1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn giải quyết vấn đề ly hôn tại toà án nhân dân thành phố vinh và một số giải pháp nhằm đảm bảo việc giải quyết vấn đề ly h

55 38 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 244 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Thành phố Vinh trong những năm qua, số lượng án về ly hôn có phần tăng.Đối với loại án này mỗi vụ việc có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũngkhác nhau, nên việc giải quyết loại án n

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân và vì dân Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ởnước ta thì cần phải có con người xã hội chủ nghĩa, đó là đòi hỏi tất yếukhách quan Nhưng muốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải có mộtgia đình mẫu mực, bởi gia đình quyết định một phần rất lớn tới bản chấtcon người Gia đình hiện nay còn được xem là tế bào của xã hội, do vậymuốn có một xã hội phát triển và lành mạnh thì cần phải có gia đình tốt –gia đình văn hoá mới Gia đình là nơi sản sinh ra con người, nuôi dưỡng vàgiáo dục con người cho xã hội, vì vậy Đảng và Nhà nước ta trong nhữngnăm qua luôn luôn quan tâm tới vấn đề gia đình Luật hôn nhân và giađình có vai trò góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhângia đình tiến bộ, nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ hạnhphúc và bền vững Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về gia đình được

ghi nhận tại Điều 64 Hiến pháp 1992: “ Gia đình là tế bào của xã hội Nhà

nước bảo hộ hôn nhân và gia đình theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một

vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt, con cháu có bổn phận chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.”

Mặc dầu đường lối chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhànước đã đề cập như vậy, song hiện nay có không ít gia đình vì những lý dokhác nhau đã không thực hiện tốt chức năng của nó Một trong số cácnguyên nhân đó là cha mẹ, vợ chồng sống không hạnh phúc, bất đồng,mâu thuẫn trong nội bộ dẫn tới ly hôn

Ngày nay, dưới sự tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, cùng nhữnglối sống tiêu cực, ham hưởng thụ hoặc chạy theo đồng tiền làm cho vợ chồng,

Trang 2

cha mẹ, con cái bỏ bê, không quan tâm chăm sóc nhau Tranh chấp về ly hônngày càng nhiều trên phạm vi toàn quốc trong những năm gần đây, tình trạng

ly hôn ở nước ta diễn ra rất phổ biến, lý do rất đa dạng, phức tạp cả về chủ thểlẫn nội dung Theo báo cáo của ngành Toà án, những án kiện về hôn nhân giađình luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các án kiện dân sự Trong các án kiện

về hôn nhân gia đình thì án kiện về ly hôn luôn chiếm khoảng 90%

Ở Thành phố Vinh trong những năm qua, số lượng án về ly hôn có phần tăng.Đối với loại án này mỗi vụ việc có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũngkhác nhau, nên việc giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn trong nhậnthức vận dụng pháp luật cũng như những khó khăn từ khách quan mang lại.Tuy vậy, quá trình giải quyết ly hôn ở Thành phố Vinh trong những năm qua

đã đạt được những kết quả nhất định góp phần giải quyết các mâu thuẫn bấthoà trong hôn nhân, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của các đương sự đặc biệt

là quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em Thông qua việc giải quyết

ly hôn đã góp phần làm ổn định các quan hệ trong hôn nhân, giữ gìn kỷ cươngpháp luật, giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần tăng cườngnền pháp chế trên toàn tỉnh Nghệ An

Bên cạnh những mặt đã đạt được, trong hoạt động xét xử ở Toà án nhân dânThành phố Vinh cũng đã bộc lộ một số tồn tại như xét xử oan sai, án tồnđọng, còn có vụ vi phạm thời hạn tố tụng , một số vụ án bị sửa, …làm ảnhhưởng đến quyền lợi của các đương sự Hơn nữa, ảnh hưởng của ly hôn theohướng tiêu cực như: sự ly tán gia đình, sự phân chia tài sản, trẻ em thiếu sựchăm sóc, giáo dục trực tiếp của cha mẹ … đang là những gánh nặng, nhữnghậu quả để lại cho gia đình và xã hội mà đang là những câu hỏi lớn đặt ra cầnđược giải quyết?

Xuất phát từ những lý do trên, người viết chọn đề tài “ Vấn đề ly hôn theopháp luật Việt Nam và thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân Thành phốVinh từ năm 2008 đến năm 2011” là rất cần thiết Qua quá trình nghiên cứu,

Trang 3

cần hoàn thiện nhằm góp phần làm nâng cao cơ sở lý luận và thực tiễn ápdụng pháp luật giải quyết các tranh chấp từ các án kiện ly hôn hiện nay.

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về ly hôn, qua việc so sánhđối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan chuyên trách góp phầntuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân Qua việc phân tích, tìm ranhững vướng mắc, thiếu sót, đề xuất những kiến nghị phù hợp với yêu cầu tấtyếu khách quan của xã hội trong giai đoạn hiện nay

Qua đề tài, chúng tôi muốn góp phần công sức nhỏ bé của mình vào nhiệm vụchung của toàn xã hội để xây dựng một chế độ pháp lý ngày càng hoàn thiệngóp phần nâng cao hiệu lực pháp luật, xây dựng một nhà nước pháp quyềnngày càng vững mạnh Hy vọng khoá luận này sẽ là một tài liệu tham khảo và

là gợi ý, hướng dẫn cho việc áp dụng và thực hiện các quy định của pháp luật

về ly hôn

3 Mục đích và phương pháp nghiên cứu đề tài

Khi đi tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này chúng ta không chỉ thấy được thựctrạng ly hôn đang diễn ra như thế nào mà qua đó chúng ta còn có thể đi sâutìm hiểu các nguyên nhân dẫn tới ly hôn và sự tác động của vấn đề ly hôn tớitình hình kinh tế - xã hội của đất nước

Thông qua việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng ta có được cách hiểu sâuhơn, đúng đắn hơn cơ sở lý luận của vấn đề ly hôn theo pháp luật hôn nhân vàgia đình

Nghiên cứu đề tài này còn nhằm thu thập các số liệu tìm ra những vướng mắc,bất cập khi áp dụng giải quyết để từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp, gópphần xây dựng và hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình và nhằm bảo vệchế độ hôn nhân gia đình tiến bộ, bền vững kế thừa và phát huy truyền thốngtốt đẹp của gia đình Việt Nam

Khi thực hiện đề tài của mình, người viết tuân thủ phương pháp nghiên cứuchủ đạo là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa

Trang 4

Mác- Lênin Trên cơ sở phương pháp luận đó, người viết sử dụng phươngpháp cụ thể như so sánh, phân tích, tổng hợp để hoàn thành đề tài của mình.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung tìm hiểu, nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành

về chế định ly hôn và những văn bản hướng dẫn thi hành đồng thời có sự sosánh đối chiếu với các quy định về vấn đề ly hôn trong các văn bản pháp luật

về hôn nhân gia đình trước đó để thấy được những điểm khác và điểm mớiqua đó thấy được những bước tiến trong quá trình lập pháp ở nước ta Bêncạnh đó, đề tài còn được tiến hành nghiên cứu, tiếp xúc thực tiễn tại Toà ánnhân dân Thành phố Vinh – cơ quan chuyên trách giải quyết các án kiện hônnhân trên địa bàn Thành phố Vinh

