Để góp phần hỗ trợ hoạt động t pháp, giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết và xử lý vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; làm rõ những chứng cứ xác định có tội, những tình
Trang 1lời nói đầu
Ngày nay ở hầu hết các nớc trên thế giới, quyền con ngời đợc pháp luật tôn trọng và bảo vệ Các quyền con ngời trong những lĩnh vực khác nhau nh: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, dân c Thể hiện ở các quyền công dân đợc Hiến pháp và Pháp luật ghi nhận, trong đó không thể không nói đến quyền của bị can, bị cáo và những ngời tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật
Trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, yêu cầu đặt ra là:
phát hiện chính xác, nhanh chóng, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
A
phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ngời vô tội ” Để góp phần hỗ trợ hoạt động t pháp, giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết và xử lý vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; làm rõ những chứng cứ xác định có tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can,
bị cáo; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bộ luật tố tụng hình sự đã quy định cho phép luật s; ngời
đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân đợc đứng ra với t cách là ngời bào chữa, bảo vệ cho bị can, bị cáo và là ngời bảo vệ quyền lợi cho các đơng sự, bảo vệ quyền lợi cho ngời bị hại, nguyên đơn dân sự và ngời có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nhận thức đợc vai trò quan trọng của ngời
trong tố tụng hình sự ”
Với thời gian thực tập tại tỉnh Nghệ An không phải là nhiều và mặc dù đã
cố gắng, nhng do hạn chế về mặt trình độ cũng nh kiến thức thực tiễn, thời gian nghiên cứu nên nội dung báo cáo của em còn nhiều thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận đợc sự thông cảm và những ý kiến đóng góp của các thầy cô để báo cáo hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Trang 2Nội dung
I Vai trò của luật s trong tố tụng hình sự
Để đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân, nâng cao tránh nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần chống oan sai trong điều tra, truy tố, xét
xử của vụ án hình sự, xuất phát từ nguyên tắc suy đoán vô tội Akhông ai bị coi là
có tội và phải chịu hình phạt khi cha có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật” đợc quy định tại điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và nguyên tắc
đảm bảo quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo quy định tại điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự Angời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa cho mình” Sự tham gia của ngời bào chữa nói chung và luật s nói riêng là cần thiết Đối với luật s bằng hoạt động nghề nghệp của mình, luật s giúp ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và các đơng sự thực hiện tốt hơn nữa quyền
và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật, đồng thời giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ tránh đợc việc chỉ thiên về buộc tội và xem xét một chiều Hơn nữa luật s còn có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ mật thiết với nhau Muốn bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo và đơng sự thì phải tôn trọng sự thật và phải tôn trọng pháp luật
Ng-ợc lại muốn góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thì phải làm tốt nhiệm
vụ bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo và đơng sự trong vụ án trên cơ sở của pháp luật Khi tham gia tố tụng, ngời bào chữa cần phải chú ý cả 2 nhiệm vụ trên Nếu chỉ chú trọng vào nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của bị cáo, bị can hoặc của đơng sự thì dễ dẫn đến tình trạng nguỵ biện Trái lại nếu chỉ chú ý đến việc bảo vệ pháp luật, pháp chế thì ngời bào chữa sẽ tự biến mình thành Acông tố” buộc tội tại phiên toà
Nh vậy, đặc trng cơ bản của ngời bào chữa khi tham gia tố tụng với t cách
là ngời bào chữa cho bị can, bị cáo là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho bị can, bị cáo với việc bảo vệ chân lý và tôn trọng pháp luật
1 Vị trí pháp lý của ngời bào chữa
1.1 T cách tố tụng của ngời bào chữa trong tố tụng hình sự
- Ngời bào chữa với t cách là ngời bào chữa
Tại khoản 1, điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: ngời bào chữa
có thể là:
Trang 3- Luật s;
- Ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
- Bào chữa viên nhân dân
Cũng theo quy định của Bộ luật thì ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa cho mình (điều 11) Vì vậy, luật
s là ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo Bào chữa viên nhân dân chỉ có thể tham gia tố tụng với t cách là ngời bào chữa khi đợc ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc ngời đại diện hợp pháp của họ mời
Ngời bào chữa cũng có thể tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan
điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án theo quy định tại khoản 2 điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự
- Ngời bào chữa với t cách là ngời bảo vệ quyền lợi của đơng sự
Theo khoản 1 điều 59 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: ANgời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án hình sự có quyền nhờ luật s, bào chữa viên nhân dân hoặc nhờ ngời khác đợc cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình”
ở đây Bộ luật tố tụng hình sự không quy định cụ thể song theo tinh thần của điều luật thì luật s, bào chữa viên nhân dân và ngời khác (đợc cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án chấp nhận) chỉ có thể tham gia tố tụng với t cách là
ng-ời bảo vệ quyền lợi của đơng sự nếu đợc những ngng-ời nói trên mng-ời
1.2 Lựa chọn và thay đổi ngời bào chữa
Nh ta đã biết, luật s, ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng với t cách là ngời bào chữa khi đợc ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo của ngời đại diện hợp pháp của họ mời Mặt khác khoản 2 điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự còn quy định về các trờng hợp bị can, bị cáo hoặc ngời đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo không mời ngời bào chữa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án phải yêu cầu đoàn luật s phân công văn phòng luật s cử ngời bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử ngời bào chữa cho thành viên của tổ chức mình
Việc bắt buộc phải có sự tham gia của ngời bào chữa trong những trờng hợp quy định tại khoản 2 điều 57 Bộ luật hình sự là bắt buộc đối với cơ quan tiến hành tố tụng chứ không phải là bắt buộc với bị can, bị cáo và ngời đại diện hợp
Trang 4pháp của họ, do đó họ vẫn có quyền từ chối sự tham gia của ngời bào chữa Trong trờng hợp này cơ quan tiến hành tố tụng phải lập biên bản về việc từ chối ngời bào chữa và phải có chữ ký của bị can, bị cáo
1.3 Những trờng hợp luật s bào chữa viên nhân dân không đợc tham gia với t cách là ngời bào chữa
Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đợc khách quan, hiệu quả tại điều
56 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định những ngời sau đây không đợc tham gia
tố tụng với t cách là ngời bào chữa
- Ngời đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, ngời thân thích của ngời đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó;
- Ngời tham gia trong vụ án đó với t cách là ngời làm chứng, ngời giám
định hoặc ngời phiên dịch
Một ngời bào chữa có thể bào chữa cho nhiều bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của những bị can, bị cáo này không đối lập nhau Nhiều ngời bào chữa cũng có thể bào chữa cho một bị can, bị cáo Thủ trởng cơ quan điều tra, viện trởng Viện kiểm sát, chánh án Toà án hoặc Hội đồng xét xử cấp giấy chứng nhận mời bào chữa cho ngừoi bào chữa trong vụ án đó để họ thực hiện nhiệm vụ của mình Bị can, bị cáo có quyền lựa chọn ngời bào chữa thì họ cũng có quyền từ chối hoặc thay đổi ngời bào chữa
2 Vai trò của ngời bào chữa trong các giai đoạn của tố tụng hình sự
2.1 Vai trò của luật s trong giai đoạn điều tra tố tụng hình sự
- Trong giai đoạn điều tra ngời bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ
khi khởi tố bị can; Đối với trờng hợp bắt ngời trong trờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì ngời bào chữa tham gia tố tụng từ khi
có quyết định tạm giữ (khoản 1 điều 58) của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cho phép ngời bào chữa đợc tham gia tố tụng sớm hơn so với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Để đảm bảo cho việc khởi tố bị can có căn cứ hợp pháp đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bị can, ngời bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can là cần thiết Tuy nhiên, đối với những trờng hợp cần phải giữ gìn bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì viện trởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để ngời bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra
Trang 5Ngời bào chữa đợc tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can sẽ tạo điều kiện
để họ tìm hiểu, nắm bắt nội dung vụ án ngay từ đầu đồng thời góp phần vào việc hạn chế việc làm trái pháp luật trong việc bắt, giam, hỏi cung bị can giúp công tác điều tra, truy tố, xét xử đợc nhanh chóng và khách quan
- Ngời bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của ngời bị tạm giữ, khi
hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì đợc hỏi ngời bị tạm giữ, bị can và
có mặt trong các hoạt động điều tra khác (điểm a khoản 2 điều 58)
Ngời bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của ngời bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can để trực tiếp nghe họ khai báo
Ngời bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trớc về thời gian và
địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can
Ngoài ra, ngời bào chữa cũng có quyền có mặt trong các hoạt động điều tra khác nh: khám nghiệm hiện trờng, khám chỗ ở, địa điểm
- Trong giai đoạn điều tra, ngời bào chữa có quyền đề nghị thay đổi điều tra viên, ngời giám định, ngời phiên dịch.
