Kinh tế tăng trưởng cao liên tục, chính trị - xãhội ổn định, đời sống đại đa số nhân dân được nâng cao, cải thiện rõ rệt, quan hệquốc tế mở rộng, hội nhập có hiệu quả...Đặc biệt với công
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài: 3
2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 5
3 Phạm vi ngiên cứu: 6
5 Thời gian thực hiện đề tài: 6
6 Ý nghĩa của đề tài: 6
7 Bố cục của đề tài: 7
B NỘI DUNG 8
Chương 1: Đói, nghèo và vai trò của HND huyện trong công tác xoá đói giảm nghèo ở huyện Yên Thành - Nghệ An hiện nay 8
1.1 Lý luận chung về đói, nghèo và quan điểm chỉ đạo của Nhà nước Việt Nam về giải quyết xoá đói giảm nghèo: 8
1.2 Vai trò của HND huyện trong công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Yên Thành - Nghệ An hiện nay: 15
Chương 2 Thực trạng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của HND huyện Yên Thành – Nghệ An trong công tác xoá đói giảm nghèo 22
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình đói nghèo ở huyện Yên Thành 22
2.2 Hội Nông Dân huyện với công tác xoá đói giảm nghèo ở Yên Thành hiện nay 27
2.3 Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp cơ bản 36
C KẾT LUẬN VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 41
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Hơn hai mươi năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã đạt được nhiều thànhtựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Kinh tế tăng trưởng cao liên tục, chính trị - xãhội ổn định, đời sống đại đa số nhân dân được nâng cao, cải thiện rõ rệt, quan hệquốc tế mở rộng, hội nhập có hiệu quả Đặc biệt với công tác xóa đói giảm nghèo,chúng ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được UNDP và các tổ chức quốc tếđánh giá là một trong những nước điển hình, thành công trong việc thực hiện mụctiêu Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo Chương trình mục tiêu quốc gia về giảmnghèo giai đoạn năm 2001- 2005 về đích trước thời hạn một năm Tình trạng táiđói kinh niên cơ bản đã không còn diễn ra Người nghèo ngày càng được tiếp cậnvới các dịch vụ sản xuất và đời sống dân sinh, được vay vốn tín dụng, chuyển giao
kỹ thuật chăn nuôi và trồng trọt, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đất sản xuất, đất ở,nhà ở và các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục và nước sinh hoạt Ngoài ra,người nghèo cũng được thụ hưởng các chương trình văn hóa phát thanh truyềnhình Có được thành tựu này là do nhà nước ta đã huy động toàn bộ hệ thốngchính trị tham gia vào công tác xóa đói giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo là một mục tiêu quan trọng của toàn xã hội trong đó các
tổ chức chính trị, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội đều có chức năng vai trònhất định Về mặt lý luận, chức năng quan trọng của các tổ chức chính trị ( Đảngcầm quyền) là phải có đường lối, chủ trương, chính sách chống đói nghèo, khôngnhững thế còn phải tạo ra cả một hệ thống luật pháp tạo hành lang pháp lý cho các
tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế tham gia tư vấn, giám sát, phản biện vào cácchương trình, chiến lược nói chung và các chính sách xóa đói giảm nghèo nóiriêng
Trang 3Thực hiện chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo, với vai trò là một
tổ chức chính trị - xã hội, là thành viên của UB MTTQ huyện Yên Thành, trongnhững năm qua Hội nông dân huyện Yên Thành đã vượt qua khó khăn, khôngngừng củng cố và lớn mạnh, có nhiều đóng góp tích cực nhất định, tích cực tuyêntruyền chủ trương đường lối, chính sách của Đảng vận động giai cấp nông dân liênminh với giai cấp công nhân, tổ chức nhiều phong trào thi đua sản xuất, nâng cao
đời sống nhân dân trên địa bàn huyện Đặc biệt là trong phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng”.
Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự điều hành và tổchức triển khai thực hiện của chính quyền các cấp cũng như Huyện hội và sự phốihợp của các tổ chức đoàn thể về công tác xóa đói giảm nghèo vẫn còn nhữngvướng mắc và hạn chế nhất định Tình trạng đói, nghèo ở huyện Yên Thành vẫnđang là vấn đề bức xúc cần phải được tập trung giải quyết Bởi vậy, qua 8 tuầnthực tập tại huyện Yên Thành, được sự quan tâm, giúp đỡ của các đồng chí lãnhđạo huyện ủy, đặc biệt là các đồng chí trong Ban chấp hành Hội nông dân huyện
tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu thực tế cơ sở và chọn đề tài: “Nâng cao vai trò của Hội nông dân huyện trong công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Yên Thành- Nghệ An hiện nay” làm đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình Với mong muốn góp
phần nhỏ bé cùng lãnh đạo các cấp chính quyền và nhân dân huyện Yên Thànhhoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội trong sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp,nông thôn, luôn xứng đáng với truyền thống đơn vị anh hùng, truyền thống quêhương Phan Đăng Lưu bất khuất
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trang 4Vấn đề nghèo, đói và xóa đói giảm nghèo ở nước ta là vấn đề được Đảng,Nhà nước và các cấp, các ngành cũng như nhiều cơ quan, nhà khoa học quan tâmnghiên cứu Từ đầu những năm 90 của TK XX đến nay, đã có nhiều công trìnhkhoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề xóa đói giảm nghèo
được công bố là các công trình sau: “Phụ nữ giới và phát triển” của tác giả Trần Thị Vân Anh – Lê Ngọc Hùng, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996; “Vấn đề nghèo ở Việt Nam” của tác giả Bùi Thế Giang, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Phân hóa giàu nghèo và các tiêu chuẩn về đói nghèo ở Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Thị Hằng, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, Nxb Lao động, Hà Nội 1997; “Chương trình cấp nhà nước về phân tầng xã hội”, do GS Đỗ Nguyên Phương làm chủ
nhiệm, trong đó có một đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng đói, nghèo và cácgiải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo ở hai vùng trọng điểm là đồng bằng Bắc Bộ vàđồng bằng Nam Bộ
Ngoài ra, trong những năm qua, một số sinh viên khoa GD Chính trị khi lựachọn đề tài khoá luận tốt nghiệp cũng đã chọn vấn đề đói, nghèo và đã bước đầu đềsuất các giải pháp xóa đói giảm nghèo ở các địa phương thuộc Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình đặc biệt là phần điều tra, khảo sát thực trạng đói, nghèo được minh
chứng bằng các số liệu trong các đề tài “Xã Kỳ Văn với công tác xoá đói giảm nghèo - thực trạng và giải pháp” của sinh viên Nguyễn Thị Kim Cúc, lớp 41A,
GD Chính trị, đề tài đã được giải thưởng nghiên cứu Khoa học cấp Bộ năm 2004
hoặc đề tài “Đói, nghèo và các giải pháp xoá đói giảm nghèo ở đồng bào dân tộc thiếu số Nghệ An” của sinh viên Vũ Thị Hương Giang, lớp 43A, GD Chính trị.
Các công trình trên đã phần nào đề cập đến các góc độ khác nhau về đói,nghèo và bước đầu đưa ra các giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, lạichưa có một công trình nào đề cập đến vai trò của HND - một tổ chức Chính trị -
Xã hội có vai trò và đóng góp to lớn trong công tác xoá đói giảm nghèo Đặc biệt
Trang 5là tổ chức HND cấp huyện và lại ở quê hương Yên Thành Vì vậy tôi xin mạnh dạnlựa chọn vấn đề nghiên cứu này.
3 Phạm vi ngiên cứu:
Đề tài ngiên cứu thực trạng, tình hình công tác xoá đói giám nghèo của HNDhuyện Yên Thành - Nghệ An trong giai đoạn hiện nay Đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao vai trò của Huyện hội trong công tác xoá đói giảm nghèo Trên cơ
sở nghiên cứu thực tế tại các xã, thị trấn
4 Phương pháp nghiên cứu:
Thông qua phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp từnghiên cứu báo cáo của các xã, tại HND huyện, cũng như báo cáo, tổng kết củaHuyện hội, qua đó đánh giá, tổng hợp làm rõ những vấn đề và đề tài đặt ra từ đóxây dựng các giải pháp để phát huy tích cực hơn nữa vai trò của tổ chức HNDhuyện trong công tác xoá đói giảm nghèo
Nguồn thông tin được thu thập trong thời gian 8 tuần qua các kênh hoạtđộng của cơ quan và các tài liệu tham khảo phục vụ cho báo cáo
5 Thời gian thực hiện đề tài:
Từ 01/03/2011 đến 15/04/2011
6 Ý nghĩa của đề tài:
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần cụ thể hoá những quan điểm của Đảng và
Nhà nước về xoá đói giảm nghèo và công tác xoá đói giảm nghèo của HND huyệntrong giai đoạn hiện nay
- Về mặt thưc tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thế dùng làm tài liệu
tham khảo trong quá trình thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo ở huyện YênThành Đồng thời đề tài cung cấp những luận cứ khoa học cho HND huyện ápdụng trong quá trình thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo phù hợp với yêu cầu,nhiệm vụ của chương trình xoá đói giảm nghèo trong thời kỳ đổi mới mà huyệnnhà đặt ra
Trang 6C: Kết luận, những đề xuất kiến nghị đổi với đơn vị thực tập.