Do lần đầu tiên tiếp cận với việc nghiên cứu một đề tài và có giới hạn về mặtthời gian nên khoá luận chưa thể đi sâu nghiên cứu các vấn đề khác như vềthủ tục tố tụng của một vụ án ly hôn hay vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Vì vậy, quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót mong quýthầy cô và các bạn góp ý, bổ sung để khoá luận được hoàn thiện hơn

5 Bố cục của đề tài

Cơ cấu của đề tài bao gồm:

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1: Khái quát chung về ly hôn và cơ sở pháp lý của ly hôn

Chương 2: Thực tiễn giải quyết vấn đề ly hôn tại Toà án nhân dân Thành phốVinh và một số giải pháp nhằm đảm bảo việc giải quyết vấn đề ly hôn tại Toà

án nhân dân Thành phố Vinh

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNGChương 1: Khái quát chung về ly hôn và cơ sở pháp lý của nó

1.1 Khái niệm và đặc điểm của ly hôn

1.1.1 Khái niệm

Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân Nếu kết hôn là một hiện tượng bìnhthường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là một hiện tượng bất bìnhthường, là mặt trái của quan hệ hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu đượckhi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ Trong trường hợp đó ly hôn là mộtviệc cần thiết cho cả vợ chồng và cho xã hội, vì nó giải phóng cho tất cả mọingười, cho cả vợ chồng, các con cũng như những thành viên trong gia đìnhthoát khỏi xung đột, mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống chung Thực hiện

Trang 6

nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ, bảo đảm quyền tự do hôn nhân baogồm quyền tự do kết hôn của nam nữ và quyền tự do ly hôn của vợ chồng.Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì ly hôn là việc hai vợ chồng bỏ quan hệ

vợ chồng chính thức, vì những nguyên nhân nào đó mà không đạt được mụcđích hôn nhân Việc ly hôn có thể xảy ra ở hai thời kỳ: sau khi dạm hỏi( trướckhi cưới) và sau khi cưới khi hai vợ chồng đã ăn ở với nhau một thời gianthậm chí sau khi đã sinh con cái

Trước năm 1945, vợ chồng muốn ly dị phải trình làng, làng xử không đượcphải đến cửa quan( quan huyện, quan phủ) Đàn ông muốn bỏ vợ phải viết tờ

ly dị Vợ cầm tờ giấy ấy trình làng, trình quan xong mới được lấy vợ khác.Dưới các chế độ phụ quyền, đặc biệt là xã hội phong kiến phương Đông, với

tư tưởng trọng nam khinh nữ, trong ly hôn nữ giới chịu nhiều thiệt thòi hơnnam giới

Hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945 đếnnay quy định về vấn đề ly hôn với quan điểm vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự

do ly hon chính đáng của vợ chồng, vừa quy định giải quyết ly hôn có lý, cótình Bằng pháp luật nhà nước kiểm soát quyền tự do ly hôn của vợ chồng vìlợi ích của gia đình và xã hội

Tại khoản 8 Điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Ly hôn là

chấm dứt quan hệ hôn nhân do toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân( trong đó có ly hôn) làhiện tượng xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc Pháp luật của Nhà nước phongkiến, tư sản thường quy định hoặc là cấm vợ chồng ly hôn, hoặc là đặt ra cácđiều kiện hạn chế quyền ly hôn của vợ chồng, hoặc quy định giải quyết ly hôndựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình ởnước ta dưới thời phong kiến, thực dân đã thể hiện luận điểm trên Dưới chế

độ cũ, quyền yêu cầu ly hôn và các duyên cớ ly hôn theo luật định thường dựa

Trang 7

hội phức tạp, vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi, hạnh phúc của vợ chồng, đến lợiích của gia đình và xã hội Trong những năm gần đây, các việc ly hôn ở nước

ta và các nước trên thế giới gia tăng đáng kể Những nguyên nhân, lý do lyhôn cũng rất đa dạng và phức tạp Vì vậy, muốn giải quyết ly hôn chính xác,vừa đảm bảo quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, vừa đảm bảo lợiích gia đình và xã hội, cán bộ thẩm phán cần nắm vững quy định của phápluật, điều tra, tìm hiểu kỹ lưỡng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng,tâm tư tình cảm, nguyện vọng của mỗi đương sự, đồng thời phải lưu ý đến cácđặc điểm về tình hình kinh tế - chính trị và xã hội tác động vào quan hệ hônnhân trong thời điểm giải quyết ly hôn, để kết hợp đúng đắn đường lối chínhsách cụ thể của Đảng và Nhà nước đối với việc giải quyết từng loại án kiện về

ly hôn

Nhà nước bảo hộ hôn nhân, bảo đảm quyền tự do ly hôn của vợ chồng không

có nghĩa là giải quyết ly hôn tuỳ tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồngmuốn sao làm vậy mà bằng pháp luật, Nhà nước kiểm soát việc giải quyết lyhôn Bởi vì, trong quan hệ hôn nhân không phải chỉ có lợi ích riêng tư của vợchồng mà còn có lợi ích của Nhà nước và xã hội thể hiện qua những chứcnăng của gia đình - tế bào của xã hội và lợi ích của con cái – thành viên củagia đình và xã hội Vì vậy vợ chồng không thể chỉ chú ý đến hạnh phúc cánhân mà xin ly hôn một cách tuỳ tiện

1.1.2 Đặc điểm của ly hôn

Xuất phát từ khái niệm ly hôn được quy định tại khoản 8 Điều 8 luật HNGĐnăm 2000, ly hôn có hai đặc điểm sau đây:

Thứ nhất: Việc ly hôn phải theo ý muốn của một hoặc của cả hai vợchồng( khi còn sống), hoặc theo ý muốn của một bên khi bên kia bị toà ántuyên bố là mất tích Xuất phát từ đặc trưng quan hệ hôn nhân gia đình là mộtquan hệ đặc biệt gắn liền với nhân thân của cả hai vợ chồng, do đó chỉ có họmới quyết định việc tồn tại hay chấm dứt quan hệ vợ chồng mà không ai cóquyền yêu cầu hoặc can thiệp Luật hôn nhân và gia đình năm 1959,

Trang 8

1986( Điều 40), luật HNGĐ năm 2000( khoản 1 Điều 85) cũng chỉ quy định

vợ hoặc chồng mới có quyền ly hôn Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cũngquy định đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khácthay mặt mình tham gia tố tụng ( khoản 3 Điều 73 BLTTDS 2004)

Thứ hai: Việc ly hôn do TAND giải quyết bằng việc ra quyết định công nhậnthuận tình ly hôn hoặc bằng bản án Vì việc kết hôn là xác lập quan hệ hônnhân do cơ quan hành chính thực hiện cụ thể là Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặcUBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương( đối với trường hợp kết hôn

có yếu tố nước ngoài) nhưng ly hôn để chấm dứt quan hệ vợ chồng thì thuộc

cơ quan tư pháp, cụ thể là Toà án nhân dân Cho dù thực tế họ đã chấm dứtquan hệ vợ chồng, trên thực tế họ không còn chung sống với nhau nữa hoặcchính quyền địa phương đã có quyết định khác như biên bản hoà giải đoàn tụkhông thành của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nhưng về mặt pháp lý, quan hệ hônnhân vẫn còn tồn tại, khi chưa có quyết định hoặc bản án của Toà án có thẩmquyền giữa người vợ và người chồng vẫn còn ràng buộc pháp lý về quan hệnhân thân, quan hệ tài sản và quan hệ con cái Chỉ khi Toà án xem xét giảiquyết và quyết định cho họ chấm dứt hay tiếp tục tồn tại quan hệ hôn nhân đó,quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng Trường hợp Toà án xử cho lyhôn bằng một bản án hay ra một quyết định công nhận thuận tình ly hôn, khi

đó giữa người vợ và người chồng không còn sự ràng buộc về mặt pháp lý cả

về quan hệ nhân thân lẫn quan hệ tài sản Quyết định của Toà án là quyết định

Trang 9

điều kiện ấy để bác đơn xin ly hôn của đương sự Chính trong ý nghĩa pháp lýcủa thuật ngữ này mà lý luận pháp luật Việt Nam phân biệt “ căn cứ” ly hônvới “ động cơ” ly hôn, hay “ mục đích” ly hôn, hai khái niệm này đồng nghĩanhưng không được coi là những điều kiện ly hôn quy định trong luật.

