Vì vậy, tôi cho rằng cần phải tập trung nghiên cứu về ngành công nghiệp của địa phương này để phát triển và hiện đại hóa nó nhằm đưa Bà Rịa-Vũng Tàu - một địa phương có khả năng và nghĩa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
K -
HUỲNH MÔNG NGHI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU TỪ NAY
ĐẾN NĂM 2020
Chuyên nghành: Kinh tế Chính trị
Mã số : 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS VŨ ANH TUẤN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009
tai lieu, document1 of 66
luan van, khoa luan 1 of 66
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành công nghiệp được xem là một trong những ngành có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia trong quá trình CNH, HĐH Bà Rịa-Vũng Tàu được xem là một tỉnh công nghiệp với sự phát triển khá nhanh về kinh tế - xã hội Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của tỉnh có bước chuyển biến mạnh mẽ theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Đến năm 2007, tỷ trọng công nghiệp trong GDP (theo giá cố định 1994) tăng lên 80,13%; dịch vụ 14,85% và nông nghiệp 5,02% Nếu không tính dầu khí, công nghiệp chiếm 62,13%; dịch vụ 29,07% và nông nghiệp 8,87% Với cơ cấu kinh tế trên, cho thấy ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn và là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Với những lợi thế mà ít nơi nào có được của một địa phương có nhiều tiềm năng, nguồn lực để phát triển một ngành công nghiệp đa dạng với tốc độ cao, cho thấy
Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi nhất để có thể đến năm
2020 về trước cả nước trong tiến trình CNH, HĐH để trở thành một nước công nghiệp Tuy nhiên, trong thời gian qua ngành công nghiệp của tỉnh vẫn chưa thật sự phát triển toàn diện cả về chiều sâu và diện rộng, một số ngành còn bị suy giảm mặc dù còn có nhiều tiền đề và tiềm năng để phát triển Vì vậy, tôi cho rằng cần phải tập trung nghiên cứu về ngành công nghiệp của địa phương này để phát triển và hiện đại hóa nó nhằm đưa Bà Rịa-Vũng Tàu - một địa phương có khả năng và nghĩa vụ phải tiến hành nhanh
và bền vững hơn, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần quan trọng cùng đất nước chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với các nước, nâng cao vị thế trong hội nhập kinh quốc tế Với nhận thức trên,
tôi đã chọn vấn đề nghiên cứu: “Một số giải pháp chủ yếu để phát triển và hiện đại hóa ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu từ nay đến năm 2020”
làm tên đề luận văn thạc sĩ kinh tế của mình
Trang 32
-2 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm chung về CNH, HĐH, cũng như qua khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để tìm ra những hạn chế, nhất là tìm được những vấn đề nổi lên cần đặt ra Từ đó,
đề xuất các giải pháp để phát triển và hiện đại hóa ngành công nghiệp của tỉnh đến năm 2020
Là một tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế quan trọng về vị trí, đất đai và hạ tầng
kỹ thuật để phát triển mạnh kinh tế biển, đặc biệt là các ngành công nghiệp dầu khí, sản xuất điện, đạm, chế biến thủy hải sản, v.v Do đó, để khai thác có hiệu quả những thế mạnh này của Bà Rịa-Vũng Tàu, đề tài giới hạn việc nghiên cứu trong phạm vi ngành công nghiệp của tỉnh với mốc thời gian từ năm 2004 đến năm 2008 là chủ yếu và định hướng đến năm 2020 trong việc phát triển và hiện đại hóa ngành công nghiệp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, ngoài việc áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong nghiên cứu, đề tài còn ứng dụng một số phương pháp chủ yếu như: phương pháp logic - lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, đối chiếu
- so sánh, thu thập số liệu và thông tin thực tế, phương pháp mô hình hóa và phân tích
ma trận SWOT
Phương pháp luận để nghiên cứu được rút ra từ các quan điểm lịch sử, cụ thể, toàn diện và phát triển
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp chủ yếu để phát triển và hiện đại hóa
ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu từ nay đến năm 2020” là việc
làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các cấp chính quyền của tỉnh có những thông tin cần thiết để xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp trên địa bàn theo hướng hiện đại đến năm 2020 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua các nội dung sau đây:
HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document3 of 66
luan van, khoa luan 3 of 66
Trang 4Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về CNH, HĐH
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn đã phân tích và làm rõ hiện trạng
sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh để từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn cũng như thế mạnh và điểm yếu của ngành công nghiệp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Ba là, căn cứ vào mục tiêu và quan điểm phát triển ngành công nghiệp của tỉnh
để đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và hiện đại hóa ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Bốn là, cung cấp những dữ liệu cần thiết cho các cấp chính quyền, các cơ quan,
ban, ngành của tỉnh tham khảo để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh nhằm xây dựng những chính sách phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại
5 Đóng góp của đề tài
Liên quan đến đề tài này đã có nhiều đề tài và bài báo được công bố với những giá trị khoa học nhất định Công trình nghiên cứu này dự kiến sẽ đạt được những đóng góp sau đây:
Luận văn sẽ phân tích đầy đủ và sâu sắc hoạt động của ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gắn với quá trình CNH, HĐH;
Phân tích có hệ thống và khá toàn diện những tính đặc thù của địa phương và đối với sự phát triển của ngành công nghiệp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của cả nước;
Trên cơ sở lý luận được xây dựng ở chương 1, kết quả phân tích tình hình thực
tế ở chương 2, quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và địa phương, luận văn đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính khả thi trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và địa phương, góp phần đưa Bà Rịa-Vũng Tàu và cả nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu; kết luận; danh mục các chữ viết tắt; danh mục các bảng,
Trang 54 biểu; tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài bao gồm 3 chương: Chương 1: Một số lý luận cơ bản về CNH, HĐH; Chương 2: Thực trạng sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu để phát triển và hiện đại hóa ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
-Dưới đây là nội dung luận văn:
HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document5 of 66
luan van, khoa luan 5 of 66
Trang 61.1.1 Khái niệm công nghiệp và ngành công nghiệp
- Công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế
tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp theo
- Ngành công nghiệp: là một bộ phận của nền kinh tế, ngành kinh tế quốc dân
quan trọng nhất, có ảnh hưởng quyết định đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội với nhiệm vụ khai thác, chế biến tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm nông nghiệp thành tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
- Phân loại công nghiệp:
Công nghiệp gồm hai ngành:
+ Công nghiệp nặng: là ngành công nghiệp chuyên khai thác nguồn năng lượng,
sản xuất các công cụ sản xuất và chuyển biến các nguyên liệu thành vật liệu
+ Công nghiệp nhẹ: là ngành công nghiệp chuyển biến các vật liệu do công
nghiệp nặng sản xuất thành những bán thành phẩm và hàng tiêu dùng
Ngoài ra, công nghiệp còn được phân thành hai loại:
+ Công nghiệp khai thác: là ngành khai thác các nguồn năng lượng và tài
nguyên trên qui mô công nghiệp
+ Công nghiệp chế biến: là ngành công nghiệp chuyển biến các sản phẩm của
ngành công nghiệp khai thác thành các sản phẩm tiêu dùng (cho sản xuất và đời sống
xã hội)
1.1.2 Các quan niệm về công nghiệp hóa:
Trong thực tiễn, đến nay vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù
Trang 76
-“công nghiệp hóa” Quan niệm đơn giản nhất về CNH cho rằng “CNH là đưa đặc tính
công nghiệp cho một hoạt động; trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà máy, các loại công nghiệp…”[30, 520] Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử CNH ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Trong quá trình dài thực hiện CNH, các nước này chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình CNH, chứ không phải là đối tượng trực tiếp của CNH, do đó quan niệm này được sử dụng rất hạn chế trong thực tiễn vì nó không cho thấy mục tiêu của quá trình cần thực hiện và đã đồng nhất quá trình CNH với quá trình phát triển công nghiệp
Trong sách báo kinh tế của Liên Xô (trước đây) tồn tại một định nghĩa phổ biến
