Đặc biệt là sự ra đời và phát triển của chữ quốc ngữ cùng với sự diễn biến phức tạp của lịch sử dân tộc đã làm cho nguồn sử liệu thành văn của nước ta trở nên phong phú, đa dạng với nhiề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA LỊCH SỬ
ĐỀ TÀI
SỬ LIỆU HỌC: NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH
VÀ TỔ CHỨC GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên đề CÁC CẤP ĐỘ SỬ LIỆU: SỬ LIỆU GỐC (SỬ LIỆU CẤP I),
SỬ LIỆU THỨ CẤP (SỬ LIỆU CẤP II, III)
Trang 2BÌNH DƯƠNG - THÁNG 12 NĂM 2014
Trang 3Chuyên đề CÁC CẤP ĐỘ SỬ LIỆU: SỬ LIỆU GỐC (SỬ LIỆU CẤP I),
SỬ LIỆU THỨ CẤP (SỬ LIỆU CẤP II, III)
1 Các cấp độ sử liệu
Từ khi chữ viết ra đời, một phần của hoạt động khám phá, chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã hội từ xưa đến nay được con người ghi chép, lưu lại dưới nhiều hình thức: giáp cốt, minh văn, châu bản, mộc bản, văn bản, văn bia, gia phả, thần phả, chính sử, địa phương chí, sổ đinh, sổ điền, biên niên, nhật ký, hồi ký, thư tín, bản chép tay về các sự kiện hiện tượng, sự kiện biến cố lịch sử đó chính là nguồn
sử liệu thành văn Nhiều nhà sử học đánh giá rằng, chúng là nguồn sử liệu hết sức phong phú, đa dạng, có giá trị cao và tham gia tích cực nhất vào quá trình khôi phục hiện thực quá khứ khách quan
Thực tế cho thấy, khi tiếp cận nguồn sử liệu thành văn, các nhà nghiên cứu biết ngay các thông tin một cách dễ dàng trên tất cả các bình diện từ tự nhiên đến chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Nhiều sử liệu thành văn còn mô tả, lý giải, chú dẫn làm rõ sự kiện lịch sử Điều đó cũng bao hàm rằng, nguồn sử liệu thành văn có sử liệu gốc và có sử liệu cấp 1, sử liệu cấp 2 phản ánh thông tin về hiện thực lịch sử qua lăng kính chủ quan của tác giả sử liệu Bên cạnh đó, cũng có
sử liệu thành văn được sao chép lại, thậm chí có sử liệu sao đến nhiều lần, dẫn đến tình trạng sai lệch thông tin trong một số sử liệu thành văn1
Sử liệu trực tiếp: là những sử liệu xuất hiện cùng với sự kiện, thuộc về sự
kiện và thường được coi là nguồn sử liệu gốc, có giá trị khoa học cao Chẳng hạn,
1 Ở Việt Nam, các nhà sử học vẫn chưa tìm thấy nguồn sử liệu thành văn phản ánh đời sống xã hội từ thế kỷ thứ X trờ về trước Việc tái dựng lịch sử Việt Nam thời kỳ đó chủ yếu dựa các nguồn sử liệu khác Bên cạnh đó, các nhà sử học còn dựa vào các loại thư tịch cổ của Trung Quốc – một quốc gia luôn coi Việt Nam là “miếng mồi ngon” để xâm lược, đồng hóa, nên độ tin cậy của các loại thư tịch đó cần được xem xét kỹ lưỡng độ trung thực của nó Nguồn sử liệu thành văn phản ánh đời sống xã hội nước ta từ thế kỷ X trở về sau đã được phát hiện ngày càng nhiều
Có thể thấy, nguồn tài liệu thành văn được bổ sung thông qua các triều đại phong kiến với nhiều thể loại phong phú, đặc biệt là sự ra đời của chữ Nôm Tuy nhiên, nạn ngoại xâm liên tiếp và các cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập dân tộc; các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực và cung cách lưu giữ sử liệu của các triều đại phong kiến; cũng như thời gian và khí hậu nhiệt đới, gió mùa khắc nghiệt, đã tác động xấu đến nguồn sử liệu thành văn của nước ta