Ngời bào chữa có quyền đề nghị thay đổi điều tra viên khi có căn cứ tại
điều 42 và điều 44 Bộ luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo cho vụ án đợc tiến hành một cách khách quan và vô t ngay từ đầu Việc thay đổi điều tra viên do thủ trởng cơ quan điều tra quyết định, nếu điều tra viên bị thay đổi là thủ trởng cơ quan thì việc thay đổi đợc giao cho cơ quan điều tra cấp trên tiếp tục điều tra
Ngời bào chữa có quyền yêu cầu thay đổi ngời giám định khi có căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 42 và khoản 4 điều 60 Bộ luật tố tụng hình
sự Việc thay đổi ngời giám định do cơ quan trng cầu giám định quyết định
Ngời bào chữa có quyền yêu cầu thay đổi ngời phiên dịch khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 điều 61 và khoản 3 điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự Việc thay đổi ngời phiên dịch do cơ quan yêu cầu quyết định
Có thể nói đây là một trong những quyền của ngời bào chữa nói chung và luật s nói riêng mà họ cần phải chú ý sử dụng khi nhận bào chữa cho thân chủ của họ nhằm tránh việc oan sai hoặc làm ảnh hởng đến việc xử lý vụ án
- Ngời bào chữa có quyền đa ra những chứng cứ và những yêu cầu
Khi làm nhiệm vụ bào chữa cho ngời bị tạm giữ, bị can ngời bào chữa có thể phát hiện ra những chứng cứ mới mà cơ quan điều tra cha phát hiện ra đợc Trong giai đoạn điều tra cùng với việc đa ra những chứng cứ cần thiết, ngời bào
Trang 6chữa cũng có quyền yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục những thiếu sót trong hoạt động điều tra khi cần thiết, ví dụ nh: triệu tập thêm ngời làm chứng, trng cầu giám định Khi ngời bào chữa đa ra những yêu câu liên quan đến vụ án thì cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình giải quyết yêu cầu của ngời bào chữa và báo cáo kết quả cho họ biết, trong trờng hợp cơ quan điều tra không chấp nhận yêu cầu của ngời bào chữa thì ra quyết định và nói rõ lý do Ngợc lại nếu cơ quan điều tra không chấp nhận và không trả lời yêu cầu của mình thì ngời bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan điều tra cấp trên và Viện kiểm sát cùng cấp
- Luật s có quyền đợc gặp bị can đang bị tạm giam
Việc bào chữa sẽ trở thành hình thức nếu nh không hiểu rõ thái độ, tâm lý, tâm t tình cảm của bị can Vì vậy việc đợc gặp bị can đang bị tạm giam sẽ giúp cho ngời bào chữa có đợc những thông tin cần thiết về ngời mà mình sẽ đứng ra bào chữa cho
- Luật s có quyền đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra.