Trong xã hội có giai cấp, ly hôn cũng thể hiện tính giai cấp Việc quyđịnh về ly hôn và căn cứ cho ly hôn thể hiện ý chí và quan điểm của giai cấpthống trị xã hội

Quan điểm của những nhà làm luật tư sản cho rằng hôn nhân thực chất

là một “khế ước” , một hợp đồng do hai bên nam nữ tự do, tự nguyện xác lập,vậy thì chỉ được xoá bỏ hôn nhân, khế ước đó trên cơ sở lỗi của các bên Bộluật dân sự Pháp quy định: “ Vợ chồng có thể xin ly hôn do những sự việc bênkia gây ra, vi phạm nghiêm trọng và liên tục bổn phận và nghĩa vụ hôn nhânkhiến cho đời sống chung không thể duy trì được”(Điều 242 mục III ThiênVI) Theo đó, việc giải quyết các hậu quả của ly hôn cũng như quyền lợi vềtài sản, trách hiệm đối với con cái, cũng dựa trên căn cứ này

Luật hôn nhân và gia đình các nước Xã hội chủ nghĩa quy định giảiquyết ly hôn theo đúng thực chất của vấn đề, hoàn toàn không dựa vào lỗi của

vợ chồng, trên cơ sở nhìn nhận khách quan, đánh giá đúng thực chất của quan

hệ hôn nhân thực sự tan vỡ

Ở nước ta căn cứ ly hôn được quy định trong các văn bản pháp luật ởtừng giai đoạn khác nhau

Trong cổ luật Việt Nam, các căn cứ ly hôn thường được biết tới với têngọi “ duyên cớ” ly hôn hay “ các trường hợp ly hôn” Các duyên cớ ly hôntrong cổ luật cũng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng nho giáo, nghĩa là chúng dựatrên sự bất bình đẳng giữa vợ - chồng và nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi giađình, gia tộc hơn là quyền lợi cá nhân Chính trong ý nghĩa này mà duyên cớ

ly hôn trong cổ luật được chia làm ba loại: rẫy vợ, ly hôn bắt buộc và ly hônthuận tình

Trang 10

Rẫy vợ là việc người chồng được đơn phương bỏ vợ ngoài tầm kiểmsoát của tất cả các thiết chế xã hội Điều 310 Bộ luật Hồng Đức quy định, nếungười vợ phạm vào một trong các điều “ thất xuất” thì chồng phải bỏ vợ,không bỏ sẽ bị tội biếm Theo Hồng Đức Thiện chính thư( đoạn 164) và bộluật Gia Long (Điều 108) đã nêu rõ đó là bảy trường hợp sau: không có con,dâm đãng, không thờ bố mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông và bị áctật.

Ly hôn bắt buộc là trường hợp khi việc kết hôn vi phạm các điều kiệnthiết yếu của hôn nhân thì vợ chồng bị buộc phải ly dị Chẳng hạn Điều 308

Bộ luật Hồng Đức quy định: “ Chồng bỏ lửng vợ 5 tháng thì mất vợ”, Điều

108 Lệ thứ hai luật Gia Long cũng quy định : “ Nếu người chồng mất tíchhoặc bỏ trốn 3 năm không về thì người vợ được trình quan xin phép cải giá vànhà vợ không phải hoàn lại đồ sính lễ”.Đặc biệt Điều 108 luật Gia Long quyđịnh khi vợ chồng phạm phải điều “nghĩa tuyệt” thì buộc phải ly hôn “ Nghĩatuyệt” có thể là do lỗi của vợ ( mưu sát chồng), hoặc lỗi của chồng ( chồngbán vợ, cho thuê vợ hay cầm vợ), nhưng cũng có thể là do lỗi của cả hai vợchồng ( người chồng đem vợ bán cho nhân tình của vợ)

Thuận tình ly hôn là việc hai vợ chồng bất hoà tự nguyện xin ly dị[9,55]

Căn cứ ly hôn trong pháp luật chính quyền nguỵ quyền Sài Gòn trước

1975 ( ở Miền Nam): Luật gia đình 1959 của Ngô Đình Diệm quy định cấm

ly hôn chỉ cho ly thân, trừ một số trường hợp phải có tổng thống xét là tối đặcbiệt mới cho ly hôn Để biện hộ cho quy định này Trần Lệ Xuân nêu lý do:Cấm cho ly hôn nhằm bảo vệ và củng cố gia đình dành thời gian xoa dịu cácmối bất hoà, cho đôi bạn có cơ hội đoàn tụ, làm cho thanh niên lựa chọn bạnđời thận trọng hơn

Đến năm 1964, sau khi chính quyền bị lật đổ lúc này mới đề nghị xétlại quy định trên Do vậy, Bộ Dân luật 1972 của chính quyền Thiệu đã quy

Trang 11

bên kia bị kết án trọng hình về thượng tội, vợ chồng bị ngược đãi không thể

ăn ở được với nhau

Căn cứ ly hôn các văn bản sau năm 1945: Sau khi nước nhà độc lập,nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950, sắc lệnh 159/SLngày 17/11/1950 Theo sắc lệnh 159, xoá bỏ các duyên cớ ly hôn được quyđịnh trong các bộ dân luật của thực dân phong kiến trước đó và đề ra năm căn

cứ ly hôn cho cả và chồng bao gồm: ngoại tình, một bên can án phạt giam,một bên bị bệnh điên, hoặc một bệnh khó chữa khỏi, vợ chồng tính tình khônghợp hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể chung sống được ( Điều 2)

Luật hôn nhân và gia đình 1959 (Điều 6), luật HNGĐ 1986 ( Điều 40),

và luật HNGĐ năm 2000 ( Điều 89) đã quy định căn cứ ly hôn dựa trên quanđiểm chủ nghĩa Mác – Lênin, theo đó không quy định căn cứ riêng biệt màquy định thống nhất về căn cứ ly hôn dù là trường hợp hai bên thuận tình ly

hôn hay một bên vợ hoặc chồng yêu cầu: “ Tình trạng trầm trọng, đời sống

chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn” Ngoài ra, còn quy định: “ Trong trường hợp vợ hoặc chồng

bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.

1.2.2 Nội dung các căn cứ ly hôn

Khi vợ chồng hay cả hai vợ chồng có yêu cầu ly hôn, sau khi thụ lý vụkiện, Toà án phải tiến hành điều tra và hoà giải, nếu hoà giải không thành vàxét thấy giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm yêu thươg không cònnữa, mục đích của hôn nhân không đạt được, Toà án mới giải quyết cho lyhôn”

Điều 89 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“ 1 Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quết cho ly hôn.”

