Diễn án dân sự số 09 Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải • Ngày 17 tháng 7 năm 2006, bà Trần Thị Thu (“bà Thu”) bắt đầu làm việc tại công ty trách nhiệm hữu hạn YD Việt Nam (“công ty YD”), trình độ chuyên môn là kế toán, chức danh là kế toán trưởng. • Ngày 17 tháng 10 năm 2008, bà Thu và công ty YD tiếp tục cùng nhau giao kết hợp đồng số YCS008PLHĐ2008 không xác định thời hạn, không nêu rõ trình độ chuyên môn, chức danh là nhân viên (“Hợp Đồng S008”). Mức lương cơ bản theo Hợp Đồng S008 là 230 USDtháng. • Ngày 09 tháng 12 năm 2015, bà Thu trở lại công ty YD để tiếp tục làm việc sau kỳ nghỉ thai sản. Khi đến cổng công ty thì bà Thu nhận được thông báo số 052015TB đề ngày 05 tháng 12 năm 2015 với nội dung: 9 giờ sáng ngày 15 tháng 12 năm 2015 đến công ty để làm rõ sai phạm kế toán (“Thông Báo 05”). • Ngày 15 tháng 12 năm 2015, bà Thu tham dự cuộc họp với đại diện công ty YD gồm: ông Shuhei (Tổng Giám Đốc), ông Takasugi (Quản Lý), 02 người phiên dịch, 02 người được giới thiệu là nhân viên của công ty kiểm toán và 02 luật sư của công ty. Sau cuộc họp ban lãnh đạo yêu cầu bà Thu ra về và không bố trí công việc cho bà Thu làm việc. • Ngày 20 tháng 12 năm 2015, bà Thu nhận được thông báo số 072015TB (do Tổng Giám Đốc ký, có đóng dấu công ty) (“Thông Báo 07”), với nội dung: 9 giờ ngày 25 tháng 12 năm 2015, đến công ty để tham gia cuộc họp hội đồng kỷ luật lao động đối với bà Thu. • Ngày 25 tháng 12 năm 2015, bà Thu tham dự cuộc họp với thành phần gồm: ban lãnh đạo công ty YD (Tổng Giám Đốc và Quản Lý), phòng nhân sự (bà Hoàng Thị Mai), và đại diện tổ chức công đoàn (Phó Chủ Tịch công đoàn và Chủ Nhiệm UBKT công đoàn). Ban lãnh đạo công ty cho rằng bà Thu có sai phạm, nhưng không đưa ra nội dung của sai phạm là gì và cơ sở hay chứng cứ cụ thể, rõ ràng về sai phạm. • Ngày 30 tháng 12 năm 2015, bà Thu nhận được thông báo của công ty YD về việc mời bà Thu quay lại làm việc vào ngày 05 tháng 01 năm 2016. • Ngày 05 tháng 01 năm 2016, bà Thu đến công ty và nhận được quyết định số S00814QĐ đề ngày 30 tháng 12 năm 2015 của Tổng Giám Đốc, mời bà Thu quay lại làm việc từ ngày 05 tháng 01 năm 2016 với công việc kế toán phụ trách kho rác. • Ngày 14 tháng 5 năm 2016, ban quản lý khu kinh tế và công đoàn khu kinh tế Hải Phòng làm việc với bà Thu và lãnh đạo công ty YD. Tại cuộc họp, bà Thu nhận được biên bản xử lý kỷ luật lao động đề ngày 20 tháng 3 năm 2016 với hình thức sa thải. • Ngày 06 tháng 7 năm 2016, bà Thu nộp đơn khởi kiện công ty YD ra tòa án nhân dân (“TAND”) huyện AD, thành phố Hải Phòng. • Sau nhiều lần hòa giải không thành, ngày 22 tháng 8 năm 2017, TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 012017QĐSTLĐ về việc “tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải” giữa: Nguyên đơn: bà Trần Thị Thu, có đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thu Hà. Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam, có đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị Huyền
