1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TỔ CHỨC GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP. Chuyên đề: HỆ THỐNG KHÁI NIỆM, QUAN ĐIỂM VÀ THUẬT NGỮ SỬ LIỆU

21 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 439,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội loài người với các hiện tượng, biến cố đã xảy ra trong một thời gian, không gian nhất định trong quá khứ, tồn tại một cách tự thân, khách quan, hoàn toàn độc lập với nhận thức của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA LỊCH SỬ

ĐỀ TÀI

SỬ LIỆU HỌC: NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH

VÀ TỔ CHỨC GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỰC

Trang 2

BÌNH DƯƠNG - THÁNG 12 NĂM 2014

Trang 3

Chuyên đề

HỆ THỐNG KHÁI NIỆM, QUAN ĐIỂM

VÀ THUẬT NGỮ SỬ LIỆU

1 Khái niệm Lịch sử

Khi nói đến lịch sử, ta thường nghĩ ngay đó là những gì chỉ quá khứ, những

gì thuộc quá khứ, thuộc thời gian đã qua Cụ thể hơn, đó là những gì vừa mới xảy

ra, ngược về tận quá khứ “ngày xửa, ngày xưa” khi loài người mới xuất hiện trên trái đất và bắt đầu sáng tạo nên lịch sử xã hội loài người

Từ khi xuất hiện, con người bắt đầu tiến trình sáng tạo lịch sử của mình, đó cũng chính là mốc thời gian con người bắt đầu quá trình nhận thức về thế giới tự nhiên và xã hội

Vậy lịch sử là gì?

Theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân, lịch sử là sách chép

việc đã qua Theo từ điển tiếng Đức, lịch sử (geschichte) có nghĩa là các sự việc, sự kiện đã xảy ra, không bao gồm nghĩa ghi chép Riêng thuật ngữ lịch sử trong tiếng tiếng Hy Lạp (istoria), tiếng La Mã (historia), tiếng Pháp (histoire), hay tiếng Anh (history), đều có nghĩa là kể lại, thuật lại, chép lại các câu chuyện, các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ

Qua các thuật ngữ, ta thấy cụm từ lịch sử có hai nghĩa cơ bản: một là các hiện tượng, biến cố đã xảy ra trong quá khứ (hiện thực quá khứ khách quan); hai

là việc kể lại, thuật lại, chép lại các hiện tượng, biến cố đã xảy ra Về bản chất,

đó là nhận thức của con người về hiện thực quá khứ khách quan (khoa học lịch sử)

Về vấn đề thứ nhất, xã hội loài người và hoạt động của xã hội loài người trên tất cả mọi bình diện, trải qua hàng triệu năm, với vô số những hiện tượng, biến cố con người đã tạo ra, với kết quả đạt được là các giá trị to lớn về vật chất, tinh thần

và các nền văn minh nổi tiếng ra đời nối tiếp nhau Xã hội loài người với các hiện tượng, biến cố đã xảy ra trong một thời gian, không gian nhất định trong quá khứ, tồn tại một cách tự thân, khách quan, hoàn toàn độc lập với nhận thức của con người, đó là hiện thực khách quan của xã hội loài người trong quá khứ, nói cách khác đó là hiện thực lịch sử Dù con người có nhận thức được hay không, nhận thức đúng hay sai, thì hiện thực khách quan của xã hội loài người trong quá khứ là

có thật, đã xảy ra, không thể thay đổi, vẫn tồn tại trong quá khứ Khi bàn về Lịch

Trang 4

sử, sự thật và sử học, GS Hà Văn Tấn đã viết, “Lịch sử là khách quan Sự kiện lịch

Về vấn đề thứ hai, con người tiến hành nhận thức hiện thực khách quan của

xã hội loài người trong quá khứ Hành động nhận thức được thực hiện sau khi hiện thực khách quan đã xảy ra Hành động nhận thức và hiện thực khách quan quá khứ không đồng nhất về thời gian xuất hiện, do vậy, khi tiến hành nhận thức lịch sử, con người phải dựa vào các nguồn “sử liệu” – những di tồn còn lại của hiện thực quá khứ khách quan Nhưng nguồn sử liệu lại khá khiêm tốn so với sự phong phú

đa dạng vốn có của hiện thực quá khứ khách quan, gây khó khăn cho quá trình nhận thức Hơn nữa, việc nhận thức các hiện tượng, biến cố xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người lại là hành động chủ quan, nên phụ thuộc vào thế giới quan, nhân sinh quan, trình độ và mục đích khác nhau của người nhận thức Do vậy, trong nhiều trường hợp, nhận thức về lịch sử của con người thiếu sự đồng nhất, cùng một hiện tượng, biến cố xảy ra trong quá khứ, nhưng nhận thức có thể khác nhau, thậm chí có sự mâu thuẫn, trái ngược Nghĩa là trong nhận thức của con người về hiện thực quá khứ khách quan, có nhận thức đúng, có nhận thức sai, nhưng hiện thực lịch sử, sự thật lịch sử thì chỉ có một

Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để nhận thức đúng về hiện thực quá khứ khách quan, tìm ra được sự thật lịch sử? Đó chính là nhiệm vụ của các nhà sử học, của sử học, của khoa học lịch sử GS Phan Ngọc Liên và các đồng sự của ông cho rằng

“lịch sử của những sự kiện, hiện tượng, nhân vật đã từng tồn tại trong quá khứ, tức

là lịch sử của một hiện thực khách quan”, hoặc “quá trình hiện thực khách quan của xã hội loài người trước đây” “trở thành đối tượng nhận thức của những

Từ các nội dung trên, ta có thể hiểu rằng, khi bàn đến khái niệm lịch sử là bàn đến bản thân hiện thực quá khứ khách quan, đó là hoạt động xã hội của loài người và thế giới tự nhiên trong quá khứ

Tại sao lại đề cập đến thế giới tự nhiên? Giữa lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hầu như không có hoạt động xã hội nào của con người lại tách rời khỏi các điều kiện tự nhiên Nói cách khác, quá trình sáng tạo nên lịch sử xã hội loài người chính là quá trình khám phá, chinh phục tự nhiên của

con người Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx cho rằng: “Người ta có thể chia

thành lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại, tuy nhiên hai mặt đó không tách rời

1 Hà Văn Tấn, Một số vấn đề lý luận sử học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007, tr 30

2 Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Phương pháp luận sử học, Nxb Đại học Sư phạm, , 2007, tr 44

Trang 5

nhau, chừng nào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau”3

Trong đó lịch sử tự nhiên hình thành, tồn tại, vận động một cách vô thức theo các qui luật vận động của tự nhiên, không do con người tạo ra; lịch sử xã hội hình thành, vận động, phát triển có ý thức theo những quy luật vận động, phát triển của

xã hội loài người

Như vậy, khái niệm lịch sử có thể hiểu đó là sự tồn tại khách quan của thế giới tự nhiên và xã hội loài người trong quá khứ, là quá trình hình thành, vận động, phát triển của xã hội loài người trong mối quan hệ giữa xã hội loài người với thế giới tự nhiên4

Sự tồn tại khách quan ở đây được hiểu là tồn tại tự thân của lịch sử, hoàn toàn độc lập với nhận thức của con người sau đó Dù con người có nhận thức được hay không, nhận thức đúng hay sai, thì lịch sử cũng đã xảy ra, vẫn tồn tại, không

3 K Marx – F Engels (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 267

4 M.T Cicero (người La Mã, 106 - 45 TCN): Lịch sử chính yếu của cuộc sống với yêu cầu đạt tới ánh sáng của sự

thật Thời cổ đại, các nhà sử học cho rằng “Sử học là sự kéo dài kí ức, làm cho kí ức sống lại theo trí nhớ của từng người” “Sử học là một loại hình nghệ thuật, chỉ có tác dụng tái hiện, không có tác dụng khám phá” “Lịch sử không chỉ là lịch sử một nước mà của tất cả các nước quan trọng khác ở Địa Trung Hải bị La Mã chiến đóng”

B Pascal (1623 - 1662), nhà vật lý học, toán học, triết học Pháp: “Sử học chỉ là môn khoa học sách vở và hoàn

toàn phụ thuộc vào ký ức”

Đái Danh Thế (người Trung Hoa đời Thanh): “Sử là để chép những việc thay đổi lợi hại trong chính trị điển

chương, cũng như sự thành bại được thua, người hay, dở, gian, ngay để giương điều thiện, gièm điều ác, mà làm phép rãn muôn đời” J.J Rousseau: “Mọi cái xảy ra trong lịch sử đều hợp với trật tự tự nhiên”

F.W.J Schelling (triết gia Đức, 1775 - 1854): “Lịch sử là quá trình hoạt động của con người sáng tạo ra “giới tự

nhiên thứ hai" của mình, cải biên sự vật tự nhiên thành các sản phẩm văn hóa”

Sue Peabody: lịch sử là một câu chuyện chúng ta nói chúng ta là ai

O Spengler (1880 - 1936) người Đức và A.J Toynbee (1889 - 1975) người Anh, cả hai đều cho rằng lịch sử là

một chuỗi các nền văn minh, mỗi nền văn minh không thể tránh khỏi từ phát triển qua chín muồi đến suy tàn

G.W.F Hegel: “Lịch sử là sự tự phát triển của tinh thần thê' giới - Lịch sử là sự tiến bộ của tự do”

A.G Xpirkin (nhà triết học xã hội): “Lịch sử xã hội loài người, trên một ý nghĩa nhất định, là bức tranh về sự tác

động qua lại luôn luôn biến đổi giữa xã hội và tự nhiên”

K Marx – F Engels (trong “Gia đình thần thánh”): “Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi

mục đích của bản thân mình”

K Marx: “Lịch sử chẳng qua là sự nối tiếp của những thế hệ riêng rẽ, trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những

vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả những thế hệ trước để lại”

F Engels: “Toàn bộ lịch sử từ trước tới nay trừ xã hội nguyên thủy đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”

V.I Lenin: “Lịch sử là một quá trình thống nhất và bị những quy luật chi phối, mặc dù quá trình đó cực kỳ phức

tạp và có rất nhiều mâu thuẫn”

Văn Tạo: “Lịch sử là tổn tại và phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội, được nhận thức bởi tư duy khoa

học ngày càng sâu rộng của con người”

Châu Long và Lê Kim Ngân: “Theo tự nguyên lịch sử có nghĩa là quyển sách ghi lại những việc đã qua, những

biến cố đã xảy ra trong dĩ vãng”

Nguyễn Thế Anh: “Lịch sử là quá khứ và tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ”

Nguyễn Phương: “Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ Nó là thời sự quá khứ của thế giới nhân văn và

thế giới thiên nhiên trong những gì có liên quan đến con người Nó là việc đã qua”

Tạ Chí Đại Trường (Trong phần bên lề của công trình Bài sử khác cho Việt Nam): Lịch sử chỉ là những tiếp diễn

của sự kiện mà không có cùng đích

Trang 6

thể thay đổi Nếu chúng ta xem lịch sử chỉ là những cái gì của quá khứ khách quan

mà con người đã nhận thức được, nghĩa là chúng ta đang đồng nhất giữa tư duy khoa học hữu hạn của con người với chân lý lịch sử tuyệt đối vốn là vô hạn

Khi nghiên cứu về nhận thức lịch sử, F Engels viết: “Xã hội loài người bắt

đầu từ đâu thì quá trình tư duy nhận thức lịch sử của con người cũng bắt đầu từ đó”5, nghĩa là, từ thời đại nguyên thủy, con người đã bắt đầu tiến trình nhận thức lịch sử Tuy nhiên, do chưa có chữ viết, nên toàn bộ nhận thức của con người thời đại nguyên thủy về các sự kiện, hiện tượng được thông tin, truyền tin cho nhau thông qua truyền miệng rồi lan truyền rộng rãi trong dân gian

Bước vào thời kỳ cổ đại, xã hội có giai cấp xuất hiện, chữ viết ra đời, hệ thống giáo dục của các quốc gia trên thế giới hình thành, cư dân dần được trang bị kiến thức khoa học để “có thể” nhận biết thế giới tự nhiên và xã hội loài người thông qua hệ thống quan điểm, triết lý, tư tưởng, khác nhau Cũng chính từ thời

cổ đại, giai cấp thống trị đã nhận biết được giá trị của lịch sử, dùng lịch sử để ca ngợi giai cấp thống trị và làm bài học để răn dạy giai cấp bị trị

Ở phương Đông, chức sử quan được ban đặt; ở phương Tây, các nhà sử học xuất hiện Dù lịch sử thời bấy giờ bị lợi dụng và trở thành một công cụ cai trị đắc lực của giai cấp cầm quyền, tuy nhiên, từ việc “ghi chép mọi sự việc có liên quan đến nhà vua” ở phương Đông6, đến việc quan sát tự nhiên, mô tả các cuộc chiến tranh, thực tiễn đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của làng quê, thành phố, dân tộc, ở phương Tây đã đưa tiến trình nhận thức lịch sử của con người lên một tầm cao mới, dù việc nhận thức còn thô sơ, mộc mạc, chưa chú trọng đến tính xác thực của biến cố, hiện tượng đã xảy ra

Kinh Xuân thu, kinh Veda, sử thi Ramayana, Lịch sử Hi Lạp, Chiến tranh Hi Lạp – Ba Tư, Lịch sử cuộc chiến tranh Péloponèse, Lịch sử Roma, chính là kết

quả quá trình nhận thức lịch sử của cư dân cổ đại Điều quan trọng hơn, cư dân thời

cổ đại đã biết sử dụng nhận thức lịch sử “như một công cụ để khái quát, tìm ra cái

việc chữ viết ra đời đã tạo điều kiện thuận lợi để cư dân thời cổ đại tích lũy vốn tri thức nhận thức được về hiện thực quá khứ khách quan với khối lượng ngày càng lớn, đó chính là cơ sở để tiến trình nhận thức lịch sử của con người ngày càng tiến gần hơn với hiện thực lịch sử

5 K Marx – F Engels (1962), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 302

6 Phan Ngọc Liên, Đỗ Thanh Bình (Đồng chủ biên), Lịch sử sử học thế giới, Nxb Đại học Sư phạm, tr 19 - 20

7 Phan Ngọc Liên, Đỗ Thanh Bình (Đồng chủ biên), Sđd, tr 19, 25

Trang 7

Đến khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã, chế độ phong kiến hình thành, cũng chính là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các tôn giáo, lịch sử trở trành công cụ để củng cố vương quyền và thần quyền

Đối với việc củng cố vương quyền, “ sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất

nghiêm, tô điểm việc chính trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn ”8

Đối với việc củng cố thần quyền, “ Đấng Sáng thế vĩnh hằng cho đến nay

Với vai trò đó, lịch sử bị thao túng bởi “ý trời” và trở thành “nô bộc của thần học”11, điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức lịch sử của cư dân thời đại phong kiến Tuy nhiên, nếu như ở phương Tây, sử học có những bước đi lùi so với

sử học thời cổ đại, thì ở phương Đông, thậm chí cả ở Châu Phi, sử học có những bước tiến đáng ghi nhận, như ở Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ, Tunisia (Tuynidi) , Đặc biệt, lúc bấy giờ, ở Trung Quốc cùng với việc định hình các dòng sử chính thống (sử học của giai cấp thống trị) và phi chính thống (sử học của nhân dân lao động), là sự xuất hiện của các thể loại Đoạn đại sử; Cương mục; Sử thông; Sử ký; Biểu, Thư, Thế gia, Liệt truyện

Dù các tác phẩm sử học ra đời trong thời kỳ này chủ yếu phản ánh vai trò vị trí của giai cấp thống trị với các hoạt động cai trị, lập pháp, hành pháp, chiến tranh ; nhưng chính những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc nung nấu trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của chế độ phong kiến đã đưa các nhà sử học đến một xu hướng nhận thức lịch sử đúng hơn với bản chất thật của nó, đặc biệt là dòng

sử phi chính thống

Đến thời kỳ phục hưng, ở phương Tây, các nhà sử học nhận ra “vương quyền” và “thần quyền” đã làm “méo mó” sự thật lịch sử bằng các “sử liệu giả”, xu hướng đưa các tác phẩm lịch sử quay lại kiểu sử học nhân văn của thời kỳ cổ đại xuất hiện và phát triển như muốn thoát khỏi vòng phong tỏa của hệ tư tưởng phong kiến và thần học Đặc biệt, sự ra đời của chủ nghĩa duy vật và khoa học thực nghiệm đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức hiện thực lịch sử

8 Bài tựa cho cuốn “Đại Việt sử ký tục biên” (chép trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư”), Nxb Văn hóa – Thông tin,

Trang 8

Tư tưởng của F Bacon (1561 - 1626) và R Descartes (1596 - 1650) về việc

đề cao giá trị của nguồn sử liệu; về việc nhận thức lịch sử phải xuất phát từ chính bản thân sự kiện, hiện tượng lịch sử, cùng với các quy luật nội tại của chúng do con người quy định chứ không phải là do Đức Chúa, hay ý trời Tư tưởng của F Bacon và R Descartes trở thành tư tưởng mang tính chủ đạo trong nhận thức hiện thực lịch sử của các nhà sử học thời kỳ Phục hưng

Bước sang thời cận đại, chế độ tư bản hình thành và phát triển mạnh mẽ, tình hình kinh tế chính trị thay đổi đã làm nảy sinh nhiều trào lưu tư tưởng mới Đầu

tiên là sử học Khai sáng, tiếp đến là các nhà sử học theo chủ nghĩa Tương đối, chủ nghĩa Thực chứng, chủ nghĩa Kinh nghiệm, chủ nghĩa Lãng mạn, lần lượt xuất

hiện, đây chính là thời kỳ vấn đề “nhận thức lịch sử” được đặt ra và bàn luận sôi nổi Dù chưa thoát khỏi các quan điểm duy tâm, siêu hình, nhưng các nhà sử học thời kỳ này đã coi sử học là một ngành khoa học, coi việc nhận thức lịch sử là

“động lực của sự phát triển” và động lực đó “nằm trong bản thân tự nhiên và xã

hội”12 Có thể nói, trong thời kỳ này, các nhà sử học đã đặt cột mốc, đánh dấu bước tiến dài trong nhận thức lịch sử của con người13

Cũng từ thế kỷ XIX, các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, tìm ra các nguyên lý cơ bản về sự vận động, phát triển của xã hội loài người

Các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx cho rằng, lịch sử xã hội loài người là hiện thực khách quan, tồn tại khách quan từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, vận động, phát triển theo những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và chịu sự chi phối của các mối quan hệ xã hội của các thời kỳ, giai đoạn lịch sử Nghĩa là, các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx vừa thừa nhận sự tồn tại của hiện thực lịch sử khách quan, vừa thừa nhận khả năng nhận thức hiện thực khách quan quá khứ của con

người

“Một khi đã thừa nhận lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội đều tồn tại khách

quan và nhờ có tư duy khoa học mà con người ngày càng nhận thức được đúng hơn

12 Phan Ngọc Liên, Đỗ Thanh Bình (Đồng chủ biên), Sđd, tr 68 - 70

13 Một số nhà sử học thời kỳ này xem quá khứ chỉ bao gồm các ảo ảnh không có thực, đó chỉ là sự nhớ nhung, phản chiếu sự luyến tiếc của con người về cái đã mất, cái không còn tồn tại nữa, hoặc lịch sử chỉ là lịch sử tinh thần tư tưởng Con người nhận thức lịch sử thông qua các nguồn sử liệu của quá khứ là hoàn toàn chủ quan, lịch

sử quá khứ là chủ quan, chỉ có “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần tuyệt đối” là sự tồn tại khách quan, do vậy, “nhà sử học tạo ra lịch sử đúng với mức độ mà lịch sử tạo ra nhà sử học” Hầu như các nhà sử học tư sản thời kỳ này đều đồng nhất hiện thực quá khứ khách quan với việc nhận thức chủ quan về lịch sử quá khứ; họ cũng cố gắng tìm ra các quy luật chi phối lịch sử nhưng đó là quy luật chủ quan, không có các quy luật khách quan chi phối lịch sử

14 Văn Tạo (1995), Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích, Viện Sử học xuất bản, tr 20 - 21

Trang 9

đối”15, tư duy khoa học là hữu hạn trước chân lý tuyệt đối, “nhưng rõ ràng sự phát triển không ngừng của đối tượng nhận thức cũng như các khả năng nhận biết trong chủ thể nhận thức là quá trình biện chứng nhích lại gần chân lý tuyệt đối thông qua

Đối với hiện thực lịch sử, ta không thể dùng các thực nghiệm khoa học lập đi lặp lại nhiều lần để tìm tra chân lý, vì các sự kiện hiện tượng lịch sử loài người

không có sự lặp lại Nếu “có sự diễn lại những tình hình cũ chỉ là ngoại lệ chứ

không phải là thường lệ, và chỗ nào có diễn lại thì cũng không bao giờ diễn lại trong điều kiện đúng như cũ”17 mà ở trong một không gian, thời gian, điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khác hẳn18

F Engels cho rằng, “Chính con người sáng tạo ra lịch sử của mình là sáng

tạo trong một hoàn cảnh nhất định, mà con người phải thích ứng, và trên cơ sở những quan hệ thực tế đương tồn tại, trong đó quan hệ kinh tế, mặc dù có thể bị những quan hệ khác, những quan hệ về chính trị và tư tưởng, ảnh hưởng đến đâu chăng nữa, nhưng xét cho cùng, nó vẫn là những quan hệ nhất định, hình thành sợi dây chỉ đạo xuyên qua toàn bộ sự phát triển, sợi dây duy nhất làm cho ta hiểu được

sự phát triển”19

Nhận thức lịch sử nghĩa là con người nhận thức chủ quan về tồn tại lịch sử khách quan Tồn tại chính là hiện thực khách quan quá khứ, nó đã, đang và sẽ tồn tại trong lịch sử, đó chính là sự thật lịch sử, là đối tượng của nhận thức lịch sử Việc nhận thức tiến hành dựa vào những cái hiện có, đó là các nguồn sử liệu – những di tồn vật chất và tinh thần của xã hội quá khứ, dung chứa nội dung lịch sử khách quan Tuy nhiên, cái hiện có chỉ là những phần, những bộ phận, những mảnh, của tồn tại khách quan quá khứ, do vậy, căn cứ vào đó, con người có khả năng nhận thức được lịch sử, có thể tiệm cận đến chân lý lịch sử, nhưng đó là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp, điều này đã được con người thực hiện từ thời đại nguyên thủy cho đến ngày nay

Dù cho đến nay, nhận thức về lịch sử vẫn có sự khác biệt lớn giữa các nhà sử học tùy thuộc vào quan điểm, hệ tư tưởng, phương pháp luận và phương pháp

15 UBKH XH Việt Nam (1982), Một số vấn đề về phương pháp luận phương pháp nghiên cứu các khoa học lịch sử,

Hà Nội, tr 7

16 UBKH XH Việt Nam, Sđd, tr 7

17 F Engels (1960), Chống Đuyrinh Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 154

18 Các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx cho rằng, chỉ có tư duy khoa học dựa trên nền tảng chủ nghĩa duy vật lịch sử, mới đưa nhận thức chủ quan của con người phù hợp với tiến trình khách quan của lịch sử (V.I

Lenin (1960), Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 453)

19 K.Marx, F Engels (1962), Tuyển tập, tập 2 Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 826

Trang 10

nghiên cứu Tuy nhiên, điều có thể khẳng định chắc chắn rằng, từ thời đại nguyên thủy cho đến ngày nay con người đã tiến hành nhận thức lịch sử, từng bước tái dựng lại toàn cảnh bức tranh về thế giới tự nhiên và xã hội loài người Tri thức lịch

sử về tự nhiên và xã hội loài người mà chúng ta có được chính là kết quả của quá trình nhận thức hiện thực lịch sử Từ thời mông muội, dã man đến văn minh, lịch

sử xã hội loài người giống như một dòng chảy liên tục, chúng tuân theo những qui luật phát triển của xã hội và chịu sự chi phối của thế giới tự nhiên

Không có gì mà con người không thể nhận thức được, chỉ có cái chưa nhận

thức được, cái chưa nhận thức được chính là những khoảng trống lịch sử mà con người đang nỗ lực khám phá Lịch sử xã hội nguyên thủy tồn tại cách chúng ta hàng triệu năm khi chưa có chữ viết đã được nghiên cứu, tái dựng; nhiều nước trên thế giới đã và đang tham gia tìm kiếm các dấu tích về sự biến mất của chiếc máy bay MH370 thuộc hãng hàng không Malaysia, là những ví dụ điển hình Nghĩa là, các nhà sử học từ Đông sang Tây đã và đang công nhận sự tồn tại khách quan của

hiện thực lịch sử, xem hiện thực lịch sử khách quan là đối tượng của nhận thức,

khẳng định mạnh mẽ con người có khả năng nhận thức lịch sử

2 Khái niệm Sử liệu

Hiện thực quá khứ khách quan chính là hoạt động thực tiễn của xã hội loài

người trong quá khứ, gồm 2 loại cơ bản đó là hiện tượng lịch sử và biến cố lịch sử

Hiện tượng lịch sử là loại hoạt động thực tiễn mang tính phổ biến, xảy ra ở

nhiều nơi, ở nhiều nước khác nhau; ví dụ như: phong trào đấu tranh giải phóng dân

tộc; cách mạng khoa học công nghệ; công cuộc cải cách nền hành chính; quá trình phục hưng nền kinh tế, hoạt động văn hóa, nghệ thuật

Biến cố lịch sử là loại hoạt động thực tiễn có tính chất cụ thể, xảy ra trong một thời gian, không gian cụ thể; trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể; liên quan đến những vật chất, phi vật chất, nhân vật cụ thể Ví dụ như: Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)20; Cuộc biểu tình của sinh viên Trung Quốc (biến cố Thiên An

Môn) năm 198921; Sự tan rã của Liên Bang Xô Viết (Liên Xô) năm 199122; Chính

20 Chiến tranh thế giới thứ hai (Thế chiến thứ hai) bắt đầu từ năm 1939 và chấm dứt vào năm 1945 là cuộc chiến rộng lớn và tai hại nhất trong lịch sử nhân loại với khoảng 62 triệu người đã bị chết do bị tàn sát, bom đạn và vì đói,

vì bệnh dịch

21 Ngày 17-4 -1989, cuộc biểu tình của hàng nghìn sinh viên Trung Quốc tại Thiên An Môn (Bắc Kinh) diễn ra với

lý do để tang Tổng bí thư TQ Hồ Diệu Bang, sau đó phát triển thành phong trào cải cách, chống tham nhũng, đòi tự

do dân chủ, đòi thay đổi chế độ chính trị xã hội và Đảng Cộng sản Trung Quốc Ngày 4-5-1989, nhân kỷ niệm 70 năm phong trào Ngũ Tứ, số người tham gia biểu tình lên tới hơn 1 triệu Chính phủ Trung Quốc kêu gọi sinh viên lập lại trật tự, chấm dứt biểu tình, nhưng không đạt kết quả, do đó đêm 3 rạng 4-6-1989, Chính phủ Trung Quốc huy động quân đội đàm áp, cuộc biểu tình chấm dứt

Ngày đăng: 05/09/2021, 01:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w