Việc Bộ luật tố tụng hình sự quy định điều này sẽ giúp cho ngời bào chữa nắm vững các tình tiết của vụ án Có đọc hồ sơ thì luật s mới biết ngời bị tạm giữ, bị can phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự, nắm đợc bị can
bị buộc tội gì, cơ sở nào và từ đó tìm ra các chứng cứ gỡ tội cho thân chủ của mình Từ đó ngời bào chữa đề xuất yêu cầu cần thiết với Viện kiểm sát, Toà án
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can
- Ngời bào chữa có quyền khiếu nại quyết định của cơ quan điều tra, khiếu nại đối với hoạt động của điều tra viên
Một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự đợc quy
định tại Điều 31 Bộ luật tố tụng hình sự là nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại,
tố cáo của công dân đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng với nội dung là: ACông dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và ngời có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo, thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho ngời khiếu nại tố cáo biết và có biện pháp khắc phục”
Trang 7Với danh nghĩa là công dân, đồng thời với t cách là ngời bào chữa tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can trong giai đoạn điều tra, ngời bào chữa có quyền khiếu nại với những việc làm trái pháp luật của cơ quan
điều tra trong các trờng hợp sau đây:
- Bắt bị can để tạm giam khi không đủ căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc không đủ thủ tục bắt đợc quy định tại điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự
- Ra lệnh tạm giam khi không có những căn cứ theo quy định của pháp luật
- Giam bị can trong trờng hợp không có lệnh của ngời có thẩm quyền hoặc
có lệnh nhng không đợc Viện kiểm sát phê chuẩn;
- Giam bị can quá hạn mà không có lệnh ra hạn tạm giam theo quy định tại điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự
- Khởi tố bị can trong trờng hợp không đủ căn cứ xác định bị can đã thực hiện hành vi phạm tội theo quy định tại điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự
- Hỏi cung bị can không đúng thủ tục quy định tại Điều 131 Bộ luật tố tụng hình sự nh: bức cung, dùng nhục hình đối với bị can
- Tạm giữ những đồ vật, tài liệu không liên quan trực tiếp đến vụ án trong quá trình tiến hành các hoạt động khám xét
2.2 Vai trò của ngời bào chữa trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự
Truy tố là một giai đoạn tố tụng trong đó Viện kiểm sát tiến hành các hoạt
động cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm truy tố bị can trớc Toà án bằng bản cáo trạng hoặc ra các quyết định cần thiết khác nhằm giải quyết vụ án, trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự vai trò của luật s đợc thể hiện qua các quyền sau:
- Ngời bào chữa có quyền khiếu nại các quyết định của Viện kiểm sát, nếu có căn cứ cho rằng quyết định đó không dựa trên cơ sở pháp luật hoặc không đúng thời hạn luật định.
Tại điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự quy định trong thời hạn không quá 20 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận đợc hồ sơ vụ
án và bản kết luật điều tra Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định sau
đây:
Một là, truy tố bị can trớc Toà án bằng bản cáo trạng, bản cáo trạng phải
ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, hậu
Trang 8quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội phạm của bị can; những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ; nhân thân của bị can và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Phần kết luận của cáo trạng phải ghi rõ tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự đợc áp dụng Ngời lập cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập cáo trạng; họ tên, chức vụ và ký vào biên bản
Hai là, trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung khi phát hiện một trong các căn cứ
quy định tại Điều 168 Bộ luật tố tụng hình sự đó là:
+ Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung đợc
+ Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có ngời đồng phạm khác
+ Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Ba là, đình chỉ vụ án, việc đình chỉ vụ án sẽ đợc quy định khi:
+ Không có sự việc phạm tội;
+ Hành vi đó không cấu thành tội phạm;
+ Ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cha đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
+ Ngời mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ
vụ án đã có hiệu lực pháp luật;
+ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Tội phạm đã đợc đại xá;
+ Ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trờng hợp cần tái thẩm đối với ngời khác;
+ Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo quy định tại Điều 16 Bộ luật hình sự;
+ Ngời phạm tội đợc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 25
Bộ luật hình sự;
+ Ngời cha thành viên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và đợc gia đình, cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phơng… nhận giám sát giáo dục theo quy định tại Điều 69 Bộ nhận giám sát giáo dục theo quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự
Trang 9Bốn là, Viện kiểm sát phải ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi:
+ Bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y;
+ Bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu, trong trờng hợp này phải yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can
- Ngời bào chữa có quyền đa ra các chứng cứ và những yêu cầu.