cho rằng “CNH là quá trình xây dựng nền đại công nghiêp cơ khí có khả năng cải tạo
cả nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với các ngành trung tâm là chế tạo máy” [19-1], tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng tăng
Quan niệm này được coi là hợp lý trong điều kiện của Liên Xô thời kỳ nội chiến khi
mà chủ nghĩa đế quốc bao vây toàn diện, nền tảng phát triển chỉ dựa vào thị trường trong nước nên phải tập trung phát triển công nghiệp nặng và hướng vào các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp nhằm đảm bảo các nhu cầu trong nước Nhưng sẽ sai lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp dụng cho tất cả các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay
Gần đây, khi nhấn mạnh vai trò, vị trí của công nghiệp chế biến như một biểu hiện của phát triển công nghiệp ở trình độ cao, điều kiện bảo đảm hiệu quả sử dụng tài
nguyên và trao đổi thương mại quốc tế… lại có ý kiến cho rằng “phát triển công
nghiệp chế biến là bản lề của CNH” [19, 1] Không thể phủ định vai trò của công
nghiệp chế biến là nội dung bao trùm của quá trình CNH, nó có phạm vi rộng lớn, cơ cấu phức tạp Phát triển công nghiệp chế biến đến thị trường sản phẩm ở đâu… đó là câu hỏi không thể có câu trả lời chung cho tất cả các nước
Năm 1993, Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã đưa ra định nghĩa sau đây: “CNH là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân động viên để phát triển HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document7 of 66
luan van, khoa luan 7 of 66
Trang 8kinh tế, trong quá trình này toàn bộ để phát triển chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế
- xã hội” Quan niệm này cho thấy quá trình CNH bao gồm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ sự phát triển kinh tế mà còn cả sự tiến bộ về mặt xã hội nữa Quá trình CNH trong điều kiện hiện nay cũng gắn liền với quá trình hiện đại hóa các hoạt động kinh tế - xã hội Tuy nhiên, định nghĩa trên đây lại quá dài
và phức tạp với ý tưởng dung hòa nhiều ý kiến khác nhau
Trong điều kiện hiện nay, quan niệm về CNH dù trên góc độ nào cũng không đồng nhất quá trình phát triển công nghiệp Tuy quá trình CNH có những nét riêng đối với từng nước, nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình có tính chất phổ biến cho phù hợp với điều kiện cụ thể từng nước mà thôi CNH là quá trình rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau đây:
- Thứ nhất, CNH là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất
cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu Đồng thời đây cũng là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại Quá trình ấy phải tác động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế - xã hội của các nước đó với các nước phát triển
Hiện đại hóa, xét trên góc độ kinh tế - kỹ thuật, là cái đích cần vươn tới trong quá trình CNH, nhưng bị ràng buộc bởi yêu cầu bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội nên xét toàn cục, hiện đại hóa chỉ là phương tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của quá trình CNH mà thôi
- Thứ hai, quá trình CNH không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp mà là
quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của đất nước Đó là tất yếu
vì nền kinh tế của mỗi nước là một hệ thống nhất các ngành, các lĩnh vực hoạt động có quan hệ tương đối với nhau Do đó, quá trình CNH cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu ngành kinh tế Trong sự chuyển dịch cơ cấu của quá trình CNH, vị trí của các ngành sẽ thay đổi Xét tổng thể, cơ cấu kinh tế của mỗi
Trang 98 nước được cấu thành bởi ba loại ngành tổng hợp có quan hệ ràng buộc lẫn nhau: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước trong quá trình CNH sẽ trải qua hai giai đoạn: từ cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ chuyển sang cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ
- Thứ ba, quá trình CNH trong bất kỳ giai đoạn nào cũng đều vừa là quá trình
kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế - xã hội Đây là hai quá trình có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, quá trình kinh tế-kỹ thuật cao tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế - xã hội Ngược lại, quá trình kinh tế - xã hội góp phần tạo nên động lực cho thực thiện quá trình kinh tế - kỹ thuật Việc thực hiện có kết quả quá trình CNH sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kỹ thuật, thấp kém về kinh tế
Đối với mỗi nước, CNH là quá trình lịch sử lâu dài Theo W.Rostow, sự phát triển của một đất nước trải qua 5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị tiền đề cho cất cánh, cất cánh, tiến tới sự trưởng thành và tiêu dùng ở trình độ cao Như vậy, quá trình CNH được khởi đầu bằng việc “chuẩn bị tiền đề cho cất cánh”, được thực hiện mạnh mẽ trong giai đoạn “cất cánh” và kết thúc khi xã hội đã “tiến tới sự trưởng thành” Khi đất nước đạt đến trình độ nhất định về kinh tế - kỹ thuật - xã hội, quá trình CNH sẽ kết thúc
- Thứ tư, quá trình CNH cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế Trong điều kiện hiện nay, mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế hóa đời sống kinh tế trở thành xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ nên việc xác định mục tiêu, phương thức CNH cần phải phân tích và dự đoán được những biến động kinh tế-
xã hội chung của thế giới, đặc biệt là của các nước trong khu vực
- Thứ năm, CNH không phải là một mục đích tự thân, mà là một phương thức có
tính chất phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nước Tuy mỗi nước có hệ thống mục tiêu riêng nhưng về hình thức vẫn có thể tương đồng, đó là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại , khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, đảm bảo nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp dân cư Mục tiêu cụ thể của mỗi nước phục thuộc vào quan HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document9 of 66
luan van, khoa luan 9 of 66
Trang 10điểm của hệ thống chính trị lãnh đạo Phương hướng, qui mô và nhịp độ CNH phụ thuộc vào đặc điểm chính trị xã hội của đất nước
Từ toàn bộ những vấn đề đã đề cập trên đây, có thể rút ra kết luận khái quát về CNH như sau: CNH là một quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế-xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực
và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý với trình độ KHCN ngày càng hiện đại
1.2 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
K Marx là người đầu tiên phát hiện ra quy luật lịch sử của loài người, nghĩa là trước khi con người lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo thì con người cần phải ăn, uống, ở, mặc Muốn vậy, con người phải lao động, nhưng không phải lao động tuỳ tiện mà phải có cách thức, đó là phương thức sản xuất (bao gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất) Trong đó, lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định trong quá trình tiến hóa của nhân loại vì nó biểu hiện mối quan hệ của con người với giới tự nhiên trong quá trình sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục của con người đối với giới tự nhiên trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất để đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của loài người Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa tư liệu sản xuất (trước hết là công cụ lao động) và những người lao động có kiến thức, có thói quen, kinh nghiệm và
kỹ năng, kỹ xảo để sản xuất
Trong lực lượng sản xuất, công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất nên có một vai trò quan trọng, là thước đo sự chinh phục tự nhiên của con người Quá trình phát triển của sản xuất cũng là quá trình con người cải tiến, bổ sung và hoàn thiện công cụ lao động nhằm đạt năng suất cao và tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội Do đó, trình độ phát triển của công cụ lao động được xem là tiêu chuẩn quan trọng để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế trong lịch sử K Marx đã chỉ ra rằng:
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở
Trang 1110
-chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [15, 338]
Chính công cụ sản xuất và phương tiện lao động kết hợp với lao động sáng tạo của con người là yếu tố quyết định đến năng suất lao động, nên theo Lênin thì xét đến cùng năng suất lao động là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá trình độ của lực lượng sản xuất trong một xã hội
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất dưới chế độ tư bản chủ nghĩa với nội dung là cơ khí hóa, thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc đã tạo