D: Tài liệu tham khảo:
Trang 71.1.1 Quan niệm về đói, nghèo:
*Khái niệm về đói, nghèo:
Đói, nghèo là một hiện tượng KT - XH mang tính toàn cầu Nó có mặt ở mọinơi, mọi thời đại, tồn tại trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người Ngay
cả những nước giàu, có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao,nhưng cũng không tránh khỏi một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói, nghèo.Chính vì vậy, từ nhiều năm nay, vấn đề đói, nghèo và XĐGN là một trong nhữngnhiệm vụ cấp bách, được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế quan tâm giải quyết
Đói, nghèo không phải là một khái niệm bất biến, không phải một vấn đềmang tính định mệnh Đó là một hiện tượng xã hội mang tính động, biến đổi, tồntại trong nhiều xã hội và ở mỗi thời đại khác nhau, mỗi khu vực khác nhau, ở cácquốc gia khác nhau, tiêu chỉ để đánh giá vấn đề đói, nghèo cũng không giống nhau.Thực tế cho thấy, đói, nghèo không chỉ đơn thuần là phạm trù tế kinh tế, không chỉthuần tuý là mang tính vật chất, mà còn mang tính xã hội nhân văn, mặc dù sự đói ,nghèo trước hết mang tính vật chất Tuy nhiên, vấn đề đói, nghèo còn bao hàm cádân trí nghèo, nghèo vì thiếu thốn về tinh thần, văn hoá, sức khoẻ, suy thoái môitrường… Bán thân hiện tượng đói, nghèo chỉ mang tính tương đối, các chỉ số xácđịnh đói, nghèo và ranh giới phân biệt giữa giàu và nghèo luôn luôn thay đổi ởtừng thời điểm, trong từng vùng, từng nước khác nhau, từng cộng đồng dân cư
Trang 8khác nhau… Do đó, không thế lấy chỉ số xác định đói, nghèo ở thời điểm này vậndụng một thời điểm khác, bởi các chỉ số đó luôn biến đổi.
Tại “Hội Nghị Châu Á - Thái Bình Dương về giảm đói, nghèo” do Tổ chứcAFCAP tổ chức tại Băngkok - Thái Lan tháng 09/1993, các nhà nhiên cứu, và cácchuyên gia hoạch định chính sách đã đưa ra khái niệm, định nghĩa đói, nghèo nhưsau: Nghèo, đói là một bộ phận tình trạng dân cư không được hưởng và thoả mãnnhững yêu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độphát triển KT - XH và phong tục tập quán của địa phương
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư được hưởng rất ít ỏi những nhucầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT-
XH và phong tục tập quán ở từng địa phương
- Đói là một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản củacon người và cũng đã được thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển KT - XH vàphong tục tập quán ở các dân tộc, ở các địa phương
Có thể xem đây là một định nghĩa chung nhất về đói, nghèo, một định nghĩatuy không định lượng một cách chính xác mức độ đói, nghèo nhưng định nghĩa đãchỉ ra được cái phổ biến nhất về đói, nghèo Theo định nghĩa này, thì xã hội loàingười nói chung; công đồng dân cư của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phươngnói riêng được phân chia thành 2 nhóm: nhóm người nghèo và nhóm người còn lại.Định nghĩa này đã nhấn mạnh đến nhu cầu cơ bản nhất, thiết yếu nhất, tối thiếunhất để duy trì sự tồn tại của con người như: ăn, măc, ở, đi lại…
Trên thế giới có nhiều có nhiều tiêu chỉ đánh giá đói, nghèo khác nhau như:dựa trên mức thu nhập bình quân đầu người trong một năm, hay căn cứ vào lượngcalo tối thiếu cung cấp cho cơ thế đủ sống để tồn tại và xác định giới hạn của sựđói, nghèo Nhìn chung, những quan niệm về đói, nghèo do cách tiếp cận khácnhau nên có những cách lý giải khác nhau Sự nghèo đói là một khái niệm mangtính tương đổi và biển đổi theo thời gian, khu vực sinh sống Đồng thời, khái niệm
Trang 9đói, nghèo ước lượng bằng các chỉ số có giá trị xác định và chỉ số này cũng khôngphán ảnh một cách cứng nhắc mà có sự biến đổi tương ứng theo độ chênh lệch, cácnước và cụm dân cư.
* Quan niệm đói, nghèo ở Việt Nam:
Hiện nay, ở nước ta để đánh giá về sự đói nghèo thường dựa vào các tiêuchỉ: thu nhập, nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, tư liệu sản xuất… Dựa vào các yếu tổ
đó, Bộ LĐTB&XH lấy tiêu chỉ nghèo là thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo
đủ bảo đảm cho nhu cầu tối thiếu hàng ngày, còn đói là tình trạng một bộ phận dân
cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiếu, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, thunhập không bảo đảm cho cuộc sống
Trong hộ đói còn phân thành hộ đói gay gắt và thiếu đói Từ năm 1993 đếnnay Việt Nam đã 5 lần đưa ra tiêu chỉ xác định hộ nghèo đói Hiện nay, chúng tađang sử dụng tiêu chỉ do Thủ tưởng Chính phủ ban hành 01/01/2011, ngoài ra chưa
