1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bình luận về bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản)

16 567 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 65,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời buổi kinh tế thị trường phát triển như hiện nay thì nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần của con người ngày càng đòi hỏi cao hơn, kinh tế cũng ngày một khó khăn và tính cạnh tranh ngày càng cao. Chính vì vậy, mà để đáp ứng nhu cầu của bản thân mà không ít người sẳn sàng đi vay, mượn nợ, thế chấp, cầm cố,… để đáp ứng những nhu cầu cần thiết của họ. Do đó, dẫn đến không ít những tranh chấp xoay quanh vấn đề vay, mượn nợ, thế chấp, cầm cố,… và một trong số đó tranh chấp nhiều nhất là về hợp đồng tín dụng (vay tài sản) cụ thể là bản án 432018DSST ngày 07062018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản). Bản án 432018DSST ngày 07062018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản) là vụ án tranh chấp giữa ngân hàng thương mại cổ phần V (nguyên đơn) với ông Lâm Thành C cùng vợ là bà Trần Thị Ngọc P (bị đơn) và bà Nguyễn Thị Thiên L (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Vào ngày 2742016 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký hợp đồng tín dụng (vay tài sản) với vợ chồng ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P số 48520168510081HĐTD.

Trang 1

BÌNH LUẬN VỀ BẢN ÁN

Trong thời buổi kinh tế thị trường phát triển như hiện nay thì nhu cầu

về vật chất lẫn tinh thần của con người ngày càng đòi hỏi cao hơn, kinh tế cũng ngày một khó khăn và tính cạnh tranh ngày càng cao Chính vì vậy, mà

để đáp ứng nhu cầu của bản thân mà không ít người sẳn sàng đi vay, mượn

nợ, thế chấp, cầm cố, … để đáp ứng những nhu cầu cần thiết của họ Do đó,

đã dẫn đến không ít những tranh chấp xoay quanh vấn đề vay, mượn nợ, thế chấp, cầm cố, … và một trong số đó tranh chấp nhiều nhất là về hợp đồng tín dụng (vay tài sản) - cụ thể là bản án 43/2018/DS-ST ngày 07/06/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản)

Bản án 43/2018/DS-ST ngày 07/06/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản) là vụ án tranh chấp giữa ngân hàng thương mại cổ phần V

( nguyên đơn ) với ông Lâm Thành C cùng vợ là bà Trần Thị Ngọc P ( bị đơn ) và bà Nguyễn Thị Thiên L ( Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ).

Vào ngày 27/4/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký hợp đồng tín dụng (vay tài sản) với vợ chồng ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P số 485/2016/8510081/HĐTD Theo hợp đồng, số tiền vay là 360.000.000 đồng với mục đích vay là để mua xe ô tô con, thời hạn vay là 84 tháng, lãi suất trong hạn là 9,5%/năm cố định trong

24 tháng đầu năm kể từ thời điểm giải ngân lần đầu Sau đó, áp dụng lãi suất thả nổi, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo chính sách lãi suất của ngân hàng áp dụng trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn Trả nợ vào ngày 10 tây hàng tháng, bắt đầu từ ngày 10/6/2016, ngày trả nợ gốc cuối cùng là ngày 27/4/2023 (hàng tháng ông C, bà P phải trả số tiền vay

là 4.330.000 đồng) Ngày 27/4/2016 ( cùng ngày ký hợp đồng tín dụng ) hai bên ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ, tài sản

Trang 2

thế chấp là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C và bà P đã thanh toán được cho Ngân hàng V tổng số tiền

nợ vay là 99.846.624 đồng, trong đó số tiền vay gốc là 60.620.000 đồng và

số tiền lãi là 39.226.624 đồng (từ ngày 13/6/2016 đến ngày 21/7/2017) thì ngưng không thanh toán cho đến nay nên dẫn đến khoản nợ vay bị quá hạn Tổng dư nợ tạm tính đến hết ngày 07/6/2018 là 327.309.357 đồng, trong đó

nợ gốc là 299.380.000 đồng, nợ lãi trong hạn 26.936.074 đồng và lãi quá hạn

là 993.283 đồng Trong trường hợp, tiền lãi phát sinh được tiếp tục tính theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ Bị đơn – ông Lâm Thành

C và bà Trần Thị Ngọc P vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Ông

Lâm Thành C cùng vợ là bà Trần Thị Ngọc P ( bị đơn ) và bà Nguyễn Thị

Thiên L ( Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ) vắng mặt toàn bộ quá

trình giải quyết vụ án Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều

35, Điểm b Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều

238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án Tòa án tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Buộc Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc

P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 là 327.309.357 đồng, trong đó nợ gốc là 299.380.000 đồng, nợ lãi trong hạn 26.936.074 đồng và lãi quá hạn là 993.283 đồng; Trường hợp ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P không thanh toán nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là chiếc xe ôtô con hiệu Chevrolet

Trang 3

Aveo LT; Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P trả xong các khoản nợ mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016; Ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P phải chịu 16.365.467 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V 7.836.966 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp; Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự Quyết định về bản án của Tòa án sơ thẩm là hoàn toàn hợp lý, dựa trên chứng cứ xác thực, căn cứ pháp lý rõ ràng, cụ thể, phán quyết mang tính công bằng, nghiêm minh, tuân theo đúng quy định của pháp luật và những điều này thể hiện qua các luận điểm sau:

Thứ nhất, về tố tụng: Căn cứ theo định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tại các Điều 175, 177 về “ Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng” và Điều 196 về “ Thông báo về việc thụ lý vụ án” cùng với Điều 208 về “ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” và Điều 220 về “ Quyết định đưa vụ án ra xét xử”, tòa án đã tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lâm Thành C cùng vợ là bà Trần Thị Ngọc P ( bị đơn ) và bà

Nguyễn Thị Thiên L ( Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ) là điều hoàn

Trang 4

toàn hợp lý và đúng với quy định của pháp luật để bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể nắm bắt được tình hình ngay cả khi họ cố tình vắng mặt Tiếp tục căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 thì Tòa án đã tiến hành triệu tập bị đơn

và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ vẫn lại cố tình vắng mặt, tức là họ đã gián tiếp từ bỏ quyền lợi của mình Vì vậy cho nên Toà án có quyền căn cứ theo quy định của pháp luật mà tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Thứ hai, về quan hệ tranh chấp: Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đây là tranh chấp về giao dịch dân

sự, hợp đồng dân sự Căn cứ theo Khoản 16 Điều 4 thì “cho vay tài sản là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Và theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì “hợp đồng vay tài sản

là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Từ các căn cứ trên có thể nhận thấy rằng đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản) điển hình Tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản) hiện nay trở nên khá phổ biến do vậy mà việc xác định quan hệ tranh chấp trên là rất dễ dàng, khó có thể nhầm lẫn

Thứ ba, về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm b Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân

sự 2015 thì trong trường hợp này, theo thông tin của nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 tại

Trang 5

điểm b mục 8 đã có thỏa thuận với nhau về việc nếu có phát sinh tranh chấp thì thầm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương Do vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An ( Tòa án nhân dân cấp huyện )

Thứ tư, về nội dung: Hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 được ký kết dựa trên sự tự nguyện của hai bên cùng thỏa thuận, hai bên đã đọc và đồng ý những điều khoản ghi trong hợp đồng, hợp đồng có hiệu lực pháp lý kể từ thời điểm ký kết Thời gian đầu ông C và bà P

đã thực hiện tốt ngĩa vụ thanh toán nợ, thanh toán được cho Ngân hàng V được số tiền vay gốc là 60.620.000 đồng, số tiền lãi là 39.226.624 đồng Nhưng kể từ ngày 21/7/2017 đến thời điểm Ngân hàng V khởi kiện, ông C

và bà P không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn, ông C và bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận Do đó, vì bảo vệ quyền lợi của mình ngân hàng V đã tiến hành khởi kiện ông C và bà P yêu cầu phải thanh toán nợ là

có cơ sở bởi ông C và bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ

Hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 được ký kết với người có thẩm quyền, đúng thủ tục và được đăng

ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực Căn cứ theo Khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định thì “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật” Do đó, nếu ông C,

bà P không thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng như đã thỏa thuận thì chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT ( tài sản đảm bảo) của ông C, bà P

sẽ được dùng để phát mãi để thanh toán nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật

Trang 6

Thứ năm, về tiền lãi: Căn cứ theo Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định thì “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” Vì thế, ông C và bà P sẽ phải căn cứ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 để tiến hành thanh toán nợ cho ngân hàng V

Thứ sáu, về người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ( bà Nguyễn Thị Thiên L): Do trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Thiên L đều vắng mặt, không cung cấp chứng cứ chứng minh về tài sản thế chấp nên quyền lợi của bà L sẽ không được xem xét trong vụ án này

Thứ bảy, Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều

11 và Khoản 3 Điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án quy định thì “ngân hàng chính sách xã hội khởi kiện vụ án hoặc kháng cáo bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án để thu hồi nợ vay trong trường hợp Ngân hàng chính sách xã hội cho vay đối với người nghèo

và các đối tượng chính sách khác” hoặc “Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định, của Nghị quyết này Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp” Dó đó, ông C và bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp

Trang 7

Từ những lập luận trên cho thấy, việc tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật và những phán quyết của tòa án là có cơ sở pháp lý rõ ràng, hợp lý Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp chúng ta cũng cần nên xem xét đến nguyên do vì sao bị đơn không thanh toán nợ Trong thời gian đầu bị đơn đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng V rất tốt Nên có thể có nguyên do gì đó đặc biệt nên bị đơn mới không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, chúng

ta có thể xem xét đến yếu tố này khi đưa ra phản quyết cuối cùng Nhưng một điều thực tế ở đây là bị đơn đã vắng mặt trong suốt quá trình diễn ra vụ

án, tức họ đã từ bỏ quyền lợi của mình, đây là một điều thiệt thòi lớn cho họ

vì có thể họ không biết rằng dù cho họ không có mặt thì khi tòa án tuyên án

họ vẫn phải chấp hình theo quyết định của tòa án tuyên, nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành Thật ra, bản án 43/2018/DS-ST ngày 07/06/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản) là một trong những bản án rất đáng để cho ta phải suy ngẫm và có cách nhìn nhận thực tế, thiết thật hơn về hình thức vay này, đừng nên chỉ nhìn thấy cái lợi, cái mong muốn trước mắt mà bỏ qua những hậu quả sau này

Trang 8

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 43/2018/DS-ST NGÀY 07/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP

ĐỒNG TÍN DỤNG (VAY TÀI SẢN)

Ngày 07 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An xét

xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2018/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2018, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V; trụ sở chính: Số 35, quận K,

Thành phố H; địa chỉ chi nhánh Nam Bình Dương: Số 10, KCN A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Tá H, sinh năm 1983; trú tại: 3/2 ấp B, xã T, huyện T1, tỉnh Đ – Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo Quyết định ủy quyền ngày 02/01/2018) Có mặt

Bị đơn: Ông Lâm Thành C, sinh năm 1984 và bà Trần Thị Ngọc P, sinh

năm 1988; cùng trú tại: 33 Lô V, Phường 8, Quận 4, Thành phố M Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thiên L, sinh năm

1972; trú tại: 132/1 ấp G, xã G3, huyện N, tỉnh N1 Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trang 9

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Thực hiện việc ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần V (viết tắt là Ngân hàng V), ngày 27/4/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương có ký hợp đồng tín dụng (vay tài sản) với vợ chồng ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P số 485/2016/8510081/HĐTD Theo hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương cho ông C, bà P vay số tiền 360.000.000 đồng, mục đích vay là để mua xe ô tô con, thời hạn vay là 84 tháng, lãi suất trong hạn là 9,5%/năm cố định trong 24 tháng đầu năm kể từ thời điểm giải ngân lần đầu Sau đó, áp dụng lãi suất thả nổi, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo chính sách lãi suất của ngân hàng áp dụng trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn Trả nợ vào ngày 10 tây hàng tháng, bắt đầu từ ngày 10/6/2016, ngày trả nợ gốc cuối cùng là ngày 27/4/2023 (theo lịch cụ thể hàng tháng ông C, bà P trả số tiền vay là 4.330.000 đồng)

Để đảm bảo khoản nợ trên, ông C, bà P và Ngân hàng V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016, tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo

LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số 51F-408.85 do Phòng CSGT-ĐS Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/4/2016 cho ông Lâm Thành C Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 27/3/2008 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại

Đà Nẵng theo đúng quy định của pháp luật

Trang 10

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà P đã thanh toán được cho Ngân hàng V tổng số tiền nợ vay là 99.846.624 đồng, trong đó số tiền vay gốc là 60.620.000 đồng, số tiền lãi là 39.226.624 đồng (từ ngày 13/6/2016 đến ngày 21/7/2017) thì ngưng không thanh toán cho đến nay nên dẫn đến khoản

nợ vay bị quá hạn và chuyển thành nợ xấu Tổng dư nợ tạm tính đến hết ngày 07/6/2018 là 327.309.357 đồng, trong đó nợ gốc là 299.380.000 đồng,

nợ lãi trong hạn 26.936.074 đồng và lãi quá hạn là 993.283 đồng

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền là 327.309.357 đồng, trong đó nợ gốc là 299.380.000 đồng, nợ lãi trong hạn 26.936.074 đồng và lãi quá hạn là 993.283 đồng

Tiền lãi phát sinh được tiếp tục tính theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng

số 485/2016/8510081/HĐTD kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ

Trường hợp ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P không tự nguyện thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm hợp pháp của ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P là chiếc xe ôtô hiệu Chevrolet AveoLT, biển số 51F-408.85 để thu hồi nợ

Bị đơn – ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thiên L vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Ngày đăng: 04/09/2021, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w