ra một bước phát triển nhảy vọt hết sức vĩ đại về sự phát triển của lực lượng sản xuất, kéo theo sự phát triển toàn diện trên các mặt của xã hội tạo ra năng suất lao động xã hội cao gấp nhiều lần so với lao động thủ công, làm cho bộ mặt đời sống của xã hội loài người có sự thay đổi hết sức nhanh chóng
Từ đó đến nay trước tính chất cạnh tranh tàn khốc của nền kinh tế thị trường tư bản trong nước và thế giới, sự chạy đua giữa hai hệ thống XHCN và TBCN trong sự phát triển nhanh chóng của khoa học, cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra rất nhanh chóng và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực từ vật chất đến tinh thần cho phép khai thác một cách có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo ra nguyên vật liệu mới đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nền sản xuất, đưa năng suất lao động xã hội cao gấp trăm lần so với thời kỳ bắt đầu CNH
Rõ ràng để phát triển kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất thì CNH phải được coi là một quá trình mang tính quy luật, nhất là đối với các quốc gia bắt đầu từ một nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển muốn vươn lên thành một quốc gia có nền kinh tế tiên tiến hiện đại Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ, để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế -
xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh và
ổn định, mỗi nước phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế Ở các nước phát triển, quá trình ấy gắn liền với quá trình CNH
Ngày nay, có thể nói trình độ CNH là thước đo về tiến bộ kinh tế, văn hóa, quân
sự của các nước Chính vì vậy mà mỗi quốc gia dân tộc trên thế giới luôn quan tâm đến việc nâng cao trình độ CNH, HĐH trong mọi mặt của đời sống xã hội ở nước mình HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document11 of 66
luan van, khoa luan 11 of 66
Trang 12Đối với các nước phát triển hiện nay, là những nước đã thực hiện CNH rất sớm, trình độ CNH của các nước đó rất cao, họ đã tạo ra được một nền sản xuất tiên tiến và một nền kinh tế, quốc phòng hùng mạnh Thế nhưng họ vẫn luôn coi trọng sự nghiệp phát triển lực lượng sản xuất, đầu tư mạnh cho nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm tìm ra những phương pháp sản xuất mới, phát hiện và đề ra những phương pháp khai thác nguồn năng lượng mới cực mạnh, chế tạo hàng loạt vật liệu nhân tạo có tác dụng nhiều mặt mà trước đây không thể biết được, chế tạo hàng loạt phương tiện kỹ thuật và quy trình công nghệ mới về chất lượng sản xuất… Cuộc chạy đua hết sức quyết liệt giữa các trung tâm hiện nay là Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản đã chứng minh phần thắng ở các nước có trình độ phát triển công nghiệp cao,
có phương pháp quản lý tiên tiến khoa học, luôn luôn hiện đại hóa nền sản xuất của nước mình
Đối với các nước kém phát triển, để thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và phụ thuộc vào các nước đế quốc, không có con đường nào khác là con đường phải thực hiện CNH đất nước Họ quan niệm CNH và sự phát triển được xem như đồng nghĩa với nhau CNH đối với các nền kinh tế nông nghiệp, xuất khẩu nguyên liệu thô, được xem là phương tiện giúp phá vỡ mối ràng buộc phụ thuộc vào các nước này phải chịu trong thời kỳ thuộc địa, giành độc lập về chính trị mới đạt được sự độc lập về kinh tế CNH
sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm đáng kể, thu hút lao động dư thừa ở khu vực nông thôn, giúp nâng cao sản lượng trên đầu người, nâng cao mức sống và nhất là CNH giúp tạo ra những thay đổi cần thiết các quan điểm về xã hội và văn hóa qua tác động “hiện đại hóa” của các công nghệ và các phương pháp tổ chức được du nhập vào… CNH được xem như là một phương tiện để đạt được một số mục tiêu về xã hội
Đối với các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô, và ngày nay như Trung Quốc, Việt Nam… sau khi giành được chính quyền, việc thực hiện CNH ngày càng được đặt
ra hết sức cấp bách Một mặt, vì hầu hết các nước đó đều có trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp, cần phải được nhanh chóng xây dựng để nâng cao năng lực sản xuất đáp ứng các yêu cầu giống như ở các nước kém phát triển nêu trên Mặt khác,
để đi lên CNXH đòi hỏi các nước này phải có một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu XHCN về tư liệu sản xuất
Trang 1312
-Cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của KHCN, tức là nó phải tạo ra được một năng suất lao động xã hội cao Muốn vậy, tất yếu phải tiến hành quá trình CNH để tạo ra nền tảng cơ sở vật chất đó cho nền kinh tế quốc dân XHCN
Như vậy, có thể thấy rằng sự phát triển của ngành công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia Điều này được biểu hiện cụ thể như sau:
- Phát triển ngành công nghiệp sẽ làm gia tăng thu nhập quốc dân:
Năng suất cao hơn trong công nghiệp tạo điều kiện nâng cao thu nhập Do công nghiệp có thể sử dụng nhiều máy móc thay thế lao động của con người, so với các ngành khác máy móc chỉ mang tính hỗ trợ
Mặt khác, giá cả sản phẩm công nghiệp thì ổ định hơn và cao hơn ở thị trường trong và ngoài nước
- Phát triển ngành công nghiệp giúp củng cố sự ổn định thu nhập xuất khẩu
và thu nhập quốc dân:
Hầu hết các nước nông nghiệp thường chỉ xuất khẩu một hoặc một vài loại nông sản, và chúng được xác định bởi cung và cầu Nguồn nông sản thường không ổn định Khi bị mất mùa, ung giảm dẫn đến thu nhập giảm Khi được mùa, giá hạ, thu nhập cũng giảm Những thiếu sút như vậy của nông sản bị làm trầm trọng thêm bởi sự trao đổi bất bình đẳng của các nước công nghiệp với các nước kém phát triển Hậu quả là các nước được khai thác như thế bị mất cân bằng cán cân thanh toán Chi tiêu nhập khẩu vượt quá thu nhập xuất khẩu và cuối cùng, phát triển công nghiệp được xem như một giải pháp của vấn đề
- Phát triển ngành công nghiệp để trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân:
Cung cấp tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, công cụ lao động) và đối tượng lao động (nguyên, nhiên liệu… ), nên công nghiệp có ý nghĩa thiết yếu đối với tăng trưởng sản phẩm của cả khu vực sản xuất lẫn dịch vụ
- Ngành công nghiệp cung cấp đại bộ phận sản phẩm tiêu dùng cho xã hội:
Vì là ngành cung cấp đại bộ phận sản phẩm tiêu dùng cho xã hội nên phát triển HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document13 of 66
luan van, khoa luan 13 of 66
Trang 14công nghiệp là nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế
- Ngành công nghiệp cung cấp nhiều việc làm hơn:
Công nghiệp tạo nhiều việc làm nên thu hút được nhiều lao động thặng dư ở nông thôn Phát triển công nghiệp thông qua quá trình công nghiệp hóa sẽ làm mọc thêm nhiều nhà máy, cần nhiều lao động Nông dân trong thời kỳ nông nhàn có thể làm việc bán thời gian trong các nhà máy chế biến nông sản
- Phát triển ngành công nghiệp giúp mở rộng thị trường nguyên liệu thô ở nội địa:
Các ngành công nghiệp địa phương cần nguyên liệu thô cung cấp từ nông nghiệp đi chế biến phục vụ cho tiêu dùng cá nhân và công nghiệp
Tóm lại, phát triển ngành công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH cũng như việc thực hiện công cuộc CNH, HĐH đất nước đã trở thành một quy luật tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, bất chấp chế độ chính trị khác nhau
Sự vững mạnh, phát triển hưng thịnh của mỗi quốc nước hoàn toàn phụ thuộc vào việc
có thực hiện thành công công cuộc CNH hay không Thực tiễn của các nước trên giới
đã minh chứng điều đó và cũng chưa có quốc gia nào phát triển hùng mạnh mà không phải thực hiện CNH
1.3 MỘT SỐ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆPVÀ
MÔ HÌNH, KINH NGHIỆM VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1 Mô hình tăng trưởng và phát triển công nghiệp
1.3.1.1 Mô hình cơ cấu chiến lược
Loại 1: Chiến lược phát triển những ngành công nghiệp then chốt cơ bản
Gồm 2 nhóm ngành:
- Những ngành then chốt cổ điển như: Chế tạo máy, cơ khí; luyện kim, hóa chất
cơ bản; năng lượng
- Sau đó phải cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa, xây dựng những ngành: Điện tử, tin học; công nghệ sinh học; vật liệu xây dựng mới; năng lượng mới: nguyên tử, địa nhiệt mặt trời; tự động hóa: ropot
Trang 1514
-Loại 2: Chiến lược phát triển cân đối, tổng thể hầu hết các ngành cần thiết Loại 3: Chiến lược tập trung phát triển những ngành mang lại hiệu quả lớn nhất, nhanh nhất
Trên thực tế, hầu như không có một quốc gia nào thuần túy áp dụng một mô hình nào mà là có sự kết hợp Æ loại 4
Loại 4: Kết hợp giữa loại 1 và loại 3, có nghĩa là vừa xây dựng những ngành cơ bản vừa tập trung vào một số ngành có hiệu quả nhất
1.3.1.2 Các mô hình tăng trưởng công nghiệp
Mô hình 1: Mô hình tập trung sức lực của quốc gia cho các ngành công nghiệp
riêng biệt trong từng giai đoạn nhất định
Loại 1: Các ngành công nghiệp giai đoạn đầu
