Vì vậy, nhằm hỗ trợ việc xây dựng REL/RL và thực hiện MRV trong các chương trình REDD ở Việt Nam, nghiên cứu phân vùng sinh thái lâm nghiệp được thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu sinh t
Trang 1BÁO CÁO CUỐI CÙNG PHÂN VÙNG SINH THÁI LÂM NGHIỆP
Ở VIỆT NAM
Cơ quan thực hiện: RCFEE
Điều phối và biên tập: Vũ Tấn Phương Thư ký: Nguyễn Thuỳ Mỹ Linh
Các chuyên gia tham gia:
GS.TS Nguyễn Ngọc Lung GS.TSKH Đỗ Đình Sâm GS.TS Nguyễn Xuân Quát PGS.TS Trần Việt Liễn PGS.TS Ngô Đình Quế PGS.TS Trần Văn Con PGS.TS Nguyễn Đình Kỳ
TS Lại Vĩnh Cẩm
TS Đỗ Hữu Thư ThS Ngô Tiền Giang ThS Hoàng Việt Anh ThS Đinh Thanh Giang ThS Phạm Ngọc Thành
Quyền miễn trách: Các quan điểm nêu trong báo cáo này không nhất thiết phản ánh ý kiến của Tổ
chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) hoặc Chương trình UN-REDD
Hà Nội, Tháng 10 năm 2011
Trang 2
Mục lục
Danh mục các bảng iv
Lời cảm ơn iv
Các từ viết tắt vi
Tóm tắt thực hiện vii
1 Đặt vấn đề 2
2 Tổng quan các phân vùng liên quan 3
2.1 Phân vùng lãnh thổ 3
2.1.1 Cơ sở pháp lý 3
2.1.2 Cấp phân vị và tên gọi 5
2.2 Phân vùng sinh thái 6
2.2.1 Phương pháp luận trong phân vùng sinh thái 6
2.2.2 Những công trình phân vùng sinh thái ở Việt Nam 8
2.3 Phân vùng sinh thái lâm nghiệp 9
3 Thảm thực vật rừng Việt Nam và đặc trưng phân bố 9
3.1 Giới thiệu về rừng và tài nguyên ĐDSH 9
3.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng và phân bố tự nhiên của rừng 9
3.1.2 Tài nguyên ĐDSH rừng 11
3.2 Các hệ sinh thái rừng, cơ sở khoa học của phân loại và áp dụng 12
3.2.1 Khái niệm về HSTR 12
3.2.2 Các cấp bậc (hợp phần) của sinh thái học 13
3.2.3 Các HSTR chủ yếu ở Việt Nam 14
3.3 Các hệ thống phân loại rừng 22
3.3.1 Hệ thống phân loại rừng theo hiện trạng 23
3.3.2 Phân loại thảm thực vật rừng theo các nhân tố sinh thái phát sinh 24
3.3.3 Phân loại các hệ sinh thái theo đai cao và điều kiện sinh thái 25
3.3.4 Thang phân loại rừng của UNESCO 26
3.3.5 Phân loại HSTR tự nhiên theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp 27
3.3.6 Các kiểu rừng sử dụng trong phân vùng STLN 28
4 Cơ sở khoa học của các tiêu chí cho phân vùng STLN 29
4.1 Khí hậu - thủy văn 30
4.1.1 Kinh nghiệm quốc tế 30
4.1.2 Phân vùng lãnh thổ theo khí hậu 30
4.4.3 Phân vị 30
Trang 34.4.3 Tiêu chí và các khuyến nghị phân vùng STLN 31
4.2 Địa hình-địa mạo 32
4.2.1 Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam 32
4.2.2 Phân loại 33
4.2.3 Phân vị 33
4.2.4 Tiêu chí và khuyến nghị phân vùng STLN 34
4.3 Thổ nhưỡng - lập địa 35
4.3.1 Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam 35
4.3.2 Phân loại 36
4.3.3 Phân vùng địa lý thổ nhưỡng 36
4.3.4 Phân vùng lập địa 37
4.3.5 Tiêu chí và khuyến nghị phân vùng STLN 37
4.4 Phân vùng STLN 39
4.4.1 Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam 39
4.4.2 Phân loại 42
4.4.3 Luận giải về lựa chọn phân vị 42
5 Bộ tiêu chí phân vùng STLN và phương pháp xây dựng bản đồ phân vùng STLN 43
5.1 Tiêu chí phân vùng STLN 43
5.2 Phương pháp xây dựng bản đồ và dữ liệu phân vùng STLN 45
6 Kết quả và thảo luận 47
6.1 Phân vùng STLN 47
6.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu cho vùng STLN 52
6.3 Bản đồ phân vùng STLN 61
6.4 Thảo luận và khuyến nghị 63
Tài liệu tham khảo 64
Phụ lục 1 Tên đất theo tên Việt Nam và FAO/UNESCO 69
Phụ lục 2 Bản đồ đất Việt Nam theo FAO/UNESCO 71
Phục lục 3 Bản đồ nhiệt độ, lượng mưa và chỉ số ẩm 72
Phụ lục 4 Tổng hợp các đặc trưng của vùng và tiểu vùng STLN 74
Phụ lục 5 Bản đồ phân vùng STLN vùng Tây Bắc 112
Phụ lục 6 Bản đồ phân vùng STLN vùng Đông Bắc 113
Phụ lục 7 Bản đồ phân vùng STLN vùng Đồng bằng Bắc bộ 114
Phụ lục 8 Bản đồ phân vùng STLN vùng Bắc Trung bộ 115
Phụ lục 9 Bản đồ phân vùng STLN vùng Nam Trung bộ 116
Trang 4Phụ lục 10 Bản đồ phân vùng STLN vùng Tây Nguyên 117
Phụ lục 11 Bản đồ phân vùng STLN vùng Đông Nam bộ 118
Phụ lục 12 Bản đồ phân vùng STLN vùng Tây Nam bộ 119
Danh mục các bảng Bảng 1 Sự thay đổi diện tích rừng Việt Nam, 1943 - 2009 10
Bảng 2 Trữ lượng rừng gỗ theo các vùng sinh thái (1000m3) 11
Bảng 3 Các kiểu rừng chính ở Việt Nam 28
Bảng 4 Tiêu chí về khí hậu cho mỗi phân vị phân vùng STLN 32
Bảng 5 Tiêu chí về địa chất/địa mạo để phân vùng STLN 34
Bảng 6 Đề xuất tiêu chí phân chia thổ nhưỡng trong phân vùng STLN 38
Bảng 7 Tổng hợp bộ tiêu chí phân vùng STLN ở Việt Nam 44
Bảng 8 Sự khác biệt giữa phân vùng sinh thái nông nghiệp và lâm nghiệp 48
Bảng 9 Tên và diện tích vùng và tiểu vùng sinh thái lâm nghiệp 51
Bảng 10 Tóm tắt đặc trưng của các vùng và tiểu vùng sinh thái lâm nghiệp 53
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này là một trong những hoạt động của Chương trình UN-REDD Việt Nam nhằm tổng hợp và đưa ra các vùng sinh thái lâm nghiệp phục vụ cho Chương
Trang 5trình REDD Việt Nam
Để hoàn thành nghiên cứu này, thay mặt cơ quan thực hiện xin cảm ơn sự hỗ trợ to lớn về tài chính và kỹ thuật của Chương trình UN-REDD Việt Nam, đặc biệt cảm ơn
sự đóng góp của các chuyên gia quốc tế, bà Inoguchi Akiko, TS Patrick Van Laake Xin cảm ơn sự tham gia tích cực của các chuyên gia trong nhóm nghiên cứu, cảm ơn
sự hỗ trợ kịp thời và có hiệu quả của Văn phòng UN-REDD Việt Nam, các cơ quan
và các chuyên gia trong việc tham gia đóng góp ý kiến cho việc hoàn thiện báo cáo này
Mặc dù Nhóm nghiên cứu đã có nhiều cố gắng, song do hạn chế về thời gian và nguồn lực, nên chắc chắn báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong sự đóng góp của các cơ quan và các chuyên gia để việc phân vùng sinh thái lâm nghiệp ngày càng được hoàn thiện
Trang 6Các từ viết tắt
C & I Tiêu chí và chỉ số
COP Hội nghị các bên ĐDSH Đa dạng sinh học ĐTQHR Điều tra quy hoạch rừng
FAO Tổ chức Nông lương thế giới
FSIV Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
IUCN Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế
KHNN Khí hậu nông nghiệp
LHQ Liên hợp quốc
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
REDD Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng
RCFEE Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng
STLN Sinh thái lâm nghiệp
TCLN Tổng cục lâm nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa của Liên hiệp quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
UNDP Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
UN-REDD Chương trình giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng của LHQ
Trang 7Tóm tắt thực hiện
REDD được khởi xướng và chính thức được thông qua như một phương tiện nhằm giảm nhẹ biến đổi khí hậu Mặc dù mất rừng do phá rừng và chuyển đổi rừng vẫn đang diễn ra ở nhiều quốc gia, tuy nhiên diện tích rừng Việt Nam đã và đang tăng lên nhanh chóng trong vòng 20 năm qua Vì vật Việt Nam được xem là quốc gia có tiềm năng lớn để triển khai REDD Trong chương trình UN-REDD, Việt Nam dự kiến sử dụng Tier 2 cho giai đoạn thử nghiệm REDD và Tier 3 cho giai đoạn bán tín chỉ giảm phát thải do REDD mang lại
Hiện nay, Việt Nam đang sử dụng hệ thống phân vùng sinh thái được xây dựng với tên gọi là vùng kinh tế sinh thái nông nghiệp và do vậy chưa thực sự phù hợp cho ngành lâm nghiệp, đặc biệt là cho chương trình REDD Vì vậy, nhằm hỗ trợ việc xây dựng REL/RL và thực hiện MRV trong các chương trình REDD ở Việt Nam, nghiên cứu phân vùng sinh thái lâm nghiệp được thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghịêp Việt Nam với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của FAO và Chương trình UN-REDD Việt Nam Nghiên cứu có sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực như khí hậu, sinh thái rừng, địa chất địa mạo, thổ nhưỡng, lập địa, GIS, v.v Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành các vùng sinh thái laâ nghiệp dựa trên các nhân
tố sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thánh và năng suất của các kiểu thảm thực vật rừng
Phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu và phương pháp chuyên gia được sử dụng
để phân tích và xác định các nhân tố sinh thái liên quan cho việc phân vùng sinh thái lâm ở Việt Nam Nghiên cứu đã xác định các nhân tố sinh thái và xây dựng hệ thống phân vị cho phân vùng sinh thái lâm nghiệp Nhân tố khí hậu, đặc trưng bởi yếu tố biên độ nhiệt và số giờ nắng, là nhân tố chủ đạo để phân chia miền sinh thái Các nhân tố khí hậu, địa hình địa mạo, hệ sinh thái rừng, thổ nhưỡng là các nhân tố sử dụng để phân chia vùng sinh thái và tiểu vùng sinh thái với mức độ chi tiết khác nhau Tiểu vùgn sinh thái là đơn vị đồng nhất tương đối về điều kiện khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và hệ sinh thái rừng
Kết quả phân vùng sinh thái lâm nghiệp đã chia lãnh thổ Việt Nam thành 2 miền sinh thái, 8 vùng sinh thái và 47 tiểu vùng sinh thái Miền sinh thái là miền Bắc và miền Nam có ranh giới là đèo Hải Vân và dãy núi Bạch Mã Tám vùng sinh thái bao gồm Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng bắc bộ, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Tây Nam bộ Tiểu vùng sinh thái là đơn vị cơ bản để xác định sự hình thành và năng suâất tiềm năng của các loại thảm thực vật rừng Có 4 trong tổng
số 47 tiểu vùng sinh thái là đảo và quần đảo Bản đồ phân vùng sinh thái lâm nghiệp được xây dựng cho toàn quốc và 8 vùng sinh thái Cơ sở dữ liệu chi tiết về điều kiện khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa), địa hình, thổ nhưỡng và kiểu rừng đặc trưng cũng được xaâ dựng chi tiết cho 8 vùng sinh thái và 47 tiểu vuùg sinh thái lâm nghiệp Kết quả phân vùng sinh thái lâm nghiệp không chỉ có ý nghĩa trong việc xây dựng REL/RL và MRV trong các hoạt động về REDD, mà nó còn là cơ sở quan trọng cho
Trang 8việc quản lý và phát triển rừng trên phương diện quốc gia Nghiên cứu kiến nghị sử dụng 8 vùng sinh thái lâm nghiệp để xây dựng REL/RL và MRV ở cấp độ quốc gia
và tiểu vùng sinh thái lâm nghiệp cho xây dựng REL/RL và MRV cho hoạt động REDD ở cấp độ vùng Tuy nhiên, do hạn chế về thơời gian và nguồn lực, kết quả phân vùng sinh thái lâm nghiệp chưa được kiểm nghiệm trên thực tế, do vậy cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện
Vùng sinh thái
1: Thượng nguồn Sông Đà
2: Thượng nguồn Sông Mã
3: Cao nguyên Sơn La, Mộc Châu
4: Thung lũng Sông Đà
5: Khối núi Hoàng Liên Sơn
6: Gò đồi Hòa Bình, Ninh Bình
7: Thung Lũng Sông Hồng, Sông Chấy
8: Núi trung bình Hoàng Su Phì
9: Thượng nguồn Sông Lô, Sông Gâm
10 Núi thấp Bảo Lạc, Ba Bể
11: Khối núi đá vôi Đồng Văn
12: Trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang
13: Khối núi đá vôi Bắc Sơn
14: Đồi núi thấp Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh
15: Rừng ngập ven biển Đông Bắc
22: Đồng bằng và cát ven biển Bắc Trung Bộ
23: Khối núi đá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng
24: Khối núi Tây Bình Trị Thiên
25: Vùng núi Tây Quảng Nam, Quảng Ngãi
26: Gò đồi Nam Trung Bộ
27: Đồng bằng và cát ven biển Nam Trung Bộ
28: Hoàng Sa, Trường Sa