có tiêu chỉ nào khác
1.1.2 Chuẩn mực đánh giá hộ nghèo ở Việt Nam.
Thủ tưởng Chính phủ vừa ký Quyết định QĐ09/2011/QĐ-TTg ban hànhchuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015
Do đó hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400 nghìnđồng/ người/ tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500 nghìn đồng/người/ tháng (từ 6 triệu đồng/ người/ năm) trở xuống
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401 - 520nghìn đồng/ người/ tháng
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501 – 650nghìn đồng/ người tháng
Trang 10Mức chuẩn nghèo quy định trên là căn cứ để thực hiện các chính sách ansinh xã hội và chính sách kinh tế xã hội khác Quyết định này có hiệu lực thi hành
từ ngày 30/01/2011
Theo chuẩn mới quốc gia chỉ có tiêu thức cho hộ nghèo, không còn tiêu thứccho hộ đói, nên không phân hộ đói, mặc dù trên thực tế vẫn còn hộ đói Quyết địnhnày đã nâng chuẩn nghèo lên gấp 2 lần so với chuẩn hộ nghèo cũ được xác địnhvào năm 2006 với chuẩn mới này, tỷ lệ hộ nghèo cả nước gần như trở lại con sốxuất phát của thời điểm cách đây 5 năm Điều này có nghĩa, xóa nghèo lại được đặttrước những thách thức mới lớn hơn và khó khăn hơn
1.1.3 Quan điểm chỉ đạo của Nhà Nước Việt Nam về giải quyết xóa đói giảm nghèo
Đảng ta coi cơ sở phương pháp luận quan trọng cơ bản nhất để phân tích vấn
đề đói nghèo và xóa đói giảm nghèo là giải thoát con người khỏi mọi áp bức, bấtcông, thực hiện công bằng xã hội CNXH là quá trình kiến tạo hạnh phúc và cũng
là quá trình đấu tranh vì sự công bằng, đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xãhội
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hòa,một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chống giặc đói, vấn
đề công bằng xã hội – vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc xóađói giảm nghèo đã được Đảng ta luôn quan tâm chú ý Những Đại hội Đảng gầnđây từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, nhiều văn bản
đề cập tới vấn đề công bằng xã hội Chúng ta hiểu công bằng xã hội vừa là mụctiêu vừa là động lực để phát triển, công bằng xã hội không bỏ hẹp trong lĩnh vựckinh tế mà liên quan tới tất cả các lĩnh vực kinh tế chính trị, văn hóa xã hội côngbằng xã hội phải được giả quyết và chỉ có thế được giải quyết gắn liền với sự pháttriển sản xuất, xây dựng xã hội thực sự dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
Trang 11Công bằng xã hội đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực trong nhân dân, xã hội hóanhiệm vụ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch phát triển KT - XHtrên cơ sở vừa tăng nhanh tốc độ phát triển, vừa giảm dần sự mất cân đổi giữa cácvùng, giảm khoảng cách về thu nhập, mức sống hướng thụ giáo dục, văn hóa, bảo
vệ sức khỏe của các tầng lớp dân cư ở các vùng khác nhau Đặc biệt công bằng xãhội đòi hỏi phải thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội
Trong các văn kiện quan trọng của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề xóa đóigiảm nghèo được nhiều lần đề cập tới Để đảm bảo và hướng tới công bằng xã hội.Đảng ta khẳng định: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp
đi đôi với chăm lo xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ pháttriển về mức sống giữa các vùng, các gia đình thuộc diện chính sách, làm cho mọingười, mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no hạnh phúc ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
ai cũng được học hành và chữa bệnh, từng bước thực hiện điều Chủ tịch Hồ ChíMinh hằng mong ước”
Trong quá trình thiết kế, chỉ đạo thi công việc xây dựng nền kinh tế thịtrường theo định hướng XHCN trên cơ sở nắm bắt những mặt mạnh và những mặtyếu của cơ chế thị trường, Đảng ta đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo: “Để pháttriển sức sản xuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhậntrên thực tế còn có bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội,nhưng phải luôn quan tâm, bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa khuyến khíchlàm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi trọng xóa đói giảm nghèo,từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đềukhá giả”
Chú trọng đúng mức vấn đề đói nghèo trong xã hội, với nhãn quan chính trịnhạy bén và với trách nhiệm cao trước nhân dân, Đảng ta đã đưa ra những chươngtrình lớn để tập trung giải quyết là “Chương trình xóa đói giảm nghèo” Trên cơ sở
Trang 12đó, nhà nước cũng đã có hàng chục chương trình cấp quốc gia và dự án đang đượcthực thi có nội dung gắn với xóa đói giảm nghèo
* Một số luận điểm và chính sách cụ thể:
- Một là, xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm
vụ trọng tâm trước mắt
Tính lâu dài của xóa đói giảm nghèo là do:
+ Thứ nhất: xóa đói giảm nghèo là nội dung và nhiệm vụ cần thực hiện đểđảm bảo thực hiện công bằng xã hội Thực tiễn cho thấy có những nguyên nhânnảy sinh nghèo đói không phải do môi trường xã hội, không do điều kiện kinh tế-địa lý mà do hoàn cảnh và đặc điểm của từng cá nhân, từng hộ gia đình Nhữngtrường hợp này luôn có khả năng xuất hiện và việc xóa đói giảm nghèo mang tínhthường trực
+ Thứ hai: chủ trương của Đảng ta phát triển kinh tế nhiều thành phần là mộtđịnh hướng chiến lược Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường luôn có xuhướng phân hóa hai cực giàu nghèo Vì vậy, cùng với việc tăng cường sự quản lýcủa Nhà Nước theo định hướng XHCN thường xuyên và liên tục, lâu dài, thì nhiệm
vụ xóa đói giảm nghèo, nhất là giảm nghèo, cũng là vấn đề liên tục và lâu dài mớigiải quyết được
+ Thứ ba: dân giàu nước mạnh là mục tiêu cơ bản của CNXH Thực hiệnmục tiêu này là một quá trình phấn đấu gian khổ, lâu dài
Xóa đói giảm nghèo vừa có tính cơ bản và cần thực hiện liên tục, lâu dài lại
là một công việc cần kíp, trước mắt, bởi vì sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổimới luôn đạt ra nhiệm vụ: mỗi bước phát triển KT - XH là một bước cái thiện đờisống nhân dân, bởi vì đây không chỉ là việc thực hiện truyền thống đạo lý của dântộc “Thương người như thể thương thân”, mà còn là nhiệm vụ để đảm bảo ổn định
xã hội củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Trang 13- Hai là: tăng trưởng kinh tế là điều kiện giúp cho việc xóa đói giảm nghèo,nhưng đây là hai nhiệm vụ có tính độc lập tương đối và không phải là một.