Là những ngành cung cấp hàng hóa thiết yếu cho nhân dân và sản xuất bằng quy trình công nghệ đơn giản
Loại 2: Các ngành công nghiệp giai đoạn sau
Là những ngành cung cấp hàng tiêu dùng lâu bền (ô tô, tủ lạnh), hàng tư liệu sản xuất (thép, máy móc, thiết bị… )
Loại: Các ngành công nghiệp giai đoạn giữa
Là những ngành nằm giữa hai loại ngành trên là ngành sản xuất ra sản phẩm trung gian như: gỗ, da, cao su, v.v
Theo thống kê, phần tỷ lệ các ngành công nghiệp giain đoạn đầu trong GNP tăng lên ở những nước có thu nhập tính theo đầu người thấp nhưng khi thu nhập tính theo đầu người rất thấp thì tỷ lệ này không tăng lên nữa mà dừng lại rồi giảm xuống Phần tỷ lệ của các ngành công nghiệp giai đoạn sau trong GNP tiếp tục tăng khi thu nhập tính theo đầu người ở mức cao
Mô hình này có nhược điểm là việc phân loại chỉ có tính tương đối, khó xác định một sản phẩm thuộc nhóm ngành nào
Ngoài ra, tỷ lệ các ngành công nghiệp riêng biệt trong GNP của một nước được xác định bởi tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, kinh nghiệm buôn bán ngoại thương
và nhiều yếu tố khác nữa
Mô hình 2: Sự phát triển cân đối và không cân đối
HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document15 of 66
luan van, khoa luan 15 of 66
Trang 16- Các nhà kinh tế như Rognar Nurkse và Paul Rosensten ủng hộ mô hình phát triển cân đối cho rằng các nước cần phải phát triển nhiều ngành công nghiệp đồng thời nếu như muốn đạt được sự tăng trưởng kinh tế
- Các nhà kinh tế như Albert Hirschman ủng hộ sự phát triển không cân đối cho rằng các quốc gia có thể và cần thiết tập trung sức lực của mình vào một số ít ngành, các khu vui chơi trong giai đoạn đầu của sự phát triển
Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung vào một số ít ngành trong một thời gian dài thì có thể không đủ để phát triển
Mô hình 3: Sự kết hợp phía trước và phía sau
Các ngành công nghiệp có sự kết hợp phía sau là những ngành công nghiệp sử dụng đầu vào từ các ngành công nghiệp khác
Các ngành công nghiệp có sự kết hợp phía trước là các ngành công nghiệp mà các sản phẩm của nó sau đó được trở thành đầu vào của các ngành công nghiệp khác
Cả hai sự kết hợp phía trước và phía sau sẽ dẫn đến nhu cầu xây dựng những ngành công nghiệp mới và các ngành này lại tạo ra các nhu cầu mới nữa và cứ thế tiếp tục
Không có mô hình chung về CNH cho tất cả các quốc gia, tuy nhiên các phân tích định hướng cho thấy rằng có một số các mô hình tương đối giống nhau giữa các nhóm lớn các quốc gia
1.3.2 Mô hình về công nghiệp hóa
Ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, quá trình CNH có những nét đặc trưng khác nhau, từ đó hình thành các mô hình CNH trên thế giới
1.3.2.1 Mô hình công nghiệp hóa ở các nước Tây Âu
Đây là mô hình CNH đầu tiên trong lịch sử, được gọi là mô hình CNH cổ điển,
nó diễn ra vào giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, đầu tiên ở nước Anh rồi được
mở rộng sang nước Pháp và lan tỏa, phát triển sang các nước Đức, Nga và Mĩ Nhờ tiến hành CNH, các nước này đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế, chuyển từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp
Mô hình CNH cổ điển có những đặc trưng cơ bản sau:
Trang 1716
Tiền đề cho sự xuất hiện và phát triển là cuộc cách mạng trong nông nghiệp Những thay đổi trong kỹ thuật và tổ chức trong sản xuất nông nghiệp đã tạo ra năng suất lao động cao và tăng nhanh sản lượng nông nghiệp Nhờ đó đã làm cho cung về nông sản và cầu về tư liệu sản xuất trong nông nghiệp tăng lên, cho phép giải phóng một bộ phận lao động trong nông nghiệp sang làm việc trong công nghiệp và các ngành phi nông nghiệp khác, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế hàng hóa và thị trường phát triển
- Quá trình CNH diễn ra một cách tuần tự theo tiến trình: công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, giao thông vận tải, nông nghiệp, dịch vụ và lưu thông
- Quá trình CNH diễn ra từ từ, chậm chạp với khoảng thời gian hàng trăm năm,
diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên, theo các bước đi có tính tuần tự
1.3.2.2 Mô hình công nghiệp hóa ở Liên Xô (trước đây)
Mô hình CNH ở Liên Xô (trước đây) diễn ra trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt Là nước XHCN đầu tiên trên thế giới, Liên Xô tiến hành CNH trong vòng vây của CNTB, trong điều kiện CNTB đã có nền công nghiệp hùng mạnh và luôn muốn tiêu diệt CNXH bằng quân sự Do đó, CNH ở Liên Xô thời bấy giờ gặp rất nhiều khó khăn trong việc khai thác thành tựu của các nước đi trước và tranh thủ công nghệ của nước ngoài Đặc điểm khác biệt của CNH ở Liên Xô là: tiến hành trên một đất nước có diện tích rộng, tài nguyên phong phú, dân số khá lớn, KHCN đã đạt trình độ tương đối khá nên nhờ vậy mà Liên Xô đã thực hiện CNH thành công trong điều kiện bị CNTB bao vây và âm mưu tiêu diệt
CNH ở Liên Xô (trước đây) có những đặc trưng cơ bản sau:
- CNH trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ, không lấy hiệu quả kinh tế -
xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư
tai lieu, document17 of 66
luan van, khoa luan 17 of 66
Trang 18CNH ở Liên Xơ trước đây khơng chỉ là tất yếu về mặt kinh tế mà cịn tất yếu về quốc phịng Việc ưu tiên phát triển cơng nghiệp nặng ngay từ đầu, một mặt đã nhanh chĩng làm cho Liên Xơ trở thành nước cơng nghiệp hùng mạnh, tự trang bị cho nền kinh tế quốc dân những máy mĩc thiết bị cần thiết và củng cố nhanh chĩng tiềm lực quốc phịng Mặt khác, do phải ưu tiên cho cơng nghiệp nặng trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp nên phải cắt giảm vốn đầu tư cho nơng nghiệp và các ngành kinh tế khác, khiến cho lĩnh vực này chậm phát triển, đời sống nhân dân chậm được cải thiện
1.3.2.3 Mơ hình cơng nghiệp hĩa ở các nước NICs
Các nước và vùng lãnh thổ là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kơng, Singapore được gọi là các nước CNH mới (NICs) thuộc thế hệ thứ nhất ở Đơng Á, đã tạo nên những nền cơng nghiệp tăng trưởng nhanh chưa từng thấy Thời gian cho quá trình CNH ở những quốc gia và vùng lãnh thổ này khoảng 30 năm
Những nước mới CNH châu Á nĩi trên vốn xuất phát từ một nền nơng nghiệp Trong cơ cấu chung của nền kinh tế, ngành nơng nghiệp thường chiếm tới 75% lao động và trên 30% GDP Nhìn một cách tổng quát, quá trình CNH ở các nước NICs trải qua hai giai đoạn:
- Tạo tiền đề cho CNH Ở giai đoạn này các nước NICs tạo ra các đột phá trong nơng nghiệp, trong xây dựng kết cấu hạ tầng và sản xuất các sản phẩm hướng về xuất khẩu
- Giai đoạn CNH Giai đoạn này được thực hiện tăng tốc qua các yếu tố về chuyển dịch cơ cấu kinh tế (giảm nhanh tỷ trọng nơng nghiệp trong GDP), duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế ở mức cao, thực hiện chính sách thuận lợi cho sự phát triển các cơng nghệ hiện đại, đảm bảo cho nền giáo dục - đào tạo phát triển vững vàng, gắn liền CNH với HĐH
Chỉ trong vịng 30 năm các nước NICs đã trở thành những nước phát triển, họ
đã lợi dụng những cơ hội tốt để “đi tắt, đĩn đầu” thơng qua tiếp nhận cơng nghệ, tiến thẳng vào cơng nghệ hiện đại Trong quá trình CNH, các nước NICs đã cĩ những bước
đi thích hợp: lúc đầu là nhập cơng nghệ, thích nghi và cải tiến chúng dựa trên sự vận
Trang 1918 dụng các thành tựu KHCN của thế giới và phát triển KHCN trong nước, tiếp theo là xây dựng năng lực công nghệ quốc gia nhờ phát triển năng lực nội sinh về KHCN để tiến tới sáng tạo công nghệ và xuất khẩu công nghệ
-Nhìn chung, các nước NICs đều thiếu tài nguyên thiên nhiên và đất đai tính theo đầu người rất thấp nên quá trình CNH của các nước này có đặc điểm chung là các chính sách đều nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, hướng về xuất khẩu và đặc biệt là rất coi trọng đầu tư vào nguồn nhân lực nên đã đạt được những thành tựu rất lớn trong giáo dục, có nguồn lao động được đào tạo tương đối tốt, có kỷ luật và có khả năng thích nghi tốt
Lúc đầu, các nước NICs đều thực hiện CNH theo chiến lược “thay thế nhập khẩu”, sau đó từ những năm 60 của thế kỷ XX họ chuyển sang chiến lược “hướng về xuất khẩu” Nhờ đó đã khai thác được tối đa các nguồn lực trong nước và các điều kiện thuận lợi ở bên ngoài của thời đại
1.3.2.4 Mô hình công nghiệp hóa ở các nước ASEAN