34: Bán bình nguyên Cheo Reo, Phú Bổn, Ea Súp
35: Cao nguyên Bazan Buôn Ma Thuột
36: Khối núi Man Drak
37: Cao nguyên Dak Nông, Dak Min
38: Khối núi Chu Ang Sin sơn nguyên Đà Lạt
39: Co nguyên Di Linh, Bảo Lộc
40: Núi thấp Đông Nam Bộ
41: Gò đồi Đông Nam Bộ
42: Đồng bằng Đông Nam Bộ
Tiểu vùng sinh thái
Trang 91 Đặt vấn đề
Tăng phát thải khí nhà kính là nguyên nhân gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu, làm biến đổi khí hậu r nét trong những năm gần đây và vấn đề này đang được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Để hạn chế phát thải khí nhà kính, chủ yếu là khí các bon níc (CO2) một mặt các nước phát triển cần cam kết giảm phát thải, mặt khác cần bảo vệ phát triển rừng nhất
là ở các nước nhiệt đới nơi tập trung lớn diện tích rừng nhiệt đới và là bể hấp thụ và lưu trữ khí các bon níc Với ý nghĩa đó tại Hội nghị các bên lần thứ 13 (COP 13) diễn ra tại Bali, Indonesia vào tháng 12/2007, các bên liên quan đã thông qua Kế hoạch Hành động Bali (Bali Action Plan) trong đó có đề xuất lộ trình xây dựng và đưa REDD trở thành một cơ chế chính thức thuộc hệ thống các biện pháp hạn chế biến đổi khí hậu trong tương lai, đặc biệt là sau khi giai đoạn cam kết đầu tiên của Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực vào năm 2012 REDD là viết tắt cụm từ tiếng Anh Reducing Emission from Deforestation and Forest Degradation in Developing Countries – nghĩa là Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển
Việt Nam, REDD được thực hiện thông qua 3 tổ chức của Liên hiệp quốc là UNDP, FAO
và UNEP và được gọi tắt là chương trình UN-REDD Một trong những mục tiêu chính của UN-REDD Việt Nam là hỗ trợ Tổng Cục Lâm Nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các cơ quan đầu mối thiết lập được và quản lý các công cụ để thực hiện một chương trình REDD hiệu quả, minh bạch, công bằng Đảm bảo rằng các cơ quan đầu mối có khả năng đo lường giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng một cách chính xác và tuân thủ đúng các tiêu chuẩn quốc tế
Trong các hoạt động liên quan đến tính toán giảm phát thải thì việc xây dựng mức phát thải tham khảo (Reference Emision Level = REL) và hệ thống đo đếm, lập báo cáo và thẩm định (Measurement, Reporting and Verification = MRV) là hết sức quan trọng cấp độ đánh giá mức quốc gia (Tier 1), các tính toán về hấp thụ và phát thải chủ yếu dựa trên số liệu về phân vùng sinh thái của các kiểu rừng cơ bản của Việt Nam Trên cơ sở các kiểu rừng trong một phân vùng sinh thái có năng suất sinh học tương đối đồng nhất, chúng ta có thể tính toán sơ
bộ mức hấp thụ/ phát thải toàn quốc cho lĩnh vực lâm nghiệp
Cho tới nay chưa có hệ thống phân vùng sinh thái lâm nghiệp nào tại Việt Nam Có chăng chỉ là các hệ thống phân loại rừng, hay phân chia các kiểu thảm thực vật rừng, mà không định vị được các kiểu đó được phân bố tự nhiên tại đâu? trung tâm vùng phân bố, phạm vi phân bố, và dự báo tiềm năng năng suất của mỗi vùng, ứng với mỗi kiểu rừng ra sao ? Các câu hỏi này chính là nội dung của việc phân vùng sinh thái lâm nghiệp nhằm mục đích làm
cơ sở cho việc xây dựng các Mức phát thải tham khảo (REL), và đo đếm, lập báo cáo, thẩm định (MRV)
Trang 10Để xây dựng chiến lược phát triển ngành 10 năm, 15 năm, hay lập quy hoạch lâm nghiệp cho từng kế hoạch 5 năm khi chưa phân vùng STLN, ngành lâm nghiệp thường dùng khái niệm 8 vùng kinh tế lâm nghiệp, xuất hiện vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước Từ thập kỷ
90 sau khi hợp nhất các bộ Lâm nghiệp, Nông nghiệp, Thủy lợi, Ngành lâm nghiệp thường
sử dụng có hiệu quả hệ thống 7 vùng sinh thái nông nghiệp, với các tiêu chí xác định về địa hình, khí hậu, đất đai, kiểu rừng
Song, một mặt các tiêu chí và chỉ số về khí hậu, thủy văn, đất đai, v.v, để phân vùng sinh thái nông nghiệp khác với các hệ sinh thái rừng, cho dù nó có chung ý nghĩa về vùng phân
bố và năng suất tạo ra sản phẩm nông lâm nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, sự khác nhau của hệ sinh thái rừng ngoài sản xuất sản phẩm tiêu dùng, lại còn phải tạo ra một dạng sản phẩm quan trọng hơn nữa, đó là dịch vụ môi trường sinh thái bảo vệ sự sống còn trên trái đất, mà REDD chính là 1 dạng dịch vụ đang được chú ý để góp phần chống biến đổi khí hậu toàn cầu, trong đó Việt Nam và cả vùng lưu vực sông Mê Kông được dự báo là một trong các vùng chịu tác động lớn nhất
Lần đầu tiên phân vùng sinh thái lâm nghiệp Việt Nam được thực hiện trong hoàn cảnh các
hệ sinh thái rừng nguyên sinh đã bị phá hủy quá nhiều, lại không tiến hành nghiên cứu khảo sát, tuy vậy đã thừa kế được nhiều kinh nghiệm, nhiều số liệu của các công trình phân vùng tại Việt Nam về khí hậu-thủy văn, thổ nhưỡng-lập địa, địa hình-địa chất, sinh thái nông nghiệp…
Mục đích của nghiên cứu này là xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất tiêu chí phân vùng sinh thái cho lãnh thổ Việt Nam để có được sự đồng nhất tương đối về các kiểu rừng cho từng vùng Sự đồng nhất tương đối này về các kiểu rừng có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm sai số và tăng độ tin cậy trong quá trình đo đếm trữ lượng các bon của rừng để xây dựng mức phát thải tham khảo và thực hiện MRV
Trong các phương pháp truyền thống đã được chọn lọc và thừa kế, trong trường hợp này phương pháp chuyên gia tỏ ra rất hiệu quả, nhưng đòi hỏi các nhà sinh thái lâm nghiệp lâm nghiệp có nhiều kinh nghiệm thực tiễn
2 Tổng quan các phân vùng liên quan
2.1 Phân vùng lãnh thổ
2.1.1 Cơ sở pháp lý
Những cơ sở pháp lý đầu tiên của nhà nước về phân vùng lãnh thổ của các ngành kinh tế, các ngành chuyên môn từ những năm 60,70 của thế kỷ trước là thông tư 193/UB/VP ngày 11/2/1963 của Ban phân vùng kinh tế thuộc Ủy Ban Kế hoạch nhà nước, và Quyết định 270/CP ngày 30/9/1977 của Hội đồng Chính Phủ, nay là Chính phủ đã hướng dẫn và thực
Trang 11hiện việc phân vùng kinh tế theo các chuyên ngành cụ thể dưới đây:
Các chuyên ngành đã tiến hành phân vùng dựa trên một hoặc nhiều phương án mục tiêu, và
sử dụng kết quả phân vùng trong nhiều năm nay Dưới đây mô tả một số phân vùng có liên quan đến nghiên cứu này
1) Phân vùng kinh tế ngành: Phân chia lãnh thổ đất nước theo chiều dọc thành các vùng
kinh tế ngành, làm căn cứ cho nhà nước, tổ chức, quản lý theo ngành
Phân vùng kinh tế ngành nhằm mục đích xác định hợp lý phương hướng phát triển chủ yếu của ngành trong vùng, hiện tại cũng như tương lai, kết hợp đúng đắn giữa các ngành trong kế hoạch hóa và trong tổ chức quản lý nền kinh tế quốc dân theo ngành và theo lãnh thổ, phân vùng kinh tế ngành còn là cơ sở cho quy hoạch vùng kinh tế
Có hai dạng phân vùng kinh tế ngành là phân vùng công nghiệp và phân vùng nông nghiệp Mỗi dạng lại chia ra các phân ngành như trong công nghiệp có phân vùng khai thác than, dầu
mỏ, hơi đốt, phân vùng luyện kim đen, v.v, còn trong nông nghiệp có phân vùng trồng trọt, chăn nuôi
2) Phân vùng địa lý tự nhiên: Ngành địa lý tự nhiên chuyên nghiên cứu, phát hiện hệ
thống các khu vực tự nhiên đồng nhất về phát sinh, do đó mà có những đặc thù riêng, không lặp lại trong không gian
Có hai nhân tố phát sinh chủ yếu, một là nhân tố địa đới chi phối bởi sự phân bố năng lượng mặt trời không đồng đều trên trái đất, tạo ra các vành đai nóng, ôn hòa, lạnh, và các đới rừng, xa van, hoang mạc Hai là nhân tố phi địa đới chi phối bởi năng lượng kiến tạo trong lòng đất, hình thành các châu lục, vùng núi, cao nguyên, đồng bằng, các miền địa chất - địa hình phân hóa chi tiết trong các xứ
Tại các khu vực địa lý nhỏ hơn nữa, có sự thống nhất của cả hai nhân tố, tạo nên các tổng thể lãnh thổ có sự đồng nhất cao Phân vùng địa lý tự nhiên bao gồm cả hai khâu phân vị và phân loại Ngoài phân vùng tổng hợp nói trên còn có phân vùng từng thành phần địa lý tự nhiên như phân vùng địa mạo, phân vùng khí hậu thủy văn, phân vùng thổ nhưỡng, phân vùng sinh vật, các phân vùng này sẽ bổ sung cho nhau làm tăng thêm tính khoa học và tính thực tiễn cho mỗi loại phân vùng thành phần
3) Phân vùng địa lý kinh tế: Ngành địa lý kinh tế chuyên nghiên cứu và phát hiện hoặc dự
đoán sự hình thành hệ thống các vùng kinh tế hoàn chỉnh với chức năng sản xuất chuyên
Trang 12môn hóa và phát triển tổng hợp Dựa vào phân vùng địa lý kinh tế, nhà nước có thể nắm được đầy đủ tiềm năng về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội của các bộ phận lãnh thổ khác nhau trên đất nước nhằm xác định chiến lược và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
Có phân vùng địa lý kinh tế tổng hợp, nghiên cứu liên ngành để phát hiện các vùng kinh tế
đa dạng, phức tạp, và có phân vùng địa lý kinh tế theo từng ngành như nông nghiệp, công nghiệp, du lịch để phát hiện các vùng chuyên môn hóa hẹp
4) Phân vùng địa chất công trình: Phân chia lãnh thổ nghiên cứu theo các điều kiện địa
chất công trình Thường sử dụng các phân vị miền – theo địa kiến tạo; vùng - theo địa mạo; khu – theo sự phân bố các phức hệ địa tầng và nguồn gốc; khoảnh – theo một trong những yếu tố đặc trưng khác: Các hiện tượng và quá trình địa chất động lực công trình, địa chất thủy văn, tính chất cơ lý của đất đá, v.v
Xét tổ hợp các điều kiện địa chất công trình để đánh giá mức độ thuận lợi của từng phân vị đối với xây dựng Tùy theo tỷ lệ bản đồ được thành lập và đặc điểm của lãnh thổ, có thể phân nhỏ hơn nữa các phân vị trên, hoặc gộp chúng lại Bản đồ phân vùng được lập riêng hoặc biểu thị chung trên bản đồ địa chất công trình
5) Phân vùng khí hậu thủy văn: Hệ thống phân vị sơ đồ phân vùng khí hậu dựa trên hai
đặc trưng, một là phân hóa về tài nguyên nhiệt, hai là phân hóa về tài nguyên ẩm Hiện nay đang sử dụng phổ thông phân vị hai cấp là miền khí hậu và vùng khí hậu (Nguyễn Đức Ngữ, 2008)
Miền khí hậu: phân định theo tài nguyên nhiệt (biên độ/năm, tổng bức xạ/năm); hiện
có hai miền là miền bắc và miền nam
Vùng khí hậu: Trên mỗi miền, theo chỉ tiêu mưa ẩm (mùa mưa, ba tháng mưa cao nhất) đã phân vùng lãnh thổ thành 7 vùng khí hậu thủy văn sau đây: vùng Tây Bắc, vùng Đông Bắc, vùng Đồng bằng Bắc bộ, vùng Bắc Trung bộ, vùng Nam Trung bộ, vùng Tây nguyên, vùng Nam bộ
6) Phân vùng sinh thái nông nghiệp: Bộ NN&PTNT phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 7
vùng để phục vụ cho việc quy hoạch, phát triển nông nghiệp Các vùng sinh thái nông nghiệp gồm: Trung du và miền núi phía Bắc; đồng bằng sông Hồng; duyên hải bắc Trung bộ; duyên hải Nam Trung bộ; Tây Nguyên; Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Như vậy có sự khác nhau trong việc phân chia lãnh thổ theo ngành chuyên môn so với phân vùng sinh thái nông nghiệp, hoặc vùng sinh thái lâm nghiệp mà chúng ta đang nghiên cứu kể
cả tên gọi của phân vị cơ bản là vùng, ví dụ vùng Đồng bằng Bắc bộ hay vùng Đồng bằng Sông Hồng, vì trong vùng còn có hệ thống sông Thái Bình
2.1.2 Cấp phân vị và tên gọi
Hiện chưa có sự nhất quán trong tên gọi, số lượng và khái niệm của các cấp phân vị không phải chỉ do mục đích của sự phân vùng, mà còn tùy thuộc vào quan niệm và phương pháp của tác giả hay nhóm tác giả phân vùng
Trang 13Các văn bản nói trên đã hướng dẫn 7 cấp phân vị cảnh quan sinh thái (CQST) từ cấp thấp nhất, đó là:
1 Diện Cảnh quan sinh thái
2 Dạng cảnh quan sinh thái
3 Cảnh quan sinh thái
4 Vùng sinh thái
5 Khu sinh thái
6 Miền sinh thái
Hội khoa học đất phân vùng địa lý thổ nhưỡng Việt Nam (1996) trên bản đồ tỷ lệ 1/1.000.000 cũng đã dùng 4 cấp phân vị vĩ mô và đặt tên sát với tên trong thông tư 193/ UB-
VP năm 1963 của Ban phân vùng kinh tế là: i) 2 miền; ii) 6 á miền; iii) 16 khu; iv) 142 vùng
2.2 Phân vùng sinh thái
Phân vùng sinh thái cũng là một dạng phân vùng lãnh thổ như vừa mô tả tại tiết tại mục 2.1, nhưng nội dung phân vùng lại là các hệ sinh thái khác nhau
2.2.1 Phương pháp luận trong phân vùng sinh thái
Phân vùng sinh thái có vai trò hết sức quan trọng trong việc phân định địa lý tự nhiên, không gian môi trường, xác định các quy luật sinh thái đặc thù của từng vùng, tiểu vùng Phân vùng hiểu một cách đơn giản là sự phân chia lãnh thổ thành những đơn vị nhỏ hơn, nhưng có chung một hoặc một vài tiêu chí đã chọn Có rất nhiều loại phân vùng khác nhau ví dụ: Phân vùng địa lý tự nhiên; phân vùng địa chất; phân vùng khí hậu; phân vùng thủy văn; phân vùng sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi; v.v
Trong tổng quan này sẽ tổng hợp các hệ thống phân vùng lâm nghiệp từ trước đến nay làm
cơ sở lựa chọn các tiêu chí phân vùng sinh thái lâm nghiệp ở Việt Nam Trước hết, cần phải tìm hiểu một số khái niệm làm cơ sở cho việc phân vùng sinh thái:
Cảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, có cấu trúc cảnh quan địa lý và có
Trang 14chức năng sinh thái của hệ sinh thái (HST) đang tồn tại và phát triển ở trên đó
Cấu trúc của cảnh quan sinh thái gồm có cấu trúc của cảnh quan và cấu trúc của HST lồng vào nhau trong một thể thống nhất Ví dụ về cấu trúc cảnh quan: nền đá, địa hình, thổ nhưỡng, sinh vật, thủy văn, khí hậu…; về cấu trúc HST: vật chất vô cơ, hữu
cơ, sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy
Dạng cảnh quan sinh thái được đặc trưng bởi sự đồng nhất nền đá và các thể hình thái về tiểu hoặc trung địa hình đơn giản; tiểu hoặc khí hậu địa phương; các đặc điểm thủy văn quy mô tương ứng; các đơn vị đất; các quần xã thực vật
Chức năng sinh thái là sự vận động và biến đổi vật chất, năng lượng và hình thái của các thành phần cấu trúc trên Ví dụ: ngọn núi, đồng bằng, các mô hình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, v.v
Vùng sinh thái là một đơn vị lãnh thổ có cấu trúc đồng nhất tương đối bởi tính trội phát sinh của một kiến trúc địa chất thuộc một đới địa chất; Tập hợp các thể hình thái đại địa hình được đặc trưng tổng hợp tất cả các hợp phần tự nhiên: khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật, v.v, ví dụ: vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, v.v
Khu sinh thái được hình thành bởi một đới cấu trúc địa chất có chung lịch sử phát triển và đặc điểm kiến tạo là tập hợp các thể hình thái đại địa hình lớn hơn vùng sinh thái, có cùng đặc điểm về khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật, v.v, ví dụ: vùng kinh tế, tỉnh, v.v
Miền sinh thái được hình thành trong miền địa chất hay khu vực địa chất có chung đặc điểm của cấu trúc lớp vỏ trái đất chi phối các miền khí hậu và cùng với thảm thực vật ứng với miền khí hậu đó Ví dụ: miền xích đạo, ôn đới, nhiệt đới, v.v
Xứ sinh thái: Là cấp phân vị lớn nhất, quy mô lục địa và đại dương được đặc trưng bởi phần lãnh thổ gồm nhiều miền sinh thái Xứ sinh thái thường đề cập đến từng lục địa
Hệ sinh thái là đơn vị cơ bản của cảnh quan tự nhiên Theo Odum, hệ thống cảnh quan tự nhiên bao gồm bốn kiểu hệ sinh thái cơ bản: i) Các hệ thống sản xuất, ở đó diễn thế được con người kiểm soát liên tục nhằm duy trì mức năng suất cao; ii) Các
hệ thống bảo tồn hay tự nhiên, nơi cho phép hay tạo điều kiện cho quá trình diễn thế
tự nhiên tiến tới trạng thái bền vững; iii) Các hệ thống liên hợp, trong đó kết hợp cả hai kiểu trạng trên; và iv) Các hệ thống đô thị và khu công nghiệp hay những khu vực không thật quan trọng về mặt sinh học
Trên thế giới có các dạng phân vùng như sau: i) Phân vùng sinh thái phục vụ cho nghiên cứu các hệ sinh thái và khai thác tài nguyên; ii) Phân vùng cảnh quan tổng hợp các vấn đề có liên quan đến việc nghiên cứu các nguyên nhân phân hóa và tách biệt của môi trường địa lý (N.I Mikhailov, 1955) Là sự phân chia bề mặt trái đất mà trong đó khu vực được phân chia giữ nguyên tính toàn vẹn lãnh thổ và sự đồng nhất bên trong bắt nguồn từ sự chung nhất của sự
Trang 15phát triển, vị trí địa lý, quá trình địa chất…(A.G Ixatsenko, 1965); iii) Phân vùng địa lý tự nhiên là việc hợp nhất các lãnh thổ hoặc thủy vực tương đối đồng nhất về một dấu hiệu được thừa nhận ở một mức độ nhất định và tách chúng ra khỏi những khu vực không có dấu hiệu đó; iv) Phân vùng kinh tế là sự phân chia lãnh thổ thành hệ thống các loại vùng và cấp vùng kinh tế khác nhau nhằm mục đích xác định đúng đắn phương hướng phát triển kinh tế xã hội của vùng
Phân vùng mang những đặc tính là: i) tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại); ii) tính ước định ranh giới (có thể xác định hoặc không); và iii) tính chủ quan trong phân vùng thể hiện mục đích của phân vùng theo ý thức mong muốn của con người
Phân vùng phải bảo đảm các nguyên tắc: i) Có sự đồng nhất tương đối của sự phân hóa các chỉ tiêu phân vùng; ii) Có sự lựa chọn các nhân tố trội trong khi xem xét các biểu hiện mang tính ổn định của HST tự nhiên; iii) Bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ tiện cho việc khai thác, bảo vệ
và quản lý vùng
2.2.2 Những công trình phân vùng sinh thái ở Việt Nam
1) Phân vùng sinh thái đất trồng ngô (Trần An Phong và nnk, 2000) Lãnh thổ đất liền Việt Nam được chia thành 3 miền và 9 vùng
2) Phân vùng sinh thái thủy lợi Miền trung (Viện thủy lợi miền Nam, 2008) đã phân chia miền trung thành 4 vùng sinh thái là: Cát ven biển, đồng bằng, gò đồi trung du, núi cao 3) Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng (Cao Liêm, 1990) Trong 3 loại đất là bạc màu, chua mặn, úng trũng, đã phân chia 8 vùng, 13 tiểu vùng, thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000
4) Phân vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản 8 tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long (ĐHQG TP HCM) trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 đến 1/100.000 v.v
5) Được sử dụng hiệu quả và rộng rãi nhất là công trình “Phân vùng sinh thái nông nghiệp”
Sự phân chia lãnh thổ thành các vùng sản xuất nông nghiệp khác nhau, dựa trên cơ sở các điều kiện sinh thái như đất, nước, khí hậu khác nhau Phân vùng sinh thái nông nghiệp tạo cơ
sở cho việc sử dụng tài nguyên nông nghiệp có hiệu quả tối ưu, phát huy đầy đủ tiềm năng của từng vùng nhằm lựa chọn đúng các loại hình sử dụng đất nông -lâm nghiệp
Việt nam đã hoàn thành việc phân vùng sinh thái nông nghiệp, toàn lãnh thổ được chia thành
7 vùng là: miền núi và trung du Bắc bộ, đồng bằng sông Hồng, duyên hải Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long
Trang 16Phân vùng sinh thái nông nghiệp ở Việt nam đã làm cơ sở tốt cho việc xây dựng quy hoạch tổng thể các vùng kinh tế cũng như quy hoạch sử dụng đất của các tỉnh trong toàn quốc Phân vùng sinh thái nông nghiệp gắn kết rất chặt chẽ với phân vùng sinh thái lâm nghiệp, và đôi khi đã được sử dụng cho quy hoạch phát triển lâm nghiệp Tám vùng lâm nghiệp chỉ khác 7 vùng sinh thái nông nghiệp là có thêm vùng Tây Bắc (Bắc bộ), song vấn đề đang cần nghiên cứu tiếp là sự phát sinh và phát triển của các hệ sinh thái rừng khác với các hệ ngắn ngày của cây lương thực và bản thân HSTR còn phải cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường, cần được lựa chọn tiêu chí khác và phân vị khác với phân vùng sinh thái nông nghiệp
2.3 Phân vùng sinh thái lâm nghiệp
Cho đến nay, chưa có công trình xây dựng được hệ thống phân vùng STLN, nên vẫn tạm dùng 8 vùng lâm nghiệp, mà không gọi tên là vùng sinh thái, hay vùng kinh tế Năm 2006 khi xây dựng Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 thì đã sát nhập vùng Trung Tâm với vùng Đông Bắc (Bắc bộ) vì không còn cần thiết giữ lại một vùng Trung tâm
có các tiêu chí về khí hậu, đất đai, địa hình gần tương tự với vùng bên cạnh, mà chỉ ưu tiên phát triển trên dưới 100.000 ha rừng nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng, nên chỉ còn 8 vùng lâm nghiệp
Hệ sinh thái rừng bao gồm các kiểu thảm thực vật rừng trong cả nước được phân chia và sử dụng theo các phương pháp, các mục đích khác nhau, mà sẽ trình bày kỹ trong tiết trong mục 3.2 ở phần tiếp theo Cho tới nay, chưa có công trình phân vùng STLN nào ở Việt Nam được thực hiện, vì vậy quan tâm đầu tiên là cơ sở khoa học của “Phương pháp luận trong phân vùng sinh thái” được trình bày tại mục 4
3 Thảm thực vật rừng Việt Nam và đặc trưng phân bố
3.1 Giới thiệu về rừng và tài nguyên ĐDSH
3.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng và phân bố tự nhiên của rừng
Lãnh thổ Việt Nam nằm hoàn toàn trong đai nhiệt đới, và thuộc vùng có khí hậu gió mùa Tuy vậy các kết quả nghiên cứu phân vùng khí hậu tự nhiên lại cho thấy có sự chênh lệch đáng kể về các tiêu chí chi phối sự phát sinh, phát triển của các hệ sinh thái rừng, và hệ sinh thái nông nghiệp, đó là: tổng nhiệt độ năm, biên độ ngày và biên độ năm, có 1 mùa đông Các tiêu chí này tạo ra sự chênh lệch đáng kể về kích thước (đường kính, chiều cao, thể tích cây, trữ lượng gỗ và sinh khối, đặc biệt là ở các hệ sinh thái rừng hỗn loại thường xanh nhiệt đới và hệ sinh thái rừng ngập mặn
Trong khi nhân tố vĩ độ, và nhân tố địa đới ảnh hưởng không r rệt đến các hệ sinh thái rừng
và năng suất sinh học của chúng, thì sự chênh lệch theo độ cao lại có ảnh hưởng lớn tới việc hình thành các hệ sinh thái ôn đới núi cao (các kiểu phụ theo độ cao), và năng suất sinh học của chúng, thông qua nhiệt độ, lượng mưa, giờ chiếu sáng, thổ nhưỡng, địa mạo Mô tả chi
Trang 17tiết về các kiểu rừng được nêu trong mục 3 Ba phần tư diện tích lãnh thố Việt Nam là đồi núi, trong đó phân bố thực vật từ độ cao 1.000 m là có thay đổi r nét, trong khi các dãy Bi-đúp, Chư-yang-sin, Ngọc Linh ở miền Nam có độ cao trên 2.000 m, còn ở miền Bắc thì nhiều dãy núi tương tự hoặc cao hơn và cao nhất là dãy Hoàng Liên, có đỉnh Phan-xi-păng cao khoảng 3.143 m
Năm 1943 diện tích rừng Việt Nam lần đầu tiên được công bố là 14,3 triệu ha (P Maurant, 1943), khi đó toàn bộ diện tích rừng là rừng tự nhiên và đa số là rừng nguyên sinh Qua hai cuộc chiến tranh 1945 -1954, và 1965-1975 diện tích rừng Việt Nam đã giảm xuống còn 11,2 triệu ha Tốc độ giảm diện tích rừng nhanh nhất là 15 năm sau khi đất nước thống nhất (1975) và đến năm 1990 diện tích rừng đạt mức thấp nhất là 9,17 triệu ha, chiếm khoảng 64% diện tích rừng thống kê vào năm 1943 Từ năm 1990 trở đi, thông qua các chương trình
327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và điều kiện giảm thiểu sức ép lương thực, củi đốt, nên diện tích rừng đã tăng lên 11,3 triệu ha vào năm 2000 và 13,3 triệu ha năm 2009, đạt xấp xỉ 93% diện tích rừng ban đầu Tuy nhiên, diện tích rừng tăng chủ yếu là 3 triệu ha rừng trồng, còn rừng tự nhiên phục hồi chậm hơn, các hệ sinh thái nguyên sinh chỉ còn lại trong vùng l i của các khu bảo tồn hoặc các vườn quốc gia Bảng 1 chỉ r xu thế thay đổi diện tích rừng của Việt Nam trong 60 năm qua
Bảng 1 Sự thay đổi diện tích rừng Việt Nam, 1943 - 2009
Năm Diện tích rừng, triệu ha Rừng bao
Nguồn: Tổng Cục Lâm Nghiệp, 2010
Tổng trữ lượng gỗ cũng giống như tổng sinh khối cây sống đều có chung quy luật giảm trong thời gian nói trên, nhưng phục hồi thì lại chậm hơn Năm 1990 tổng trữ lượng gỗ là 657 triệu
m3, năm 2000 là 782 triệu m3
và năm 2005 là 812 triệu m3 Khi phân vùng STLN thì tổng trữ lượng gỗ sẽ được thống kê theo vùng, nhưng nó chỉ phản ánh khối lượng hiện trạng của rừng, chứ chưa thể dự báo tiềm năng năng suất của các hệ sinh thái sẽ được phục hồi Bảng 2 là kết quả kiểm kê năm 2005 về trữ lượng gỗ của các loại
Trang 18rừng theo 8 vùng sinh thái
Bảng 2 Trữ lượng rừng gỗ theo các vùng sinh thái (1000m3
Đông Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
bộ
Nam Trung
bộ
Tây Nguyên
Đông Nam
bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Tổng 811.678 43.030 65.777 4.763 192.321 145.714 288.559 66.005 5.509 RTN 758.134 41.320 50.332 3.152 183.274 130.436 285.663 63.186 770
% RTN 93,4 96,0 76,5 66,2 95,3 89,5 99,0 95,7 14,0
RT 53.545 1.710 15.444 1.611 9.048 15.278 2.896 2.819 4.739
% RT 6,6 4,0 23,5 33,8 4,7 10,5 1,0 4,3 86,0 Nguồn: Bộ NN-PTNT, QĐ 1267 ngày 05-05-2009
3.1.2 Tài nguyên ĐDSH rừng
Điều kiện sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến tính đa dạng của HSTR Lãnh thổ lục địa Việt Nam trải dài từ vĩ tuyến 8O35’ Bắc đến vĩ tuyến 23O24’ Bắc, phía Nam tiếp cận gần với vùng xích đạo, phía Bắc giáp với đai Á nhiệt đới Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và cận xích đạo Bờ biển dài 3.260 km từ Móng Cái đến Hà Tiên, nơi có rừng ngập mặn, nơi có rừng phi lao trên cát Địa hình đồi núi chiếm ba phần tư lãnh thổ, từ vùng ven biển đến đồng bằng, trung du, cao nguyên, vùng núi Chính điều kiện địa hình này đã làm cho Việt Nam không chỉ có khí hậu nhiệt đới gió mùa mà còn có cả khí hậu á nhiệt đới
và ôn đới núi cao Không kể miền khí hậu biển Đông, khí hậu lục địa có 3 miền khí hậu (phía Bắc, Đông Trường Sơn, phía Nam) với 10 vùng khí hậu đặc trưng cho các vùng sinh thái khác nhau (Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc, 1978) Điều kiện địa hình và khí hậu trên đây đã tạo nên nhiều quá trình hình thành đất khác nhau Việt Nam không chỉ có những lớp đất nhiệt đới điển hình như đất Feralit, đất nâu và đất đen nhiệt đới, v.v mà còn có cả lớp đất
á nhiệt đới, lớp đất phụ á nhiệt đới vùng núi và cả đất vàng alít pốtzôn hoá trên núi cao Tính ĐDSH của rừng Việt Nam được đánh giá là rất cao, không chỉ trong vùng mà cả trên thế giới Về khu hệ thực vật, ngoài những yếu tố bản địa, đặc hữu, Việt Nam còn là nơi hội
tụ của 3 luồng thực vật di cư từ Trung Quốc, Ấn Độ - Himalaya, Malayxia - Inđônêxia và các vùng khác kể cả ôn đới
Tính đa dạng về loài cây và động vật là một trong những nhân tố quyết định tính đa dạng về
hệ sinh thái rừng tự nhiên của Việt Nam (Phùng Ngọc Lan, 2006) Về khu hệ thực vật, ngoài những yếu tố bản địa, đặc hữu, Việt Nam còn là nơi hội tụ của 3 luồng thực vật di cư từ Trung Quốc, Ấn Độ - Himalaya, Malaixia - Inđônêxia và các vùng khác kể cả ôn đới Theo
Trang 19Nguyễn Nghĩa Thìn (2008), nước ta có khoảng 19.357 loài thực vật thuộc 2524 chi và 378
họ, trong đó có 1600 loài nấm, 368 loài vi khuẩn lam, 2175 loài tảo, 793 loài rêu, 2 loài khuyết lá thông, 57 loài thông đất, 2 loài thân đốt (cỏ tháp bút), 691 loài dương xỉ, 69 loài hạt trần và 1300 loài hạt kín Các nhà thực vật học dự đoán con số loài thực vật ở nước ta còn có thể lên đến 25.000 loài Trong các loài cây nói trên có khoảng 15.000 loài thực vật có mạch, số loài thực vật đặc hữu của Việt Nam chiếm khoảng 30% tổng số loài thực vật ở miền Bắc và chiếm khoảng 25% tổng số loài thực vật trên toàn quốc (Lê Trần Chấn, 1997),
có ít nhất 1.000 loài cây đạt kích thước lớn, 354 loài cây có thể dùng để sản xuất gỗ thương phẩm Các loài tre nứa ở Việt Nam cũng rất phong phú, trong đó có ít nhất 40 loài có giá trị thương mại Sự phong phú về loài cây đã mang lại cho rừng Việt Nam những giá trị to lớn
về kinh tế và khoa học Theo thống kê của Viện Dược liệu (2003), hiện nay đã phát hiện được 3.850 loài cây dùng làm dược liệu chữa bệnh, trong đó chữa được cả những bệnh nan y hiểm nghèo Theo thống kê ban đầu, đã phát hiện được 76 loài cây cho nhựa thơm, 600 loài cây cho tananh, 500 loài cây cho tinh dầu và 260 loài cây cho dầu béo
Về động vật, theo tư liệu của IUCN/CNPPA (1986) khu hệ động vật Việt Nam khá giàu về thành phần loài và có mức độ cao về tính đặc hữu so với các nước trong vùng phụ Đông Dương Trong số 21 loài khỉ có trong vùng phụ này thì Việt Nam có 15 loài, trong đó có 7 loài và phân loài đặc hữu (Eudey 1987) Theo Mackinon, trong vùng phụ có 49 loài chim đặc hữu thì Việt Nam đã có 33 loài trong đó có 10 loài đặc hữu của Việt Nam Năm 2008, Nguyễn Nghĩa Thìn đã thống kê được số lượng các loài động vật ở Việt Nam là 9.325 loài, trong đó có 5500 loài côn trùng, 2476 loài cá, 800 loài chim, 80 loài lưỡng cư, 180 loài bò sát và 295 loài thú
3.2 Các hệ sinh thái rừng, cơ sở khoa học của phân loại và áp dụng
3.2.1 Khái niệm về HSTR
Sinh thái học (Ecology), theo Đỗ Hữu Thư (2010), bắt nguồn từ chữ Hy Lạp “Oikos”có nghĩa là nơi sống, nhà ở, “Logos” là môn học, khoa học Theo nghĩa này nó là khoa học về nơi ở của sinh vật
Đã từ lâu trong ý thức của nhiều nhà khoa học và trong một số công trình của mình đã có nội dung sinh thái học Ví dụ trong công trình của Conrad von Gesner (1555), công trình của J.Ray (1717), A.v.Haller (1732), J.P.de Tournefort (1727) đã chỉ ra ảnh hưởng của độ cao và
vĩ độ đến phân bố của các loài thực vật J.G Gmelin (1750) đã so sánh sự giống nhau và khác nhau của hệ thực vật vùng Siberi với vùng núi Châu Âu P.S Pallas (1741) đã chỉ ra sự phụ thuộc của một số thảm thực vật vào khí hậu C.L Willdenow (1792) đã chỉ ra mối quan
hệ giữa thực vật với môi trường Ông đã tìm cách chia Châu Âu thành các tỉnh hệ thực vật khác nhau, nhưng mãi đến năm 1823 J.F Schouw mới hoàn thành công trình chia thảm thực vật trên trái đất thành các vựng (tỉnh)
Trang 20Công trình địa thực vật (Geobotanik) của A.F Humboldt (1807) “Ideen zu einer Geographie der Pflanzen” đã đề cập rất sâu về mối quan hệ giữa thảm thực vật với các yếu tố môi trường Công trình của J.Liebig (1840, 1843) đã chỉ ra mối quan hệ giữa phân bón với năng suất một số cây trồng Từ công trình này tác giả đã đưa ra định luật tối thiểu, một trong những định luật cơ bản của sinh thái học hiện đại Tuy nhiên thuật ngữ sinh thái học (Ecology) chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1858 trong bức thư của nhà văn người Mỹ Henry David Thoreau và đến năm 1866 nó mới được E.Haeckel đưa ra định nghĩa trong cuốn sách về “hình thái chung của các cơ thể” Theo tác giả thì sinh thái học là khoa học chung về mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường Từ năm 1870 tác giả chỉnh lý bổ sung làm sáng tỏ thêm định nghĩa sinh thái học
Bên cạnh định nghĩa của E.Haeckel đưa ra, còn nhiều định nghĩa khác như nhà khoa học Mỹ F.Clement (1920) cho rằng: Sinh thái học là khoa học về các quan hệ Nhà sinh thái học cũng người Mỹ H.T.Odum (1959) đưa ra định nghĩa: Sinh thái học là khoa học nghiên cứu
về cấu trúc của thiên nhiên Nhà khoa học Xô Viết X.Svartx (1972) định nghĩa: Sinh thái học
là khoa học về các quy luật điều khiển đời sống của thực vật, động vật trong môi trường sống tự nhiên
Chúng ta gặp rất nhiều định nghĩa tương tự trong các công trình nghiên cứu khác nhau Điều chung nhất của các định nghĩa đó là mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa sinh vật và môi trường đây chúng tôi theo định nghĩa sau: sinh thái học là một hợp phần của khoa học về
sự sống, là khoa học nghiên cứu các điều kiện sinh tồn và phát triển của sinh vật, các mối quan hệ tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường và giữa sinh vật với nhau trong quá trình tồn tại phát triển và tiến hoá của chúng đây con người được coi là yếu tố sinh vật, nhưng là nhân tố đặc biệt, bởi lẽ nó có tính chất xã hội cao mà không một sinh vật nào có được Mặt khác con người hiện đại đã làm biến đổi cơ bản môi trường Do đó con người đã
tự nó vượt ra khỏi phạm vi khái niệm môi trường nguyên thuỷ và đứng ở vị trí độc lập trong
hệ thống tự nhiên - con người Cũng từ đây xuất hiện sinh thái học nhân văn (Human Ecology) Con người là đối tượng trung tâm trong hệ sinh thái này, mọi nghiên cứu đều hướng tới phục vụ lợi ích cao nhất của con người Cũng cần nhấn mạnh rằng dù con người
có tiến bộ đến đâu cũng không thể tách mình khỏi tự nhiên Nếu tách con người ra khỏi tự nhiên con người sẽ bị diệt vong Cách đây gần 50 năm nhà khoa học Pháp đã viết “ con người đã mắc phải một sai lầm rất lớn khi lên mặt cho rằng có thể tách rời khỏi thiên nhiên
và phớt lờ các quy luật của nó Giữa con người và môi trường tự nhiên bao quanh nó từ rất lâu đã có sự gián đoạn Bản “hiệp ước cũ gắn bó người nguyên thuỷ với nơi sinh sống của nó
đã bị một bên là con người huỷ bỏ ngay sau khi nó tự cảm thấy đã đủ mạnh để từ đó về sau chỉ thừa nhận các quy luật do chính nó đề ra Cần phải xem xét lại hoàn toàn quan điểm đó
và ký kết một hiệp ước mới với thiên nhiên - hiệp ước mang lại cho con người khả năng sống hài hoà hoàn toàn với thiên nhiên” (Trích theo V.Dejkin 1985) Sinh thái học đang chuẩn bị văn bản cho hiệp ước đó Trong công trình này, sinh thái học cũng được hiểu là khoa học về mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường
3.2.2 Các cấp bậc (hợp phần) của sinh thái học
Từ bậc cơ thể trở lên, các nhà sinh thái học kinh điển đã chia sinh thái học thành 5 cấp (theo R.Schubert 1986, H.J Mueller 1988) theo trình tự từ thấp đến cao:
Trang 21 Cá thể (Autecology) thuật ngữ do J Schroeter đưa ra năm 1896
Quần thể (Populationecology = Demecology) do F.Schwerdtfeger, 1968
Quần xã (Biogeocenos = Synecology= community) do Schroeter, 1902
Quần hệ hay Hệ sinh thái (Ecosystem= Biome)
Sinh quyển (biophere)
Do tiếng Việt được biên dịch từ tiếng hán, nên khó nhớ, khó phân biệt các cấp bậc Điều cần nhớ ở đây là đơn vị cấp quần xã (biogeocenos hoặc community), và cấp bậc quần hệ hay hệ sinh thái, là các đơn vị được sử dụng thường xuyên
Điều khác biệt giữa sinh thái học cá thể và sinh lý học cần được nhấn mạnh là: STH cá thể nghiên cứu phản ứng của toàn bộ cơ thể sinh vật với môi trường, cũng ngược lại, sinh lý học nghiên cứu phản ứng của từng bộ phận cơ thể sinh vật (theo Dương Hữu Thời, 1998) Tất nhiên sinh lý học luôn gắn với nhau
Hiện nay cũng có nhiều tác giả cho rằng chỉ có khái niệm môi trường, chứ không có khái niệm môi trường sinh thái Thế nhưng H.J.Mueller (1988) đã phân biệt rất r khái niệm môi trường (Umwelt, Environment) với môi trường sinh thái (Oekologische Umwelt)
3.2.3 Các HSTR chủ yếu ở Việt Nam
Trừ các HSTR thuần loài có cấu trúc giản đơn, chiếm tỷ trọng diện tích nhỏ trên lãnh thổ như rừng lá kim, rừng tràm, rừng tre nứa, và nay có thêm các HST rừng trồng, đa số rừng nhiệt đới là rừng hỗn loài, rừng hỗn loài nguyên sinh hoặc ít bị tác động, rất cần cho nghiên cứu dự báo năng suất sinh học đều chỉ còn phân bố trong các khu Bảo tôn thiên nhiên, vườn quốc gia, những nơi chưa mở mang đường xá, và vùng sâu, vùng xa, núi cao hẻo lánh Dưới đây tổng hợp các hệ sinh thái rừng tự nhiên điển hình:
1 Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (Evergreen closed tropical humid forest)
Những hệ sinh thái rừng thuộc kiểu thảm thực vật này rất phong phú và đa dạng, phân bố ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Lào Cai, Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên Huế, Quảng Nam, Tây Nguyên, v.v Phân bố theo độ cao so với mực nước biển cho thấy HSTR này phân bố ở độ cao dưới 700 m ở miền Bắc và dưới 1.000 m ở miền Nam
HSTR này thường có cấu trú tầng thứ có 5 tầng:
Tầng vượt tán (Upper storey) A1: cây gỗ cao đến 40 - 50 m, thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Đậu (Leguminosae), v.v
Tầng ưu thế sinh thái (Ecological dominance storey) A2: phần lớn là những loài cây thường xanh thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Cánh bướm (Papilionaceae), họ Bồ
Trang 22hòn (Sapindaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Trám (Burseraceae), v.v
Tầng dưới tán (Lower storey) A3: cao từ 8 - 15 m, mọc rải rác dưới tán rừng, thuộc các họ Bứa (Clusiaceae), họ Du (Ulmaceae), họ Máu chó (Myristicaceae), họ Na (Annonaceae), họ Mùng quân (Flacourtiaceae), v.v
Tầng cây bụi (Bushes storey) B: cao từ 2 - 8 m thuộc các họ Cà phê (Rubiaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Cam quýt (Rutaceae), họ Na (Annonaceae), họ Mua (Melastomaceae), họ Nhân sâm (Araliaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), v.v
Tầng cỏ quyết (Climber storey) C: cao không quá 2 m thuộc các họ Ô rô (Acanthaceae), họ Gai (Urticaceae), họ Môn ráy (Araceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Hành tỏi (Liliaceae) và những loài dương xỉ, v.v
Các kiểu phụ miền thực vật trong HSTR này gồm:
Khu hệ thực vật Nam Việt Nam – Malaixia – Inđônêxia (Flora of Sothern Vietnam – Malaysia and Indonesia), ưu hợp họ Dầu (Dipterocarpaceae):
Đặc trưng cơ bản dễ nhận biết của kiểu phụ này là độ ưu thế của các loài cây họ Dầu
(Dipterocarpaceae) ở các tầng trên Phần lớn các loài cây rừng đều thường xanh như
Sao đen (Hopea odorata), Kiền kiền (Hopea pierrei), Săng đào (Hopea ferrea ), Táu mặt quỉ (Hopea mollissima), Táu lá nhỏ (Vatica tonkinensis), Táu muối (Vatica
fleuryana), Chò đen (Parashorea stallata), v.v miền Nam, đặc biệt là Tây
Nguyên, loài cây tiêu biểu cho họ Dầu là Dầu rái (Dipterocarpus alatus), Dầu đồng (Dipterocarpus turberculatus)
Ngoài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae), còn có những loài cây bản địa thường xanh
thuộc các chi: Gụ (Sindora), Ràng ràng (Ormosia), Muồng (Cassia), v.v, thuộc họ Đậu (Leguminosae); Dẻ đá (Lithocarpus), Dẻ (Castanopsis), Sồi (Quercus) v.v, thuộc họ Dẻ (Fagaceae); Trâm (Syzygium), Eugenia thuộc họ Sim (Myrtaceae); Trà (Camellia), Huỳng nương (Terstoemia), Vối thuốc (Schima) thuộc họ Chè (Theaceae); Bứa (Garcinia), Vắp (Mesua), Cà lồ (Calophyllum) thuộc họ Bứa (Clusiaceae); Sấu (Dracotomelum), Xoài mủ (Bouea), v.v, thuộc họ Xoài (Anacardiaceae); Gội (Aglaia), Gội gác (Aphanamixis), Chặc khế (Dysoxylon), Quyếch (Chisocheton) thuộc họ Xoan (Meliaceae)
Các ưu hợp (dominant groups) chính bao gồm: ưu hợp Sao đen (Hopea odorata); ưu hợp Kiền kiền (Hopea pierrei); ưu hợp Chò chỉ ( Parashorea chinensis); ưu hợp Chò nâu (Dipterocarpus tonkinensis); ưu hợp Dầu rái (Dipterocarpus alatus); các ưu hợp táu (Vatica sp.); ưu hợp Vên vên (Anisoptera costata)
Khu hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa (Flora of Northern Vietnam – South of China): Kiểu phụ miền này thường ở vùng thấp, ở miền Bắc dưới độ cao
700 m so với mực nước biển và trên đường đẳng nhiệt tháng lạnh nhất 20oC; ở miền Nam ở vùng thấp ẩm, ở độ cao dưới 1.000 m so với mực nước biển thuộc dãy
Trang 23Trường Sơn
Các ưu hợp chính bao gồm: ưu hợp họ Re (Lauraceae); ưu hợp họ Dẻ (Fagaceae);
ưu hợp họ Xoan (Meliaceae); ưu hợp họ Dâu tằm (Moraceae); ưu hợp họ Mộc lan
(Magnoliaceae); ưu hợp họ Đậu (Leguminosae); ưu hợp họ Xoài (Anacardiaceae);
ưu hợp họ Trám (Burseraceae); ưu hợp họ Bồ hòn (Sapindaceae); ưu hợp họ Hồng
Cấu trúc rừng gồmtầng cây gỗ (A1, A2 và A3) Điển hình là hai loài cây rụng lá: Săng lẻ
(Lagerstroemia tomentosa ) và Sau sau (Liquidambar formosana) Ngoài ra còn có các loài
cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), Xoan (Meliaceae), Đậu (Leguminosae), Đa tích (Datiscaceae), Dâu tằm (Moraceae), Đào lộn hột (Anacardiaceae), Bàng (Combretaceae), Long não (Lauraceae), Trám (Burseraceae), Nhãn (Sapindaceae), v.v Chiều cao quần thể đạt đến 40 m, nhiều loài cây có bạnh vè Các kiểu phụ miền gồm:
Kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ Malaixia - Inđônêxia và khu hệ Ấn Độ
- Myanma: Kiểu phụ này phát hiện ở Mường Xén, Con Cuông (Nghệ An), điển hình
là cây Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa) mọc hỗn giao với Lim xanh (Erythrophoeum fordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis), Sến mật (Madhuca
pasquieri) Ngoài ra còn có nhiều loài cây rụng lá khác như các loài dẻ (Quercus acutissima, Quercus serrata, Quercus griffithii), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Xoan ta
(Melia azedarach), Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis) Có quần thể tổ thành loài cây rụng lá gần như thuần loài như Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa) ở Con Cuông (Nghệ An), Sau sau (Liquidamba formosana ) ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và Biển Động
(Bắc Giang) Khu hệ thực vật Việt Nam có nhiều loài cây rụng lá thuộc các họ: họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Đậu (Leguminosae), Bàng (Combretaceae), Đa tích (Datiscaceae), Trôm (Sterculiaceae), Đào lộn hột (Anacardiaceae), Xoan (Meliaceae), Nhãn (Sapindaceae), Đinh (Bignoniaceae), Du (Ulmaceae), Dâu tằm (Moraceae), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae)
Kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung
Hoa và khu hệ di cư Ấn Độ - Myanma: Kiểu phụ miền này có các loài cây rụng lá
thuộc các họ Xoan (Meliaceae), Nhãn (Sapindaceae), Đậu (Leguminosae), Xoài (Anacardiaceae), Dẻ (Burseraceae), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae)
3 Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi (Evergreen broad leaved forests on limestone)
Núi đá vôi phân bố trong 24 tỉnh và thành phố nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc
Trang 24và Bắc Trung Bộ Các tỉnh có núi đá vôi là: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Có thể phân vùng núi đá vôi thành 5 vùng như sau: vùng Cao Bằng - Lạng Sơn; vùng Tuyên Quang - Hà Giang; vùng Tây Bắc - Tây Hoà Bình - Thanh Hoá; vùng Trường Sơn Bắc và vùng quần đảo
Phân bố theo vĩ độ thì HSTR này phân bố từ Hà Tiên đến Cao Bằng (23oB), chủ yếu từ Quảng Bình (17o B) trở ra Phân bố theo đai độ cao từ vài chục mét lên đến 1.200 m so với mực nước biển Cấu trúc tầng thứ và tổ thành loài cây khá phong phú Có thể chia HSTR này theo độ cao như sau:
3.1 Rừng núi đá vôi ở đai thấp dưới 700 m (Forests on limstone below 700m)
a) Rừng kín thường xanh chân núi đá vôi (Evergreen closed forest on foot of limestone): Cấu trúc rừng phức tạp, có 5 tầng:
Tầng vượt tán (A1): Cây cao trên 40 m thuộc các họ Leguminosae hay Combretaceae,
Dipterocarpaceae và các loài phổ biến như: Sấu (Dracontomelum duperreanum), Thung (Tetrameles nudiflora), Sâng (Pometia pinnata), Chò nhai (Anogeissus
acuminata)
Tầng ưu thế sinh thái (A2): gồm những cây gỗ cao từ 20 đến 30m thuộc các họ: Dẻ (Fagaceae), Long não (Lauraceae), Vang (Caesalpiniaceae), Trinh nữ (Mimosaceae), Đậu (Fabaceae), Bồ hòn (Sapindaceae), Mộc lan (Magnoliaceae), Xoan (Meliaceae)
và các loài Sao xiêm (Hopea siamensis), Máu chó (Knema sp), Sao (Hopea sp)
Tầng dưới tán (A3): gồm những cây cao dưới 15 m, mọc rải rác thuộc các họ: Bứa (Clusiaceae), Du (Ulmaceae), Na (Annonaceae) cùng với các chi: Lọ nồi
(Hydnocarpus sp.), Trôm (Sterculia sp.), Mang (Pterospermum sp.), Dâu da (Baccaurea ramiflora) và các loài đặc trưng Ruối ô rô (Streblus ilicifolius), mạy tèo (Streblus macrophyllus), v.v
Tầng bụi (B): gồm những cây bụi, gỗ nhỏ cao dưới 8 m thuộc các họ: Trúc đào (Apocynaceae), Cà phê (Rubiaceae), Mua (Melastomataceae), Ngũ gia bì (Araliaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Ô rô (Acanthaceae), v.v
Tầng thảm tươi (C): gồm các cây thân thảo thấp (dưới 2 m) thuộc các họ: Araceae, Acanthaceae, Urticaceae, Zingiberaceae, Begoniaceae, Convallariaceae, v.v Thực vật ngoại tầng gồm dây leo thuộc các họ: Nho (Vitaceae), Đậu (Fabaceae), Mồng gà (Connaraceae) và các cây bì sinh, kí sinh thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), Tầm gửi (Loranthaceae), họ Ráy (Araceae),v.v
b) Rừng thường xanh sườn núi đá vôi (Evergreen forests on limestone slopes):
Các loài cây của rừng thường xanh sườn núi đá vôi gồm có: Ruối ô rô (Streblus ilicifolius), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Quất hồng bì (Clausena lansium), Lòng tong (Walsura sp.), Arytera sp, Sếu (Celtis sp.), Trai (Garcinia fagraeoides), Phoebe sp, Lát hoa (Chukrasia
tabularis), Táo vòng (Drypetes perreticulata), An phong (Alphonsea sp.), Mại liễu (Miliuisa
Trang 25balansae), cơm rượu (Glycosmis sp.), Thị (Diospyros sp.), Búng báng (Arenga pinnata),
Máu chó (Knema sp.), Cách hoa (Cleistanthus sumatranus), nhọc (Polyalthia sp.), Bình linh (Vitex sp.), gội (Aglaia gigantea), Dâu da xoan (Spondias lakonensis), v.v
c) Rừng kín thường xanh đỉnh núi đá vôi (Evergreen forests on top of limstones)
Cấu trúc rừng đơn giản thường chỉ 1 đến 2 tầng gồm những cây cao từ 8 - 15m như: Chân
chim (Schefflera spp.), Sầm (Memecylon spp.), Sến đất (Sinosideroxylon sp.), Bông mộc (Boniodendron sp.), Bì tát (Pistasia cucphuongensis.), Cánh kiến (Mallotus philippensis) Thực vật tầng thấp là những loài cây bụi như Mua (Melastoma spp.), Trâm (Syzygium spp.)