Có người cho rằng, muốn xóa đói giảm nghèo trước hết phải đầu tư pháttriển sản xuất để tăng trưởng kinh tế Chỉ đến khi kinh tế phát triển đến giai đoạnnhất định sẽ hết đói nghèo, vì thế không nên đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo lànhiệm vụ lâu dài và trọng yếu Thực ra tăng trưởng kinh tế có ảnh hướng đến việcgiải quyết vấn đề nghèo đói, bởi vì nguyên nhân chính yếu của đói nghèo nóichung là do kinh tế chưa phát triển Tuy nhiên, đói nghèo lại do nhiều nguyên nhânkhác mang tính đặc thù Và lại trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, chúng tachấp nhận kinh tế nhiều thành phần cùng vận động phát triển, cũng là chấp nhậntình trạng phân hóa giàu nghèo tương đối Vì vậy xóa đói giảm nghèo không những
là công việc cần thiết mà là nhiệm vụ cấp bách quan trọng Chúng ta xác định sựphân hóa giàu nghèo không thể tránh khỏi, nên cũng quan tâm không để xẩy ra tìnhtrạng làm giàu vô tội vạ trên lưng người khác, cùng như tình trạng “Kẻ ăn khônghết, người lần không ra”, không thể để người nghèo bị bỏ rơi trước con mắt củacộng đồng
- Ba là: xóa đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội không có nghĩa làkìm hãm sự phát triển kinh tế, không có nghĩa là cào bằng
Kinh nghiệm của CNXH hiện thực ở Liên xô và Đông Âu trước đây đã chothấy nếu đặt công bằng xã hội lên trên hết và tách rời với phát triển kinh tế thìtrước hết dẫn tới sự triệt tiêu các động lực phát triển Tuy nhiên, nếu đặt hiệu quảkinh tế làm mục tiêu duy nhất thì sẽ làm tăng tình trạng phân hóa hai cực, làm tăng
sự khốn khó đối với không ít quần chúng nhân dân Bởi vậy, trong khi thực hiệnbài toán phát triển đất nước, làm sao phải tạo mọi điều kiện và tăng nguồn lực cho
sự phát triển đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặt vấn đề xóa đói giảm nghèothành công việc thường xuyên, liên tục
- Bốn là: xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội
Trang 14Cần khẳng định một cách mạnh mẽ rằng xóa đói giảm nghèo là không dừnglại ở việc thực hiện chính sách xã hội, không phải là việc riêng của ngành lao động
xã hội hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm
vụ chung của toàn Đảng, toàn dân Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giảmnghèo, tất cả mọi cán bộ của Đảng, chính quyền đều phải quan tâm cùng giải quyếtthực hiện các giải pháp một cách toàn bộ và phải có sự tham gia của toàn thể cộngđồng
1.2 Vai trò của HND huyện trong công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Yên Thành - Nghệ An hiện nay:
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của HND huyện Yên Thành.