Năm 1967 Hiệp hội các nước Đông Nam Á viết tắt là ASEAN được thành lập ban đầu gồm 5 nước: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Sau đó gia nhập thêm các quốc gia: Brunei (1984), Việt Nam (1995), Lào và Myanma (1997), Campuchia (1999) CNH ở các nước ASEAN tiến hành trong điều kiện ít nhiều khác với các nước NICs Các nước này trước kia đều là thuộc địa của các nước tư bản phát triển nên họ muốn xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ sau khi giành độc lập Mặt khác, so với các nước NICs, các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú hơn Ở thời kỳ đầu CNH, các nước này đã đi theo chiến lược “thay thế nhập khẩu” với đặc trưng là sản xuất và trao đổi hàng hóa chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Thực tế cho thấy chiến lược này không phù hợp, kém hiệu quả nên họ đã chuyển sang chiến lược “hướng về xuất khẩu”, thực chất là giải pháp “mở cửa” để cho phép khai thác các lợi thế so sánh trong nước và việc khai thác các điều kiện thuận lợi bên ngoài, nhờ vậy mà chiến lược này đã được thực hiện thắng lợi ở các nước NICs Trong quá trình CNH, các nước ASEAN rất chú ý đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vì đây là nguồn vốn có vai trò rất quan trọng cho sự phát HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document19 of 66
luan van, khoa luan 19 of 66
Trang 20triển kinh tế, đi cùng với FDI là kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và khả năng
mở rộng thị trường, v.v Tuy nhiên, vấn đề là phải biết sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, khắc phục tính lệ thuộc, chủ động trong việc lựa chọn công nghệ thích hợp và ngăn chặn những tác động tiêu cực Bên cạnh đó, các nước này cũng rất chú ý đến công nghiệp hướng về xuất khẩu, đặc biệt rất chú ý phát triển loại xí nghiệp qui mô vừa
và nhỏ, và đó là xu hướng đã được nhiều nước ứng dụng vì nó có nhiều ưu điểm như lượng vốn đầu tư ít, thu hồi vốn nhanh, ứng dụng tiến bộ KHCN mới nhanh, thích ứng linh hoạt với biến động của thị trường, quan hệ chủ và thợ thân thiện hơn, v.v Còn một đặc điểm nổi bật nữa trong quá trình CNH ở các nước ASEAN là họ quan tâm đặc biệt tới giáo dục văn hóa, truyền thống và giáo dục hướng nghiệp cho người lao động Ngoài ra, họ còn có chính sách khuyến khích, kêu gọi các nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật, v.v đang ở nước ngoài về nước làm việc với chế độ đãi ngộ cao Họ cũng có chính sách “nhập khẩu” các chuyên gia, kỹ sư giỏi của nước ngoài để sử dụng chất xám của họ Hơn nữa, họ cũng rất chú ý đến vai trò điều tiết của Nhà nước Sự điều tiết của Nhà nước nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện công bằng xã hội và công bằng giữa các dân tộc; quản lý vốn đầu tư, can thiệp vào ngoại thương và bảo hộ ngành công nghiệp chế tạo nội địa; can thiệp vào thị trường lao động, thị trường vốn, quy định giá
cả một số mặt hàng thiết yếu để chống độc quyền, v.v
1.3.3 Một số kinh nghiệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước
Trong quá trình CNH, HĐH của nước ta, việc nghiên cứu kinh nghiệm của các ước khác là rất quan trọng (cả kinh nghiệm thành công và không thành công), rất cần thiết cho con đường CNH “rút ngắn”
1.3.3.1 Chuyển giao công nghệ
Thực chất của chuyển giao công nghệ là đưa công nghệ bao gồm cả phần cứng (máy móc, thiết bị) và phần mềm (quy trình, phương pháp công nghệ…) từ nước này sang nước khác, làm thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao Thực chất, công nghệ được chuyển giao là một thứ hàng hóa
Kinh nghiệm của các nước thực hiện chuyển giao công nghệ (Nhật Bản, các nước NICs, ASEAN, v.v ) cho thấy các nước tiến hành CNH gắn liền với HĐH qua
Trang 2120 chuyển giao công nghệ, hay CNH “hướng về xuất khẩu” đều đạt được những kết quả nổi bật, vì chuyển giao công nghệ cho phép:
Rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước có nền kinh tế phát triển, do khai thác được lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh về KHCN hiện đại của thế giới
- Tạo điều kiện để khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực ở trong nước nhằm tăng trưởng kinh tế nhanh
- Đối với những nước đang chuyển từ nền CNH “thay thế nhập khẩu” sang CHN “hướng về xuất khẩu” thì nó thúc đẩy sự chuyển dịch này có hiệu quả, tạo thế và lực cho cạnh tranh và hòa nhập thị trường thế giới
Các nước thực hiện chuyển giao công nghệ thường qua các giai đoạn, các bước
đi thích hợp: giai đoạn đầu là nhập công nghệ và thích nghi với nó, là “sự bắt chước, làm theo”; áp dụng công nghệ một cách khôn ngoan, tài tình theo cách riêng của mình, kết hợp hài hòa công nghệ nhập với văn hóa của mình; xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, tiến tơi sáng tạo công nghệ và xuất khẩu công nghệ
Phương thức chung của các nước chuyển giao công nghệ là lựa chọn công nghệ thích hợp, tiến thẳng vào công nghệ hiện đại, công nghệ cao Công nghệ cao, một mặt
có tác dụng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới có giá trị gia tăng cao, tạo khả năng giao lưu và cạnh tranh quốc tế; mặt khác, có ý nghĩa quyết định đối với việc đổi mới công nghệ trong toàn bộ nền kinh
tế, trang bị kỹ thuật cho các ngành sản xuất, dịch vụ, an ninh quốc phòng, có tác dụng trong điều tra tài nguyên, khôi phục môi trường bị ô nhiễm Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhận chuyển giao công nghệ cần tỉnh táo để tránh nhập công nghệ lỗi thời do các nước thải ra, tránh không trở thành “bãi thải công nghiệp”
1.3.3.2 Chiến lược hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu
Khi tiến hành CNH, một số nước (như các nước NICs, ASEAN) lúc đầu thực hiện chiến lược “thay thế nhập khẩu” sau đó đã linh hoạt chuyển sang “hướng về xuất khẩu”
Thực tế của thế giới mấy chục năm qua cho thấy, hầu hết các nước thực hiện HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document21 of 66
luan van, khoa luan 21 of 66
Trang 22CNH “hướng về xuất khẩu” đều đạt kết quả nổi bật so với áp dụng các chiến lược CNH khác
Chiến lược “thay thế nhập khẩu” được áp dụng phổ biến vào thập kỷ 50, 60 của thế kỷ XX Đặc trưng cơ bản của chiến lược này là sản xuất và trao đổi hàng hóa chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Chiến lược này ra đời trong điều kiện:
- Các nước đang phát triển phần lớn còn ở thời kỳ kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa giản đơn, trình độ sản xuất còn thấp kém, thị trường nhỏ hẹp, quan hệ hàng hóa - tiền tệ chưa phát triển
- Các nước tư bản phát triển chưa đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Lúc đầu chiến lược “thay thế nhập khẩu” được áp dụng ở các nước Mĩ- Latinh, sau đó lan sang các châu lục khác và được các nước đang phát triển mới giành được độc lập coi là chiến lược phù hợp với tư tưởng tự lực cánh sinh, chống chủ nghĩa đế quốc, tư tưởng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Chiến lược này có nhiều hạn chế: do “đóng cửa” nên không khai thác được vốn,
kỹ thuật từ bên ngoài trong khi nguồn thu ngân sách thấp, đầu tư chiều sâu cho công nghiệp rất khó khăn; do chủ trương cân bằng xuất nhập khẩu chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa, không thấy và không phát huy được vai trò của ngoại thương, v.v chiến lược này còn gây ra sử dụng lãng phí tài nguyên do công nghệ lạc hậu, quản lý yếu kém, chi phí sản xuất cao, năng suất thấp, v.v
Vào cuối thâp kỷ 60, chiến lược “thay thế nhập khẩu” về cơ bản đã bị phá sản
do không còn phù hợp với điều kiện diễn ra xu hướng quốc tế hóa và khu vực hóa kinh
tế, trong sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng KHCN hiện đại đòi hỏi phá vỡ quan hệ
“đóng cửa” giữa các quốc gia
Chiến lược “hướng về xuất khẩu” được áp dụng rộng rãi trong các nước đang phát triển từ thập kỷ 70 trở lại đây Thực chất của chiến lược này là giải pháp “mở cửa”
ở các nước đang phát triển nhằm tranh thủ các yếu tố thuận lợi bên ngoài (vốn, công nghệ…) và khai thác các lợi thế trong nước, để tiến hành CNH theo con đường
Trang 2322 rút ngắn
Các nước NICs Đông Á và các nước ASEAN đã nhanh chóng trở thành các
“con rồng”, “con hổ” chính là nhờ sự thực hiện thành công chiến lược “hướng về xuất khẩu” Tuy nhiên, quá trình thực hiện chiến lược này không phải ở các nước đều như nhau mà thường được vận dụng phù hợp với những nét đặc thù của mỗi nước Có nước thực hiện chiến lược “hướng về xuất khẩu” gắn bó hoàn toàn với thị trường bên ngoài,
có nước kết hợp giữa hướng vào xuất khẩu với việc củng cố thị trường nội địa… Thực
tế cho thấy, nếu nền kinh tế “mở cửa” nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường quốc
tế sẽ dẫn đến mất ổn định kinh tế trong nước Trong điều kiện thế giới diễn ra cạnh tranh gay gắt, chính sách “mở cửa” phù hợp là mở cửa cả hai hướng: thị trường thế giới và thị trường nội địa
1.3.3.3 Vấn đề thu hút vốn đầu tư
Thu hút vốn đầu tư cho CNH, HĐH là điều kiện vô cùng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình này đối với mọi quốc gia Nguồn vốn đầu tư cho CNH, HĐH gồm có: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn từ nước ngoài Trong đó, nguồn vốn trong nước có tính quyết định vì đây là nguồn vốn nội sinh, nội động lực của nền kinh tế nên các quốc gia đều có chính sách và biện pháp thích hợp để huy động nguồn vốn này Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, nó bao gồm vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp (vay, viện trợ); trong đó, FDI là rất quan trọng, vì thực tế đi cùng với FDI là kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý và khả năng mở rộng không gian thị trường, v.v Những yếu tố này là lực lượng đột phá những bế tắc, cản trở để mở ra hướng đi lên của nền kinh tế chậm phát triển, góp phần khởi động cho quá trình CNH, HĐH Các nước NICs và ASEAN rất thành công trong việc thu hút FDI, và đó là một yếu tố rất quan trọng cho