Trang 1I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 17 tháng 7 năm 2006, bà Trần Thị Thu (“bà Thu”) bắt đầu làm việc tại công ty trách nhiệm hữu hạn YD Việt Nam (“công ty YD”),
trình độ chuyên môn là kế toán, chức danh là kế toán trưởng
Ngày 17 tháng 10 năm 2008, bà Thu và công ty YD tiếp tục cùng nhau giao kết hợp đồng số YC-S008/PLHĐ-2008 không xác định thời hạn, không nêu rõ trình độ chuyên môn, chức danh là nhân viên
(“Hợp Đồng S008”) Mức lương cơ bản theo Hợp Đồng S008 là 230
USD/tháng
Ngày 09 tháng 12 năm 2015, bà Thu trở lại công ty YD để tiếp tục làm việc sau kỳ nghỉ thai sản Khi đến cổng công ty thì bà Thu nhận được thông báo số 05/2015/TB đề ngày 05 tháng 12 năm 2015 với nội dung: 9 giờ sáng ngày 15 tháng 12 năm 2015 đến công ty để làm rõ
sai phạm kế toán (“Thông Báo 05”)
Ngày 15 tháng 12 năm 2015, bà Thu tham dự cuộc họp với đại diện công ty YD gồm: ông Shuhei (Tổng Giám Đốc), ông Takasugi (Quản Lý), 02 người phiên dịch, 02 người được giới thiệu là nhân viên của công ty kiểm toán và 02 luật sư của công ty Sau cuộc họp ban lãnh đạo yêu cầu bà Thu ra về và không bố trí công việc cho bà Thu làm việc
Ngày 20 tháng 12 năm 2015, bà Thu nhận được thông báo số 07/2015/
TB (do Tổng Giám Đốc ký, có đóng dấu công ty) (“Thông Báo 07”),
với nội dung: 9 giờ ngày 25 tháng 12 năm 2015, đến công ty để tham gia cuộc họp hội đồng kỷ luật lao động đối với bà Thu
Ngày 25 tháng 12 năm 2015, bà Thu tham dự cuộc họp với thành phần gồm: ban lãnh đạo công ty YD (Tổng Giám Đốc và Quản Lý), phòng nhân sự (bà Hoàng Thị Mai), và đại diện tổ chức công đoàn (Phó Chủ Tịch công đoàn và Chủ Nhiệm UBKT công đoàn) Ban lãnh đạo công
ty cho rằng bà Thu có sai phạm, nhưng không đưa ra nội dung của sai phạm là gì và cơ sở hay chứng cứ cụ thể, rõ ràng về sai phạm
Ngày 30 tháng 12 năm 2015, bà Thu nhận được thông báo của công ty
YD về việc mời bà Thu quay lại làm việc vào ngày 05 tháng 01 năm 2016
Trang 2 Ngày 05 tháng 01 năm 2016, bà Thu đến công ty và nhận được quyết định số S008-14/QĐ đề ngày 30 tháng 12 năm 2015 của Tổng Giám Đốc, mời bà Thu quay lại làm việc từ ngày 05 tháng 01 năm 2016 với công việc kế toán phụ trách kho rác
Ngày 14 tháng 5 năm 2016, ban quản lý khu kinh tế và công đoàn khu kinh tế Hải Phòng làm việc với bà Thu và lãnh đạo công ty YD Tại cuộc họp, bà Thu nhận được biên bản xử lý kỷ luật lao động đề ngày
20 tháng 3 năm 2016 với hình thức sa thải
Ngày 06 tháng 7 năm 2016, bà Thu nộp đơn khởi kiện công ty YD ra
tòa án nhân dân (“TAND”) huyện AD, thành phố Hải Phòng.
Sau nhiều lần hòa giải không thành, ngày 22 tháng 8 năm 2017, TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2017/QĐST-LĐ về việc “tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải” giữa:
Nguyên đơn: bà Trần Thị Thu, có đại diện theo ủy quyền là bà
Nguyễn Thu Hà
Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam, có đại diện theo ủy quyền là
bà Trần Thị Huyền
TÓM TẮT YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
Nguyên đơn yêu cầu TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng buộc công ty YD:
(i) Thanh toán toàn bộ tiền lương cho nguyên đơn từ ngày 09 tháng 12 năm 2015 đến hết ngày 09 tháng 07 năm 2016, theo mức lương 20.939.000 đồng/tháng;
(ii) Thanh toán cho nguyên đơn tiền trợ cấp thôi việc từ ngày 17 tháng
7 năm 2006 đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, theo mức lương 20.939.000 đồng/tháng;
(iii) Ngay lập tức chốt sổ bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn
GIỮA NGUYÊN ĐƠN VÀ BỊ ĐƠN
1) Những nội dung đã thống nhất:
(i) Mức lương trong 06 tháng liền kề là 20.393.000 đồng/tháng
Trang 3(ii) Thời điểm nguyên đơn vào làm việc cho nguyên đơn là vào ngày
17 tháng 7 năm 2006
(iii) Bị đơn đồng ý sẽ chốt sổ, trả sổ BNXH cho nguyên đơn
2) Những nội dung không thống nhất:
(i) Về thời gian chấm dứt Hợp Đồng Lao Động: nguyên đơn cho rằng
chấm dứt vào ngày 15/8/2016, còn bị đơn cho rằng chấm dứt vào ngày 20/3/2016
(ii) Về thời gian yêu cầu hưởng lương: nguyên đơn xác định hưởng
lương trong những ngày không được bố trí làm việc từ ngày 09/12/2015 đến ngày xét xử Bị đơn xác định nguyên đơn chỉ hưởng lương từ ngày 09/12/2015 đến nửa ngày 05/01/2016
(iii) Về trợ cấp thôi việc: bị đơn không đồng ý trợ cấp thôi việc cho
nguyên đơn
(iv) Về thời điểm chốt sổ bảo hiểm: nguyên đơn xác định là ngày
09/12/2015 nhưng bị đơn không đồng ý
Trang 4II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ
BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN
2.1 Hỏi bị đơn (đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị Huyền - nhân viên pháp chế)
1) Bị đơn cho biết nội dung công việc cụ thể của bà Thu theo nội dung Hợp Đồng Lao Động đã ký là như thế nào?
2) Sau thời gian bà Thu nghỉ thai sản và trở lại làm việc, phía bị đơn có
bố trí để bà Thu tiếp tục thực hiện công việc cũ hay không?
3) Tại sao bị đơn lại tiến hành họp hội đồng kỷ luật đối với bà Thu vào ngày 25 tháng 12 năm 2015?
4) Việc Bà Thu làm kế toán trưởng đồng thời kiêm thủ kho, thủ quỹ cho
bị đơn là do bị đơn phân công công việc hay vì lý do do nào khác? 5) Bị đơn có chứng cứ gì để cho rằng bà Thu có những sai phạm trong nghiệp vụ kế toán?
6) Ngày 30 tháng 12 năm 2015, bị đơn bố trí bà Thu làm kế toán kho rác đúng không? Nếu đúng thì nội dung cụ thể công việc thế nào?
7) Bị đơn có biết tình trạng sức khỏe của bà Thu và đặc biệt bà Thu đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi hay không?
8) Sau khi bà Thu khiếu nại với lãnh đạo công ty YD về việc bố trí công việc không phù hợp với bà, phía công ty có làm việc với bà Thu hay không?
9) Bị đơn cho rằng ông Dũng là người nhận các thông báo do phía bị đơn gửi cho bà Thu để mời bà Thu tiếp tục đến công ty làm việc, vậy ông Dũng là ai và nhận thư với tư cách gì?
10) Quy trình xử lý kỷ luật đối với bà Thu được thực hiện như thế nào? 11) Tại sao sau khi lập biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20 tháng 3 năm 2016, đến ngày 14 tháng 8 năm 2016, bị đơn lại ra một biên bản
xử lý kỷ luật lao động khác đối với bà Thu mà lý do xử lý kỷ luật vẫn
là tự ý nghỉ việc quá 05 ngày cộng dồn trong tháng?
12) Bị đơn gửi Quyết định sa thải cho nguyên đơn vào ngày nào, bà Thu
có chính tay mình nhận Quyết định hay không?
13) Công ty YD có muốn nhận bà Thu trở lại làm việc với chức vụ kế toán trưởng như trước khi bà Thu nghỉ thai sản hay không?
Trang 52.2 Hỏi nguyên đơn (bà Trần Thị Thu)
1) Hợp Đồng Lao Động đã ký giữa bà và Công ty YD là loại hợp đồng nào và nội dung cụ thể thế nào?
2) Bà có bảng mô tả công việc cụ thể cho vị trí của mình trong Hợp Đồng Lao Động hay không?
3) Sau khi bà nghỉ thai sản xong, công ty YD đã không cho bà tiếp tục làm việc đúng không? Cụ thể thế nào?
4) Nội dung các cuộc họp ngày 15 tháng 12 năm 2015 và ngày 25 tháng
12 năm 21015 cụ thể thế nào?
5) Tại các cuộc họp nêu trên, công ty YD tuyên bố sa thải bà và không bố trí công việc cho bà đúng không? [Nếu đúng, thì bà có chứng cứ gì để chứng minh hay không?]
6) Công việc kế toán phụ trách quản lý kho rác được bố trí cho bà có phù hợp với chuyên môn kế toán trưởng của bà hay không?
7) Công việc có ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và việc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi của bà như thế nào?
8) Bà có khiếu nại với ban lãnh đạo cũng như công đoàn công ty YD về việc bà được bố trí những công việc không phù hợp với sức khỏe của
bà hay không?
9) Sau khi bà khiếu nại, đại diện công đoàn và Tổng Giám Đốc công ty
YD đã trả lời với bà như thế nào?
10) Công ty có nêu vào các ngày 10, 13 và 17 tháng 3 năm 2016, Công ty
có thông báo gửi cho bà về việc mời bà đến công ty để tiếp tục làm việc, các thông báo này bà có nhận được hay không?
11) Bà cho biết, tại phiên tòa hôm nay, bà có muốn quay lại làm việc tại công ty YD nữa hay không nếu công ty YD bố trí cho bà làm lại công việc kế toán trưởng như cũ?
Trang 6III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội Đồng Xét Xử!
Thưa vị đại diện Viện Kiểm Sát!
Tôi là luật sư Lê Thu Thảo, Văn phòng Luật sư Y, thuộc Đoàn Luật Sư Thành phố Hồ Chí Minh Tại phiên tòa ngày hôm nay, với sự yêu cầu của nguyên đơn và đồng ý của quý tòa, tôi tham gia với tư cách là người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là bà Trần Thị Thu (Bà Thu)
trong vụ án “Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải”
với bị đơn là công ty trách nhiệm hữu hạn YD Việt Nam (sau đây xin được
gọi tắt là “công ty YD”) Vụ án hiện do tòa án nhân dân (TAND) huyện
AD, thành phố Hải Phòng thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
Kính thưa Hội Đồng Xét Xử, tôi xin đưa ra quan điểm pháp lý của mình để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn như sau:
Về tố tụng , nguyên đơn đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp
luật, cụ thể:
(i) Thời hiệu khởi kiện: Vào ngày 30 tháng 12 năm 2015, bị đơn ban hành
Quyết định số S008-14/QĐ về việc bố trí nguyên đơn chuyển sang công việc kế toán phụ trách quản lý kho rác kể từ ngày 05 tháng 01 năm 2016 Nhận thấy, bị đơn đã không đưa ra được lý do hợp pháp nào để ban hành quyết định chuyển công việc khác so với công việc nêu trong Hợp Đồng Lao Động cho nguyên đơn, đồng thời nguyên đơn không đồng ý việc bố trí công việc mới này Do đó, hành vi nêu trên của bị đơn là trái luật và đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn từ ngày 05 tháng 01 năm 2017
Theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ Luật Lao Động số 10/2012/QH13 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 05 năm 2013 (sau đây gọi
tắt là “Bộ Luật Lao Động 2012”), thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao
động này là 01 năm và vẫn còn thời hiệu cho đến hết ngày 05 tháng 01 năm 2017
(ii) Chủ thể khởi kiện: Nguyên đơn là người có đủ năng lực hành vi dân sự
và có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nên có quyền khởi kiện
để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp
Trang 7(iii) Thẩm quyền của Tòa án: Vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện AD, TP Hải Phòng là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố Tụng Dân sự số 92/2015/QH13 có hiệu lực vào
ngày 01 tháng 07 năm 2016 (BLTTDS 2015).