Trang 12

“ Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” ở đây cần

được hiểu là giữa vợ chồng có nhiều lục đục, mâu thuẫn sâu sắc đến mức vợchồng không thể chịu đựng được nhau nữa, các thành viên trong gia đìnhkhông thể nào sống chung bình thường, quan hệ vợ chồng không thể tồn tạiđược, sự tan vỡ của hôn nhân và ly tán của gia đình là không thể tránh khỏi

Vì thế không thể hiểu đơn thuần “ tình trạng trầm trọng, đời sống chungkhông thể kéo dài” chỉ là biểu hiện tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa.Khi nói đến tình yêu trong quan hệ vợ chồng còn hay hết là mới chỉ nói đếnquan hệ tình cảm có tính chất riêng tư của vợ chồng mà chưa thấy hết mọimặt khác trong đời sống vợ chồng nói riêng và đời sống gia đình nói chung

Và như vậy, khi giải quyết việc ly hôn, Toà án cần phải thẩm tra, xem xét lợiích của vợ chồng, của con cái, của gia đình và xã hội trong quan hệ hôn nhân

đó ra sao? Có nhìn nhận một cách toàn diện như vậy thì giải quyết ly hônchính xác mới mang lại kết quả tích cực thúc đẩy các quan hệ hôn nhân và giađình phát triển phù hợp với đạo đức Xã hội chủ nghĩa, phù hợp với lợi íchchung toàn xã hội

Mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hộiđồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy địnhcủa Luật hô nhân gia đình năm 2000 đã nêu rõ:

a Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn

nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hô nhân không đạt được.

a.1 Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của ho hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường

Trang 13

uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

a.2 Để có cơ sở nhận định đời sống chung không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3 Mục đích của hôn nhân không đạt được có nghĩa là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt”.

Khi thực tế quan hệ vợ chồng ở trong “tình trạng trầm trọng, đời sốngchung không thể kéo dài” thì thường dẫn tới “ mục đích hôn nhân không đạtđược” Mục đích hôn nhân dưới chế độ XHCN là nhằm mục đích xây dựnggia đình ấm no, bình đẳng , tiến bộ, hạnh phúc và bền vững ( Điều 1 LuậtHNGĐ 2000) Tờ trình về dự luật hôn nhân gia đình 1959 của Chính phủ

trước Quốc hội đã chỉ rõ: “ Mục đích của hôn nhân trong chế độ ta là xây

dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người thương yêu, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và bảo đảm cho nòi giống được lành mạnh, tương lai con cái được tốt đẹp, cho xã hội được phát triển thịnh vượng và làm cho mọi người trong gia đình đều phấn khởi lao động, cùng nhau cải thiện đời sống và kiến thiết tổ quốc.”Điều đó thể hiện mối liên

hệ hài hoà, gắn bó giữa mặt riêng tư và mặt xã hội trong quan hệ hôn nhân

Trang 14

Nếu hạt nhân của xã hội tồn tại không bình thường và lành mạnh, quan hệ vợchồng tồn tại không có lợi cho gia đình và cho xã hội thì ly hôn là tất yếukhông tránh khỏi.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm2000: “ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mấttích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn” Quy định này đã cụ thể hoáhậu quả của việc Toà án tuyên bố công dân bị mất tích trong Bộ luật dân sựcủa Nhà nước ta Trong quan hệ hôn nhân và gia đình việc chồng hoặc vợ bịmất tích đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ vợ chồng và các thành viên tronggia đình Cần phải giải phóng cho vợ hoặc chồng thoát khỏi “ hoàn cảnh đặcbiệt” này, khi họ có yêu cầu được ly hôn với người chồng ( vợ) đã bị Toà ántuyên bố mất tích

Như vậy căn cứ ly hôn trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm

2000 của Nhà nước ta được quy định dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác– Lênin có cơ sở khoa học và thực tiễn kiểm nghiệm trong mấy chục nămqua Từ khi Nhà nước ta ban hành Luật HNGD năm 1959, khi giải quyết lyhôn không thể hiểu đơn thuần “ tình trạng trầm trọng, đời sống chung khôngthể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” là tình yêu giữa vợ chồngkhông còn nữa mà điều đó nói lên một thực trạng hôn nhân đã tan vỡ, quan hệ

vợ chồng không thể tồn tại được nữa vì “ sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài vàgiả dối” và ly hôn là một giải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng cũngnhư các thành viên khác trong gia đình khỏi cảnh “bất bình thường” đó, bảođảm lợi ích của vợ chồng, của gia đình và xã hội

Trang 15

hạn chế nhất là đối với phụ nữ việc chủ động ly hôn là điều khó có thể chấpnhận.

Tuy nhiên những năm gần đây cách nhìn nhận vấn đề ly hôn có xuhướng thoáng hơn và ly hôn được xem như là một hiện tượng bình thường,một quyền dân sự của cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

Bộ luật dân sự 1995 ( Điều 38) và BLDS 2005 ( Điều 42) đã quy định “

vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án cho chấm dứtquan hệ hôn nhân khi có lý do chính đáng” Ly hôn là mặt trái của quan hệhôn nhân chỉ đặt ra khi hạnh phúc gia đình không còn tồn tại, cuộc sốngchung nảy sinh nhiều mâu thuẫn, mục đích của việc kêt hôn không đạt được.Với đặc điểm của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, quyền kết hôn, lyhôn là quyền nhân thân không thể chuyển giao, chỉ có chủ thể của quan hệpháp luật mới có quyền yêu cầu giải quyết Nên cha mẹ bên vợ hoặc bênchồng hay bất cứ người nào khác không thể yêu cầu Toà án giải quyết việc lyhôn, mà chỉ có vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly hônkhi có lý do chính đáng Theo khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân gia đình năm

2000 quy định: “…đối với việc ly hôn đương sự không được uỷ quyền thaycho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng” Như vậy, quyền yêu cầuToà án giải quyêtts cho ly hôn là quyền của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng.Quyền này gắn liền với nhân thân của vợ chồng, không thể chuyển gia.Nhưng hiện nay bàn về vấn đề quyền ly hôn đã xó một số vướng mắc giữaquy định của luật nội dung và luật hình thức Cụ thể là sự không phù hợp giữaluật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự

Thứ nhất: đó là trường hợp bố mẹ có quyền đại diện cho người con bịtâm thần khởi kiện xin ly hôn hay không? Trong thời gian qua có một vài vụviệc bố hoặc mẹ viết đơn gửi Toà án với tư cách là người đại diện xin ly hônthay cho người con của mình mắc bệnh tâm thần, các Toà án đã lúng túngtrong xử lý? Có Toà án trả lại đơn kiện, có Toà án thụ lý vụ án và xem xét yêucầu mà người đại diện đưa ra Thực tế cũng có trường hợp trong hồ sơ đơ xin

Trang 16

ly hôn do người bị bệnh tâm thần đứng tên, và bố hoặc mẹ có đơn gửi Toà ánxin là người đại diện cho con đang bị tâm thần đã mất năng lực hành vi dân sự