Cuối TK XIX đầu TK XX dân tộc Việt Nam ta sống rên xiết, lầm than dướiách áp bức đô hộ của bọn Thực dân - Phong kiến, yêu nước thương dân Nhiều chí
sĩ quên mình xá thân đi tìm đường cứu nước nhưng chưa có được đường lối đúngnên sự nghiệp không thành Từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc xuất dương
đi tìm đường cứu quốc, mang tên gọi Nguyễn Tất Thành Người đã dành hơn nửacuộc đời vượt qua 3 đại dương, 4 châu lục, Người đã đến những trung tâm vănminh nhất thế giới cho tới những nơi bần cùng và gian khổ nhất của nhân loại thờiấy; chặng đường đi qua, thực tiễn đã làm cho Người hấp thụ nồng nàn và mãnh liệt
khi đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê nin Người đã lý giải
sâu sắc, cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn liền với cách mạng vô sản, độc lậpdân tộc phải gắn liền với CNXH và định rõ con đường cách mạng của Việt Nam.Ngày 3/2/1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và nhận trọng trách chèo lái conthuyền cách mạng mà dân tộc giao phó Là một nước thuộc địa nửa phong kiến cóhơn 90% dân số ở nông thôn Đảng ta đã nhận thức rõ vai trò to lớn của giai cấpnông dân và khẳng định giai cấp nông dân là một lực lượng cơ bản của cách mạngViệt Nam Vì vậy sau khi ra đời Đảng ta đã khẩn trương chuẩn bị kể cả tư tưởng và
tổ chức để nhanh chóng hình thành các đoàn thể quần chúng
Trang 15Ngày 14/10/1930 Nông hội đỏ ra đời, nhằm tập hợp rộng rãi lực lượng giaicấp nông dân, đoàn kết xung quanh Đảng cộng sản Việt Nam, đấu tranh cho độclập dân tộc Trải qua chiều dài lịch sử 80 năm qua, HND Việt Nam đã không ngừnglớn mạnh trưởng thành, từ Nông hội đỏ, Hội tương tề ái hữu, Hội nông dân phản
đế, Hội nông dân cứu quốc đến Hội nông dân giải phóng ở miền Nam, Hội liênhiệp nông dân tập thể ở miền Bắc, ở bất kỳ giai đoạn nào với các tên gọi khácnhau Tổ chức chính trị của giai cấp nông dân cũng thể hiện rõ vị trí của mìnhtrong việc tâp hợp, động viên giai cấp nông dân tham gia tích cực vào sự nghiệpcách mạng của dân tộc Đặc biệt từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội(3/1988) tổ chức chính trị của giai cấp nông dân được chính thức mang tên gọiHND Việt Nam, có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ TW đến cơ sở Đại hội là một cộtmốc lịch sử quan trọng đánh dấu một bước phát triển của Hội trong thời kỳ đổi mớicủa đất nước
Dưới sự lãnh dạo của Đảng, trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mớiđến nay cả nước đã có hơn 9,6 triệu hội viên Nghệ An có gần 50 vạn hội viên,Yên Thành có hơn 5 vạn hội viên Hai mươi năm qua tổ chức HND huyện YênThành đã không ngừng lớn mạnh phát huy truyền thống cách mạng, quê hươngPhan Đăng Lưu anh hùng, đoàn kết, năng động, sáng tạo Thực sự đã trở thành lựclượng, trung tâm nòng cốt trong các phong trào thực hiện có hiệu quả ngày càngcao Các chương trình KT – XH, xây dựng nông thôn mới, thực hiện 3 phong trào,
5 chương trình của TW Hội đề ra, HND huyện cùng các cấp hội cơ sở đã khôngngừng thi đua đẩy mạnh công tác, vừa vận động, vừa hỗ trợ tạo điều kiện để HNDthực hiện tốt có hiệu quả chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật, chính sáchcủa Nhà Nước, chỉ thị nghị quyết của Hội Phối hợp chặt chẽ cùng các tổ chức banngành liên quan; tổ chức hội thảo, tập huấn dạy nghề, truyền nghề chuyển giaoKHKT, công nghệ sản xuất mới cho hàng vạn hội viên trên địa bàn huyện Bảo tíncho hội viên vay vốn đầu tư phát triển kinh tế Thông qua các kênh: Ngân hàng
Trang 16NN&PTNT, Ngân hàng CSXH, liên kết với các doanh nghiệp cung ứng hàng ngàntấn vật tư phân bón Mỗi việc làm của Hội đã thực sự nâng cao năng lực, đẩy mạnhphát triển KT – XH của huyện nhà Đặc biệt về sản lượng lương thực hàng nămluôn đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch Đảng bộ đề ra, đã đóng góp bằng 1/6 tổng sảnphẩm của toàn tỉnh, tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt mức 13 - 14%, xóa hộ đói,giảm hộ nghèo bình quân hàng năm trên 2%.