Từ thời cận đại đến nay, nguồn sử liệu thành văn phát triển mạnh mẽ, bên cạnh chữ Hán, chữ Nôm còn xuất hiện chữ Latinh, chữ Pháp, chữ Anh, Đặc biệt là sự ra đời và phát triển của chữ quốc ngữ cùng với sự diễn biến phức tạp của lịch sử dân tộc đã làm cho nguồn sử liệu thành văn của nước ta trở nên phong phú, đa dạng với nhiều thể loại, có giá trị lớn trong việc tái dựng hiện thực lịch sử, nhưng đồng thời cũng làm cho sử liệu thành văn vốn đã phức tạp lại càng trở nên phức tạp hơn
Trang 4văn bản hiệp ước, hiệp định (Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, Hiệp ước Giáp Tuất 1874, Hiệp định Genève 1954, Hiệp định Paris 1973,…); xác máy bay B52 bị bắn rơi ở
Hà Nội năm 1972; chiếc xe tăng T54 húc đổ cổng Dinh Độc lập ngày 30.4.1975,…
Sử liệu gián tiếp: là sử liệu phản ánh sự kiện lịch sử qua những thông tin gián
tiếp, với mục đích truyền đạt thông tin - qua tác giả sử liệu (chẳng hạn như hồi ký),
ở đó, các sự kiện xảy ra không đồng thời với sử liệu (trước thời điểm hồi ký được viết ra) Tuy nhiên, khi phân chia các loại sử liệu theo tính chất thông tin mà nó phản ánh một cách cụ thể hơn, các nhà khoa học có thể chia ra thành các loại sau:
◙ Về hình thái kinh tế – xã hội, về phương thức sản xuất
◙ Về đời sống và sinh hoạt của giai cấp thống trị
◙ Về đời sống và sinh hoạt của giai cấp bị trị
◙ Các chính sách đô hộ của ngoại bang
◙ Về các lĩnh vực trong đời sống xã hội:
+ Kinh tế – xã hội,
+ Chính trị – ngoại giao,
+ Quốc phòng – an ninh
+ Văn hóa – giáo dục,
+ Y tế – môi trường,…
Trên thế giới có biết bao thứ ngôn ngữ và ngay trong mỗi quốc gia cũng tồn tại nhiều ngôn ngữ khác nhau Mỗi ngôn ngữ có cách thể hiện và phản ánh khác nhau Trong quá trình phát triển, sự giao thoa ngôn ngữ diễn ra và tạo nên nhiều sắc thái của lịch sử mà các nhà sử học khi nghiên cứu cần hết sức lưu ý
Ở Việt Nam, sử liệu thường được thể hiện bằng các thứ chữ viết như Hán – Nôm, Sanskrit, Quốc ngữ, Anh, Pháp, Nga,…
Mỗi thứ chữ viết thể hiện trong sử liệu phản ánh tính chất lịch sử và mối quan hệ giữa nước sở tại với các quốc gia láng giềng, trong khu vực hay trên thế giới Đặc điểm ngôn ngữ còn thể hiện tính chất thời đại được phản ánh trong sử liệu (chữ tượng hình; đại triện, tiểu triện, phồn thể, giản thể trong chữ Hán; chữ Sancrit, chữ Latin; Ngoài ra, các ngôn ngữ tạo nên sử liệu còn thể hiện bản sắc dân tộc, sắc thái tộc người (tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Chăm, tiếng Khmer,…) Một đặc điểm dễ nhận ra là những sử liệu bằng văn tự ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945 đa số bằng chứ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp, còn bằng chữ quốc ngữ không nhiều, nhưng từ sau Cách mạng tháng Tám trở đi, tình hình có khác, thậm chí đảo ngược hoàn toàn
Phân loại theo đặc điểm ngôn ngữ giúp nhà sử học dễ dàng tiếp cận nội dung, đặc điểm thông tin phản ánh trong sử liệu Từ đó góp phần vào việc xác định hướng nghiên cứu và phương thức tiếp cận nguồn sử liệu phục vụ cho công trình nghiên cứu