để giải quyết ly hôn cho con

Đối với loại việc này nên xử như thế nào hiện còn có nhiều quan điểmkhác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Luậthôn nhân gia đình, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 62, 67, 139 Bộ luậtdân sự thì việc xin ly hôn là một loại quan hệ nhân thân gắn liền với mỗi chủthể, không thể tách rời Do đó, không ai có thể uỷ quyền cho người khác thaymặt mình trước Toà án để giải quyết việc ly hôn; nếu người đó mất năng lựchành vi dân sự thì cũng không ai có thể đại diện họ để khởi kiện xin ly hôn vàđại diện cho họ trước Toà để giải quyết quan hệ nhân thân này Do đó, Toà ánphải trả lại đơn khởi kiện của bố hoặc mẹ đứng đơn với tư cách là người đạidiện cho người con mất năng lực hành vi dân sự trong vụ án ly hôn, vì nhữngngười này không có quyền khởi kiện để xin ly hôn hay chia tài sản chung thaycho gười mất năng lực hành vi dân sự

Quan điểm thứ hai cho rằng: Khi người vợ hoặc người chồng của ngườimất năng lực hành vi dân sự mà thiếu trách nhiệm vi phạm nghiêm trọngnghĩa vụ vợ chồng với người đang mất năng lực hành vi dân sự, thì bố hoặc

mẹ sẽ là người giám hộ, người đại diện đương nhiên cho con mình khởi kiệnxin ly hôn, chia tài sản, con cái… Toà án phải thụ lý giải quyết đơn của họ.Nếu Toà án thấy không thể duy trì được quan hệ vợ chồng thì Toà án chongười vợ hoặc người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự ly hôn và giảiquyết các quan hệ khác kèm theo nếu người đại diện yêu cầu

Quan điểm thứ ba cho rằng bố hoặc mẹ của người mất năng lực hành vidân sự không có quyền đại diện thay con để xin ly hôn, vì đó là quan hệ nhânthân không được uỷ quyền, không được đại diện Bố hoặc mẹ của người đóchỉ có quyền đại diện cho con để khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết quan hệ

Trang 17

con cái, tài sản, yêu cầu buộc bên kia cấp dưỡng và Toà án phải thụ lý, giảiquyết quan hệ con cái, tài sản khi bố mẹ đại diện yêu cầu.

Như vậy, để xác định bố mẹ có quyền đại diện cho người con bị bệnhtâm thần khởi kiện xin ly hôn hay không thì cần phải nghiên cứu chế định đạidiện và chế định giám hộ được quy định trong Bộ luật dân sự Tại khoản 2Điều 24 Luật hôn nhân gia đình quy định rõ: “ vợ chồng đại diện cho nhaukhi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làmngười giám hộ” Nhưng nếu người vợ ( hoặc chồng) mất năng lực hành vi dân

sự mà người chông ( hoặc vợ) không chăm sóc, không chung thuỷ, thậm chícòn đánh đập hành hạ họ và lấy tài sản chung cho người tình hoặc tẩu tán tàisản chung thì trong trường hợp này người chồng ( hoặc vợ) không làm đượcvai trò là người giám hộ, là người đại diện mà pháp luật đã trao cho họ, vậy ai

có quyền đại diện cho người vợ ( hoặc chồng) mất năng lực hành vi dân sự đểkhởi kiện bảo vệ quyền nhân thân như quyền ly hôn, quyền tài sản cho họkhông? Vấn đè này đang đặt ra nhiều vướng mắc mà vẫn chưa có hướng dẫn

cụ thể

Thứ hai: Về vấn đề người đại diện theo pháp luật trong vụ án ly hôn.Căn cứ vào quy định của pháp luật về hôn nhân và thực tế trong đời sống xãhội, đã có nhiều nam nữ vừa câm, vừa điếc hoặc nam nữ đều mù hai mắt mà

đã kết hôn với nhau Hoặc khi kết hôn, nam nữ đều là người bình thường,nhưng trong quá trình chung sống, lao động, sản xuất, làm việc, sinh hoạt thìmột bên vợ ( chồng) trở thành người mắc bệnh tâm thần hoặc là người cónhược điểm về thể chất hoặc là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và

họ lại có yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn Như vậy, trong thực tế đã có cáctrường hợp ly hôn đối với người mắc bệnh tâm thần hoặc đối với có nhượcđiểm về thể chất Vấn đề đặt ra là trongg các trường hợp ly hôn này, thìđương sự có đại diện tham gia tố tụng không? Nếu có thì người đại diện nào?Thủ tục giải quyết như thế nào là hợp pháp?

Trang 18

Ví dụ 1: Vợ chồng đều mù cả hai mắt mà một bên có yêu cầu ly hôn.Anh Lê Đình M ( mù hai mắt) kết hôn với anh Nguyễn Thị H ( mù hai mắt)

đã hơn 10 năm, vào tháng 6 năm 2008, anh M có đơn yêu cầu Toà án giảiquyết ly hôn với chị H ( đơn nhờ người khác viết, anh M chỉ điểm chỉ vàođơn) Khi giải quyết vụ ly hôn giữa anh M với chị H, Toà án huyện P tỉnh H

đã có ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng: nguyên đơn và bị đơn đều phải

có người đại diện theo pháp luật để tham gia tố tụng Ý kiến khác lại chorằng: giải quyết ly hôn theo thủ tục tố tụng thông thường mà không cần cóngười đại diện theo pháp luật Vì những người mù trong vụ án ly hôn khôngthuộc trường hợp có người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng

Ví dụ 2: Ly hôn đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ChịNguyễn Thị L kết hôn anh Trần Văn P từ năm 1998 đã có một con chung Saukhi ly hôn, chị L mới biết anh P là người nghiện ma tuý Anh P đã vào trại cainghiện một thời gian được trở về nhà, nhưng anh P bị nghiện lại.Hậu quả củaviệc tái nghiện là anh P không phụ giúp gì cho vợ con trong sinh hoạt gia đình

mà bán hết tài sản của gia đình để lấy tiền mua ma tuý Anh P nói năng nhưngười huyên thuyên như người không biết gì, thỉnh thoảng lại đánh chưởi vợcon thậm tệ, vợ chồng không thể sống chung được với nhau

Năm 2007, chị L có đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn đối với anh

P Khi giải quyết vụ ly hôn này, oà án huyện C, tỉnh H đã có ý kiến khácnhau Có ý kiến cho rằng: yêu cầu chị L có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố anh

P là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, nếu Toà án chấp nhận yêu cầucủa chị L và ra quyết định tuyên bố anh P là người hạn chế năng lực hành vidân sự thì sau đó Toà án sẽ chỉ định người đại diện theo pháp luật theo quyđịnh tại khoản 3 Điều 414 của Bộ luật dân sự để người đại diện theo pháp luậttham gia tố tụng Ý kiến khác lại cho rằng: thực hiện theo công văn số57/KHXX ngày 21/9/1996 của Toà án nhân dân tối cao yêu cầu phía anh P cửngười đại diện để tham gia tố tụng và giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục

Trang 19

thông thường mà không cần phải tiến hành thủ tục tuyên bố anh P là người bịhạn chế năng lực hành vi dân sự.

Vấn đề thứ ba: Đó là về vấn đề có được giải quyết việc ly hôn chongười vợ chưa thành niên không? Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn

nhân gia đình năm 2000 thì “ Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên có

thể đăng ký kết hôn”,và theo các văn bản hướng dẫn Luật hôn nhân gia đình

năm 2000 đó là: Nghị định số 70/2001/ND – CP của Chính phủ ngày3/10/2001; công văn số 268/TP – HT của Bộ tư pháp ngày 19/4/2001; Nghịquyết số 02/2000/NQ – HDTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tốicao ngày 23/12/2000 thì không buộc nam nữ phải đủ 20 tuổi, nữ phải đủ 18tuổi trở lên mới được kết hôn, mà chỉ cần nam bước sang tuổi 20, nữ bướcsang tuổi 18 là đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn Như vậy, đối với nữ “ bướcsang tuổi 18” có nghĩa là từ đủ 17 tuổi + 1 ngày là có thể đăng ký kết hôn.Trong khi đó, theo Điều 20 Bộ luật dân sự thì người thành niên là người từ đủ

18 tuổi trở lên Từ đó nảy sinh một vướng mắc là: khi có sự kiện xin ly hôn

mà người vợ vẫn chưa đên tuổi thành niên thì Toà án có thụ lý giải quyếtkhông?

Về nguyên tắc, khi vợ chồng đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩmquyền thì có thể xin ly hôn ngay sau ngày đăng ký nếu có lý do chính đáng

Ví dụ: Chị B 17 tuổi 5 ngày kết hôn với anh A 25 tuổi Đăng ký kết hôn được

5 ngày thì anh A và chị B đến Toà án xin thuận tình ly hôn Lúc này chị Bmới 17 tuổi 10 ngày Tuy nhiên nếu thụ lý giải quyết việc xin ly hôn của chịB( người vợ chưa thành niên) Toà án sẽ gặp vướng mắc về pháp luật tố tụng

Cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thìđương sự phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi

tố tụng dân sự Nghĩa là từ đủ 18 tuổi trở lên họ mới có quyền khởi kiện yêucầu Toà án giải quyết các vụ việc dân sự ( trừ trường hợp quy định tại khoản

6 Điều 57 đối với tranh chấp lao động) Như vậy, theo các quy định trên thì cóthể thấy rằng, người vợ chưa thành niên không thể tự mình tham gia tố tụng

Trang 20

để giải quyết việc ly hôn của chính mình, đồng thời pháp luật cũng không chophép người khác đại diện thay cho người vợ chưa thành niên trong vụ án lyhôn (khoản 3 Điều 73 BLTTDS 2004) Rõ ràng ở đây có sự “ xung đột” giữaluật nội dung( luật HNGD) và luật hình thức ( Luật TTDS) Việc quy địnhkhông thống nhất giữa luật nội dung và luật hình thức đã dẫn đến những cáchhiểu và xử lý khác nhau giữa các cơ quan xét xử Thiết nghĩ, nếu Toà án đểcho đương sự đủ 18 tuổi mới giải quyết thì sẽ không đảm bảo quyền lợi chocác bên, đặc biêt là lợi ích của người vợ Trong khoảng thời gian đó sẽ khônglường trước được bao nhiêu quyền lợi, lợi ích của người vợ bị xâm phạm,không biết bao nhiêu hậu quả sẽ phát sinh Như vậy, nguyên tắc bảo vệ quyềnlợi cho người vợ và con không bảo đảm Do đó, cần phải có một thủ tục tốtụng quy định riêng đó là: “ Vợ chồng đã kết hôn hợp pháp thì có quyền yêucầu Toà án giải quyết cho ly hôn”.

1.4 Hạn chế quyền ly hôn

Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, bảo vệ phụ nữ có thai

và thai nhi Luật hôn nhân gia đình năm 2000 tại khoản 2 Điều 85 quy định: “

Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”.

Cần hiểu rằng, trong quan hệ vợ chồng, việc sinh đẻ không phải đơnthuần là việc riêng của người vợ, đó là việc chung, là trách nhiệm chung của

cả hai vợ chồng Mặt khác, sinh đẻ là chức năng xã hội của gia đình Vì vậy,phải thấy được trách nhiệm chung đó để giải quyết vấn đề ly hôn cho thoảđáng, hợp lý, hợp tình nhằm đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và của con cái,bảo vệ lợi ích gia đình và xã hội

Theo nghị quyết số 02/2000/NQ – HDTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn

áp dụng một số quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2000 thì luật chỉ quyđịnh “ vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Do đó, khingười vợ đang thuộc một trong các trường hợp này ( không phân biệt người

Trang 21

vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), mà ngườichồng lại có yêu cầu ly hôn thì giải quyết như sau:

+ Trong trường chưa có thụ lý vụ án thì Toà án áp dụng điểm b khoản 1Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 trả lại đơn kiện cho người nộp đơn

+ Trong trường hợp đã thụ lý vụ án thì Toà á giải thích cho người nộp đơnbiết là họ chưa có quyền yêu cầu xin ly hôn Nếu người nộp đơn rút yêu cầuxin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 raquyết định đình chỉ giải quyết vụ án Nếu người nộp đơn không rút yêu cầuxin ly hôn thì Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và quyếtđịnh bác yêu cầu xi ly hôn

Ngoài ra, tuy pháp luật tố tụng không quy định nhưng theo hướng dẫntại điểm c muc 10 Nghị quyết 02/2000/NQ – HDTP TANDTC đã chỉ rõ: Đốivới người có đơn xin ly hôn mà bị Toà á bác đơn xin ly hôn thì sau một năm

kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực phápluật, người đó mới lại được yêu cầu Toà án giải quyết việc xin ly hôn Đây làthời gian hợp lý nhằm tạo điều kiện cho cả hai vợ chồng suy nghĩ lại về quyếtđinh xin ly hôn của mình

Lưu ý, điều kiện hạn chế ly hôn này chỉ áp dụng đối với người chồng,

mà không áp dụng đối với người vợ Trong trường hợp người vợ đang có thaihoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng rấtsâu sắc, tình cảm yêu thương giữa vợ chồng đã hết, nếu duy trì quan hệ hônnhân sẽ không có lợi cho sức khoẻ của mình, của thai nhi hay của con mớisinh, mà người vợ có yêu cầu ly hôn thì Toà án vẫn thụ lý đơn yêu cầu xin lyhôn của người vợ và giải quyết vụ án theo thủ tục chung

1.5 Nguyên nhân dẫn tới ly hôn

Có thể nói rằng ly hôn là một vấn đề hết sức phức tạp và tế nhị Sau khi

đã kết hôn với nhau, đôi vợ chồng sẽ cùng nhau xây dựng tương lai của họ,xây dựng một gia đình hạnh phúc, hoà thuận và bền vững Nhưng thực tếkhông phải cặp vợ chồng nào cũng làm được điều đó, hoặc để đạt được điều

Trang 22

đơn giản ấy họ phải mất rất nhiều thời gian, vượt qua rất nhiều khó khăn củađời thường và tất nhiên trong số đó không ít cặp vợ chồng đã tan vỡ, họ đãkhông bao giờ đến được mục đích mà họ muốn đến, muốn vươn tới.

Trong hàng ngàn vụ ly hôn thì mỗi trường hợp có một hoặc nhiềunguyên nhân khác nhau phát sinh trong những hoàn cảnh khác nhau Tuynhiên, tựu chung lại thì ly hôn xuất phát ở một số những nguyên nhân chủ yếusau:

1.5.1 Nguyên nhân do ảnh hưởng của những tàn tích lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến và chế đọ hôn nhân tư sản.