sự thành công của quá trình CNH, HĐH của họ Cá biệt có nước như Singapore thì tư bản nước ngoài là nguồn gốc chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, là đòn bẩy cho sự cất cánh kinh tế và thực hiện CNH
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy: để thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài cần phải tạo môi trường đầu tư có lợi - là môi trường đầu tư có nhiều yếu tố đảm HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document23 of 66
luan van, khoa luan 23 of 66
Trang 24bảo cho nhà đầu tư thực hiện được mục đích của mình Môi trường đầu tư có lợi nói chung bao gồm các yếu tố:
- Bảo đảm có lợi nhuận cao Đây là nhu cầu cơ bản nhất, là mục đích chủ yếu của người đầu tư Vấn đề này liên quan trực tiếp đến luật đầu tư có đủ sức hấp dẫn đến mức độ nào, đến triển vọng của nền kinh tế, đến dung lượng thị trường, đến giá cả lao động cao hay thấp, v.v
- Đảm bảo an toàn đầu tư Đó chính là sự ổn định chính trị và kinh tế, không có
sự biến động lớn về chính trị, kinh tế phát triển ổn định
- Các điều kiện cần thiết cho đầu tư thuận lợi như kết cấu hạ tầng tương đối phát triển, pháp chế được kiện toàn, có lượng vốn trong nước ở một trình độ nhất định, có năng lực nội tại đủ để tiếp nhận các công nghệ phù hợp của các dự án FDI
1.3.3.4 Vấn đề môi trường sinh thái
Quá trình CNH, HĐH và đi kèm theo nó là đô thị hóa Một mặt thúc đẩy tăng trưởng cao về kinh tế; mặt khác, thường gây ra sự phá hủy và ô nhiễm môi trường sinh thái Hầu hết các quốc gia tiến hành CNH đều đã rút ra được các bài học và phải trả giá cho vấn đề này Ngày nay, vấn đề phát triển bền vững đang là mục tiêu chung của loài người, hầu như mọi quốc gia không chỉ nghĩ tới tăng trưởng kinh tế thuần tuý như trước đây nữa
Phát triển bền vững được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết Trong nhiều mục tiêu của sự phát triển bền vững, nổi lên hai mục tiêu cơ bản: tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái
Quá trình CNH của nhiều nước đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái:
- Chống ô nhiễm ngay tại nguồn phát sinh ra ô nhiễm: quản lý có hiệu quả việc đốt cháy nhiên liệu, áp dụng công nghệ loại bỏ chất bẩn
- Việc bảo vệ môi trường được xem xét ngay từ khi lập luận chứng kinh tế kỹ thuật cho các dự án, nếu không đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường sẽ bị đình chỉ xây dựng
Trang 2524
Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc phòng chống ô nhiễm như ban hành luật; tiến hành việc đo đạc về môi trường, đo đạc nguồn gây ô nhiễm, lập chương trình điều chỉnh, bổ khuyết, xử phạt, quy định nội dung và hướng dẫn kỹ thuật, v.v
- Các nước nhập chuyển giao công nghệ thường xuyên chú ý hạn chế công nghệ tốn nhiều nguyên liệu và gây ô nhiễm nhiều
1.3.3.5 Vấn đề văn hóa và truyền thống
Mọi quốc gia trong quá trình CNH, HĐH thực hiện chuyển giao công nghệ, xây dựng nền kinh tế mở đều đặt ra vấn đề: văn hóa và truyền thống
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng KHCN hiện đại, quốc tế hóa và giao lưu quốc tế ngày càng rộng rãi, thì việc mở rộng quan hệ với bên ngoài là tất yếu Không một dân tộc nào trong thời đại ngày nay có thể sống biệt lập với thế giới
Trong quá trình HĐH đất nước phù hợp với xu hướng quốc tế hóa kinh tế, khuynh hướng tìm về truyền thống dân tộc, khẳng định bản sắc dân tộc đã trở thành một khuynh hướng quốc tế rộng rãi, được coi như một yêu cầu tiên quyết cho mọi quốc gia để có thể đứng vững trong cộng đồng quốc tế ngày nay
Kinh nghiệm phổ biến ở các nước cho thấy: ở những nơi nào người ta không cắt đứt với truyền thống văn hóa dân tộc, ngược lại biết giữ gìn những truyền thống văn hóa tốt đẹp từ văn học, nghệ thuật đến các tập tục, lễ nghi, các quy ước trong đời sống hàng ngày, v.v thì ở nơi đó giữ được ổn định chính trị, xã hội, gia đình, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của con người, và đó lại là một yếu tố rất quan trọng để HĐH đất nước
Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cũng cho thấy rằng, những thành tựu của KHCN và quá trình CNH thắng lợi không phải là yếu tố duy nhất đưa tới một xã hội tốt đẹp, cân bằng và cuối cùng cũng không thể đảm bảo cho sự phát triển tối ưu của sản xuất Ngược lại, nếu biết kết hợp các thành tựu của KHCN hiện đại với những truyền thống văn hóa, tinh thần đạo đức… của dân tộc, thì sự tiến bộ kinh tế - xã hội nhanh chóng và vững vàng hơn nhiều
HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document25 of 66
luan van, khoa luan 25 of 66
Trang 26Việc nghiên cứu các mô hình về CNH và kinh nghiệm của các nước trong quá trình CNH rất cần thiết cho các nước đang thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH như ở Việt Nam Mỗi mô hình và kinh nghiệm cụ thể đều xuất phát từ điều kiện cụ thể của mỗi nước trong bối cảnh quốc tế mà nước đó tiến hành CNH nên không thể sao chép mô hình hoặc kinh nghiệm của nước khác vào điều kiện cụ thể của quốc gia mình, song việc nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm cả thành công và không thành công của các nước đi trước trong quá trình CNH là rất bổ ích đối với các nước đi sau
1.4 SỰ VẬN DỤNG NỘI DUNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀO VIỆT NAM
1.4.1 Mục tiêu, quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
1.4.1.1 Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Mục tiêu cơ bản của CNH, HĐH là cải biến ta thành một nước công nghiệp có
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ phải đạt được những mục tiêu cụ thể Đại hội X xác định mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
1.4.1.2 Quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc tế, Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước trong điều kiện mới Những quan điểm này được Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa VII nêu ra và được phát triển, bổ sung qua các Đại hội VIII, IX, X của Đảng Dưới đây khái quát lại những quan điểm cơ bản của Đảng về CNH, HĐH thời kỳ đổi mới:
Một là, CNH gắn với HĐH và CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức Hai là, CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và
Trang 27hội nhập kinh tế quốc tế
Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững
Bốn là, KH & CN là nền tảng và động lực của CNH, HĐH
Năm là, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học
1.4.2 Nội dung và định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
1.4.2.1 Nội dung
Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Chúng ta tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH” [6, 28-29]
Nội dung cơ bản của quá trình này là:
- Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại
- Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, từng dự án kinh tế - xã hội
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ
- Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là các ngành, lĩnh vực có sức cạnh tranh cao
1.4.2.2 Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
- Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
26 tai lieu, document27 of 66
-luan van, khoa -luan 27 of 66
Trang 28- Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Tính quy luật của CNH, HĐH là tỷ trọng của nông nghiệp giảm còn công nghiệp và dịch vụ thì tăng lên Vì vậy, nước ta chủ trương phát triển nhanh hơn công nghiệp và dịch vụ
+ Đối với công nghiệp và xây dựng: khuyến khích phát triển công nghiệp công
nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả của các KCN, KCX Khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn nước ngoài và các công ty lớn xuyên quốc gia Tích cực thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện các dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô Thu hút chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế-xã hội nhất là các sân bay quốc tế, cảng biển, đường cao tốc, đường ven biển, đường đông tây, mạng lưới cung cấp điện, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở các đô thị lớn,
hệ thống thủy lợi, cấp thoát nước Phát triển công nghiệp năng lượng gắn với công nghệ tiết kiệm năng lượng Tăng nhanh năng lực và hiện đại hóa bưu chính-viễn thông
+ Đối với dịch vụ: tập trung đầu tư vào những ngành có chất lượng cao, có sức
cạnh tranh, đưa tốc độ phát triển dịch vụ nhanh hơn tốc độ tăng GDP; đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công