Phong trào thi đua phát tiển SX – KD giỏi, giúp nhau xóa đói giảm nghèo,phong trào xây dựng làng xã đơn vị gia đình nông dân văn hóa, phong trào bảo vệ
an ninh nông thôn, phong trào văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao đã và đangđược phát triển sôi động trong hội viên nông dân ngày càng phong phú, mạnh mẽ,vững chắc; được cấp ủy Đảng chính quyền các cấp ghi nhận, đánh giá cao, khôngkhí dân chủ ngày càng được thực hiện mở rộng Đặc biệt từ khi có chỉ thị 59 củacủa Bộ chính trị, quyết định 17 của Thủ tưởng Chính phủ tổ chức HND các cấpđược Đảng nhìn nhận, đánh giá đúng tầm quan trọng Vì vậy tổ chức HND huyệnnhà đã không ngừng lớn mạnh, đến nay đã có 488 chi hội cơ sở xã, thị trấn vớihơn 5 vạn hội viên, chất lượng hoạt động sinh hoạt của Hội luôn được đổi mới kể
cả phương thực nội dung hoạt động Cán bộ hội viên nông dân Yên Thành trongnhiều năm liên tục đạt danh hiệu đơn vị xuất sắc tỉnh Nghệ An, được UBND huyệnYên Thành, UBND tỉnh Nghệ An, Tỉnh Hội và TW HND Việt Nam tặng thưởngnhiều Bằng khen và Giấy khen Đặc biệt được Chính phủ tặng thưởng Bằng khenđơn vị xuất sắc UBND tỉnh Nghệ An tặng thưởng cờ thi đua quyết thắng Phát huytruyền thống 30 năm phát triển và trưởng thành, toàn thể cán bộ hội viên HND YênThành đoàn kết và toàn tâm, toàn lực không ngừng củng cố xây dựng Hội vữngmạnh toàn diện, góp phần xứng đáng cùng với Đảng bộ và nhân dân trong toànhuyện, đẩy nhanh thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nôngthôn Xây dựng Yên Thành trở thành một trong những huyện điển hình của tỉnh
Trang 17Nghệ An Cùng với nhân dân cả nước phấn đấu thực hiện thắng lợi vì mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”
1.2.2 Đặc điểm hoạt động và cơ cấu tổ chức bộ máy của Huyện hội.
* Nhiệm vụ:
Tuyên truyền, giáo dục cho hội viên nông dân hiểu biết về đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của Hội khơi dậy vàphát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần lao động sáng tạo, tựlực tự cường của nông dân
- Vận động tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, chăm lo đời sống vật chất, tinhthần của hội viên nông dân
- Các cấp hội là thành viên trong hệ thống chính trị, thực hiện các chínhsách, pháp luật, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ở nôngthôn Hướng dẫn phát trển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp Tổchức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hộ trợ và dạy nghề giúp nông dân phát triểnsản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường
- Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nângcao chất lượng hội viên, xây dựng tổ chức hội vững mạnh về mọi mặt, đào tạo, bồidưỡng cán bộ hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đấtnước
- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, giám sát vàphản biện xã hội theo quy chế, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dânphản ảnh với Đảng và Nhà nước, bảo vệ và chăm lo lợi ích chính đáng hợp phápcủa hội viên nông dân, thực hiện pháp lệnh quy chế dân chủ cơ sở, giữ gìn đoàn kếttrong nội bộ nhân dân, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống quan liêu tham nhũng, lãng phí và các
tệ nạn xã hội
Trang 18* Cơ cấu tổ chức của HND huyện Yên Thành.
1 Thái Đình Cầu: Chủ tịch
2 Nguyễn Bá Trứ: Phó chủ tịch
3 Nguyễn Sỹ Chương: Phó chủ tịch
4 Nguyễn Thị Hồng: Ủy viên BCH
5 Đinh Thị Linh: Ủy viên Ban thường vụ
6 Nguyễn Thị Thu: Ủy viên Ban thường vụ
1.2.3 Vai trò của HND huyện trong công tác xóa đói giảm nghèo hiện nay.
Từ sau Đại hội Đảng bộ Nông dân toàn quốc lần thứ I (tháng 03/1988), Hội
đã phát động phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng” trong hội viên, nhân dân
cả nước Phong trào đã thu hút tập hợp, vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu câytrồng vật nuôi phù hợp với từng vùng, từng địa phương, ứng dụng các tiến bộKHKT vào sản xuất, phát triển kinh tế hộ Để thúc đẩy phát triển kinh tế HNDhuyện Yên Thành đã chủ động liên kết, phối hợp với các ban, ngành, chính quyền,các đoàn thể địa phương, các doanh nghiệp hỗ trợ giúp đỡ nông dân thông qua cáchoạt động cụ thể sau:
* Hỗ trợ nông dân vay vốn và hướng dẫn sử dụng vốn vay có hiệu quả trong
sản xuất kinh doanh
Nhu cầu có vốn cho phát triển kinh doanh dịch vụ nhằm xóa đói giảm nghèo
và làm giàu là một đòi hỏi chính đáng và trở nên bức xúc của nông dân Để đápứng nguyện vọng của nông dân, trong những năm qua HND huyện Yên Thành đãtập trung các biện pháp hỗ trợ giải quyết vốn cho nông dân
Trong nhưng năm qua Hội đã phối hợp với Ngân hàng NN&PTNT, Kho bạcNhà nước giải ngân hơn 34.904 triệu đồng cho nông dân trên địa bàn vay để pháttriền sản xuất, xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm
Trang 19Đồng thời HND huyện còn vận động nông dân tương trợ giúp nhau tại cộngđồng về vật tư, giống, vốn để phát triển sản xuất kinh doanh.
* Phối hợp với các doanh nghiệp giúp nông dân mua vật tư, máy nôngnghiệp theo phương thức sản xuất:
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của TW Hội và HND tỉnh Nghệ An,Huyện hội đã phối hợp với các doanh nghiệp sản xuất phân bón như: Cty Superphốt phát và hoá chất Lâm Thao, Cty phân bón Bình Điền,… Cung ứng hàng nghìntấn phân bón cho nông dân (trả sau chu kỳ sản xuất) đảm bảo chất lượng, giá cả,tạo điều kiện cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện sản xuất kịp thời vụ Đồngthời, Hội đã hợp tác với các Cty của tổng Cty Máy động lực và máy nông nghiệpViệt Nam, bán cho nông dân theo phương thức trả chậm, trả góp tạo điều kiện chonông dân đưa cơ giới hoá vào sản xuất
* Phối hợp với các ban, ngành, doanh nghiệp, các chuyên gia nông nghiệp tưvấn hỗ trợ hội viên nông dân trong việc ứng dụng tiến bộ KHKT phục vụ sản xuất
và đời sống
HND huyện đã tích cực tham gia công tác khuyến nông, khuyến lâm,khuyến công, khuyến ngư Năm năm qua (2005 - 2010) Hội đã mở được 1300 lớptập huấn kỹ thuật cho hội viên nông dân Tổ chức ứng dụng chuyển giao các tiến
bộ KHKT và công nghệ mới cho nông dân, xây dựng mô hình trình diễn để nôngdân tham quan và học tập Thành lập các câu lạc bộ nông dân nhằm thu hút, tậphợp nông dân để các hộ SX – KD giỏi phổ biến kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất,giúp đỡ các hỗ nghèo là nơi trao đổi, cung cấp thông tin về sản xuất, thị trường…giúp nông dân định hướng sản xuất
* Tuyên truyền vận động nông dân tham gia xây dựng và phát triển kinh tếhợp tác, xây dựng HTX nông thôn:
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ V, BCH TW Đảng khoá IX về tiếptục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, HND huyện đã có
Trang 20nhiều hình thức tuyên truyền Luật Hợp tác xã, vận động hội viên nông dân thamgia củng cổ các HTX hiện có, hình thành các tổ liên kết, liên doanh, tổ hợp tác vàthành lập các HTX mới theo luật
Việc xây dựng, hoạt động của các HTX tuy còn gặp một số khó khăn do tưduy và hiệu quả của mô hình HTX từ thời kỳ bao cấp, mặc dù vậy qua hoạt động
đã xuất hiện một số HTX điển hình, hoạt động có hiệu quả, bước đầu đã tạo niềmtin cho nông dân khi tham gia vào HTX
Trang 21Chương 2 Thực trạng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của HND huyện Yên Thành – Nghệ An trong công tác
xoá đói giảm nghèo.
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình đói nghèo ở huyện Yên Thành.
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Yên Thành.
Huyện Yên Thành được thành lập năm 1837, đời vua Minh Mạng thứ 18,tách ra từ huyện Đông Thành (gồm: Yên Thành và Đông Thành) Yên Thành nằm
về phía Bắc, trụ sở đóng ở Yên Lý, còn huyện Đông Thành nằm phía Nam, trụ sởđóng ở Cao Xá Là một huyện đồng bằng, bán sơn địa, Yên Thành nằm về phíaBắc của Nghệ An cách TP Vinh 56Km về phía Bắc, tiếp giáp phía Đông là huyệnDiễn Châu, phía Bắc giáp huyện Quỳnh Lưu, phía Tây giáp huyện Nghĩa Đàn vàTân Kỳ, phía Nam là huyện Nghi Lộc và Đô Lương (Nghệ An) Chiều dài từ
18o55’ đến 19o34’ vị độ Bắc, chiều rộng 105o11’ đến 105o34’ kinh Đông
Huyện Yên Thành giống như một lòng chảo không cân 3 phía, Bắc – Tây Nam là rừng núi và núi trọc, ở giữa và phía Đông là một vùng đồng trũng tiếp giápvới huyện Diễn Châu Là huyện có quốc lộ 7 từ ngã ba Diễn Châu đến Thượng Lào
-đi qua Yên Thành 15Km, tỉnh lộ 538 từ quốc lộ 1 -đi qua Trung tâm huyện nối vớiquốc lộ 7
Yên Thành là huyện bán sơn địa có diện tích tự nhiên 54.847ha Trong đó,đất nông nghiệp 17.000ha, đất Lâm nghiệp 9000ha Phân thành các vùng: vùng núigồm 18 xã, chiếm 69% diện tích tự nhiên, với 43% dân số, vùng đồng bằng thànhthị gồm 21 xã thị trấn chiếm 31% diện tích tự nhiên với 57% dân số Dân số YênThành có hơn 27,8 vạn người, trong đó giáo dân chiếm 12%; tỷ lệ tăng dân số hàngnăm khoảng 1,0%; tổng số lao động 130.393 ngưòi, cơ cấu lao động theo ngành:Nông nghiệp chiếm 71,90%, Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp 11,62%, Dịch vụ
- Thương mại 16,48% Lao động thường xuyên không có việc làm khoảng 1802