Do ảnh hưởng những mặt tiêu cực của tư rưởng nho giáo, một bộ phậnkhông nhỏ gia đình vẫn tồn tại tư tưởng bất bình đẳng giới, cụ thể là “ trọngnam khinh nữ” với các thuyết “ tam tòng tứ đức”, đối với phụ nữ Những vụ

án ly hôn xuất phat từ nguyên nhân này cho đến nay vẫn còn phát sinh vàkhông phải là ít Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Sự độc tôn gia trưởng trong quan hệ vợ chồng của người chồng

- Ảnh hưởng của gia đình ( cha mẹ hai bên) đến quan hệ hôn nhân.Nhiều khi là nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn ( chẳng hạn nhà chồng hoặc

vợ đã trả con dâu hoặc con rể về bên gia đình vợ hoặc chồng thì con phảinghe theo)

- Vợ hoặc chồng sống buông thả, cờ bạc, rượu chè…

- Không có quan niệm rõ ràng về xây dựng gia đình hạnh phúc, bềnvững

- Xây dựng cuộc hôn nhân với ý thức lợi dụng lẫn nhau…

1.5.2 Nguyên nhân về tâm lý, sinh lý, sức khoẻ

Những nguyên nhân này tuy không phải là nhiều nhưng cũng rất đángquan tâm và thường một hoặc hai bên ít thổ lộ ra Biểu hiện của loại nguyênnhân này là:

- Tính tình trái ngược, không phù hợp nhau, thường gây ra những bất

Trang 23

- Biểu lộ tình cảm khác nhau, sự quan tâm đến nhau biểu hiện không rõ,

dễ làm hiểu lầm nhau

- Khả năng quan hệ sinh lý không đáp ứng yêu cầu để dẫn đến ngoại tìnhhoặc không thể có con với nhau

1.5.3 Nguyên nhân về kinh tế

Đây là loại nguyên nhân tương đối phổ biến, điều đáng chú ý là nhiềucặp vợ chồng gặp khó khăn kinh tế sinh ra mâu thuẫn và ly hôn, nhưng một sốkhác thì do điều kiện kinh tế khá hẳn lên cũng sinh ra mâu thuẫn và ly hôn.Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Kinh tế gia đình đang khá giả thì gặp khó khăn ( như kinh doanh thua

lỗ, bị sa sút ) từ đó vợ chồng lục đục, mâu thuẫn dẫn đến ly hôn

- Phát sinh từ một khoản nợ lớn do vợ hoặc chồng gây ra

- Kinh tế gia đình đang bình thường thì gặp thuận lợi và trở nên khá giảhoặc giàu có vợ hoặc chồng dễ sinh ra nghi kỵ nhau, dành quyến quản lý, tiêupha tiền bạc phug phí hoặc sinh ra tật cờ bạc, quan hệ ngoại tình…từ đó dẫnđến mâu thuẫn với nhau

- Một hoặc hai bên lo thu vén riêng cho mình như mua sắm tiêu sài riênghoặc cho cha, mẹ, anh,chị,em mà không chăm lo đến vợ hoặc chồng, con nhưxây nhà, mua tài sả cho cha,mẹ.anh.em trong khi vợ hoặc chồng,con thì nheonhóc

1.5.4 Nguyên nhân ngoại tình và ghen tuông

Nguyên nhân này thường là hệ quả của các nguyên nhân khác như tư tưởngđàn ông “trai năm thê, bảy thiếp” tồn tại trong một số người chồng hoặc lốisống hưởng thụ cái mới lạ hoặc tình cảm, tính tình không hợp nhau rồi đi tìm

“người khác”, … Tất cả những nguyên nhân trên có thể dẫn đến người vợhoặc người chồng ngoại tình, thậm chí có trường hợp “ông ăn chả, bà ănnem”, cuộc sống vợ chồng không trung thực, chung thuỷ với nhau, mâu thuẫnrồi ly hôn Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Một hoặc cả hai bên ngoại tình, sống không chung thuỷ với nhau

Trang 24

- Một hoặc cả hai bên có tính ghen và thường ghen tuông vô cớ khiếncho một bên không thể chịu đựng được

1.5.5 Nguyên nhân vợ chồng có sự khác biệt về địa vị xã hội, trình độ học vấn

Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Một bên vợ, chồng có trình độ học vấn khác xa nhau, chẳng hạn mộtngười có trình độ đại học hoặc một người chỉ mới học hết lớp 2 phổ thông

- Một bên vợ chồng có địa vị xã hội cao

1.5.6 Nguyên nhân do thiếu những hiểu biết cơ bản về quan hệ hôn nhân

Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Một hoặc hai bên thiếu hiểu biết, quan niệm không đúng về hôn nhân

tự nguyện, tiến bộ

- Không có sự chuẩn bị cho việc chung sống sau kết hôn một cách thựctế

- Kết hôn vội vã, thiếu sự tìm hiểu nhau trước

- Không hiểu biết về luật hôn nhân và gia đình, không nắm vững nhữngnguyên tắc về xây dựng gia đình trong xã hội mới, dẫn đến nhận thức xử sựtrái pháp luật từ đó dẫn đến ly hôn

1.5.7 Nguyên nhân về nghề nghiệp, nơi cư trú, môi trường sinh sống

Biểu hiện của loại nguyên nhân này là:

- Khác biệt về nghề nghiệp làm ảnh hưởng đến tính cách và sinh hoạthàng ngày

- Ảnh hưởng của bệnh nghề nghiệp làm thay đổi cách sống, tính tình, sứckhoẻ

- Thay đổi nơi làm việc như do làm xa nhà, công việc thường xuyên phải

đi công tác xa, di chuyển địa điểm như thuỷ thủ đi tàu viễn dương, tài xế lái

xe đường dài, buôn bán đường dài, đi lao động học tập ở nước ngoài, …

- Thay đổi nơi cư trú như một người đi xuất cảnh định cư ở nước ngoài

Trang 25

Trên đây là một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ly hôn của nhiều cặp vợchồng hiện nay Ngoài những nguyên nhân vừa nêu, còn tồn tại rất nhiềunguyên nhân khác trực tiếp và gián tiếp dẫn đến tình trạng ly hôn như vấn đềbạo lực gia đình là một hiện tượng rất phổ biến trong xã hội ngày nay Theo

số liệu của Toà án nhân dân tối cao, từ ngày 01/01/2000 – 31/12/2005, cácToà án tỏng địa phương đã thụ lý và giải quyết sơ thẩm 352.047 vụ việc vềlĩnh vực hôn nhân và gia đình Trong đó đã xử 186.954 vụ ly hôn do bạo lựcgia đình, chiếm 53,1% trong tổng số vụ ly hôn.Riêng năm 2005 có đến 39.730

vụ ly hôn trong tổng số 65.929 vụ án về hôn nhân gia đình, chiếm tỷ lệ60,3% Trên thực tế thì thường các nguyên nhân này ẩn vào nhau, xen kẽ lẫnnhau Nhiều nguyên nhânn loại này là nguyên nhân phát sinh của loại nguyênnhân kia hoặc ngược lại chứ không đứng tách rời độc lập

Thực tiễn xét xử ở Toà án giải quyết cho các cặp vợ chồng được ly hônkhi có 1 trong 8 nguyên nhân sau: tính tình không hợp; mâu thuẫn gia đình;ngoại tình; mâu thuẫn về kinh tế; xa cách lâu năm; bệnh tật không có con;một bên bị xử giam hoặc đi công tác ở nước ngoài; ở lại nước ngoài hoặcngười nước ngoài đã về nước; đánh đập, ngược đãi nhau, phá tán tài sản như

ma tuý, đánh bạc, đập phá tài sản và những lý do khác như trường hợp vợchồng “đóng cửa bảo nhau” ở các gia đình tri thức Khi giải quyết, Toà án còncăn cứ vào mức độ các nguyên nhân trên và còn tuỳ vào các trường hợp cụthể mà quyết định cho ly hô hoặc bác đơn ly hôn của đương sự