- Phát triển kinh tế vùng: Cần xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để các vùng
kinh tế phát triển dựa trên ưu thế của từng vùng; xây dựng hiệu quả ba vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam; có chính sách trợ giúp phát triển các vùng kinh tế khó khăn
- Phát triển kinh tế biển:
Trang 2928 + Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển hiệu quả, toàn diện,
-có trọng tâm Sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế
+ Hoàn chỉnh quy hoạch và phát triển có hiệu quả hệ thống cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch biển, đảo Đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp đóng tàu biển, đồng thời hình thành một số hành lang kinh tế ven biển
- Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ:
+ Phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo đến năm 2010 có nguồn nhân lực với cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao, tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp còn dưới 50% lực lượng lao động xã hội
+ Phát triển KH & CN phù hợp với xu thế phát triển nhảy vọt của cánh mạng
KH & CN Lựa chọn và đi ngay vào công nghệ hiện đại ở một số ngành, lĩnh vực then chốt Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu KH &
CN, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong từng ngành, lĩnh vực của nền kinh tế
+ Kết hợp chặt chẽ hoạt động KH & CN với giáo dục và đào tạo để thực hiện sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức
+ Đối mới cơ chế quản lý KH & CN, đặc biệt là cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động KH & CN
- Bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên
HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document29 of 66
luan van, khoa luan 29 of 66
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Lôgíc và lịch sử đều khẳng định rằng từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hiện đại, CNH là bước đi tất yếu mà các nước sớm muộn đều phải trải qua Trong thời đại ngày nay, các nước đi sau làm CNH không thể không gắn liền với HĐH, không chỉ đơn thuần diễn ra trong ngành công nghiệp theo quan niệm cũ, mà diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nhằm nâng cao năng suất lao động
xã hội
Nội dung của chương 1 đã hệ thống lại toàn bộ những lý luận chung về CNH, HĐH nói chung và ngành công nghiệp nói riêng để từ đó vận dụng vào Việt Nam, bao gồm các vấn đề chính sau đây:
- Các quan niệm về CNH và tính tất yếu khách quan của CNH, HĐH
- Một số mô hình và kinh nghiệm về CNH, HĐH trên thế giới
- Những lý luận cơ bản về công nghiệp và ngành công nghiệp
- Sự vận dụng nội dung CNH, HĐH vào Việt Nam
Những kiến thức cơ bản về lý luận CNH, HĐH trên đây sẽ giúp cho việc nghiên cứu ngành công nghiệp của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thuận tiện hơn và được định hướng phát triển theo hướng hiện đại nhằm góp phần nâng cao vị thế của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xứng đáng là một tỉnh đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 3130 CHƯƠNG 2
-THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN ĐẠI HÓA NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập tháng 11 năm 1991 trên cơ sở sáp nhập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo với 3 huyện tách ra từ tỉnh Đồng Nai là huyện Châu Thành, huyện Long Đất và huyện Xuyên Mộc Trừ Côn Đảo ngoài khơi biển Đông cách thành phố Vũng Tàu 200 km về phía Tây Nam và cách mũi Cà Mau khoảng 200
km về phía Đông, phần trên đất liền của tỉnh phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp huyện Cần Giờ của Tp Hồ Chí Minh, phía Nam
và Đông Nam giáp biển Đông So với các tỉnh khác trong cả nước, Bà Rịa-Vũng Tàu
có diện tích và số dân không lớn (1.988,65 km2; dân số trên 994 nghìn người năm 2008 chiếm khoảng 0,6% diện tích và hơn 1% dân số cả nước) Về mặt hành chính, tỉnh hiện
có 7 huyện thị (trong đó có 1 huyện đảo) và một thành phố Vũng Tàu [5]
Là cửa ngõ của VKTTĐPN, Bà Rịa-Vũng Tàu có vai trò là trung tâm trung chuyển hàng hóa giữa vùng Đông Nam Bộ, VKTTĐPN với bên ngoài Nằm trong VKTTĐPN, một vùng kinh tế rất năng động với tốc độ phát triển kinh tế và mức đóng góp GDP lớn nhất cả nước, nên có nhiều thuận lợi trong liên kết trao đổi, giao lưu văn hóa, công nghệ, lao động kỹ thuật, v.v Mặt khác, tỉnh lại gần đồng bằng sông Cửu Long, một vùng kinh tế quan trọng, vựa lúa của cả nước nên thuận lợi trong việc tiếp nhận các nguồn lương thực, thực phẩm, hoa quả, v.v phong phú nhất Việt Nam
Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, sân bay
và mạng lưới đường sông thuận lợi Các đường quốc lộ 51, 55, 56 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu chính gắn kết quan hệ toàn diện của Bà HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document31 of 66
luan van, khoa luan 31 of 66
Trang 32Rịa-Vũng Tàu với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế trên, Bà Rịa-Vũng Tàu đang và sẽ gặp phải sự cạnh tranh rất quyết liệt giữa các nước trong khu vực, giữa các tỉnh trong VKTTĐPN khi thu hút kêu gọi đầu tư, tuyển dụng lao động, cung cấp dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm cho các khu và cụm công nghiệp; mặt khác, vị trí các KCN hầu hết nằm ven sông, sình lầy nhiều, chi phí san lấp và đầu tư các hạng mục hạ tầng kỹ thuật cao, làm tăng giá cho thuê đất, hạn chế sự cạnh tranh với các địa phương khác
Tỉnh có 3 hệ thống sông chính là: sông Thị Vải dài 32 km (phần chảy qua tỉnh dài 25 km) rộng trung bình 600 - 800 m, sâu từ 10 - 40 m với hướng chảy của sông gần như song song với quốc lộ 51 nên rất thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống cảng nước sâu đón tàu từ 30 - 80 nghìn tấn; Hệ thống sông Dinh dài 35 km thích hợp cho phát triển các cảng thương mại, cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng dầu khí và các công trình dịch vụ hàng hải cho tàu từ 3 - 10 nghìn tấn, riêng xã đảo Long Sơn có thể phát triển cảng chuyên dùng đón tàu có trọng tải 30 nghìn tấn Đặc biệt, ở hạ nguồn sông Dinh tiếp giáp với biển có khu cảng Sao Mai Bến Đình là cảng quốc tế container đã được Nhà nước cấp giấy phép đầu tư; Hệ thống sông Ray dài 120 km (phần qua tỉnh dài 40 km) đã và đang xây dựng nhiều hồ và đập dâng, đáng kể nhất là hồ Sông Ray với dung tích 100 - 140 triệu m3 nước là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và công nghiệp quan trọng của tỉnh trong tương lai với công suất thiết kế từ 400.000 - 450.000 m3/ngày đêm [1, 16]
Hơn nữa, Bà Rịa-Vũng Tàu sẽ còn là cửa ngõ ra biển Đông của xa lộ Đông - Tây thuộc hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông ở phía Nam, vì Bà Rịa-Vũng Tàu là nơi Việt Nam gần nhất với tuyến hàng hải quốc tế Từ Côn Đảo tới ngã tư của đường hàng hải quốc tế chỉ có 60 km và Côn Đảo có vịnh Bến Đầm, có điều kiện thiên nhiên tương đương với vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa), rất thuận lợi cho việc xây dựng cảng trung chuyển hàng hóa giao lưu với các nước, tương tự như Singapore hiện nay
Về tài nguyên khoáng sản, Bà Rịa-Vũng Tàu có nhiều loại, trong đó đáng kể nhất là dầu mỏ, khí thiên nhiên và khoáng sản làm vật liệu xây dựng
+ Vùng biển của tỉnh có trữ lượng dầu mỏ và khí thiên nhiên lớn nhất Việt Nam
Trang 3332 với khoảng 400 triệu m3 dầu (chiếm khoảng 90% trữ lượng dầu cả nước) và trên 100 tỷ
-m3 khí (chiếm khoảng 16% trữ lượng khí đốt cả nước), là lợi thế to lớn cho phát triển công nghiệp khai thác dầu khí, dịch vụ dầu khí và các ngành công nghiệp có sử dụng dầu khí làm nguyên liệu, nhiên liệu (điện, đạm, khí hóa lỏng, luyện cán thép, v.v.), quyết định đến sự phát triển của tỉnh
+ Các loại tài nguyên khoáng sản khác như đá xây dựng, cát thủy tinh, đá ốp lát, v.v được phân bố ở nhiều nơi, cho phép hình thành ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng rộng khắp trong tỉnh, và tuy có trữ lượng không lớn lắm nhưng đã được thăm dò và nhiều loại đang khai thác cũng là một lợi thế so sánh của tỉnh Tuy nhiên, cần phải thấy rằng tài nguyên khoáng sản không phải là vô hạn, vì vậy khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
Bờ biển của Bà Rịa-Vũng Tàu dài 305,4 km với khoảng 156 km có bãi cát thoai thoải, nước xanh có thể sử dụng làm bãi tắm quanh năm, có Vịnh Giàng Rái rộng 50
km2 có thể xây dựng một hệ thống cảng hàng hải Với trên 100.000 km2 thềm lục địa đã tạo cho Bà Rịa-Vũng Tàu không chỉ có một vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng mà còn tạo cho tỉnh có một tiềm năng to lớn để phát triển các ngành kinh tế biển Có thể thấy rằng, tài nguyên biển rất thuận lợi cho tỉnh phát triển vận tải biển, hệ thống cảng,
du lịch và công nghiệp khai thác, chế biến hải sản Tuy nhiên, công nghiệp khai thác hải sản của tỉnh chỉ thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn khi ngành đánh bắt
có những đội tàu lớn vươn ra khai thác tại các ngư trường quốc tế
Về tài nguyên rừng, Bà Rịa-Vũng Tàu có diện tích rừng không lớn (chiếm 18,6% diện tích tự nhiên) Rừng của tỉnh chỉ có tầm quan trọng trong tạo cảnh quan, môi trường, phòng hộ và phát triển du lịch, còn mục đích khai thác rừng lấy gỗ và nguyên liệu là không lớn Trong những năm tới chỉ có thể sử dụng một số loại cây rừng làm hàng thủ công mỹ nghệ và có thể khai thác một số khu rừng trồng đến kỳ thu hoạch làm nguyên liệu giấy và chế biến đồ mộc dân dụng
Tóm lại, với những lợi thế quan trọng về điều kiện tự nhiên và địa lý như trên,
Bà Rịa-Vũng Tàu là tỉnh có nhiều tiềm năng to lớn để phát triển phát triển mạnh kinh
tế biển, đặc biệt là các ngành công nghiệp dầu khí, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document33 of 66
luan van, khoa luan 33 of 66
Trang 34điện, phân bón, luyện kim, vật liệu xây dựng, dịch vụ cảng biển, du lịch, khai thác chế
biến hải sản, v.v không chỉ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh mà còn
đáp ứng nhu cầu về năng lượng, nguyên liệu cho các địa phương khác và cho cả nước
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa chung của đất nước Dưới đây là Bản đồ
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu:
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Giá trị tổng sản lượng GDP trên địa bàn tỉnh năm 2008 tính theo giá hiện hành đạt 36.567 tỷ đồng, nếu tính cả dầu thô và khí đốt thì GDP đạt khoảng 50.074 tỷ đồng,
chỉ đứng thứ 2 sau Tp.HCM trong VKTTĐPN và ở vị trí thứ 3 sau Tp HCM và Hà Nội
Trang 3534 trên phạm vi cả nước Trong cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh, các ngành đóng góp vào GDP nhiều nhất tập trung ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, phù hợp với xu thế phát triển của những tỉnh thành hiện đại trong khu vực và trên thế giới
-Đến năm 2008, dân số tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu khoảng 994.189 người, trong đó dân cư nông thôn chiếm 51,06% và dân cư thành thị chiếm 48,94% Mật độ dân số trung bình 500 người/km2, phân bố tương đối đều, nhưng tập trung đông nhất là ở thành phố Vũng Tàu (1.913 người/km2) và thấp nhất là ở Côn Đảo (80 người/km2) Dân số của tỉnh khá trẻ, nhóm 12 - 14 tuổi chiếm 12%, nhóm 15 - 39 tuổi chiếm khoảng 49,8%, nhóm 40 - 59 tuổi chiếm 21% Lực lượng lao động trong độ tuổi là 636.363 người (chiếm khoảng 64% dân số), trong đó đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 451.818 người (chiếm 71% tổng số người trong độ tuổi lao động), mỗi năm có trên 15.000 người bước vào độ tuổi lao động Cơ cấu lao động: lao động hoạt động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản là 159,2 nghìn người (chiếm 35,24%), lao động công nghiệp - xây dựng 117,4 nghìn người (chiếm 26%), lao động trong khu vực thương mại - dịch vụ 177,2 nghìn người (chiếm 39,23%) với tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng, trong giai đoạn 2000 - 2005 đã tăng từ 22% lên 33%, đến năm
2008 là 45% Đây là một nguồn lực khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trong tương lai Nhưng nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh do công tác đào tạo nghề một thời gian dài chưa có định hướng quy hoạch cụ thể Việc đào tạo còn nặng về chỉ tiêu số lượng, đội ngũ giáo viên còn thiếu và yếu, giáo trình đào tạo chưa theo kịp đà phát triển của khoa học - kỹ thuật nên chất lượng đào tạo chưa cao Do vậy, mặc dù tỉnh có nguồn lao động trẻ dồi dào (nhóm 15 - 39 tuổi chiếm gần 50%) nhưng lại thiếu nguồn nhân lực đủ điều kiện đáp ứng cho các khu công nghiệp, các ngành sản xuất và dịch vụ đang phát triển trong tỉnh, dẫn đến tình trạng tỉnh thừa lao động nhưng vẫn phải nhận lao động nhập cư [5]
Cùng với sự chuyển dịch đúng hướng cơ cấu kinh tế của tỉnh, cơ cấu lao động cũng chuyển dịch tích cực theo hướng CNH, HĐH Trong tương lai, cùng với sự chuyển dịch mạnh sang các ngành công nghiệp phi dầu khí, sẽ xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, nhu cầu lao động có trình
độ ngày càng cao đòi hỏi phải có sự chuẩn bị nhân lực ngay từ giai đoạn hiện tại
HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document35 of 66
luan van, khoa luan 35 of 66
Trang 36Bảng 2.1: Cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
giai đoạn 2004 - 2008 ĐVT: %
Cơ cấu lao động 2004 2005 2006 2007 2008
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Hệ thống trường học, giáo dục mầm non: Tính đến năm học 2008 - 2009, toàn tỉnh có 366 trường, trong đó có 118 trường mầm non, 145 trường tiểu học, 73 trường
trung học cơ sở và 30 trường trung học phổ thông Hầu hết các trường học ở tỉnh được
xây dựng với qui mô đúng quy chuẩn, có đầy đủ các phòng chức năng, hạ tầng kỹ thuật
để tiến tới đạt chuẩn quốc gia Đến năm 2008, toàn tỉnh có 87/366 trường được công
nhận đạt chuẩn Quốc gia Tại mỗi huyện đã xây dựng một trung tâm giáo dục thường
xuyên để phục vụ công tác phổ cập, bồi dưỡng giáo viên
Hệ thống cơ sở hạ tầng y tế, cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường có nhiều chuyển biến: 100% xã phường có trạm y tế; 100% các trạm y tế có bác sĩ, các thôn ấp
đều có cán bộ y tế; 98% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh; 100% cơ sở sản
xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm thiểu ô
nhiễm xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn về môi trường
Trang 37Nước ta đang trong thời kỳ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình CNH, nhiều địa phương
- trong đó có Bà Rịa-Vũng Tàu những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế với sự tăng trưởng cao và liên tục Các chỉ số của tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn tỉnh theo ngành và cơ cấu kinh tế trong 10 năm qua (theo giá hiện hành) như sau:
Bảng 2.2: GDP trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế
giai đoạn 1997 - 2006 ĐVT: Triệu đồng
tai lieu, document37 of 66
luan van, khoa luan 37 of 66
Trang 38Biểu 2.1: GDP trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế
giai đoạn 1997 - 2006
0 20000000 40000000 60000000 80000000 100000000 120000000
T r.đ
Năm
Cong nghiep Nong nghiep Dich vu
Bảng 2.3: Cơ cấu GDP trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành phân theo khu vực
kinh tế giai đoạn 1997 - 2006
Trang 3938
-Biểu đồ 2.2: Cơ cấu GDP trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành phân theo khu vực
kinh tế năm 1997
Cong nghiep 77,13%
Dich vu 17,96%
Nong nghiep 4,91%
- đạm, và thép… Về cơ cấu kinh tế theo ngành cũng đã thể hiện rõ rệt mức độ CNH, trong đó tỷ trọng sản phẩm công nghiệp trong GDP tăng từ 77,13% (năm 1997) lên 91,16% (năm 2006) Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng cao của tất cả các lĩnh vực trong tổng HVTH: Huỳnh Mộng Nghi
tai lieu, document39 of 66
luan van, khoa luan 39 of 66
Trang 40sản phẩm GDP của tỉnh, trong đó cao nhất là lĩnh vực công nghiệp đạt 8,8 lần, dịch vụ tăng 2,9 lần và nông nghiệp tăng 2,9 lần Tuy nhiên, chiếm chủ yếu trong cơ cấu kinh
tế trên địa bàn tỉnh là công nghiệp quốc doanh trung ương, nhất là các ngành dầu và khí - điện - đạm, công nghiệp địa phương còn chiếm tỷ trọng thấp và tăng trưởng chậm, chưa tạo tiền đề để kinh tế phát triển mạnh trong tương lai Nền kinh tế của tỉnh lại phụ thuộc chủ yếu vào dầu khí, nhưng trong điều kiện tài nguyên hạn chế thì ngành dầu khí không thể phát triển với tốc độ cao, nên nếu không có sự chuẩn bị tích cực, tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong tương lai sẽ không thể có tốc độ cao và ổn định như trước
Nhìn chung, Bà Rịa-Vũng Tàu là một trong những địa phương có tỷ trọng công nghiệp cao nhất cả nước, chiếm gần 75% trong cơ cấu kinh tế, so với thành phố Hồ Chí Minh - địa phương có tỷ trọng công nghiệp cao - cũng chưa đến 50%, kể cả trong trường hợp không tính dầu khí thì tỷ trọng này cũng đạt trên 50% Các ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP trên địa bàn tỉnh là dầu khí, điện, hóa chất, chế biến nông lâm sản Tỷ trọng GDP của Bà Rịa-Vũng Tàu trong VKTTĐPN đến năm
2005 chiếm khoảng 21,27%, chỉ đứng thứ 2 sau thành phố Hồ Chí Minh Trên phạm vi
cả nước, Bà Rịa-Vũng Tàu đứng ở vị trí thứ 3, sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội (Xem các bảng 2.4; 2.5; 2.6 - GDP bình quân đầu người, tương quan của địa phương so với vùng kinh tế động lực phía Nam và cả nước theo giá cố định 1994 và giá hiện hành
từ năm 2001 đến 2006 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu dưới đây):
Bảng 2.4: GDP bình quân đầu người theo giá cố định 1994 và giá hiện hành
từ năm 2001 đến 2006 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
ĐVT: Triệu đồng
GDP bình quân đầu người
GDP bình quân đầu người
theo giá hiện hành 55,29 57,71 80,06 101,44 127,54 134,34
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu