1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

26 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 153,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM. PHẦN I: LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Khái niệm Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, khi thực hiện thanh toán giữa các nước với nhau, cần thiết phải sử dụng đồng tiền nước này hay nước khác, nói chung là phải sử dụng đến ngoại tệ cũng như các phương tiện có thể thay cho ngoại tệ.  Tỷ giá hối đoái: là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền với nhau. Hoặc người ta có thể nói tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác. 2. Các loại tỷ giá hối đoái 2. 1 Căn cứ vào đối tượng xác định tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá chính thứcvà tỷ giá thị trường. Tỷ giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng trung ương của nước đó xác định. Trên cơ sở của tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao nghy, có kỳ hạn, hoán đổi. Tỷ giá thị trường là tỷ giá được hình thành trên có sở quan hệ cung cầu trên thị trường hối đoái. 2. 2 Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán, có thể chia làm tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn. Tỷ giá giao ngay (SPOT) là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biểu độ do ngân hàng nhà nước quy định. Việc thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo, sau ngày cam kết mua hoặc bán. Tỷ giá giao dịch kỳ hạn (FORWARDS) là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ qui định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng. 2. 3 Căn cứ vào giá trị của tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá của một loại tiền tệ được biểu hiện theo giá hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát. Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua trong một cặp tiền tệ phản ảnh giá cả hàng hóa tương quan có thể bán ra nước ngoài và hàng tiêu thụ trong nước. Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nước đó. 2. 4 Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và tỷ giá thư hối. Tỷ giá điện hối là tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng. Đó là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác. Tỷ giá thư hối, tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư. Tỷ giá điện hối thường cao hơn tỷ giá thư hối. 2. 5 Căn cứ vào thời điểm muabán ngoại hối Tỷ giá mua là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào. Tỷ giá bán là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra. Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. Thông thường thì ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của các hợp đồng đã ký kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày đó, người ta gọi đó là tỷ giá đóng của. Tỷ giá đóng cửa được coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động của tỷ giá trong ngày hôm đó. Tỷ giá được công bố vào đầu giờ của đầu ngày giao dịch được gọi là tỷ giá mở cửa.Trong nghiệp vụ mua bán ngoại hối của ngân hàng còn chia ra tỷ giá tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản. Tỷ giá chuyển khoản bao giờ cũng cao hơn tỷ giá tiền mặt. Trong khuôn khổ chế độ quản lý ngoại hối ở các nước kém phát triển, ngoài thị trường ngoại hối chính thức c òn tồn tại thị trường ngoại hối tự do, do đó bên cạnh tỷ giá chính thức do nhà nước quy định còn có tỷ giá chợ đen do quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường này quyết định.   3. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá 3.1 Cán cân thanh toán Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh tình hình thu – chi thực tế bằng ngoại tệ của một số nước so với các nước khác trong giao dịch quan hệ quốc tế lẫn nhau. Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia thâm hụt hoặc thặng dư. Nếu cán cân thanh toán thường xuyên thâm hụt ( chi>thu) thì dự trữ ngoại hối của quốc gia có thể giảm, tình hình ngoại tệ căng thẳng, từ đó tạo ra nhu cầu ngoại tệ tăng lên, giá ngoại tệ tăng. Nếu cán cân thanh toán thặng dư ( thu>chi), dự trữ ngoại hối có thể tăng, cung ngoại tệ trên thị trường tăng, giá ngoại tệ có khuynh hướng giảm 3.2 Lạm phát Lạm phát là sự suy giảm sức mua của nội tệ và được đo lường bằng chỉ số giá cả chung ngày càng tăng lên. Để chứng minh mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát, Gustav Cassel (17721823) đã đưa ra lý thuyết ngang giá sức mua Purchasing Power Parity Theo lý thuyết này, giả thiết trong một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo và cước phí vận chuyển, thuế hải quan được giả định bằng không. Do đó, nếu các hàng hóa đều đồng nhất thì người tiêu dùng sẽ mua hàng ở nước nào mà giá thật sự thấp. 3.3 Lãi suất Phần lớn các nhà đầu tư với quy mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các công ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiền khác nhau khi tỷ giá và lãi suất các đồng tiền này có chuyển hướng thay đổi. Vấn đề quan trọng được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu nhập đầu tư từ các đồng tiền khác nhau để có thể chắc chắn rằng họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất. Thông thường, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao, được thực hiện một cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển đồi sang đồng tiền có lãi suất cao, sau đó đầu tư đồng tiền có lãi suất cao bằng nhiều hình thức nhằm hưởng lợi nhuận chênh lệch suất của hai đồng tiền. Điều này sẽ tạo nên sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá. Vì thế các nhà đầu tư ngày càng quan tâm so sánh giữa thu nhập do chênh lệch lãi suất mang lại phải lớn hơn sự gia tăng tỷ giá trong suốt thời gian đầu tư. Đối chiếu, so sánh lãi suất của các đồng tiền khác nhau theo phương cách như trên là kỹ thuật quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trên thị trường.

Trang 1

MỤC LỤ

PHẦN I: LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1

1 Khái niệm 1

2 Các loại tỷ giá hối đoái 1

2 1 Căn cứ vào đối tượng xác định tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá chính thứcvà tỷ giá thị trường 1

2 2 Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán, có thể chia làm tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn 1

2 3 Căn cứ vào giá trị của tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực .1

2 4 Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và tỷ giá thư hối 2

2 5 Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hối 2

3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá 3

3.1 Cán cân thanh toán 3

3.2 Lạm phát 3

3.3 Lãi suất 3

3.4 Một số nhân tố khác 4

4 Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoại 4

4.1 Chính sách lãi suất tái chiết khấu 4

4.2 Chính sách hối đoái 5

4.3 Phá giá tiền tệ 5

4.4 Nâng giá tiền tệ 6

5 Chính sách tỷ giá 6

PHẦN II: TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 8

1 Tác động của tỷ giá tới lạm phát 8

2 Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại 9

3 Tác động của tỷ giá đến nguồn vốn đầu tư 12

PHẦN III: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM 14

PHẦN IV: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 16

Trang 2

1 Nhận xét 16

2 Kiến nghị 16

Trang 3

PHẦN I: LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1 Khái niệm

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, khi thực hiện thanh toán giữa các nước với nhau, cần thiết phải sử dụng đồng tiền nước này hay nước khác, nói chung là phải sử dụng đến ngoại tệ cũng như các phương tiện có thể thay cho ngoại tệ

 Tỷ giá hối đoái: là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền với nhau Hoặc người ta có thể nói tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước nàythể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác

2 Các loại tỷ giá hối đoái

2 1 Căn cứ vào đối tượng xác định tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá chính thứcvà tỷ giá thị trường.

- Tỷ giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng trung ương của nước đó xác định.

Trên cơ sở của tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định

tỷ giá mua bán ngoại tệ giao nghy, có kỳ hạn, hoán đổi

- Tỷ giá thị trường là tỷ giá được hình thành trên có sở quan hệ cung cầu trên

thị trường hối đoái

2 2 Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán, có thể chia làm tỷ giá giao ngay và tỷ giá có

kỳ hạn.

- Tỷ giá giao ngay (SPOT) là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm

giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biểu độ do ngân hàngnhà nước quy định Việc thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trong vòng haingày làm việc tiếp theo, sau ngày cam kết mua hoặc bán

- Tỷ giá giao dịch kỳ hạn (FORWARDS) là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng

tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ qui định về tỷgiá kỳ hạn hiện hành của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng

2 3 Căn cứ vào giá trị của tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực.

- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá của một loại tiền tệ được biểu hiện theo

giá hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát

Trang 4

- Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua

trong một cặp tiền tệ phản ảnh giá cả hàng hóa tương quan có thể bán ra nước ngoài vàhàng tiêu thụ trong nước Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế củanước đó

2 4 Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và

tỷ giá thư hối.

- Tỷ giá điện hối là tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng Đó là tỷ giá

chuyển ngoại hối bằng điện Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giákhác

- Tỷ giá thư hối, tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư Tỷ giá điện hối

thường cao hơn tỷ giá thư hối

2 5 Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hối

- Tỷ giá mua là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào

- Tỷ giá bán là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra

Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi nhuậnkinh doanh ngoại hối của ngân hàng

Thông thường thì ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của các hợp đồng đã kýkết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày

đó, người ta gọi đó là tỷ giá đóng của Tỷ giá đóng cửa được coi là chỉ tiêu chủ yếu vềtình hình biến động của tỷ giá trong ngày hôm đó Tỷ giá được công bố vào đầu giờcủa đầu ngày giao dịch được gọi là tỷ giá mở cửa.Trong nghiệp vụ mua bán ngoại hốicủa ngân hàng còn chia ra tỷ giá tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản Tỷ giá chuyển khoảnbao giờ cũng cao hơn tỷ giá tiền mặt

Trong khuôn khổ chế độ quản lý ngoại hối ở các nước kém phát triển, ngoài thịtrường ngoại hối chính thức c òn tồn tại thị trường ngoại hối tự do, do đó bên cạnh tỷgiá chính thức do nhà nước quy định còn có tỷ giá chợ đen do quan hệ cung cầu ngoạihối trên thị trường này quyết định

Trang 5

3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá

3.1 Cán cân thanh toán

Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh tình hình thu – chi thực tế bằng ngoại tệ củamột số nước so với các nước khác trong giao dịch quan hệ quốc tế lẫn nhau Cán cânthanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia thâm hụt hoặc thặng dư

Nếu cán cân thanh toán thường xuyên thâm hụt ( chi>thu) thì dự trữ ngoại hốicủa quốc gia có thể giảm, tình hình ngoại tệ căng thẳng, từ đó tạo ra nhu cầu ngoại tệtăng lên, giá ngoại tệ tăng

Nếu cán cân thanh toán thặng dư ( thu>chi), dự trữ ngoại hối có thể tăng, cungngoại tệ trên thị trường tăng, giá ngoại tệ có khuynh hướng giảm

3.2 Lạm phát

Lạm phát là sự suy giảm sức mua của nội tệ và được đo lường bằng chỉ số giá cảchung ngày càng tăng lên Để chứng minh mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát, GustavCassel (1772-1823) đã đưa ra lý thuyết ngang giá sức mua- Purchasing Power ParityTheo lý thuyết này, giả thiết trong một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo và cướcphí vận chuyển, thuế hải quan được giả định bằng không Do đó, nếu các hàng hóa đềuđồng nhất thì người tiêu dùng sẽ mua hàng ở nước nào mà giá thật sự thấp

3.3 Lãi suất

Phần lớn các nhà đầu tư với quy mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, cáccông ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiềnkhác nhau khi tỷ giá và lãi suất các đồng tiền này có chuyển hướng thay đổi Vấn đềquan trọng được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu nhập đầu tư từ các đồng tiềnkhác nhau để có thể chắc chắn rằng họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất Thôngthường, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao, được thựchiện một cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển đồi sang đồngtiền có lãi suất cao, sau đó đầu tư đồng tiền có lãi suất cao bằng nhiều hình thức nhằmhưởng lợi nhuận chênh lệch suất của hai đồng tiền Điều này sẽ tạo nên sự thay đổicung cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá Vì thế các nhà đầu tưngày càng quan tâm so sánh giữa thu nhập do chênh lệch lãi suất mang lại phải lớnhơn sự gia tăng tỷ giá trong suốt thời gian đầu tư Đối chiếu, so sánh lãi suất của các

Trang 6

đồng tiền khác nhau theo phương cách như trên là kỹ thuật quan tâm hàng đầu của cácnhà đầu tư trên thị trường.

Tuy nhiên, trong suốt thời gian đầu tư hay cho vay, tỷ giá biến động tăng hoặcgiảm sẽ tác động đến gia tăng thu nhập hoặc lỗ, nhà đầu tư bị rủi ro do sự gia tăng tỷgiá lớn hơn thu nhập do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền Thực tế, thông thườngđồng tiền có lãi suất cao có khuynh hướng lên giá, bởi vì sẽ có nhiều nhà đầu tư muađồng tiền có lãi suất cao để cho vay nhằm thu lãi nhiều hơn

3.4 Một số nhân tố khác

Sự điều chỉnh các chính sách tài chính tiền tệ, các sự kiện kinh tế, xã hội, chiếntranh , thiên tai, sự biến động của các chỉ số thống kê về việc làm-thất nghiệp-tăngtrưởng kinh tế Đặc biệt là các chỉ số và các sự kiện tại Mỹ sẽ ảnh hưởng tới tỷ giá hốiđoái trên thị trường thế giới Cụ thể là các nhân tố:

- Chỉ số thất nghiệp tăng, giảm trong tháng

- Chỉ số bán lẻ

- Kết quả các hội nghj G7,EU, Asian…

- Sản lượng công nghiệp, GDP, GNP…

Ngoài ra, khi thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi thì tỷ giá rất nhạy cảm với các sựkiện kinh teea, chính trị, xã hội, chiến tranh kể cả các yếu tố tâm lí…

Tóm lại, những biến động của các nhân tố nêu trên có thể tạo ra những tác độngriêng lẻ hoặc đồng thời tác động lên cung hoặc cầu ngoại tệ, từ đó, tác động đến tỷ giá.Việc hiểu và phần tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá rất quan trọng vì

nó giúp chúng ta dự báo và hình thành kỳ vọng hợp lý về tỷ giá để từ đó làm cơ sở raquyết định liên quan đến giao dịch ngoại tệ

4 Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoại

Dưới tác động của tỷ giá xuất hiện những biểu hiện bất lợi cho quá trình pháttriển kinh tế Chủ động can thiệp của Nhà nước nhằm bình ổn tỷ giá trên thị trường làđiều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu chiến lược kinh tế Bao gồm các biện phápchủ yếu sau đây:

4.1 Chính sách lãi suất tái chiết khấu

Khi tỷ giá biến động, NHTW với vai trò quản lý vĩ mô điều chỉnh lãi suất táichiết khấu, sẽ làm thay đổi lãi suất tín dụng trên thị trường Điều này có tác dụng kích

Trang 7

thích đối với việc di chuyển các luồng vốn ngoại tệ ngắn hạn từ nước này sang nướckhác, từ đó dẫn đến sự thay đổi cung và cầu ngoại hối làm cho tỷ giá được bình ổn Cụthể:

Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu dẫn tới lãi suấttiền gửi sẽ tăng lên Thu hút vốn ngắn hạn chạy vào trong nước, làm tăng khả năngcung ngoại tệ và giảm bớt sự căng thẳng của tình hình cung đang nhỏ hơn cầu trên thịtrường

4.2 Chính sách hối đoái

Nguyên lý cơ bản của biện pháp này là NHTW thông qua việc thực hiện cácnghiệp vụ mua-bán ngoại hối tạo ra khả năng trực tiếp thay đổi quan hệ cung cầungoại hối trên thị trường để điều chỉnh tỷ giá Cụ thể như sau:

Khi tỷ giá hối đoái tăng, NHTW sẽ tung ngoại hối ra bán, cung ngoại hối trên thịtrường tăng lên và làm giảm bớt căng thẳng về cung cầu ngoại hối trên thị trường ( cầuđang lớn hơn cung), dẫn tới tỷ giá từ từ giảm xuống

Khi tỷ giá hối đoái giảm, NHTW mua vào ngoại hối, sẽ tăng nhu cầu ngoại hốitrên thị trường và làm giảm bớt căng thẳng quan hệ cung cầu trên thị trường (cungđang lớn hơn cầu), dẫn tới tỷ giá hối đoái từ từ tăng lên

Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có tác dụng tạm thời, với điều kiện NHTW phải cómột khối lượng dự trữ ngoại hối lớn Trong trường hợp cán cân thanh toán quốc tếthiếu hụt NHTW tung ngoại hối ra bán có thể làm tăng thêm sự hao hụt dự trữ ngoạihối mà thôi

Đối với một số quốc gia đã thiết lập được quỹ bình ổn hối đoái thì có thể sử dụng

để điều chỉnh tỷ giá hối đoái

4.3 Phá giá tiền tệ

Nhà nước chủ động giảm giá trị tiền tệ trong nước làm cho tỷ giá hối đoái tănglên Trong trường hợp cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, hoặc do yêu cầu chínhsách ngoại thương của quốc gia, Chính phủ có thể thực hiện chính sách phá giá tiền tệ.Phá giá tiền tệ sẽ làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên, qua đó khuyến khích xuất khẩu hayhạn chế nhập khẩu bên cạnh đó đòi hỏi Nhà nước phải tìm mọi biện pháp để phát triểnkinh tế, kiểm soát lạm phát

Trang 8

4.4 Nâng giá tiền tệ

Nhà nước chính thức nâng giá tiền tệ trong nước, nên giá ngoại tệ có xu hướnggiảm xuống, nâng giá tiền tệ xuất phát từ áp lực của một số quốc gia khác trong cạnhtranh thương mại quốc tế nhằm, hoặc do yêu cầu thực hiện chính sách tiền tệ

Với nhiều biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tùy theo tình hình cụ thể mà mỗiquốc gia cần cân nhắc lựa chọn biện pháp hợp lý cho mình, bên cạnh đó Nhà nước cầnkết hợp với các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế, tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng,thuế quan…

5 Chính sách tỷ giá

Khái niệm: Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ( mà đại diện

thường là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định( hay cơ chế điều hành tỷ giá)

và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động

để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệquốc gia

Vì là một bộ phận của chính sách tiền tệ nên mục tiêu của chính sách tỷ giá theonghĩa rộng cũng phải phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ

- Về mục tiêu ổn định giá cả: Với các yếu tố khác không đổi, khi tỷ giá tăng làm

cho giá hàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng Giá hàng hoá nhập khẩu tăng làmcho mặt bằng giá cả chung cảu nền kinh tế tăng, tức gây lạm phát Tỷ giá tăng càngmạnh và tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu càng lớn thì tỷ lệ lạm phát càng cao Ngược lại,khi tỷ giá giảm làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ giảm, tạo áp lực giảmlạm phát Muốn duy trì giá cả ổn định NHTW phải sử dụng chính sách tỷ giá ổn định

và cân bằng

- Về mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm: Khi các yếu

khác không đổi, tỷ giá tăng sẽ kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, trựctiếp làm tăng thu nhập quốc dân và tăng công ăn việc làm Ngược lại, với các yếu tốkhác không đổi, khi tỷ giá giảm sẽ tác động làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăngthất nghiệp

- Về mục tiêu cân bằng cán cân vãng lai: Có thể nói chính sách tỷ giá tác động

trực tiếp đến cán cân vãng lai Với chính sách tỷ giá định giá thấp nội tệ sẽ có tác dụngthúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện được cán cân vãng lai từ trạng

Trang 9

thái thâm hụt trở về trạng thái cân bằng hay thặng dư Với chính sách tỷ giá định giácao nội tệ sẽ có tác dụng kìm hãm xuất khẩu và kích thích nhập khẩu, giúp điều chỉnhcán cân vãng lai từ trạng thái thặng dư về trạng thái cân bằng hay thâm hụt Với chínhsách tỷ giá cân bằng sẽ có tác dụng làm cân bằng xuất khẩu và nhập khẩu, giúp cáncân vãng lai tự động cân bằng.

Trang 10

PHẦN II: TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Tỷ giá là một biến số kinh tế, tác động đến hầu hết các mặt hoạt động của nềnkinh tế, nhưng hiệu quả ảnh hưởng của tỷ giá lên các hoạt động khác nhau là rất khácnhau Trong đó, hiệu quả tác động của tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu là rõ ràng

và nhanh chóng, chính vì vậy, trong điều kiện mở cửa, hợp tác, hội nhập và tự do hoáthương mại, các quốc gia luôn sử dụng tỷ giá trước hết như là công cụ hữu hiệu điềuchỉnh hoạt động xuất nhập khẩu

1 Tác động của tỷ giá tới lạm phát

Trên lý thuyết, khi một nước có lạm phát sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giáhối đoái không đổi, hàng hóa dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài.Theo quy luật cung cầu, người dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiềuhơn vì giá rẻ; điều tất yếu xảy ra là nhập khẩu sẽ tăng, kéo theo cầu ngoại tệ tăng, làmcho tỷ giá hối đoái cũng tăng Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàngnhập khẩu hơn Hoạt động xuất khẩu giảm sút, làm cho cung ngoại tệ trên thị trườnggiảm, đây cũng là nguyên nhân làm tỷ giá hối đoái tăng Như vậy, lạm phát ảnh hưởngđến cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷgiá hối đoái tăng nhanh hơn Trên thị trường tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá,người dân sẽ chuyển sang nắm giữ tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăngđẩy tỷ giá hối đoái tăng Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tácđộng trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia Quốc gia nào

có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì đồng nội tệ của quốc gia đó sẽ mất giá một cách tươngđối và tỷ giá hối đoái tăng Đối với nước ta hiện nay, lạm phát đang ở mức cao nênviệc tăng tỷ giá là điều không thể tránh khỏi

Tuy nhiên, áp lực lạm phát ở Việt Nam 2011 chủ yếu đến từ các nguồn khác chứkhông phải từ việc điều chỉnh tỷ giá vừa rồi

Thứ nhất, việc điều chỉnh giá điện (tăng 15.28% so với năm 2010) bắt đầu từ

ngày 1/3/2011 và việc cho phép các hàng hóa năng lượng quan trọng như xăng, dầu,than “ vận hành theo cơ chế thị trường” chắc chắn sẽ là một cú hích đáng kể đối vớilạm phát

Thứ hai, xu thế giá thế giới của các hàng hóa cơ bản (đặc biệt là năng lượng, thực

phẩm, vật tư nông nghiệp và kim loại) tiếp tục tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mặt bằng

Trang 11

giá trong nước vì nền kinh tế của chúng ta đã mở cửa hơn trước Không những thế,như một hiện tượng có tính quy luật, giá hàng hóa cơ bản ở các nước đang phát triển(trong đó có Việt Nam) một khi đã tăng thì thường tăng thì sẽ cao hơn nhiều so với cácnước phát triển Chẳng hạn như trong năm 2010, chỉ số giá hàng hóa cơ bản ở cácnước đang phát triển là 31% trong khi trên toàn thế giới là 19%.

Thứ ba, trong năm 2010, với tốc độ tăng cung tiền và tín dụng đều ở mức trên

25% và tỷ lệ đầu tư trên 40% trong khi tốc độ tăng trưởng GDP thực chỉ là 6,8% thìlạm phát tiền tệ sau một độ trễ nhất định sẽ được thể hiện trong chỉ số giá Điều chỉnh

tỷ giá và tăng giá điện đều là những việc không thể không làm để giảm sự méo mótrong giá thị trường, vốn là điều kiện cần để nền kinh tế có thể giảm chi phí giao dịch

và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả Tuy nhiên, nếu không thay đổi phương thứcđiều hành mang tính đối phó và thiếu phối hợp như hiện nay thì doanh nghiệp vàngười tiêu dùng sẽ tiếp tục phải “chịu trận” trước một loạt cú sốc lớn và dồn dập Rõràng là để mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô thì cách tư duy và điều hành vĩ mô củaChính phủ phải được thay đổi một cách cơ bản

PGS-TS Trần Hoàng Ngân, cho rằng tỷ giá tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đếnCPI, tác động đến lạm phát bởi các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu được tính theo tỷ giámới, thậm chí xuất hiện những loại hàng hóa “ăn theo” đà tăng của tỷ giá Áp lực lênlạm phát là một trong những lo ngại, vì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Namlên đến 150% so với GDP với nhiều mặt hàng nguyên liệu thiết yếu phải nhập khẩu từbên ngoài Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua các nhà nhập khẩu của Việt Nam đềuphải mua USD với tỷ giá thị trường chợ đen Vì vậy, việc điều chỉnh lần này sẽ khôngảnh hưởng tới chi phí thực sự của những nhà nhập khẩu Gía hàng hóa có thể tăng lênnhưng áp lực sẽ không quá lên

2 Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại

Cán cân thương mại của một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu vàkim ngạch nhập khẩu Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sẽ thu đượcngoại tệ Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội

tệ, mua hàng hóa dịch vụ trong nước để xuất khẩu ra nước ngoài Trên thị trường cungngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hóa dịch vụ,các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên

Trang 12

thị trường Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng , tỷ giá hối đoái tăng Tác động củahai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái Tỷ giá hốiđoái cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào tác động mạnh yếu của các nhân tố, đóchính là cán cân thương mại Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung ngoại tệ lớnhơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá Khi thâm hụt thươngmại, cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ giảm giá( đây là trường hợp của nước ta hiện nay)

Về lý thuyết, việc tăng giá USD/VND sẽ hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu,làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng Việt xuất ra nước ngoài Chẳng hạn, hàng thủcông mỹ nghệ, hàng nông lâm thủy sản Trong tháng 1/2011, Việt Nam xuất khẩu gạothu về được 194 triệu USD Với tỷ giá mới, số tiền VND tăng thêm là 269,5 tỷ đồng.Tương tự, cao su xuất được 337 triệu USD, số tiền tăng thêm nhờ tỷ giá mới là 468,3

tỷ đồng; thủy sản xuất được 400 USD, số tiền tăng thêm nhờ tăng tỷ giá lên tới 586 tỷđồng Nhờ vậy mà doanh nghiệp có thể tăng giá mua cho nông dân hoặc điều chỉnhlinh hoạt giá bán ra thị trường nước ngoài Tất nhiên, tỷ giá tăng có hỗ trợ cho hoạtđộng xuất khẩu nhưng để tăng xuất khẩu doanh nghiệp còn phải tìm kiếm bạn hàng,quảng bá sản phẩm và bảo đảm chất lượng sản phẩm chứ không chỉ dựa vào lợi thế tỷgiá đem lại Vì vậy, việc tăng tỷ giá USD/VND có tác động làm cải thiện cán cânthương mại Thâm hụt thương mại hàng hóa năm 2010 lên đến 12,4 tỷ USD ( Chiếm12% GDP), bằng 17,3% kim ngạch xuất khẩu Cán cân thương mại của Việt Nam cómối quan hệ chặt chẽ với tỷ giá, và việc điều chỉnh tỷ giá lần này sẽ tác động tích cựctrong việc cải thiện thâm hụt thương mại Đồng nội tệ giảm giá sẽ làm cho các doanhnghiệp xuất khẩu gặp nhiều thuận lợi khi hàng hóa sản xuất có sức cạnh tranh hơn,trong khi đó nhập khẩu sẽ giảm đi và cán cân thương mại được cải thiện

Việc tăng tỷ giá với tỷ lệ khá cao vào tháng 2/2011 có thể là biện pháp đau đớn,song cần thiết và bất khả kháng trong tình hình hiện nay nhằm làm cho nhập khẩu đắt

đỏ hơn, xuất khẩu có thể thuận lợi hơn và qua đó có thể giảm mức độ nhập siêu ở mứcnhất định Xuất khẩu có thể có lợi nếu tỷ lệ gia tăng của sản phẩm cao (như gạo, hảisản) trong khi tác động thúc đẩy hạn chế hơn đối với các sản phẩm lắp ráp điện tử vì tỷ

lệ hàng nhập lên đến 90% giá thành Tuy nhiên, những hệ lụy với mục tiêu ổn địnhkinh tế vĩ mô thì cần phải bàn thêm

Trang 13

Trước hết, với mức nhập khẩu lên đến 84 tỷ USD trên GDP 102 tỷ USD năm

2010 (chiếm 83% GDP), trong đó chỉ 10% là hàng tiêu dùng, 20% trang thiết bị, máymóc, còn lại 70% là đầu vào cho hoạt động kinh tế như xăng dầu, sắt thép, bông sợi…nền kinh tế nước ta quá phụ thuộc vào nhập khẩu và việc điều chỉnh tỷ giá mạnh nhưlần này sẽ dẫn đến tăng giá đáng kể các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu kể trên và qua

đó tác động tới giá thành sản phẩm và giá mua của người tiêu dùng Những mặt hàngkhông thuộc loại thiết yếu như mỹ phẩm, ô tô sang trọng có thể giảm nhập khẩu ở mức

độ nhất định, song tỷ lệ các mặt hàng này không quá lớn, trong khi các nguyên vật liệu

cơ bản của nền kinh tế vẫn phải tiếp tục nhập với mức giá nhập khẩu cao hơn Ngườitiêu dùng phải gánh chịu mức tăng giá, ước tính khoảng 3% từ việc điều chỉnh tỷ giánày Giá một số mặt hàng đã tăng lập tức như gas, ô tô và khó tránh khỏi việc tăng giácác mặt hàng khác trong thời gian tới do giá đầu vào nhập khẩu tăng khoảng 10% Chonên, tác động của tỷ giá tới cán cân thương mại không đến mức như mọi người kỳvọng

Ngoài ra việc tăng tỷ giá có những tác động không tốt như: tạo ra sự đắt đỏ hơncho những mặt hàng nhập khẩu, và những mặt hàng nhập khẩu này sản xuất và bán ratrong nước, nếu sản xuất và bán ra trong nước nhiều.Về nguyên tắc, các doanh nghiệphay cộng tăng tỷ giá vào giá bán, như vậy sẽ tạo ra một giá bán mới của mặt hàng nhậpkhẩu Nếu mặt hàng nhập khẩu mà tỷ trọng lớn trong mặt bằng giá xã hội thì sẽ tạo ramặt bằng giá mới Điều này chưa ai dám chắc chắn nhưng nó tác động là điều đươngnhiên Nhưng nó cũng có tác động tích cực như nếu mặt hàng đó có giá trị cao, ngườitiêu dùng sẽ từ chối mua Lúc đó, các doanh nghiệp phải chuyển sang sản xuất các mặthàng khác, hoặc các mặt hàng tiêu dùng trong nước như ô tô nhập khẩu, các doanhnghiệp nhập khẩu cộng dồn, đẩy giá lên cao, khách hàng sẽ từ chối và sử dụng ô tôtrong nước Điều này có tác động đến giảm nhập siêu, thực tế đã chứng minh khi giáxăng dầu tăng cao và thiếu ngoại tệ nhập khẩu, Nhà máy lọc dầu Dung Quất là lựachọn của khách hàng trong nước và đến giờ không có hàng để bán Đợt điều chỉnh lầnnày hướng đến kích cầu sản xuất trong nước như một mục tiêu, đây là điểm mới Các nhà nghiên cứu, cũng như nhiều chuyên giá đã nhiều lần nói về muốn cạnhtranh xuất khẩu thì phải hạ giá tiền VND Để cho VND rẻ đi và giá hàng xuất khẩu củaViệt Nam rẻ hơn để thúc đẩy xuất khẩu Nhưng nếu VND rẻ đi thì giá nguyên vật liệu

Ngày đăng: 05/09/2021, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w