1.6 Hoà giải khi ly hôn

1.6.1 Việc khuyến khích hoà giải ở cơ sở khi có yêu cầu ly hôn

Điều 86 Luật HNGĐ 2000 quy đinh: “ Nhà nước và xã hội khuyến khích việchoà giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn Việc hoà giải được thựchiện theo quy định của pháp luật về hoà giải ở cơ sở

Hoà giải ở cơ sở là một trong những hình thức hoà giải có sự giúp đỡ củangười trung gian như tổ hoà giải, hoặc các hình thức thích hợp khác của nhândân ở các thôn xóm,bản ,ấp, tổ dân phố, cụm dân cư Bằng các lý lẽ có tình có

Trang 26

lý hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thoả thuận, tự nguyệngiải quyết với nhau những tranh chấp trong nội bộ gia đình, thôn xóm.

Có thể nói rằng, những tổ chức ở cơ sở, thôn xóm hoạt động gần gũi vói đờisống quần chúng hơn cả, nên có thể tìm hiểu thực trạng cuộc sống của các giađình hiệu quả nhất Do đó, vợ, chồng có yêu cầu ly hôn nên hoà giải ở cơ sở

và việc hoà giải này trên cơ sở tự nguyện, sự mong muốn của người vợ, ngườichồng hoặc của cả hai vợ chồng bởi khác với thủ tục hoà giải tại Toà án là thủtục bắt buộc phải thực hiện trong quá trình tố tụng thì hoà giải là biện pháp

mà Nhà nước khuyến khích trong cộng đồng dân cư

Trong thực tiễn xét xử không chỉ những Toà án ở vùng sâu, vùng xa mà rấtnhiều Toà án ở những thành phố lớn đều buộc đương sự xin ly hôn, hoà giải ở

cơ sở Chẳng hạn như vụ việc sau: Anh Nguyễn Văn Th và chị Nguyễn Tuyết

Ng kết hôn năm 1989 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn Hai người cóhai con chug là Nguyễn Mai Thanh (1991) và Nguyễn Trung Đức (1997)

Năm 1998, anh Th bị kết án với tội danh vi phạm những quy đinh về quản lýđất và bị kết án hai năm tù Sau khi ra tù, hôn nhân của anh Th và chị Ng gặpnhiều trục trặc Năm 2002 anh Th có đơn xin ly hôn/, nhưng vì nhiều lý do vụ

án chưa được giải quyết Sau sự kiện này anh Th bỏ đi làm ăn xa Năm 2007,anh Th lại có đơn xin ly hôn gửi ra Toà án

Ngoài các giấy tờ liên quan đến yêu cầu ly hôn như giấy đăng ký kết hôn,giấy khai sinh của các con, các giấy tờ về tài sản chung của vợ chồng Toà áncòn yêu cầu anh Th phải về địa phương, đề nghị cơ sở tiến hành hoà giải giúp

vợ chồng anh đoàn tụ Chỉ sau khi đã hoà giải nhưng không thành và phải cóbiên bản hoà giải của phường, Toà án mới thụ lý yêu cầu ly hôn của anh Th.Theo hướng dẫn của Toà án thì biên bản của phường là một trong những giấy

tờ bắt buộc phải có trong hố sơ khởi kiện vụ án ly hôn

Như vậy, việc Toà án yêu cầu đương sự phải có biên bản hoà giải ở xã,phường hoặc hoà giải ở cơ sở mới thụ lý vụ án ly hôn là không phù hợp với

Trang 27

quy định của pháp luật Việc nhà nước khuyến khích hoà giải ở cơ sở khôngđồng nghĩa với việc bắt buộc phải qua thủ tục này.

Như vậy, hoạt động hoà giải ở cơ sở có tính chất quần chúng sâu rộng thểhiaanj được tình cảm tương thân, tương ái của con người Việt Nam, duy trì lốisống làng xã gần gũi và tập quán tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay “ tốilửa tắt đèn có nhau” Chủ trương khuyến khích của Nhà nước thông qua cácquy định về hoà giải ở cơ sở chính là sự pháp điển hoá những tập quá tiến bộ,qua đó phục vụ được lợi ích xã hội, giải quyết được những vấn đề mâu thuẫnthường ngày trong nhân dân mà không phải lúc nào việc can thiệp của cơquan Nhà nước có thẩm quyền cũng đạt hiệu quả

1.6.2 Hoà giải tại Toà án

Điều 88 Luật HNGĐ 2000 quy định: “ Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn,

Toà án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.

Như vậy, đối với những trường hợp ly hôn theo quy định của luật hôn nhân vàgia đình, hoà giải đoàn tụ là thủ tục bắt buộc không phụ thuộc vào thuận tình

ly hôn hay ly hôn theo yêu cầu của một bên Cả hai trường hợp này đều đượcxác định là vụ án dân sự và Toà án đều phải tiến hành thủ tục hoà giải để cácbên vợ chồng hàn gắn tình cảm với nhau, và thủ tục hoà giải là thủ tục bắtbuộc trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án Quy định này phù hợp với các quyđịnh về thủ tục giải quyết ly hôn theo pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ándân sự Tuy nhiên, theo quy định tại BLTTDS 2004, các tranh chấp và yêucầu về quan hệ hôn nhân và gia đình được giải quyết theo hai thủ tục hoàntoàn khác nhau Nếu có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ thì thụ lý giải quyếttheo thủ tuc giải quyết vụ án dân sự Trường hợp không có tranh chấp, chỉ cóyêu cầu thì giải quyết theo thủ tục việc dân sự Do đó, trường hợp ly hôn theoyêu cầu của một bên được xác định là có tranh chấp và thụ lý giải quyết theothủ tục giải quyết vụ án ly hôn Trường hợp vợ chồng yêu cầu công nhânthuận tình ly hôn, thoả thuận về nuôi con và tài sản được xem là việc dân sự

vì không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ Theo quy định từ điều 311 đến

Ngày đăng: 05/09/2021, 19:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01: Bảng thống kê tình hình giải quyết vụ việc ly hôn ở TAND Thành phố Vinh (từ năm 2008 – quý I năm 2011) - Thực tiễn giải quyết vấn đề ly hôn tại toà án nhân dân thành phố vinh và một số giải pháp nhằm đảm bảo việc giải quyết vấn đề ly h
Bảng 01 Bảng thống kê tình hình giải quyết vụ việc ly hôn ở TAND Thành phố Vinh (từ năm 2008 – quý I năm 2011) (Trang 29)
Bảng 02 : Bảng thống kê nguyên nhân phổ biến dẫn tới ly hôn tại TAND Thành phố Vinh (Từ năm 2008 – 2011) - Thực tiễn giải quyết vấn đề ly hôn tại toà án nhân dân thành phố vinh và một số giải pháp nhằm đảm bảo việc giải quyết vấn đề ly h
Bảng 02 Bảng thống kê nguyên nhân phổ biến dẫn tới ly hôn tại TAND Thành phố Vinh (Từ năm 2008 – 2011) (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w