(iv) Thủ tục tiền tố tụng: Đối với tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức
sa thải thuộc trường hợp không bắt buộc phải thực hiện thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 201 Bộ Luật Lao Động 2012
Tuy nhiên, nguyên đơn đã thực hiện thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ Luật Lao Động
2012, cụ thể, căn cứ theo Đơn đề nghị hòa giải tranh chấp cá nhân ngày 12 tháng 03 năm 2016 của bị đơn gửi cho Sở LĐTBXH TP Hải Phòng, Phòng LĐTBXH H.AD, TP Hải Phòng và Biên bản làm việc ngày 14 tháng 5 năm 2016 (bút lục số 29), cho thấy nguyên đơn và bị đơn đã tiến hành thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân tại Công đoàn Khu kinh tế Hải Phòng (được áp dụng trong trường hợp không có hòa giải viên cơ sở) nhưng không thành
Về nội dung : qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, các chứng cứ cũng như
lời khai của các đương sự tại phiên tòa hôm nay, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung vụ án
Về yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và
hợp pháp, bởi những lý lẽ sau đây:
Thứ nhất , Công ty YD điều chuyển lao động đối với bà Thu sang công
việc kế toán tại kho rác là vi phạm quy định tại Điều 31và Điều 158 của Bộ Luật Lao Động 2012, và Điều 8 Nghị định 05/2015/NĐ-CP về việc chuyển người lao động làm công việc khác so với Hợp Đồng Lao Động và không đảm bảo cho người lao động trở lại làm công việc cũ sau khi sinh
Trên cơ sở Hợp Đồng Lao Động vô thời hạn được ký ngày 17 tháng 10 năm
2008 giữa nguyên đơn và bị đơn, chức danh chuyên môn của nguyên đơn là nhân viên và làm việc tại văn phòng Do đó, việc Công ty YD điều chuyển lao động đối với bà Thu sang công việc kế toán tại kho rác là vi phạm quy định tại Điều 31và Điều 158 của Bộ Luật Lao Động 2012, và Điều 8 Nghị định 05/2015/NĐ-CP về việc chuyển người lao động làm công việc khác so với Hợp Đồng Lao Động và không đảm bảo cho người lao động trở lại làm công việc cũ sau khi sinh
Trang 8Theo Điều 31 của Bộ Luật Lao Động 2012, việc chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động chỉ được áp dụng khi người
sử dụng lao động gặp các lý do sau: khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh
và phải được quy định cụ thể trong nội quy lao động của công ty Khi đó người sử dụng lao động mới được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động Và khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác
so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời
và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động Căn cứ bút lục số 25 về Biên Bản Họp Hội Đồng Kỷ Luật ngày 25 tháng 12 năm 2015, công ty YD đã đưa ra những sai phạm với bà Thu như: Trước khi sinh bà Thu hay đi trễ về sớm, có biên bản bà Thu nổ máy tại cổng bảo
vệ và công ty thông báo sẽ có quyết định thuyên chuyển công việc của bà Thu làm công việc khác, tháng đầu giữ nguyên lương, từ tháng thứ hai lương bà Thu sẽ nhận 85% của lương cơ bản ban đầu Tiếp theo, vào ngày
30 tháng 12 năm 2015, công ty YD đã ra Quyết định số S008-14/QĐ về bố trí công việc mới cho bà Thu (thể hiện tại bút lục số 17), quyết định từ vị trí
kế toán văn phòng sang kế toán phụ trách quản lý kho rác từ ngày 05 tháng
01 năm 2016, lương và chế độ nhân viên áp dụng theo Điều 31 của Bộ Luật Lao Động 2012 Rõ ràng, nội dung công việc cụ thể được quy định tại Quyết định này là hoàn toàn không giống với nội dung công việc được nêu trong Hợp Đồng Lao Động và theo hướng bất lợi hơn cho nguyên đơn Như vậy, việc bị đơn bố trí nguyên đơn làm công việc khác so với công việc tại Hợp Đồng Lao Động vì cho rằng nguyên đơn có sai phạm trong quá trình thực hiện công việc theo quy định tại Điều 31 Bộ luật Lao động
2012 là hoàn toàn không có cơ sở Bởi lẽ, với những sai phạm của bà Thu,
bị đơn vẫn chưa có đủ cơ sở để chứng minh lỗi của bà Thu cũng như chưa được xử lý theo trình tự luật định và bà Thu hoàn toàn không đồng ý với những sai phạm mà bị đơn nêu ra Đồng thời, không có bất kỳ quy định nào cho phép bị đơn được quyền bố trí công việc khác cho người lao động trong trường hợp người lao động có sai phạm trong quá trình thực hiện công việc,
kể cả trường hợp người lao động thừa nhận những sai phạm này của mình
Trang 9Ngoài ra, quyết định bố trí công việc của bị đơn như nêu trên lại không mang tính tạm thời, cụ thể việc bố trí cho bà Thu công việc khác từ ngày 05 tháng 01 năm 2016 mà không nêu rõ thời hạn làm công việc tạm thời là trái với Điều 31 Bộ luật Lao động 2012
Bà Thu đang trong giai đoạn nuôi con nhỏ, nhưng phải trông coi, quản lý,
vệ sinh kho rác, làm việc tại kho thì chắc chắn sẽ phải tiếp xúc với nhiều chất độc hại, chất bẩn,… điều này hoàn toàn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ sau sinh Do đó, công việc kế toán quản lý kho rác được xem như là công việc mà người sử dụng lao động không được sử dụng lao động
nữ đối với các công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con được quy định tại phần B Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18 tháng 10 năm 2013 và khoản 1 Điều 160 Bộ Luật Lao Động 2012
Theo Điều 158 Bộ Luật Lao Động 2012, người sử dụng lao động phải bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản, lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian nghỉ thai sản theo Điều 158 của Bộ Luật Lao Động 2012; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản Như vậy, sau khi bà Thu trở lại là việc sau quá trình nghỉ thai sản vào ngày 09 tháng 12 năm
2015, công ty đã không đảm bảo cho bà Thu trở lại làm công việc cũ là kế toán tại văn phòng là không đảm bảo quyền lợi của bà Thu theo Điều 158
Bộ Luật Lao Động 2012
Thứ hai, bị đơn đã có hành vi sa thải người lao động trái pháp luật.
