân tối cao, từ ngày 01/01/2000 – 31/12/2005, các Toà án tỏng địaphương đã thụ lý và giải quyết sơ thẩm 352.047 vụ việc về lĩnh vực hôn nhân vàgia đình Trong đó đã xử 186.954 vụ ly hôn do bạo lực gia đình, chiếm 53,1%trong tổng số vụ ly hôn.Riêng năm 2005 có đến 39.730 vụ ly hôn trong tổng số65.929 vụ án về hôn nhân gia đình, chiếm tỷ lệ 60,3% Trên thực tế thì thườngcác nguyên nhân này ẩn vào nhau, xen kẽ lẫn nhau Nhiều nguyên nhânn loạinày là nguyên nhân phát sinh của loại nguyên nhân kia hoặc ngược lại chứkhông đứng tách rời độc lập

Thực tiễn xét xử ở Toà án giải quyết cho các cặp vợ chồng được ly hônkhi có 1 trong 8 nguyên nhân sau: tính tình không hợp; mâu thuẫn gia đình;ngoại tình; mâu thuẫn về kinh tế; xa cách lâu năm; bệnh tật không có con; mộtbên bị xử giam hoặc đi công tác ở nước ngoài; ở lại nước ngoài hoặc người nướcngoài đã về nước; đánh đập, ngược đãi nhau, phá tán tài sản như ma tuý, đánhbạc, đập phá tài sản và những lý do khác như trường hợp vợ chồng “đóng cửabảo nhau” ở các gia đình tri thức Khi giải quyết, Toà án còn căn cứ vào mức độcác nguyên nhân trên và còn tuỳ vào các trường hợp cụ thể mà quyết định cho ly

hô hoặc bác đơn ly hôn của đương sự

1.6 Hoà giải khi ly hôn

1.6.1 Việc khuyến khích hoà giải ở cơ sở khi có yêu cầu ly hôn

Điều 86 Luật HNGĐ 2000 quy đinh: “ Nhà nước và xã hội khuyến khíchviệc hoà giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn Việc hoà giải được thựchiện theo quy định của pháp luật về hoà giải ở cơ sở

Hoà giải ở cơ sở là một trong những hình thức hoà giải có sự giúp đỡ củangười trung gian như tổ hoà giải, hoặc các hình thức thích hợp khác của nhândân ở các thôn xóm,bản ,ấp, tổ dân phố, cụm dân cư Bằng các lý lẽ có tình có lýhướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận, tự nguyện giảiquyết với nhau những tranh chấp trong nội bộ gia đình, thôn xóm

Ngày đăng: 05/09/2021, 19:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chương 2: Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Toà án nhân dân Thành phố Vinh và một số giải pháp đảm bảo việc giải quyết ly - Vấn đề ly hôn theo pháp luật việt nam và thực tiễn giải quyết tại toà án nhân dân thành phố vinh
h ương 2: Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Toà án nhân dân Thành phố Vinh và một số giải pháp đảm bảo việc giải quyết ly (Trang 34)
Bảng 01: Bảng thống kê tình hình giải quyết vụ việc ly hôn ở TAND Thành phố Vinh (từ năm 2008 – quý I năm 2011) - Vấn đề ly hôn theo pháp luật việt nam và thực tiễn giải quyết tại toà án nhân dân thành phố vinh
Bảng 01 Bảng thống kê tình hình giải quyết vụ việc ly hôn ở TAND Thành phố Vinh (từ năm 2008 – quý I năm 2011) (Trang 34)
Bảng 02 : Bảng thống kê nguyên nhân phổ biến dẫn tới ly hôn tại TAND Thành phố Vinh - Vấn đề ly hôn theo pháp luật việt nam và thực tiễn giải quyết tại toà án nhân dân thành phố vinh
Bảng 02 Bảng thống kê nguyên nhân phổ biến dẫn tới ly hôn tại TAND Thành phố Vinh (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w