và lớp thảm tươi như Ráng cánh bần (Dryopteris spp.), Ráng cổ lí (Colysis cucphuongensis), Ráng yểm dực (Tectaria spp.), Quyển bá (Selaginella spp.), Riềng (Alpinia spp), Thu hải đường (Begonia spp), Bóng nước (Impatiens spp.), thuốc bỏng (Kalanchoe sp.) với các loài cây thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), Tầm gửi (Loranthus spp.), dây leo như Vằng (Jasminum sp.), Mảnh bát (Coccinia grandis), Đại hái (Hodgsonia macrocarpa), v.v
3.2 Rừng núi đá vôi ở đai cao 700 - 1.000 m (Forests on limstones with elevation of 700 – 1000m)
Khu vực núi đá vôi có độ cao trên 700m, phân bố chủ yếu ở miền Bắc, tập trung ở khu vực Đông Bắc mà đại diện là Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, v.v Ngoài ra, còn một số đỉnh núi
đá vôi rải rác ở Bắc Trung Bộ dọc theo biên giới Việt - Lào như: Pu Xai, Lai Leng, Pù Hoạt,
Pù Huống, Xuân Liên Các kiểu rừng chính gồm:
a) Rừng cây lá rộng thường xanh thung lũng và chân núi đá vôi (Evergreen broad leaved forests on valley and foots of limestone):
Phổ biến có các loài thuộc Gội (Aglaia sp.), Chò nâu (Dipterocarpus retusus), Chò chỉ (Shorea chinensis), Táu ruối (Vatica diospyroides), Giẻ (Quercus spp.), Sồi (Lithocarpus spp.), Mộc lan (Michelia sp.), Mỡ (Manglietia sp.) và Long não như Litsea spp,
Cryptoccarya spp., Machilus spp ở tấng 1 và các loài: Thị (Dipspyros spp), Chẹo
(Engelhardtia sp.), Nhội (Bischofia javanica), Cà muối (Cipadessa baccifera), Nhọ nồi (Hydnocarpus clemensorum), Lòng mang (Pterospermum sp.), Sếu (Celtis cinamomea), Sơn trà (Eriobotrya poilanei), Re (Cinnamomum bonii), Xoan hôi (Toona sinensis), Lát núi (Koelreuteria sp.) ở tấng 2 và thị (Diospyros spp.), ngát (Gironniera subaequalis), nhọc (Polyalthia sp), mắc mật (Clausena spp.) ở tấng 3
b) Rừng cây lá rộng thường xanh sườn núi đá vôi:
Phổ biến loài nghiến (Burretiodendron), nhô lên với đường kính 70 - 80 cm, Trai (Garcinia sp.), Đinh (Marchantia sp.), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum), Trâm (Syzygium spp), Thị (Diospyros sp.), Kháo (Phoebe sp), Nhọc (Polyalthia sp), Thôi ba (Alangium
Trang 26các loài như: các loài Tuế (Cycas spp.), Hoàng đàn (Cupressus torulosa), Hoàng đàn giả
(Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia fleuryi), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri),
Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), Du sam đá vôi (Keteleeria davidiana var davaniana), Sam bông sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis), Sam bông sọc trắng (Amentotaxus
yunnanensis), Thông đỏ (Taxus chinensis), Sam kim hỷ (Pseudotsuga chinensis), Bách vàng
(Xanthocyparis vietnamensis) Tầng thấp chủ yếu là các loài cây như Thanh hương (Pistacia
weimanifolia), Cồng (Calophyllum bonii), Mắc mật (Clausena indica), Huyết giác
(Dracaena cambodiana), Han (Laportea sp.), Thu hải đường (Begonia sp.), Mã hồ (Mahonia
nepalensis), Cỏ lá tre (Setaria palmifolia), v.v
d) Rừng lùn cây lá rộng đỉnh núi đá vôi (Short broadleave forest on top of limestone)
Cấu trúc rừng chỉ có một tầng với những cây gỗ nhỏ chiều cao khoảng 6-10 m Các loài đặc
trưng như: Tuế (Cycas spp.), Thiết sam giả (Pseudotsuga chinensis), Thiết sam giả lá ngắn (P brevifolia ), Thiết sam đông bắc (Tsuga chinensis), Hồi núi (Illicium griffithii), các loài Ngũ gia bì (Schefflera spp), Dẻ (Quercus spp., Lithocarpus spp.), Chè núi (Ternstroemia
japonica), Pistacia weimanifolia), Đỗ quyên (Ericaceae) như: Rhododendron spp., Vaccinium dunalianum và các loài re (Cinnamomum sp.), Lài núi (Jasminum lanceolarium),
Câng (Tirpitrzia sinensis), v.v
4 Hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên (Natural needle leave forests)
Hệ sinh thái rừng lá kim gồm 2 dạng: hệ sinh thái rừng lá kim á nhiệt đới núi thấp phân bố chủ yếu ở vùng núi như Yên Châu, Mộc Châu (Sơn La), Nghệ An, Hà Giang, Đà Lạt (Lâm Đồng), v.v, và hệ sinh thái rừng lá kim ôn đới núi cao trung bình phân bố chủ yếu ở Sa Pa (Lào Cai), Tuần Giáo (Lai Châu) Hà Giang, Tây Côn Lĩnh (Cao Bằng), Chư Yang Sinh (Nam Trung Bộ), Lâm Đồng, v.v Các hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên gồm:
a) Hệ sinh thái rừng lá kim á nhiệt đới núi thấp (Lowland sub-tropical needle leave forest)
miền Nam, tầng cây gỗ chủ yếu Thông nhựa (Pinus merkusii), Thông ba lá (Pinus kesiya) mọc lẫn với Trà beng (Dipterocarpus obtusifolius) miền Bắc, điển hình là cây Du sam (Keteleeria davidiana), Thông nhựa (Pinus merkusii) Có 2 kiểu phụ thuộc hệ sinh thái này:
Kiểu phụ miền thân thuộc với khu hệ thực vật Ấn Độ - Myanma: miền Nam đặc
trưng rừng thông nhựa (Pinus merkusii) tự nhiên với các loài mọc xen lẫn như Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Dẻ đá (Lithocarpus harmandii), Giổi bà (Michelia bailonii), v.v Tầng cây bụi thấp thường có loài Chua nem (Vaccinium
chevalierri) và Vối thuốc (Schima crenata) Tầng thảm tươi gồm có cỏ Guột
(Dicranopteris linearis), Quyết (Nephrolepis hirsuta) v.v
miền Bắc, tại Quảng Yên (Quảng Ninh), có các loài mọc xen như Lim xanh
(Erythrophoeum fordii Olive), Dẻ gai (Castanopsis tribuloides), Re (Cinnamomun sp) Tầng cây bụi gồm có chua nem (Vaccinium chevalierri), Hoắc quang (Wendlandtis glabrata)
Kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Himalaya - Vân Nam - Quí Châu: Đặc trưng là rừng Thông ba lá (Pinus kesiya) mọc xen lẫn với các loài dẻ như
Trang 27Quercus helferiana, Lithocarpus dealbata, Lithocarpus pynostachya, v.v Ngoài ra
còn có các loài trong họ Đỗ quyên (Ericaceae)
cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), Thuận Châu (Lai Châu), v.v, có Du sam
(Keteleeria davidiana) chiếm ưu thế ở tầng trên với các loài dẻ rụng lá như Quercus
griffthii, Quercus serrata, Quercus acutissima v.v…và các loài cây trong họ Re
có Thông lá dẹp (Ducampopimus krempfii ), Thông năm lá Đà lạt (Pinus dalatnensis) Ngoài
ra, ở vành đai ôn đới núi cao thuộc dãy núi Phan Xi Păng trên độ cao 2.400 - 2.900 m còn có
Thiết sam (Tsuga yunnanensis ), ở độ cao trên 2,600 m (Abies pindrow ), v.v
Kiểu phụ cho hệ sinh thái này là kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa Kiểu phụ này được phát hiện ở Mường Phăng, độ cao 1335 m
so với mực nước biển với 3 tấng chính ưu thế là Tô hạp (Calocedrus macrolepis) cao đến 35
m mọc hỗn loài với Actinodaphne sinensis, Phoebe sp, Litsea baviensis v.v… thuộc họ Re (Lauraceae), và dẻ gai (Castanopsis hickelii) thuộc họ Dẻ (Fagaceae) Tầng A2 cao từ 10 -
20 m bao gồm một số loài cây thuộc họ Re (Lauraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Máu
chó (Myristicaceae) và họ Du (Ulmaceae) Tầng B gồm một số loài cây Blastus sp, Cau rừng (Pinanga baviensis ), loài Lasianthus sp, dương xỉ thân gỗ (Gymnosphoera podophylla ), Sặt (Arundinaria sp)
5 Hệ sinh thái rừng thưa cây họ dầu (Dry dipterocarp forest)
Rừng khộp phân bố tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai Ngoài ra còn có ở Di Linh (Lâm Đồng) và những đám rừng khộp nhỏ phân bố ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Sông Bé, Tây Ninh Về vĩ độ, rừng khộp phân bố từ vĩ độ 14oB (Gia Lai) đến vĩ độ 11o B (Tây Ninh) Về
độ cao so với mực nước biển, rừng khộp phân bố tập trung ở độ cao từ 400 - 800 m
Khu hệ thực vật rừng khộp có liên quan đến khu hệ thực vật Malaixia - Inđônêxia với tổ thành loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) chiếm ưu thế Khu hệ thực vật rừng khộp bao gồm 309 loài cây thuộc 204 chi, 68 họ, trong đó có hơn 90 loài cây gỗ với 54 loài cây gỗ lớn, gỗ trung bình
Ngoài những loài cây họ Dầu chiếm ưu thế còn có: Cẩm xe (Xylia xylocarpa) thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae), Lọng bàng (Dilleniahe terosepala) thuộc họ Dilleniaceae, Đẻn (Vitex pendencularia) thuộc họ Verbenaceae, Mà ca (Buchanania arborescens) thuộc họ
Anacardiaceae v.v điều kiện lập địa tốt, có thể xuất hiện một số loài cây có giá trị như
Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), Cẩm lai (Dalbergia bariensis), v.v Dưới đây giới
thiệu 4 ưu hợp cây họ dầu phổ biến
Ưu hợp cẩm liên (Shorea siamensis): Cẩm liên mọc hỗn giao với hai loài cây phổ
biến là dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus) và Giáng hương (Pterocarpus
Trang 28macrocarpus) Ngoài ra còn có các loài cây Cà chít (Shorea obtusa), Gáo (Nauclea
spp.), Sang lẻ (Lagestroemia spp.), v.v
Ưu hợp cà chít (Shorea obtusa): Cà chít chiếm ưu thế đến 50% cá thể Ngoài ra còn
mọc hỗn giao với Cẩm liên (Shorea siamensis), Dầu trà beng (Dipterocarpus
obtusifolius), v.v
Ưu hợp dầu đồng (Dipterocarpus tuberculatus): Ba loài cây phổ biến hỗn giao với dầu đồng là chiêu liêu lông, cẩm liên liên (Shorea siamensis), cà chít (Shorea
obtusa), trong đó dầu đồng và cẩm liên đóng góp phần lớn vào trữ lượng rừng
Ưu hợp dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius): Ưu hợp này phân bố tập trung ở
độ cao so với mực nước biển từ 600 - 900 m thuộc các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng
6 Hệ sinh thái rừng ngập mặn (Mangrove forests)
Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố dọc bờ biển Việt Nam thuộc 28 tỉnh và thành phố Phan Nguyên Hồng (1999) đã chia vùng phân bố rừng ngập mặn Việt Nam thành 4 khu vực với 12 tiểu khu và xác định điều kiện sinh thái cho từng tiểu khu: khu vực I - ven biển Đông Bắc; khu vực II - ven biển đồng bằng Bắc Bộ; khu vực III - ven biển Trung Bộ từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tầu; và khu vực IV - ven biển từ Vũng Tàu đến đến mũi Nãi, Hà Tiên (ven biển phía tây bán đảo Cà Mau)
Các đại diện cho hệ sinh thái này chủ yếu các cây ưa mặn: Đước (Rhizophora apiculata), Đước đôi (R Mucronata), Vẹt khang (Brugyeria parviflora), Vẹt trụ (B Gymnorhiza), Trang
(Kandelia ovata) thuộc họ Đước (Rhizophoraceae); Mắm biển (Avicennia marina) Mắm
trắng (A Alba), Mắm đen (A Oficinalis) thuộc họ mắm (Avicenniaceae); Bần chua
(Sonneratia alba), Bần sẻ (S Caseolaris) thuộc họ Bần (Sonneratiaceae); Chà là (Phoenix paludosa) thuộc họ Dừa (Palmae)
7 Hệ sinh thái rừng tràm (Melaleuca cajuputi)
Hệ sinh thái này phân bố tập trung ở 7 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, hình thành nên ba vùng sau đây: i) vùng Đồng Tháp Mười thuộc ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp ; ii) vùng Tứ Giác Long Xuyên thuộc hai tỉnh An Giang và Kiên Giang ; và iii) vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau và Kiên Giang
Trước đây, loài tràm được xác định tên khoa học là Melaleuca leucodendron Từ năm 1993, tên khoa học loài tràm đã được xác định lại là Melaleuca cajuputi (Scott Poynton, 1993)
Loài tràm ở Việt Nam có ít nhất 4 chủng (variete) là tràm cừ, tràm gió, tràm bụi và tràm bưng Tràm cừ và tràm gió phân bố tự nhiên trên đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long Tràm bụi và tràm bưng phân bố tự nhiên ở Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Do
hệ sinh thái rừng tràm hình thành trong điều kiện môi trường đặc biệt là úng phèn, chỉ có một số loài cây thích nghi tồn tại được nên cấu trúc rừng đơn giản hơn nhiều so với hệ sinh thái rừng hỗn loài thường xanh
8 Hệ sinh thái rừng tre nứa (Bamboo forest.)
Trang 29Tre nứa là tên gọi chung cho các loài thực vật thuộc phân họ Tre ( Bambusoidae), họ Hoà thảo (Gramineae hay Poaceae) Tre nứa phân bố rộng từ vùng nhiệt đới, á nhiệt đới đến ôn đới, từ 51o vĩ độ bắc đến 47o vĩ độ nam Trên thế giới có khoảng 1.300 loài thuộc hơn 70 chi, phân bố ở 3 vùng chính: Châu á Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu Phi, trong đó vùng Châu Á Thái Bình Dương là trung tâm phân bố tre nứa chiếm khoảng 80% tổng số loài và diện tích toàn thế giới (Lin, 2000)
Việt Nam là một trong những vùng trung tâm phân bố tre nứa trên thế giới Tre nứa ở Việt Nam có 133 loài thuộc 24 chi Các HSTR tre nứa Việt Nam gồm các dạng như sau:
Hệ sinh thái rừng luồng (Dendrocalamus barbatus)
Luồng có tên khoa học là Dendrocalamus barbatus Hsueh et Li, trước đây được gọi
là Dendrocalamus membranaceus Luồng phân bố ở nhiều ở các tỉnh như Thanh
Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sơn La, v.v, nhưng tập trung nhiều nhất ở Thanh Hoá Luồng mọc tự nhiên mới được ghi nhận có ở dọc sông Mã, Sơn La, còn lại hầu hết là rừng luồng trồng
Hệ sinh thái rừng vầu (Acidosasa và Indosasa)
Vầu là tên gọi chung cho một số loài tre mọc tản thuộc chi Acidosasa và Indosasa, bao gồm một số loài chính như: vầu đắng (Indosasa sp.), vầu lá nhỏ (Indosasa
amabilis), vầu ngọt (Acidosasa sp.), vầu xanh (Acidosasa sp.), v.v Trong các loài
vầu ở nước ta thì vầu đắng có ý nghĩa lớn nhất, do diện tích tương đối rộng, phân bố khá tập trung, kích thước lớn và giá trị kinh tế cao Do đó, trong phần này sẽ giới thiệu về loài vầu đắng Vầu phân bố nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, v.v
Hệ sinh thái rừng nứa (Neohouzeaua forest)
Nứa là tên gọi chung cho một số loài mọc cụm thuộc chi Schizostachyum, trước đây được xếp vào chi Neohouzeaua, trong đó loài nứa lá to (Schizostachyum funghomii)
và nứa lá nhỏ (Schizostachyum pseudolima) có phân bố rộng, diện tích lớn và có
nhiều ý nghĩa kinh tế Nứa lá nhỏ phân bố rộng hầu khắp cả nước, nhưng tập trung nhiều ở vùng Trung tâm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Hệ sinh thái rừng lồ ô (Bambusa balcoa)
Lồ ô có nhiều tên gọi khác nhau nhưng hiện nay thống nhất như sau (Bambusa
balcoa Roxb.) Lồ ô phân bố khá rộng ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam
bộ, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, nhất là tỉnh Bình Phước
3.3 Các hệ thống phân loại rừng
Nửa thế kỷ vừa qua trên các cơ sở khoa học khác nhau, mục tiêu sử dụng khác nhau , rừng Việt nam được phân loại theo các phương pháp luận cũng khác nhau, và cho các kết quả rất phong phú và đã được áp dụng trong thực tiễn kinh doanh rừng, quy hoạch-quản lý rừng trong cả nước Các cơ sở lý thuyết và phương pháp luận cũng được tham khảo, nghiên cứu,
Trang 30giảng dạy đạt được cũng ở các mức độ khác nhau
Hệ thống phân loại dựa trên cơ sở hệ sinh thái, với 5 nhân tố chính chi phối việc phát sinh, phát triển của rừng nhiệt đới Việt Nam đạt tiếng vang trong thập kỷ 60, nhưng 14 kiểu rừng, ngoài giá trị lý thuyết, lại không được áp dụng đáng kể Trong khi hệ thống phân chia hiện trạng rừng thành 4 loại của nước Đức chuyển giao vào Việt Nam cuối thập kỷ 50 không kèm theo phương pháp luận nào, thì lại được sử dụng rộng rãi, liên tục, do tính đơn giản, tính bao quát thực tế, lại gắn với phân cấp trữ lượng gỗ, đã có nhiều lần bổ sung cải tiến cho đến ngày nay Trong báo cáo này, 5 hệ thống phân loại rừng chính được trình bày như sau
3.3.1 Hệ thống phân loại rừng theo hiện trạng
Năm 1959, hệ thống phân loại rừng của Cộng hòa dân chủ Đức do Loeschau chuyển giao vào Việt nam gồm 4 loại rừng:
Loại IV: Rừng nguyên sinh hoặc bị tác động chưa đáng kể, gồm các hệ sinh thái tự nhiên, có
kết cấu được coi là sản phẩm của các nhân tố sinh thái phát sinh, có trữ lượng, sản lượng và chủng loại lâm sản cao tự nhiên, mà không theo phương hướng chọn lọc của nền kinh tế Rừng loại IV gồm IVa và IVb biểu thị rừng nguyên sinh và rừng trồng đến tuổi thành thục
Loại III: Rừng tự nhiên đã bị tác động ở các mức độ khác nhau, vì thế chúng đang trong giai
đoạn phân hóa (hoặc đang phục hồi, hoặc đang thoái hóa) Tùy theo mức độ tác động nhiều hay ít, rừng loại III được chia nhỏ thành 3 mức độ:
IIIa: Mức độ tác động lớn, rừng bị thoái hóa, không còn kết cấu tầng tán bình thường, sản lượng, trữ lượng lâm sản bị suy thoái nghiêm trọng ở các dạng rất nghiêm trọng (IIIa1), dạng thứ 2 bị tác động mạnh, nhưng rừng còn khả năng phục hồi tự nhiên (IIIa2) Sau này trong sản xuất đã quy định thêm loại IIIa3 trên mức của IIIa2
IIIb: Mức độ tác động trung bình thường là khai thác rừng thành thục (loại IV), hoặc rừng sau khai thác (dạng IIIa) đã phục hồi tuân thủ các quy trình quy phạm nên về cấu trúc, về sản lượng đã đáp ứng các cường độ khai thác cho phép
IIIc: Loại này biểu thị sự tác động ít hoặc nhẹ của con người vào rừng loại IV hoặc rừng loại III đã phục hồi đầy đủ Loại rừng IIIc ít được phân hạng và thông dụng so với IIIa
và IIIb
Loại II: Là rừng non/rừng sào, bao gồm:
IIa rừng non phục hồi tự nhiên sau khi mất rừng do cháy hoặc do làm nương rẫy
IIb là rừng non/rừng sào nhân tạo đã khép tán, trữ lượng gỗ chưa đáng kể
Loại I: Đất trống đồi núi trọc, chưa hề có rừng, hoặc đã mất rừng do khai thác quá mức, lửa
rừng hoặc các nguyên nhân khác Tuy nhiên trừ các bãi cát trắng, trên đất trống, đồi núi trọc bao giờ cũng tồn tại thảm cỏ, cây bụi, các cây gỗ tái sinh từ hạt hoặc chồi có chiều cao bằng chiều cao thảm cỏ hoặc chiều cao thảm cây bụi Trong sử dụng thực tiễn, Viện ĐTQHR đã
bổ sung thêm 3 loại phụ, và được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay:
Ia: Đất trống trọc: Thảm cỏ hoặc cây bụi thưa thớt, độ che phủ mặt đất dưới 30%
Trang 31 Ib: Đất trống được che phủ bởi thảm cỏ hoặc thảm cây bụi hoặc hỗn hợp giữa chúng, có
độ che phủ mặt đất lớn hơn 30%
Ic: Đất trống đồi trọc của dạng Ib nhưng có nhiều cây gỗ non tái sinh Loại Ic mới được quy định thêm khi chương trình 327 (1992-1997) có hướng dẫn giải pháp khoanh nuôi phục hồi hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên tại những lập địa đã có cây gỗ tái sinh có triển vọng trở thành rừng tự nhiên loại IIa
Hệ thống phân loại này đã được sử dụng rộng rãi trong sản xuất lâm nghiệp từ giữa thế kỷ
XX cho tới ngày nay và đã được ngành lâm nghiệp bổ sung và hoàn thiện dần theo nhu cầu phát triển của ngành Lần bổ sung mới nhất là định nghĩa lại rừng theo Thông tư 34/2009/BNN năm 2009 Tuy nhiên hệ thống phân loại này chỉ nhằm mục đích phục vụ việc phân loại rừng theo trữ lượng hiên tại để kinh doanh rừng, khai thác gỗ, mà không dựa vào
cơ sở sinh thái, phát sinh, phát triển, hoặc cấu trúc tổ thành của các thảm thực vật
3.3.2 Phân loại thảm thực vật rừng theo các nhân tố sinh thái phát sinh
Tiếp cận học thuyết “sinh-địa-quần lạc” (biogeoceology) của viện sỹ V.N Sucasov (1957),
và lý thuyết “hệ sinh thái” (ecosystem) của A.G.Tansley (1930), Thái Văn Trừng (1963, 1999) đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Tư tưởng học thuật của quan điểm này là trong một môi trường sinh thái
cụ thể chỉ có thể xuất hiện một kiểu thảm thực vật nguyên sinh nhất định Trong môi trường sinh thái đó, có 5 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh ảnh hưởng quyết định đến tổ thành loài cây rừng, hình thái, cấu trúc và hình thành nên những kiểu thảm thực vật rừng tương ứng Căn cứ vào cơ sở lí luận trên, Thái Văn Trừng đã dùng 5 nhân tố (khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, hệ thực vật, nhân tác) để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu rừng
có trên đất lâm nghiệp như sau:
Các kiểu rừng kín vùng thấp
I Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới
II Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới
III Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới
IV Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới
Các kiểu rừng thưa
V Kiểu rừng thưa cây lá rộng, hơi khô nhiệt đới
VI Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới
VII Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp
Các kiểu trảng, truông
VIII Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới
IX Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới
Trang 32Các kiểu rừng kín vùng cao
X Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
XI Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp
XII Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ấm núi vừa
Các kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao
XIII Kiểu quần hệ khô vùng cao
XIV Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Trong mỗi kiểu thảm thực vật lại chia thành các kiểu phụ miền (phụ thuộc vào tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất), kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người) và trong mỗi kiểu phụ đó tuỳ theo độ ưu thế của loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp và quần hợp tự nhiên khác nhau Như vậy, bức tranh hệ sinh thái rừng nước ta rất đa dạng và phong phú thông qua hệ thống phân loại của Thái văn Trừng
3.3.3 Phân loại các hệ sinh thái theo đai cao và điều kiện sinh thái
Trần Ngũ Phương (1970) đã đề xuất bảng phân loại rừng miền bắc Việt Nam theo các yếu tố đất đai, khí hậu, độ cao, và nhân tố đặc trưng của rừng để phân loại rừng miền bắc thành 3 đai rừng Trong mỗi đai, chứa đựng một hoặc một số kiểu rừng cơ bản:
A Đai rừng nhiệt đới mưa mùa:
Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn
Kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh
Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh
Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thung lũng
Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi
B Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa:
Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh
Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi
Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đất
C Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Đai này có 3 loại hình: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mộc (Cunninghamia lanceolata), Đỗ quyên (Rhododendron simsii)
Hệ phân loại này là thành quả bước đầu nghiên cứu lâm sinh học rừng miền Bắc Việt Nam, báo cáo tại Hội nghị lâm nghiệp Bắc Kinh 1967, xuất bản 1970
Trang 333.3.4 Thang phân loại rừng của UNESCO
UNESCO (1973) đã phân loại thảm rừng nói chung thành 4 lớp quần hệ Tại Việt nam chỉ có
2 lớp là: lớp quần hệ rừng rậm và lớp quần hệ rừng thưa
Mỗi lớp quần hệ lại chia thành các phân lớp, mỗi phân lớp lại chia thành các nhóm quần hệ
và sau đó mới đến đơn vị quần hệ Mỗi quần hệ lại được chia thành các phân quần hệ và dưới đó là quần hợp Căn cứ vào nguyên tắc phân loại như trên, thảm thực vật rừng Việt Nam được phân loại khá phức tạp như sau:
I Lớp quần hệ rừng rậm gồm 3 phân lớp chính là: rừng thường xanh, rừng rụng lá và rừng khô
1 Phân lớp quần hệ rừng thường xanh nhiệt đới:
a) Nhóm quần hệ rừng mưa thường xanh
b) Nhóm quần hệ rừng mưa mùa thường xanh:
Rừng núi đá vôi trung bình
Rừng bãi cát ven biển
Rừng trên đất phù sa
Rừng ngập nước
Rừng sú vẹt
Rừng thông trên núi thấp
Rừng tre nứa trên núi thấp
c) Nhóm quần hệ rừng nửa rụng lá nhiệt đới:
Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên đất thấp
Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi thấp
Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi đá vôi
Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi cao trung bình
2 Phân lớp quần hệ rừng rụng lá nhiệt đới
Rừng rụng lá nhiệt đới
3 Phân lớp quần hệ rừng khô nhiệt đới
Trang 34a) Nhóm quần hệ rừng lá cứng khô
b) Nhóm quần hệ rừng gai:
Rừng gai nửa rụng lá
Rừng gai rụng lá
II Lớp quần hệ: Rừng thưa
Lớp quần hệ này có 3 phân lớp quần hệ:
1 Phân lớp quần hệ rừng thưa thường xanh:
a) Nhóm quần hệ rừng thưa lá rộng:
Rừng trên đất thấp
Rừng trên núi thấp
b) Nhóm quần hệ rừng lá kim
2 Phân lớp quần hệ lá rộng rụng lá vùng núi và vùng đất thấp
3 Phân lớp quần hệ rừng thưa khô:
a) Nhóm quần hệ rừng thưa lá cứng khô
b) Nhóm quần hệ rừng thưa có gai:
Rừng gai nửa rụng lá
Rừng gai thường xanh
Phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phương và UNESCO đã khẳng định tính đa dạng của hệ sinh thái rừng Việt Nam, với 5 nhân tố sinh thái, nhưng đến nay vẫn chỉ là các công trình lý thuyết, chưa được sử dụng nhiều, hoặc mới được sử dụng từng phần trong thực tiễn sản xuất
3.3.5 Phân loại HSTR tự nhiên theo Cẩm nang ngành Lâm nghiệp
Trên cơ sở 5 nhóm nhân tố sinh thái đã mô tả trên, Phùng Ngọc Lan và cs (2006) đã hệ thống lại, sắp xếp lại thành 8 hệ sinh thái chủ yếu theo điều kiện sinh thái và đặc điểm cấu trúc nội tại mỗi kiểu Mỗi hệ được coi là một kiểu rừng chính, mỗi kiểu rừng còn có các kiểu phụ miền và các ưu hợp chỉ thị Mỗi hệ sinh thái được mô tả kỹ các đặc tính: Phân bố, sinh thái
và cấu trúc Các hệ sinh thái rừng tự nhiên là:
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới
Rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi
Rừng lá kim tự nhiên
Rừng thưa cây họ dầu
Trang 353.3.6 Các kiểu rừng sử dụng trong phân vùng STLN
Các HSTR nguyên sinh là bằng chứng quan trọng chứng minh các điều kiện sinh thái đã hình thành và đảm bảo sự tồn tại lâu đời của chúng trên các vùng lãnh thổ Việt Nam Song, trong quá trình phát triển lâu đời, chính các nhân tố sinh thái cũng thay đổi hoặc từ từ, hoặc đột xuất, đặc biệt là nhân tố con người (nhân tác) đã để lại cho thế hệ chúng ta một bức khảm phong phú nhưng quá phức tạp các loại rừng, đa phần là thứ sinh hoặc nhân tạo, mà vừa được trình bày tóm tắt cả phương pháp luận, cả hiệu quả áp dụng của từng hệ thống để có đủ
cơ sở chọn lọc các kiểu rừng chính (tương đương hệ sinh thái) trong phân vùng lãnh thổ Trong 10 kiểu rừng đã chọn lọc lần này đã bao gồm đầy đủ các kiểu rừng tự nhiên, của hệ thống phân loại theo Cẩm nang ngành lâm nghiệp, đồng thời bổ sung đầy đủ các kiểu rừng thứ sinh đang trong quá trình diễn thế, và cũng đã đưa vào cả các hệ rừng trồng, các loại thảm thực vật chưa thành rừng (trảng, truông theo Thái văn Trừng, 1963; Ib, Ic theo phân loại hiện trạng bổ sung) để bao quát mọi hình thái thảm thực vật rừng hiện có
Bảng 3 liệt kê tên 10 kiểu rừng chính và ký hiệu (mã số) mỗi kiểu rừng, với 4 kiểu phụ cho khối rừng tự nhiên hỗn loại
Bảng 3 Các kiểu rừng chính ở Việt Nam
Ký hiệu Kiểu rừng
I Rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm Các kiểu phụ gồm:
- I1: vùng thấp < 700 m ở miền Bắc và < 1000 m ở miền Nam
- I2: vùng thấp Nam Bộ, ưu hợp họ Dầu
- I3: Đồi (<300m), núi thấp (300-700m), trung bình (700-1500m) ở miền Bắc; núi thấp (500 – 1000m); núi trung bình (1000-2000m) ở miền Nam (theo cẩm nang)
- I4: Núi cao > 1500m ở miền Bắc, >2000m ở miền Nam
II Rừng hỗn loài nửa rụng lá
III Rừng hỗn loài trên núi đá vôi
IV Rừng lá kim, hỗn loài lá rộng lá kim
V Rừng thưa, khô lá rộng rụng lá theo mùa, ưu thế họ Dầu (khộp)
VI Rừng ngập mặn ven biển
VII Rừng úng phèn (rừng Tràm)
VIII Rừng tre nứa và hỗn loài cây gỗ + tre nứa
Trang 36IX Rừng trồng các loại
4 Cơ sở khoa học của các tiêu chí cho phân vùng STLN
Về lý thuyết, tiêu chí quan trọng nhất để phân vùng STLN là sự phân bố tự nhiên của của các HST (hay kiểu rừng trên phạm vi đơn vị phân chia, vì vậy nếu đã có HST nguyên sinh, mà cao đỉnh gọi là climax nào đó, thì các nhân tố sinh thái chỉ còn là hệ thống lý thuyết tạo ra hoàn cảnh môi trường hình thành nên HST đó để tham khảo Song trong đa số trường hợp tại cấp phân vị thấp, như tiểu vùng, khi HST nguyên sinh không còn nữa thì cần tới các tiêu chí tạo ra môi trường phát sinh và phát triển của HST đó theo nguyên lý “hoàn cảnh sinh thái nào thì tạo ra kiểu rừng đó” Đây chính là cơ sở để dự báo hoặc tại đây đã từng tồn tại HST nguyên sinh này, hoặc diễn thế thứ sinh các kiểu rừng hiện tại đang theo xu hướng phục hồi lại nguyên mẫu HST nguyên sinh đó
Trong phạm vi công trình chuyên sâu về sinh thái rừng, khi xem xét 5 nhân tố sinh thái phát sinh thì nhân tố thứ 5 “nhân tác” là ý chí con người, thân thiện hay tàn phá thiên nhiên, nó đã từng học được nhiều bài học và quyết định hướng đi cho tương lai Nhân tố “khu hệ thực vật” là chân lý thực tiễn xác nhận tính đúng đắn của sự phân bố tự nhiên các kiểu rừng nguyên sinh, nhưng nay bị thay bằng các kiểu trung gian, hoặc đang suy thoái, hoặc đang phục hồi, và phải được coi là các đối tượng hiện thực khách quan của lý thuyết phân vùng
Ba tiêu chí sinh thái còn lại, gọi tắt là khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng là ba hệ thống quan trọng nhất để tạo ra môi trường phát sinh của các kiểu rừng mà ta phân vùng, song trong từng phân vị (cấp phân vùng), từng trường hợp cụ thể nhân tố nào là chủ đạo, nhân tố nào ít gây tác động lại là do tính quy luật của các kết quả nghiên cứu, hoặc kinh nghiệm chuyên gia chỉ ra Ví dụ các chỉ tiêu khí hậu khác nhau r rệt và chi phối r trong phạm vi các phân vị lớn như Miền, vùng, trong khi đó các chỉ tiêu về đất lại ảnh hưởng r rệt trong các phân vị nhỏ như vùng, tiểu vùng hoặc nhỏ hơn nữa
Ba lĩnh vực này là 3 ngành chuyên môn độc lập, đã từng được nghiên cứu đầy đủ, được phân vùng tự nhiên trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc phân vùng ứng dụng theo từng lĩnh vực cho các ngành kinh tế liên quan khác (mô tả chi tiết trong mục 2.1 về phân vùng lãnh thổ, hoặc như ngành khí hậu ngoài phân vùng khí hậu tự nhiên, còn có phân vùng khí hậu ứng dụng cho nông nghiệp, xây dựng – tại tiết mục 4.1 dưới đây Như vậy, so với phân vùng STLN, các ngành chuyên môn này đã tiến một bước xa hơn, và chúng tôi ghi nhận trong các phần dưới đây là tóm tắt các thành tựu chính của mỗi lĩnh vực về phân vùng lãnh thổ
Trong sự liên quan như một nhân tố sinh thái của sự hình thành và phát triển các HSTR, mỗi nhân tố đã kiến nghị các tiêu chí và chỉ tiêu (C&I) hỗ trợ cho ngành lâm nghiệp lựa chọn,
Trang 37các khuyến nghị cho mỗi phân vị khi phân vùng STLN
4.1 Khí hậu - thủy văn
4.1.1 Kinh nghiệm quốc tế
Trên thế giới có nhiều hệ thống, nhiều phương pháp phù hợp cho các điều kiện khác nhau, thường phân loại khí hậu theo các hệ thống sau đây:
Phân loại của Koppen (1918-1936) Trên cơ sở kết hợp chỉ số nhiệt độ, lượng mưa Sau này Trewartha bổ sung kết hợp thành hệ thống Koppen-Trewartha, tạo ra hệ thống phân loại khí hậu thế giới 7 nhóm từ A đến H, từ vùng quá nóng đến vùng cực lạnh, đặc trưng bởi chỉ số : “số tháng có nhiệt độ trung bình bằng hoặc trên 18OC, từ nhóm C thì so với nhiệt độ trên 10O
C
Hệ Thornthwaite: Là hệ thống Koppen có kết hợp giám sát sự bốc thoát hơi nước trong một khu vực Nó cũng sử dụng chỉ số ẩm và độ khô cằn để biết lượng ẩm đã được thảm thực vật sử dụng
Phân loại của Holdridge (1947, 1967) Đây là hệ thống “sinh khí hậu” để phân loại đất đai và lập bản đồ, áp dụng trên toàn cầu Hệ thống được tích hợp từ 3 chỉ số là: Nhiệt độ sinh học, vĩ độ, đai cao
Ngyên tắc phân vùng sinh thái của FAO (Zhu, 1997; Preto, 1998) Đây là hệ thống phân loại khí hậu có yếu tố sinh thái rừng
4.1.2 Phân vùng lãnh thổ theo khí hậu
Việt Nam đã nghiên cứu việc phân vùng lãnh thổ theo chuyên ngành khí hậu gọi tên là Phân vùng khí hậu miền Bắc Việt Nam (1964), Phân vùng khí hậu tự nhiên (Nguyễn Hữu Tài,
1985, Nguyễn Đức Ngữ & Nguyễn Trọng Hiệu, 2004) Hệ thống này đang được sử dụng rộng rãi trong cả nước, với 7 vùng khí hậu là: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây nguyên và Nam bộ
Nhiều công trình nghiên cứu về Phân vùng khí hậu cho nhiều chuyên ngành khác như Phân vùng khí hậu xây dựng (Trần Việt Liễn, 1984, 2002); Phân vùng khí hậu nông nghiệp (Lê Quang Huỳnh, 1985)
4.4.3 Phân vị
Các sơ đồ phân vùng khí hậu tự nhiên Việt Nam của Nguyễn Hữu Tài (1985), Nguyễn Đức Ngữ & Nguyễn Trọng Hiệu (2004) có một hệ thống chỉ tiêu khá tương đồng, có thể mô tả tóm tắt như sau:
Miền khí hậu: là cấp phân vị dùng để thể hiện sự khác biệt về khí hậu có liên quan đến ảnh hưởng của gió mùa mùa đông trong đó sự hạ thấp của nhiệt độ mùa đông dẫn đến hình thành 2 mùa nóng lạnh có vai trò quyết định
Vùng khí hậu: là cấp cơ sở của sơ đồ, thể hiện sự khác nhau về khí hậu có liên quan đến
Trang 38ảnh hưởng của gió mùa mùa hè dẫn đến sự khác nhau về mùa mưa ở các vùng
Tiểu vùng khí hậu: là cấp phân vị bổ xung nhằm thể hiện chi tiết hơn sự phân hóa khí hậu trong mỗi vùng, được biểu hiện qua nhiều đặc trưng khí hậu khác nhau
4.4.3 Tiêu chí và các khuyến nghị phân vùng STLN
Vùng khí hậu:
Phân chia vùng khí hậu sử dụng 2 tiêu chí là: biên độ nhiệt năm và biên độ nhiệt ngày; và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất Có 8 vùng khí hậu trên cả nước và mỗi vùng có chỉ số riêng cho phân vùng
Tiểu vùng khí hậu:
Tiêu chí được sử dụng gồm: Lượng mưa trung bình năm, mùa, nhiệt độ trung bình năm và cực trị và chỉ số ẩm Các thông số này được tính toán từ số liệu các trạm quan trắc
Khuyến nghị cho phân vùng STLN:
Số liệu là cở sở quan trọng để thử nghiệm mô hình, xây dựng hệ thống chỉ tiêu và định các đường ranh giới Với tỷ lệ khá lớn 1/250.000, số liệu sử dụng buộc phải là số liệu lưới với mật độ đủ dầy (với độ phân giải cỡ 1-5km) Việc xử lý, hiệu chỉnh theo số liệu quan trắc có vai trò đặc biệt quan trọng
Phương pháp phân vùng hướng chính vào các phương pháp truyền thống thuộc nhóm các phương pháp địa lý khí hậu như đã phân tích ở trên Hệ thống phân vị sẽ theo quy hoạch chung của dự án với 2 cấp cơ bản là vùng và tiểu vùng Các phương pháp và hệ thống chỉ tiêu của các sơ đồ phân loại khí hậu thế giới của Koppen, Köppen-Trewartha, Holdridge; các bản đồ phân vùng khí hậu Việt Nam cùng với hệ thống phân vị và chỉ tiêu phân vùng là tài liệu tham khảo quan trọng Việc nghiên cứu các chỉ tiêu khí hậu sinh thái cũng như việc tổ hợp các đặc trưng khí hậu cơ bản tạo thành các phức hợp phản ánh được mối quan hệ giữa khí hậu với sinh trưởng, năng suất cây rừng sẽ là hướng phát triển hệ thống phân vị và chỉ tiêu phân vùng
Như đề xuất phân vùng khí hậu cho lâm nghiệp gồm 3 phân vị là miền, vùng và tiểu vùng Các tiêu chí và chỉ số cho mỗi phân vị được đề xuất trong bảng 4 Cách phân vùng này cho thấy khí hậu ảnh hưởng lớn tới phân chia Miền và Vùng nhưng khí hậu ảnh hưởng ít tới phân chia tiểu vùng Dưới đây là các tiêu chí đề xuất cho phân vùng STLN (Trần Việt Liễn
và cs, 2011)
Trang 39Bảng 4 Tiêu chí về khí hậu cho mỗi phân vị phân vùng STLN
Cấp phân vị Tiêu chí
Miền - Biên độ nhiệt độ trung bình năm (∆T) là 8oC
- Tổng nhiệt độ năm là 9000oC
- Tổng số giờ nắng là 2000 giờ Vùng - Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất
- Biên độ nhiệt độ trung bình năm
- Biên độ nhiệt độ trung bình ngày
Tiểu vùng - Nhiệt độ trung bình năm
- Nhiệt độ trung bình các tháng mùa lạnh
- Nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè
- Lượng mưa bình quân năm
- Lượng mưa trung bình mùa mưa
- Lượng mưa trung bình mùa khô
- Tiềm năng bốc hơi (PET)
- Chỉ số ẩm (HI)
Thực ra, ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu đến các phân vị lớn của phân vùng STLN là rất mạnh, cho đến cấp Tiểu vùng đã khó xác định chế độ khí hậu đặc thù cho tiểu vùng, do đó thường mô tả đặc điểm trung bình của các yếu tố phổ biến nhất như nhiệt độ, lượng mưa
4.2 Địa hình-địa mạo
4.2.1 Kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam
Nhóm nhân tố địa chất/địa mạo là những nhân tố có sự hình thành lâu dài trong lịch sử kiến tạo của Trái Đất, quyết định sự hình thành các đại dương và các lục địa, hình thái và thành phần vật chất của vỏ Trái Đất Tuy nhóm nhân tố địa chất/địa mạo không ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần các kiểu thảm thực vật, nhưng chúng lại là những nhân tố có tác dụng chi phối ảnh hưởng của những nhân tố khác như khí hậu, thuỷ văn, đá mẹ, thổ nhưỡng… đến các hệ sinh thái lâm nghiệp Nhóm nhân tố địa chất/địa mạo ảnh hưởng đến sự hình thành, thành phần loài, v.v, và phân bố của hệ sinh thái lâm nghiệp thông qua những yếu tố sau:
Độ lục địa: là khoảng cách từ vùng đó đến biển ảnh hưởng đến tiểu khí hậu, hình thành nên các khu vực có khí hậu lục địa và khí hậu đại dương
Độ cao, hướng sườn, độ dốc: là những nhân tố ảnh hưởng đến chế độ tiểu khí hậu Độ cao hình thành nên các đai độ cao với đặc trưng khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau ảnh hưởng đến phân bố các loài thực vật Trong điều kiện Việt Nam, giới hạn vành đai á nhiệt đới vùng núi thấp ở miền Bắc là 600 - 700m, ở miền Nam là 1.000m do miền Nam gần xích đạo hơn miền Bắc Thái Văn Trừng (1978, 1999) phân chia thảm thực vật trong một vùng thành hai nhóm lớn: nhóm các quần thể thực vật theo độ vĩ và nhóm các quần
Trang 40thể thực vật theo độ cao;
Nền tảng đá mẹ khác nhau dẫn đến hình thành các loại đất khác nhau;
Nhóm nhân tố địa chất/địa mạo ở nước ta có ảnh hưởng hệ sinh thái lâm nghiệp qua các tính chất sau:
Trong lịch sử lâu dài và phức tạp của quá trình vận động kiến tạo, có nơi có lúc đã tạo điều kiện thuận lợi bảo tồn những kiểu thảm thực vật nguyên thuỷ,
Hệ thống núi của Việt Nam là sự kéo dài từ hệ thống núi ở miền nam Trung Quốc và chân dãy núi Hymalaya, liên tục từ bắc vào nam, tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng di
cư thực vật vào lãnh thổ Việt Nam
Hướng ưu thế của địa hình là hướng Tây Bắc - Đông Nam, vuông góc với hướng gió mùa Đông Bắc ngăn cản bớt không khí lạnh từ phía Bắc tràn về
Mặt cắt ngang của dãy Trường Sơn không đối xứng, sườn tây dốc thoải, sườn đông dốc cao ngay gần bờ biển Do vậy, việc phòng hộ là rất quan trọng cho miền Trung
Do tính hiểm trở của hệ thống núi đá vôi của Việt Nam nên hiện nay vẫn còn có một hệ sinh thái rừng nhiệt đới đặc hữu mà không phải nước nào cũng có
Việt Nam kéo dài hơn 15 độ vĩ nên giới hạn dưới của vành đai á nhiệt đới vùng núi ở hai miền nam bắc khác nhau miền Bắc là 600 - 700 m, ở miền Nam là 1.000 m
4.2.2 Phân loại
Nghiên cứu sớm nhất về phân vùng địa mạo ở miền Bắc Việt Nam do Nguyễn Đức Chính,
Vũ Tự Lập thực hiện năm 1963, sau đó M.A.Zubasenco thực hiện năm 1967, và Lê Đức An nghiên cứu năm 1972, 1974, 1985
Hai chỉ tiêu quan trọng nhất trong phân vùng lãnh thổ theo địa hình/địa mạo là: Kiến trúc hình thái (KTHT), Trạm trổ (Bức khảm) hình thái (TTHT)
Lê Đức An đã tiến hành phân vùng địa mạo Bắc Việt Nam và chia ra 57 vùng Sau khi nước nhà thống nhất, ông tiếp tục nghiên cứu và xây dựng sơ đồ phân vùng địa mạo thống nhất cho toàn lãnh thổ Việt Nam, mà trước hết là phần lục địa (Lê Đức An, 1979,1985) Phân vùng địa mạo được Lê Đức An tiến hành theo 2 chỉ tiêu nói trên ( KTHT) và (CTHT), bởi lẽ khi phân chia các đơn vị địa mạo cấp bậc khác nhau, ông dựa vào quan hệ giữa cấu trúc kiến tạo với địa hình, lịch sử phát triển của nó, các phức hợp thạch học, cũng như đặc điểm của các quá trình ngoại sinh, và cuối cùng là kết quả tác động qua lại của các yếu tố đó, thể hiện
ở hình thái và vị trí độ cao của lãnh thổ