Với sự trình bày trên đây cho thấy, không dễ gì có được một phương án phân loại sử liệu hoàn hảo và được mọi người đồng thuận Các nhà Sử liệu học cần kết hợp với các ngành liên quan, nghiên cứu kỹ lưỡng đặc trưng của mỗi loại hình, mỗi
Trang 5nguồn tư liệu để đề xuất phương án tối ưu cho mỗi chuyên ngành thuộc khoa học lịch sử, nhằm hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu Chẳng hạn đối với ngành khảo cổ học, gia phả học, lịch sử Đảng, lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc,… có cách phân loại riêng Tuy nhiên, việc áp dụng đặc trưng nào trong số các đặc trưng nói trên để phân loại các nguồn sử liệu là tùy thuộc ở nhu cầu thực tế của công việc nghiên cứu, sử dụng sử liệu, đồng thời do đặc điểm của các nguồn sử liệu về mỗi thời kỳ lịch sử quyết định Có nguồn sử liệu không thể phân loại theo đặc trưng này nhưng lại có thể phân loại theo đặc trưng khác Chẳng hạn, nguồn sử liệu phim ảnh, không nên phân loại theo địa bàn mà nên phân loại theo loại hình của chúng như phim tài liệu, phim thời sự,… Hay đối với nguồn sử liệu báo chí, tài liệu lưu trữ,… nên phân biệt loại ở trung ương và loại ở địa phương, loại ở trong nước, loại ở ngoài nước, loại tài liệu của ta và loại tài liệu của địch,…
Như vậy, để phân loại tổng hợp toàn bộ các nguồn sử liệu, cần phải áp dụng nhiều đặc trưng khác nhau, tức kết hợp hai hay nhiều đặc trưng với nhau trong phân loại; cũng có thể kết hợp nhiều đặc trưng để phân loại các nguồn sử liệu trong một đặc trưng cơ bản Đó là điều cần phải làm từng bước và đòi hỏi phải có những công trình sử liệu học sâu rộng Việc phân loại tổng hợp sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện đối với các nguồn sử liệu, thấy được mối liên hệ giữa chúng với nhau và mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể, dễ dàng nhận ra quy luật vận động khách quan của sử liệu
Với những phân tích trên đây, có thể thấy sử liệu có nhiều cách phân loại khác nhau Tuy nhiên cho đến nay, các nhà Sử học nói chung, Sử liệu học nói riêng thường phân chia sử liệu thành các loại sau:
TLLS
SLKT
SLNN
SLDTH SLTV
SLPVC
Ngôn ngữ đượchình thành, phát triển gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, cộng đồng dân cư và trở thành phương tiện giao
Trang 6tiếp, phản ánh các mối quan hệ xã hội trong lao động sản xuất, sinh hoạt xã hội giữa các thành viên trong cộng đồng, quốc gia, dân tộc,
Cấu tạo của mỗi loại ngôn ngữ bao gồmhệ thống từ vựng,nguyên tắc cấu trúc ngữ pháp và cách thức phát âm Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn dung chứa tính thời đại, tính địa phương (phương ngữ); và sự giao thoa ngôn ngữ trong quá trình giao thoa văn hóa tộc người giữa các vùng, các miền, các quốc gia, dân tộc điều này làm cho ngôn ngữ trở trành nguồn sử liệu quý giá đối với các nhà sử học khi nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là nghiên cứu về tộc người, về văn hóa tộc người
Về cơ bản, ngôn ngữ, cấu trúc ngữ pháp và cách thức phát âmkhông thay đổi, tuy nhiên, vốn từ vựng luôn luôn biến đổi và phát triển không ngừng theo tiến trình phát triển của lịch sử Cứ mỗi giai đoạn, thời kỳ, mỗi thời đại, vốn từ vựng trong ngôn ngữ, một số từ vựng cũ dần ít sử dụng và được thay thế bằng một số từ vựng mới hiện đại hơn Ở Việt Nam, nếu sử liệu nhắc đến các từ lạc tướng, lạc hầu, lạc dân, ta biết ngay sử liệu đang nhắc tới thời đại Hùng Vương dựng nước Sử liệu
đề cập đến vương triều, hoàng tử, công chúa, đại thần, cung tần mỹ nữ, thứ dân ta biết sử liệu đang đề cập đến các triều đại phong kiến Sử liệu nói đến phường buôn,
kẻ chợ, lắm đa, đặng, toa, moa là sử liệu đang nhắc thời cận đại Sử liệu nói đến nền kinh tế tri thức, xã hội dân sự, internet, truyền hình cáp, mạng xã hội, chát, xé gió là đang nhắc thời đại ngày nay
Ở mỗi vùng miền, ngôn ngữ địa phương có một số từ, ngữ và cách phát âm mang tính đặc trưng, làm cho ngôn ngữ dân tộc trở nên đa dạng hơn
Về từ, dễ dàng để nhận thấy sự khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam Việt
Nam, điển hình như (Bắc/Nam) đàn/đờn; đâm/thọt; dám làm/chịu chơi; chơi tới
cùng/chơi tới bến; nghiện/ghiền; lật mặt người khác/chơi móc lò; không đạt được gì/ăn trớt; hết sạch/hết trơn, hết trọi
Ở địa phương có cương vực địa lý nhỏ hơn như cấp tỉnh, huyện, xã, thôn cũng có sự khác biệt; trong đó có những từ mà chỉ người dân địa phương mới hiểu,
điển hình như ở số vùng thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh có các cụm từ nỏ chộ (không thấy), mômồ (ở đâu), vậy rưng (vậy à) Do vậy mới có câu thơ vui về phương ngữ “Mô núi mô sông, mô chộ; Mô non, mô bể chộ mô mồ” Hay ở các tỉnh miền Tây Nam bộ có các cụm từ ghe be, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe lồng,
ghe lườn, ghe ngo, vỏ lãi, tắc ráng, trẹt,…
Về cách phát âm cũng mang tính đặc trưng theo phương ngữ, đó là lý do để chúng ta có thể nhận diện được sử liệu ở đâu, thuộc vùng nào, điển hình như:
Ở Bắc bộ: hiện tượng phát âm “l” thành “n” (“long lanh” thành “nong nanh”,
“làm việc” thành “nàm việc” và ngược lại “quả na” thành “quả la”, “cái nồi” thành
“cái lồi”,… của một số tỉnh như Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng,
“theo dõi” thành “theo rõi”, “giầy dép” thay vì “giày dép”, “thày giáo” thay vì
“thầy giáo”, Lại có vùng phát âm không rõ dấu thanh như vùng Hà Tây có địa phương phát âm “con bò vàng” thành ra “con bo vang”; âm “ư” thành âm “i”, chẳng hạn “Tố Hữu” thành “Tố Hữu”,…
Trang 7Ở Trung bộ: cái đầu được gọi là trôốc (các tỉnh vùng Bình Trị Thiên,…); quả
cà thành quả cá, “cá có cuống hay cá có đuôi” (ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An); cái sân thành ra cái cươi, quét thành xuốt, cái chén thành cái chéng; rồi mô, tê, răng, rứa,… một số tỉnh như Khánh Hòa, Phú Yên, Quảng Nam,… phát âm âm “a” thành âm “e”, “âm “ô” (“trà đá” thành “trà đé”, “xe tăng” thành “xe teng”, “xe đạp” thành “xe độp”,…)
Ở Nam bộ: vào, vô, về thành dào, dzào, dô, dzô, dề, dzìa,… “con cá rô bỏ trong rổ nhày rồ rồ” thành “con cá gô bỏ trong gỗ nhảy gồ gồ”, “khỏe” thành
“phẽ” Một hiện tượng khá phổ biến là âm điệu thường bổng lên thay vì phải phân biệt dấu hỏi, ngã như miền Bắc, chẳng hạn câu trên đây thay vì phải phát âm “gổ” thì đã thành “gỗ”, “phẻ” thành “phẽ”
Ở Việt Nam, tính địa phương của ngôn ngữ còn được các nhà nghiên cứu Việt Nam đúc kết, cách sử dụng từ và âm điệu của cư dân miền Bắc thường tròn trĩnh, ngọt ngào và thanh lịch, nhưng mang tính khép; của cư dân miền Trung thì uyên bác, tri thức và sâu lắng nhưng mang tinh thần bảo lưu vốn cổ; của cư dân Nam bộ thì góc cạnh, mộc mạc, thân tình, nhưng có tính mở, tính đại khái và tính trại âm rất cao,
Xét về mặt thuật ngữ, cụm từ “Sử liệu học” hầu như ít xuất hiện trong từ
điển của các nước Cho đến nay trên phạm vi cả thế giới mới chỉ có cụm từ
Историческая школа trong từ điển tiếng Nga và cụm từ Quellen kunde trong từ
điển tiếng Đức có nghĩa là “Sử liệu học”, riêng ở các nước phương Tây khác chỉ có
cụm từ critique des sources, hay historical source research mang nghĩa nghiên
cứu, phê phán các nguồn sử liệu
Vậy sử liệu học là gì? Từ khi khoa học lịch sử hình thành, các nhà sử học đã quan tâm đến sử liệu, coi sử liệu là thành tố không thể thiếu trong việc tái dựng hiện thực lịch sử khách quan Do vậy, để tái dựng hiện thực lịch sử, nghiên cứu, biên soạn các công trình, tác phẩm lịch sử, các nhà sử học phải trả lời các câu hỏi đại loại như, Sử liệu là gì? Tìm sử liệu ở đâu? Công việc sưu tầm sử liệu được tiến hành như thế nào?
Sau khi có sử liệu, các nhà sử học lại phải tiến hành chọn lọc, phân loại sử liệu nhằm khai thác thông tin một cách thuận lợi nhất có hiệu quả nhất
Sự lựa chọn sử liệu tùy thuộc vào sự nhận định, đánh giá chủ quan của nhà
sử học đối với các sử liệu; và sự phân loại sử liệu cũng được thực hiện tùy theo cách nghĩ, cách làm của từng nhà sử học Có nhà sử học chọn lọc, phân loại theo thời kỳ lịch sử của sử liệu, theo địa bàn tồn tại, theo đặc điểm hình thức, theo tính chất thông tin, theo đặc điểm ngôn ngữ, theo đặc trưng vật chất hay tư tưởng, theo
sử liệu thành văn và không thành văn, theo khả năng cung cấp thông tin trực tiếp hay thông tin gián tiếp của sử liệu
Trang 8Trước khi khai thác thông tin từ sử liệu phục vụ mục đích nghiên cứu biên soạn các công trình, tác phẩm lịch sử, việc xác định giá trị đích thực của sử liệu là việc làm mang tính nguyên tắc đối với các nhà sử học Nghĩa là, các nhà sử học phát hiện được quy luật hình thành và chi phối nội dung của sử liệu Trong hệ thống sử liệu, có sử liệu đúng, có sử liệu sai, có những sử liệu không được tạo ra bởi các hiện tượng, biến cố lịch sử mà được tạo ra vì mục đích nào đó của một cá nhân, của một nhóm người, của một cộng đồng, hay của một giai cấp,
Thông qua quá trình hình thành, vận động, phát triển của ngành khoa học lịch sử, sử liệu nghiễm nhiên trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà sử học
Sử liệu không những được các nhà sử học đề cập đến những công tác thực tiễn như sưu tầm, chọn lọc, phân loại, phê phán, của sử liệu, mà còn được bàn nhiều về mặt lý luận như khái niệm, những dấu hiệu bản chất, thuộc tính, những quy luật chi phối đến quá trình hình thành, vận động, phát triển và những quy luật chi phối nội dung của sử liệu ; đồng thời hình thành nên hệ thống phương pháp luận, phương pháp, nghiên cứu và đề xuất các biện pháp, cách thức sử dụng sử liệu trong việc nghiên cứu lịch sử, tái dựng hiện thực lịch sử, tiếp cận chân lý lịch sử
Có thể nói, những vấn đề về sử liệu lý luận và sử liệu thực tiễn đã được các nhà sử học đề cập, giải quyết trong suốt từ lịch sử cổ đại cho đến ngày nay, đó chính là tiền đề hình thành nên ngành Sử liệu học
Như vậy, sử liệu học là ngành khoa học nghiên cứu sử liệu, với hệ thống khái niệm riêng, thuật ngữ riêng, đối tượng nghiên cứu riêng, phương pháp nghiên cứu riêng, mục đích ứng dụng riêng và có một lịch sử phát triển lâu dài
Là ngành khoa học chuyên nghiên cứu về sử liệu, tuy nhiên đối tượng của sử liệu học không phải bản thân sử liệu mà là nguồn thông tin chứa trong sử liệu Chúng ta cũng đã biết rằng, nguồn thông tin phản ánh của từng sử liệu lại khác nhau, mức độ chuẩn xác của thông tin cũng khác nhau; thậm chí có nhiều sử liệu phản ánh thông tin sai lệch, thiếu chính xác, về hiện thực lịch sử, do vậy việc nghiên cứu qui luật hình thành, vận động, phát triển của sử liệu và các yếu tố chi phối nội dung thông tin của sử liệu cũng chính là đối tượng nghiên cứu của sử liệu học Như vậy, đối tượng của ngành Sử liệu học là:
- Bản thân sử liệu (thông tin và kênh thông tin),
- Các qui luật chi phối quá trình hình thành, vận động, phát triển của sử liệu,
- Các yếu tố ảnh hưởng, chi phối nội dung thông tin của sử liệu
Mục đích của các nhà sử học là thông tin từ sử liệu, khi tiếp cận với các nguồn sử liệu là để khai thác thông tin Nếu sử liệu không có thông tin, thì các nhà
sử học không có lý do gì để tiếp cận sử liệu, do vậy, các thông tin chứa trong sử liệu là đối tượng chính mà các nhà sử học mong muốn được tiếp cận, nghiên cứu
Trang 9Trong nhiều tường hợp, nguồn thông tin trong sử liệu đặt ra các nhiệm vụ cụ thể tiếp theo buộc các nhà sử học, nhà nghiên cứu phải thực hiện Đơn cử như, khi tiếp cận với các nguồn sử liệu về thành Cổ Loa, có nhiều ý kiến khác nhau về vị trí
của thành Có ý kiến cho rằng, “Cái thành mà An Dương Vương đắp ở Việt Thường
chính là Việt Vương thành, có tên dân gian và thành Ốc (chữ là Loa Thành), chứ không phải là thành Phong Khê, nằm trên đất Cổ Loa”2 Mà Việt Vương thành, hay Loa Thành, lại ở Cao Xá, tổng Cao Xá, ngày nay thuộc xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Nếu như chúng ta công nhận thành Cổ Loa được đắp ở Việt Thường chính là thành Phong Khê, ngày nay thuộc địa bàn Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội thì niên đại của ba vòng thành Cổ Loa cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, cả
ba vòng thành có niên đại trước khi nhà Hán xâm lược, cai trị nước ta; nhưng cũng
có ý kiến cho rằng, các vòng thành, đặc biệt là vòng thành trong có sự pha trộn niên đại trước thời nhà Hán, thuộc thời nhà Hán, hoặc các thời đại tiếp sau đó
Các thông tin mà sử liệu cung cấp đã đặt ra cho các nhà sử học những vấn đề cần phải nghiên cứu, làm rõ về thành Cổ Loa của An Dương Vương, thật sự thành
Cổ Loa được ở đâu, Nghệ An hay Hà Nội? Được xây dựng và hoàn thành vào thời gian nào?
Để xác định độ tin cậy của thông tin có từ sử liệu, các nhà sử học, nhà nghiên cứu phải tìm hiểu quá trình hình thành, vận động, phát triển của sử liệu Sử liệu lại
do con người tạo ra, nên nó không những bị chi phối bởi các quan hệ chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội của thời đại sinh ra nó, mà còn bị chi phối bởi tư tưởng, quan điểm, mục đích, động cơ và trình độ, của tác giả sử liệu Do vậy, để sử dụng sử liệu vào việc tái dựng hiện thực lịch sử, đối tượng của sử liệu mà các nhà sử học phải tiến hành nghiên cứu là các qui luật chi phối quá trình hình thành, vận động, phát triển của sử liệu; và các quy luật chi phối nội dung thông tin của sử liệu
Với tư cách là một ngành khoa học, khoa học nghiên cứu về sử liệu, nhiệm
vụ đặt ra cho ngành Sử liệu học là nghiên cứu sử liệu cả về phương diện lý luận lẫn
về phương diện thực tiễn
Về lý luận, Sử liệu học tổng hợp toàn bộ tri thức của con người về sử liệu,
làm rõ sử liệu là gì, vai trò vị trí của sử liệu đối với việc nghiên cứu lịch sử Tìm hiểu quá trình hình thành, vận động phát triển của sử liệu, tìm ra các qui luật, các yếu tố chi phối đến quá trình hình thành, vận động, phát triển của sử liệu và các chi phối nội dung phản ánh của sử liệu
Trang 10Sau khi giải quyết xong các vấn đề trên, sử liệu học có nhiệm vụ đề xuất hệ thống phương pháp luận, hệ thống phương pháp nghiên cứu sử liệu và đề xuất các nguyên tắc, cách thức khai thác thông tin từ sử liệu, sử dụng thông tin sử liệu phục
vụ cho việc tái dựng hiện thực quá khứ khách quan, đưa nhận thức của con người tiệm cận với sự thật lịch sử, tìm ra chân lý lịch sử
Về thực tiễn, Sử liệu học có nhiệm vụ hướng dẫn thực hành công tác sử liệu,
bao gồm, công tác sưu tầm, phân loại, chọn lọc, xác minh, phê phán sử liệu; công tác khai thác thông tin từ các nguồn sử liệu phục vụ việc nghiên cứu, biên soạn các công trình, tác phẩm sử học
Cũng như các ngành khoa học khác, các nhiệm vụ của Sử liệu học có mối quan hệ mật thiết với nhau
Nghiên cứu sử liệu về mặt lý luận, nghĩa là sử liệu học được trang bị hệ thống lý luận, phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, nhằm định hướng cho các hoạt động thực tiễn của sử liệu Ngược lại, các hoạt động thực tiễn của sử liệu giúp sử liệu học hoàn thiện hơn về hệ thống lý luận, từ việc chuẩn hóa khái niệm sử liệu, tìm ra các đặc điểm, các thuộc tính của sử liệu, đến việc đề xuất hệ thống phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, cách thức sử dụng sử liệu, khai thác thông tin từ sử liệu
2 Xác minh cấp độ sử liệu
Sử liệu không phải là một cổ máy ghi lại mọi điều trong thực tế cuộc sống rồi tái hiện một cách đầy đủ trước mắt người nghiên cứu Có không ít những nguồn
sử liệu chưa được kiểm chứng, xác minh, trong đó còn biết bao điều thực hư mà nhà khoa học chưa thể khẳng định một cách chắc chắn Mọi sự ngờ vực đối với sử liệu là cơ sở, là động lực thúc đẩy để nhà khoa học phải đặt ra nhiệm vụ xác minh
sử liệu trước khi sử dụng nó vào việc nghiên cứu những vấn đề liên quan
Thông thường, các sử liệu thiếu độ tin cậy xuất phát từ những lý do sau:
◙ Cách xa về thời gian, không gian
◙ Chủ quan của người tham gia thiết lập sử liệu
◙ Quan điểm chính trị trong xã hội có giai cấp
◙ Yếu tố “tam sao thất bổn” (sao chép, trùng tu,…)
◙ Yếu tố kỹ thuật trong quá trình chế tác, tạo lập sử liệu
◙ Độ bền của chất liệu và sự tác động của thiên nhiên và con người
◙ …
Và cũng không loại trừ những sử liệu được “ngụy tạo” vì những mục đích khác nhau của con người
Lịch sử được viết ra từ những nguồn sử liệu chưa được xác minh một cách chắc chắn dễ có thể bị sai lệch hoặc bị bóp méo Vì vậy, việc xác minh sử liệu là