ở giai đoạn truy tố vụ án hình sự khi xét thấy cần thiết để có thể bảo vệ lợi ích cho bị can Ngời bào chữa có quyền đa ra các yêu cầu nh: triệu tập thêm ngời làm chứng, trng cầu giám định; yêu cầu điều tra bổ sung hoặc tiến hành các hoạt
động điều tra khác; yêu cầu thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Trong giai
đoạn tố tụng này Ngời bào chữa còn có quyền yêu cầu trả tự do cho bị can khi có các căn cứ quy định tại Điều 94 Bộ luật tố tụng hình sự
- Ngời bào chữa có quyền gặp mặt bị can đang bị tạm giam
Việc gặp bị can đang bị tạm giam trong giai đoạn này sẽ giúp Ngời bào chữa hiểu thêm thái độ, tâm lý,… nhận giám sát giáo dục theo quy định tại Điều 69 Bộ của bị can Đồng thời có thể t vấn thêm những vấn đề pháp luật liên quan đến vụ án mà bị can cha rõ, thông qua đó Ngời bào chữa và bị can sẽ thống nhất đợc t tởng và tháo gỡ đợc vụ án theo hớng có lợi nhất cho bị can trên cơ sở tuân thủ đúng những quy định của Pháp luật
- Ngời bào chữa có quyền đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết.
Cũng nh trong giai đoạn điều tra, ở giai đoạn này nếu thấy cần thiết Ngời bào chữa có quyền đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết để phục vụ cho việc bảo vệ lợi ích cho bị can Tuy nhiên hoạt động này ở giai đoạn truy tố chỉ mang tính chất bổ sung, bởi vì những nội dung quan trọng và cần thiết đã đợc Ngời bào chữa ghi chép và nghiên cứu ở giai đoạn điều tra
2.3 Vai trò của ngời bào chữa trong giai đoạn xét xử
Xét xử là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá trình Tố tụng,
nó xác định một cách dứt điểm bị cáo có tội hay không có tội và mức phạt t ơng ứng đối với hành vi phạm tội đó Tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định: AKhông ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi cha có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực Pháp luật” Qua đó chúng Toà án có thể thấy đ ợc tầm quan trọng của giai đoạn xét xử
- Giai đoạn xét xử sơ thẩm
Trang 10Xét xử sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất, là khâu then chốt trong quá trình làm nhiệm vụ của Ngời bào chữa Đây là khâu kết tinh các công sức của Ngời bào chữa từ việc chuẩn bị, tìm tòi các chứng cứ có lợi nhất cho ngời mà mình bảo vệ đến việc đứng ra bênh vực, bảo vệ quyền lợi cho họ một cách công khai Kết quả của việc bào chữa cho bị cáo sẽ đợc ghi nhận ở giai đoạn này Vì vậy Ngời bào chữa cần phải chuẩn bị thật tốt trớc khi ra phiên toà Ngời bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có các quyền nh: đọc hồ sơ vụ án; gặp bị can, bị cáo; đa ra những chứng cứ và yêu cầu Ngoài ra trong giai đoạn này ngời bào chữa còn có quyền tham gia phiên toà Tại phiên toà Ngời bào chữa có các quyền nh:
- Quyền đề nghị thay đổi ngời tiến hành tố tụng, ngời giám định, ngời phiên dịch;
- Quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ trong vụ án (Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự)
- Quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng của vụ án đợc đa ra xem xét tại phiên toà (Điều 212 Bộ luật tố tụng hình sự)
- Trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định, đợc hỏi những vấn đề cha rõ hoặc còn mâu thuẫn trong kết luận giám định;
- Quyền tham gia xét hỏi tại phiên toà;
- Quyền trình bày lời bào chữa sau khi kiểm sát viên đã trình bày lời luận tội;
- Tham gia đối đáp tại phiên toà
- Vai trò của Ngời bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Trong tố tụng hình sự, giai đoạn xét xử phúc thẩm đợc bắt đầu từ sau khi bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị và kết thúc khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định Trong giai đoạn này Ngời bào chữa đợc tham gia với t cách là ngời bào chữa, ngời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đơng sự
Ngời bào chữa có thể hớng dẫn cho thân chủ của mình làm đơn kháng cáo
Đối với trờng hợp Ngời bào chữa đợc uỷ quyền hoặc thân chủ của họ (bị cáo) là ngời cha thành niên, ngời có nhợc điểm về thể chất hoặc tâm thần thì Ngời bào chữa có thể làm đơn kháng cáo thay cho họ