(i) Căn cứ xử lý kỷ luật nguyên đơn theo hình thức sa thải là không hợp lý và không hợp pháp, cụ thể:
Theo bút lục số 27 về Biên Bản Xử Lý Vi Phạm Kỷ Luật Lao Động ngày 20 tháng 3 năm 2016, công ty đã giao việc mới cho bà Thu sau thời gian nghỉ thai sản nhưng bà Thu không đồng ý, theo nội quy công
ty người lao động tự ý nghỉ việc quá 05 ngày không đến công ty mà không có lý do chính đáng nên ra quyết định kỷ luật lao động sa thải với bà Thu, và bà Thu vắng mặt tại cuộc họp do thông báo 03 lần nhưng bà Thu không đến
Đồng thời, theo bút lục số 39, 40, 41, công ty đã có Biên bản xử lý kỷ luật lao động bà Thu ngày 14 tháng 8 năm 2016 về hình thức kỷ luật sa thải với bà Thu và ra Quyết định sa thải bà Thu ngày 15 tháng 8 năm 2016
Trang 10Như đã phân tích ở trên, việc công ty YD tự ý chuyển công việc của bà Thu mà không thông báo trước, không đảm bảo các quy định tại Điều
31 Bộ luật Lao động 2012 là vi phạm nghiêm trọng pháp luật lao động Hơn nữa, với công việc mới này, điều kiện làm việc sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe của bà Thu, đặc biệt là trong hoàn cảnh bà Thu đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi Do đó, Công ty YD không thể viện dẫn lý do vì bà Thu không đồng ý với công việc mới, tự ý nghỉ việc quá 05 ngày và vắng mặt tại cuộc họp 03 lần để ra quyết định sa thải bà Thu là hoàn toàn không hợp pháp
Đồng thời, trên thực tế, công ty YD đã không tạo điều kiện để bà Thu tiếp nhận công việc sau thời gian nghỉ thai sản, cụ thể:
Sau khi nghỉ thai sản, bà Thu đã có mặt tại công ty đúng thời gian quy định nhưng không được bảo vệ công ty cho vào Quyết định thuyên chuyển công tác của bà Thu có hiệu lực từ ngày 05 tháng 01 năm 2016 nhưng đến tận 10h sáng cùng ngày hôm đó, bà Thu mới nhận được Do quá bất ngờ với quyết định này và thực tế, với sức khỏe của một phụ
nữ sau khi sinh, bà Thu không thể tiếp nhận công việc mới được điều chuyển nên đành phải ra về sau rất nhiều nổ lực để được tiếp tục làm việc tại Công ty YD
Như vậy, có thể thấy, ở đây, công ty YD đã không có thiện chí tạo điều kiện để người lao động trở lại làm việc sau thời gian nghỉ thai sản bằng việc liên tục đưa ra các lý do, các cuộc họp xử lý kỷ luật dành cho bà Thu, mà không có lý do chính đáng; buộc bà Thu không thể tiếp nhận công việc mới và xem đó như là một lý do hợp lý để chấm dứt quan hệ lao động với bà Thu bằng một quyết định sa thải
(ii) Nguyên đơn thuộc trường hợp không bị xử lý kỷ luật; cụ thể:
Theo khoản 4, Điều 155, Bộ Luật Lao Động 2012, trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật
về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị
xử lý kỷ luật lao động
Theo điểm d, khoản 4, Điều 123 Bộ Luật Lao Động 2012, và điểm d, khoản 3, Điều 29 Nội Quy Lao Động của chính công ty YD cũng quy định: Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây: lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi