1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực ngành logistics Việt Nam trong khu vực ASEAN

12 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 742,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm và đánh giá chuyên gia để phân tích năng lực ngành logistics Việt Nam qua 3 nhóm yếu tố cơ bản là cơ cấu chủng loại dịch vụ, mạng lưới hạ tầng logistics và thể chế pháp lý của ngành logistics. Từ đó nhận dạng các nguyên nhân gây yếu kém và tìm kiếm các giải pháp cho tương lai.

Trang 1

NÂNG CAO NĂNG LỰC NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM

TRONG KHU VỰC ASEAN IMPROVING VIETNAM’S LOGISTICS CAPACITY IN THE ASEAN REGION

PGS,TS An Thị Thanh Nhàn Trường Đại học Thương mại Tóm tắt

Với vai trò xuyên suốt trong toàn bộ quá trình nhập nguyên vật liệu làm đầu vào cho sản xuất, sản xuất ra hàng hóa, đưa hàng hóa vào các kênh lưu thông và phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng, logistics được coi là xương sống của hoạt động thương mại giữa các nước thành viên ASEAN Hội nhập dịch vụ logistics được kỳ vọng sẽ là phương tiện để đẩy nhanh hơn nữa tiến trình liên kết giữa các ngành sản xuất trong nội bộ từng quốc gia thành viên cũng như giữa các nước ASEAN với nhau, hướng tới sự thành công của AEC 2015.Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm và đánh giá chuyên gia

để phân tích năng lực ngành logisticsViệt Nam qua 3 nhóm yếu tố cơ bản là cơ cấu chủng loại dịch vụ, mạng lưới hạ tầng logistics và thể chế pháp lý của ngành logistics Từ đó nhận dạng các nguyên nhân gây yếu kém và tìm kiếm các giải pháp cho tương lai

Từ khóa: Logistics, asean, hội nhập, nâng cao năng lực

Abstract:

Appearing in all the process duch as inputing raw materials, producing goods, distributing goods, logistics is seen as the backbone of commercial activities between the ASEAN member countries Integrated logistics services is expected to be the means to improve the process of linking between internal manufacturing industry in each member as well as between ASEAN countries Evaluation of logistics capacity, identifying the causes of weakness and looking for solutions for the future are urgen matter at this moment This paper uses analysing method, literiture review, expert interview to measure logistics capacity by three fundamental factors included service types, logistics networks, logistics regulations Accordingly, it regconizes causes, then looking for solutions for the future

Keywords: logistics, ASEAN countries, producing goods

Trang 2

1 VỊ THẾ NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM TRONG KHU VỰCASEAN

Theo số liệu của Armstrong&Associates,từ năm 2006- 2014,chi phí logistics toàn cầu tăng trưởng bình quân 4.73%/năm đạt mức 8,858 tỷ USD, tương ứng với tốc độ tăng trưởng toàn cầu 5,37%/năm Tại các khu vực như Bắc Mỹ, Châu Âu, tỷ trọng này dao động quanh mức 9% so với tổng GDP,trong khi tại các khu Nam Mỹ, Châu Á con số này nằm trong khoảng 12%-13% Nghiên cứu của WorldBank cho thấy, tồn tại tương quan ngược chiều giữa mức độ phát triển của nền kinh tếvà tỷ trọng chi phí logistics Tại các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Đức, chỉ số đo lường hiệu quả logistics đạt mức từ 3.8 trở lên,tỷtrọngchiphílogisticstạicácquốcgianày nằm trong khoảng8%-10%.Ngược lại,các quốc gia đang phát triển như ViệtNam, Indonesia,Brazil…có chỉ số hiệu quả logistics từ 2.5-3, thì tỷ trọng chi phí logistics trong nền kinh tế dao động từ 10%-12% Quan hệ này cho thấy,quốc gia có ngành logistics phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển thương mại quốc tế và kinh tế đất nước

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập vào ngày 31/12/2015 với mục tiêu tạo ra một khu vực kinh tế thịnh vượng, ổn định và có tính cạnh tranh cao Hiện AEC là nền kinh tế lớn thứ 7 trên thế giới với quy mô GDP gần 3 nghìn tỷ USD hiện nay và dự kiến đạt 4,7 nghìn tỉ USD vào năm 2020 Để hội nhập, thích nghi và tận dụng các cơ hội của khu vực kinh tế này đòi hỏi Việt nam phải ưu tiên trước hết cho ngành dịch vụ logistics

Sau 15 năm gia nhập WTO, năng lực của ngành logistics Việt Nam gia tăng đáng kể

(B1)

Bảng 1: Chỉ số LPI Việt Nam từ 2007 đến 2014

hóaquốc tế

Năng lực cung cấp dịch vụ

Truy xuất

Nguồn: WB

Với hơn 1.200 DN cung cấp dịch vụ logistics, chủ yếu tập trung tại TP.HCM và Hà Nội Trong số đó, khoảng 900 DN là đại lý vận tải (khoảng 70% là DN nhỏ và vừa) cùng

25 DN logistics đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam và một loạt các doanh nghiệp tiêu biểu như Sotrans, Transimex Saigon, VinaFreight, Vinapco, Gemadept, SAFI …Ngành logistics đang đáp ứng một thị trường trị giá tương đương 37- 40 tỉ USD có tốc độ tăng trưởng hàng năm sấp xỉ 20% Tuy nhiên so với các quốc gia trong khu vực thì những kết quả này còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của ngành logistics cũng như chưa đáp ứng tốt các yêu cầu của phát triển kinh tế và hội nhập của đất nước Chi phí logistics trên GDPcủa Việt nam còn khá cao so với các quốc gia trên thế giới và khu vực.(H1)

Trang 3

Hình 1: Chi phí logistics theo % GDP năm 2014

Nguồn: StoxPlus, 2015

Bên cạnh đó, hiệu suất logistics còn thấp so với nhiều quốc gia trong ASEAN Theo báo cáo của WB được thực hiện hai năm một lần thì vị thế của ngành logistics Việt Nam được giữ vững và đang dịch chuyển lên vị trí cao hơn nhưng so với một số quốc gia láng giềng trong khu vực thì hầu hết các chỉ số logistics (LPI) còn hạn chế (B2)

Bảng 2: Chỉ số LPI năm 2014 của 4 quốc gia ASEAN

Quốc gia Xếphạng

LPI

Điểm

Cơ sởhạ tầng

Vận chuyển hàng hóaquốc

tế

Năng lựccung cấpdịch vụ

Truy xuấthàng hóa

Giao hàngđúng hạn

Vietnam 48 3.15 2.81 3.11 3.22 3.09 3.19 3.49

Nguồn: WB, 2014

2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM

2.1Số lượng dịch vụ logistics ít, cơ cấu bất hợp lý

Ngành dịch vụ logisticsViệt Nam hiện tập trung cung cấp 5 nhóm dịch vụ cơ bản (H1), trong đó nhóm dịch vụ mạnh nhất là vận tảichiếm 1/3 trong tổng giá trị các dịch vụ logistics

và có mức độ tăng trưởng mạnh nhất.Đặc điểm của các dịch vụ cơ bản này là tốn kém về chi phí và nguồn lực hữu hình nhưng giá trị gia tăng không cao, khả năng sinh lời thấp

Số lượng các dịch vụ gia tăng có giá trị cao như dịch vụ logistics trọn gói, tích hợp,vận tải

đa phương thức, điều phối logistics và cảng… rất ít và đơn giản về loại hình Phần lớn cảng

biển Việt Nam không có dịch vụ bốc dỡ hàng cho tàu chuyên dùng, dịch vụ xếp dỡ container chuyên dụng Rất ít dịch vụ hàng hải trực tiếp kết nối Việt Nam với các cảng biển châu Âu hay Mỹ Chỉ có khoảng 10% các doanh nghiệp trong nướcnhư Gemadept, Vinafco,Transimex…bước đầu tham gia vào mọi công đoạn logistics trong chuỗi cung ứng của chủ hàng, vì vậy khả năng đáp ứng và làm hài lòng các khách hàng lớn còn khó khăn

Trang 4

Hình 1 Các dịch vụ chính của ngành logistics Việt nam

Cơ cấu dịch vụ vận tải cũng không hợp lý Theo số liệu của TCTK, năm 2014, vận tải đườngbộ chiếm 75.3% tổng sản lượng vậntải, mặcdù vận tải đườngbộcóưu điểm là linh hoạt

và dễ khai thác nhưng chi phí cao và năng lực chuyên chở kémhơn rất nhiều so với vận tải biển, đườngsắt Trong khi đó, vớiđặcđiểmđịahìnhđườngbờbiểntrảidài từ Bắc xuống Nam theo diệntíchquốcgia,vận đường biển và đường hàng không có cơ hội phát triển mạnhtrong nội địa, nhưng thực tế đường thủy nội địa chiếm tỷ trọng 17.6%, còn vận tải đường biển và đường hàng không chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 6% trongtổngsảnlượng (H2)

Hình 2: Sản lượng vận tải nội địa của các loại hình vận tải của Việt Nam năm 2014

Nguồn: TCTK, 2015

Như vậy, các dịch vụ vận tải có chi phí thấp và năng lực chuyên chở cao lại không được khai thác Sự mất cân đối này đã làm giảm hiệu quả vận tải hàng hóa của Việt Nam,khiến sản lượng vận tải không đạt tối ưu và chi phí vận tải bình quân tăng

Hiện vận tải biển nội địa vẫn đang đối mặt với khó khăn về giá cước thấp, nguồn hàng khan hiếm và mất cân đối giữa hai chiều Bắc Nam (chiều từ Bắc vào Nam chỉ đạt khoảng 60% so với chiều từ Nam ra Bắc) điều này cũng góp phần làm tăng chi phí vận tải do không tận dụng hết công suất chuyên chở hai chiều của phương tiện

Trang 5

2.2 Mạng lưới hạ tầng logistics không đáp ứng kịp với mức tăng trưởng nhu cầu

Theo KPMG, trong giai đoạn2013-2020, Việt Nam đang nỗ lực đầu tư 170 tỷ USDvào

cơ sở hạ tầng nhằm thu hẹp sự thiếu hụt Đây là nỗ lực đầu tư rất đáng khích lệ, có tính đột phá, đặc biệt trong đầu tư phát triển cảng biển, xây dựng các cảng nước sâu ngang tầm khu vực, mở rộng đường nối các cảng với các khu công nghiệp và vùng đô thị, phát triển đường cao tốc, phát triển các cảng cạn (ICD), các khu logistics, trung tâm logistics, hệ thống kho hiện đại, trung tâm phân phối Một số dự án trọng điểm lớn đang được xây dựng trên khắp cả nước như xe điện ngầm, đường xá và sân bay, chuẩn bị các điều kiện cơ bản để hình thành trung tâm logistics (logistics hub) của khu vực và thế giới trong thời gian tới

Tuy nhiên, xét về mặt số lượng, cung vẫn không đáp ứng đủ cầu.Hệ thống đường bộ rộng khắp, dài 222.000km, nhưng chỉ có khoảng 20% là đường nhựa, tỷ lệ đường cao tốc thấp.Phần lớn các tuyến đường rộng nhất có chưa đến bốn làn xe và các nút giao thông riêng biệt Các tuyến đường kết nối các khu công nghiệp với các cảng lớn tại cả miền Bắc và miền Nam đặc biệt quá tải do khối lượng hàng hóa ngày càng tăng theo đà phát triển sản xuất công nghiệp và xuất khẩu Hệ thống hạ tầng cảng biển luôn không đáp ứng được nhu cầu do đường vào cảng không tốt, chất lượng kém, luôn đối mặt với tắc đường DN vận tải ít có sự lựa chọn

về tuyến đường vận tải, khiến thời gian vận chuyển hàng hoá kéo dài Đến cuối năm 2014, đội tàu biển có 1.840 tàu, với tổng trọng tải là 7.3 triệuDWT nhưng chỉ có 32 tàu container chiếm

tỷ trọng3.8% (tỷtrọngtrungbìnhcủathếgiới 13%) Tốc độ tăng tưởng tàucontainer chung của thế giới trong những năm gần đây khoảng 7.7%, đội tàu Việt Nam mớichỉ tăngkhoảnghơn1% Trong 2.500 bến ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 5 cảng đón được tàu lớn Hiện có 50 hãng bay thì chỉ có 2 hãng đi Dubai, cảng hàng không chỉ có không gian chung mà không có kho riêng dành cho công ty Logistics, hiện tượng thiếu tải hàng thường xuyên xảy ra

Chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải còn là thách thức lớn hơn Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, cơ sở hạ tầng Việt Nam đứng thứ 119/144 quốc gia và vùng lãnh thổ, đây là thứ bậc thấp so với các nước trong khu vực Tình trạng yếu kém về chất lượng cơ sở hạ tầng vận tải của Việt Nam thể hiện trên toàn bộ mạng lưới các loại hình tuyến đường và nhà ga bến cảng (Bảng 3)

Bảng 3: So sánh chất lượng hạ tầng vận tải của Việt Nam với một số quốc gia ASEAN

Việt Nam Philippin Thái lan Indonesia

Nguồn: The global Competitiveness Report 2013,2014

Chiều dài của các tuyến đường bộ và sự mở rộng tới các vùng phụ cận không phù hợp với phát triển giao thông, dẫn đến tình trạng tắc nghẽn và chậm trễ giao hàng làm gia tăng chi phí vận tải Tỷ lệ đường quốc lộ thấp, khả năng chịu tải của nền đường kém, không đạt chuẩn quốc tế để kết nối vận tải đa phương thức.Nếu đóng hàng đúng tải trọng của container thì sẽ

bị quá tải, do vậy, các chủ hàng hoặc phải hạ tải hoặc chấp nhận chở quá tải Các giải pháp

Trang 6

này dẫn đến tăng chi phí, kéo dài thời gian, tăng rủi ro cho hàng hóa trong quá trình hạ tải Về lâu dài, việc chở quá tải là nguyên nhân hạ tầng giao thông đường bộ bị xuống cấp trầm trọng dẫn đến chi phí sửa chữa bảo dưỡng tăng, chi phí vận chuyển gián tiếp tăng theo trong khi chất lượng vận chuyển không đảm bảo

Hệ thống đường sắt Việt Nam kéo dài từ Lào Cai tới TP Hồ Chí Minh và được vận hành bởi Tổng công ty Đường sắt Việt Nam Hạn chế lớn của loại đường này là công nghệ lạc hậu, thiếu an toàn do sử dụng khổ đường sắt hẹp, hạ tầng không đồng bộ và không kết nối với

hệ thống cảng biển nên việc sử dụng đường sắt để vận chuyển hàng hóa còn ít Mặc dù đây là phương thức vận chuyển có tính kinh tế cao nhưng hiện nay, đường sắt Việt Nam chỉ đảm nhận chưa đến 1% lượng hàng hóa vận chuyển và không phục vụ cho thương mại quốc tế

Mạng lưới sông ngòi nội địa dày đặc và rộng lớn, dài 42.000km, có thể kết nối vớicác nước như Trung Quốc, Lào, Campuchia và Thái Lan, cũng như Biển Đông, nhưng hầu như chưa được khai thác Độ cao của cầu bắc qua các sông còn thấp, cơ sở hạ tầng các cảng đường sông còn lạc hậu không cho phép các tàu có trọng tải trên 96 TEU lưu thông Do đó chỉ sử dụng được tàu thuyền nhỏ có tải trọng thấp và quãng đường vận chuyển ngắn Chủ yếu phục

vụ vận chuyển hàng rời mà chưa được trang bị thiết bị xếp dỡ container để thực hiện vận tải

đa phương thức

Năm 2014, Việt Nam có tổng cộng 44 cảng biển các loại, trong đó có 14 cảng biển loại I, IA, 17 cảng biển loại II và 13 cảng biển loại III bao gồm khoảng 219 bến cảng với gần

44 km cầu cảng và hàng chục khu chuyển tải Tuy số lượng cảng biển nhiều và được phân bổtừ Bắc vào Nam, nhưng hiệu quả sử dụng và khai thác rất thấp Đặc biệt là thiếu cảng nước sâu theo đúng nghĩa của nó đểtiếp nhận tàu cỡ 80.000 DWT trở lên hay tàu container khoảng

6000 TEUs, chưa có cảng trung chuyển quốc tếphục vụ thương mại quốc tế Các khu cảng hiện đại, các vùng hậu phương sau cảng phụ thuộc chủ yếu vào đường bộ với tình trạng chung nhỏ hẹp, xuống cấp trầm trọng Lượng hàng thông qua các nhóm cảng đều tăng lên qua các năm nhưng do thiếu tầm nhìn trong quy hoạch nên xuất hiện tình trạng dư thừa công suất ở nhiều cảng lớn.Trongkhixuhướngcủathế giới containerhóa, thì đội tàu Việt Nam lại phát triển tàu hàng khô,tàu hàng rời chiếm 25.8%, khả năng khai thác nhìn chung kém hiệu quả

Tương tự như các cảng biển, theo Cục Hàng không Việt Nam, hiện có 21 Cảng hàng không, trong đó có 7 Cảng hàng không quốc tế(Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Bài, Phú Quốc và Cần Thơ) Trung bình cứ cách chưa đầy 100 km là có một sân bay, cho thấy mật độ sân bay ở Việt Nam cao hơn hẳn so với các nước khác.Nhưng chỉ có ba cảng hàng không nhộn nhịp và năng động nhất nước là Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng.Quy hoạch của Chính phủ đến năm 2020, cả nước sẽ có thêm 5 cảng hàng không, nâng tổng số lên

26 cảng hàng không đáp ứng được123 triệu lượt khách và 3,1 triệu tấn hàng hóa Giả định mức tăng trưởng ngành hàng không đạt mức cao tới 20% mỗi năm thì các cảng sẽ vẫn dư thừa công suất Hiện các sân bay trong nước còn rất thiếu các nhà kho, nến bãi gần sân bay, bến cảng với thiết bị phù hợp để bốc dỡ hàng hóa Chưa kể đến tình trạng thiếu dịch vụ hỗ trợ giao tiếp thông tin, sự yếu kém trong công tác lập kế hoạch, thiếu đầu tư đã dẫn đến tình trạng

ùn tắc hàng hóa, gây tình trạng chậm trễ và phát sinh thêm chi phí

Hoạt động của hệ thống ICD ở phía Nam phát triển mạnh mẽ hơn phía Bắc với sản lượng hàng hóa thông qua gấp khoảng 3.5 lần,và trung chuyển được khoảng 50% hàng hóa

Trang 7

cho hệ thống cảng miền Nam Hệ thống ICD phía Bắc chủ yếu kết nối với các cảng bằng đường bộ, không có kết nối đường biển do đó không gia tăng hiệu quả trong cắt giảmchi phi vậnchuyển

Hiện các ICD đang cùng lúc chịu sự quản lý của nhiều bộ, ngành Trong đó, Bộ GTVT thực hiện công bố mở/đóng ICD, Bộ Tài chính thành lập đơn vị Hải quan quản lý, Bộ Công thương ban hành các chính sách hoạt động của DN đầu tư quản lý và khai thác ICD Việc có quá nhiều đầu mối quản lý này làm cho các DN khai thác ICD gặp nhiều lúng túng và tốn kém thời gian, gây tình trạng chậm trễ, chờ đợi kéo dài trong giao nhận hàng hóa

Bảng 4: số lượng và quy mô các ICD ở hai miền Nam và Bắc

Nguồn: FPST tổng hợp, 2015

Các cơ sở logistics chưa đạt tiêu chuẩn theo thước đó quốc tế, bao gồm nguồn cung ứng tiện ích ổn định, hệ thống quản lý nhà kho hiệu quả và an ninh Mặc dù đã có vài cơsở hiện đại được xây dựng trong thời gian qua, nhưng chủ yếu là do các công ty logistics có vốn nước ngoài xây dựng, phần lớn các cơ sở cũ đã không còn đạt tiêu chuẩn Tình trạng thiếu hụt và kém chất lượng của mạng lưới hạ tầng logistics dẫn đến hiện tượng thường xuyên tắc nghẽn giao thông gâychậm trễ ở hấu hết các tuyến đường trong vận chuyển nội địa cũng như xuất nhập khẩu, tắc nghẽn trên các tuyến đường cao tốc kết nối các bến cảng với KCN,trung tâm thành phố, các bến bốc dỡ dẫn đến chi phí logistics tăng cao.Nhưng hạn chế lớn nhất phải

kể đến là mạng lưới giao thông vận tải thiếu kết nối đa phương thức do đó chi phí chuyển tải, lưu kho và thời gian vận chuyển hàng hóa kéo dài, đây là khó khăn lớn nhất làm giảm năng lực cung ứng của dịch vụ logistics một cách trầm trọng

2.3 Thể chế pháp lý logistics chưa cải thiện

Trong một số năm gần đây, các quy định có liên quan đến ngành dịch vụ logistics đang ngày được hoàn thiện và cụ thể hóa tạo ra một thể chế pháp lý thuận lợi (Bảng 5)

Trang 8

Bảng 5: Đánh giá về mức độ cải thiện thủ tục thông quan và các quy định logistics

Những thay đổi môi

trường logistics

Tỷ lệ các đánh giá cho là có cải thiện (cải thiện/cải thiện nhiều)

Nguồn: Báo cáo của WB, 2014

Tuy nhiên, theo phản hồi từ các công ty logisticstrong và ngoài nước tại một khảo

sátcủa HKTDC Research gần đây cho thấy, các tiêu chuẩn hải quan của Việt Nam còn cứng

nhắc và khá cồng kềnh Thủ tục hải quan và quy trình pháp lý cầu kỳ tại Việt Nam khiến chi

phí logistics gia tăng, làm tăng chi phí vận hành của nhiều công ty logistics trong khu vực,

đồng thời nảy sinh chậm trễ trong khâu vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới Cơ sở hạ tầng

kém phát triển tại Việt Nam càng làm vấn đề trở nên trầm trọng hơn Việc áp dụng các quy

định hải quan cũng tỏ ra khá khó hiểu và quan liêu Ví dụ như cần đến 21 ngày để xuất khẩu

một lô hàng hóa từ Việt Nam, so với con số 14 ngày và 11 ngày lần lượt tại các quốc gia

ASEAN khác (Bảng 6)

Bảng 6:So sánh chi phí và thời gian xuất nhập khẩu

Quốc gia Xếp hạng

TM qua

biên giới

Thời gian (ngày) Chi phí (USD/container) Thời gian (ngày) Chi phí (USD/container)

Nguồn:WB, 2015

Luật định của nhà nước còn rườm rà, khó hiểu gây khó khăn trong triển khai, thực thi

khác nhau giữa các địa phương và các bộ, ngành Việc làm thủ tục hải quan xuất nhập khẩu sẽ

mất nhiều thời gian hơn và kém thông suốt hơn Nhiều chủ hàngvà đơn vị dịch logistics cho

biết cần phải có các khoản bồi dưỡng cho Hải quan và công an tuần tra trên đường cao tốc để

giảm thiểu thời gian trễ cho các mặt hàng phụ kiện, nguyên vật liệu, thành phẩm luân chuyển

trong chuỗi cung ứng Đây là những khoản hối lộ làm tăng một cách giả tạo chi phí kho vận

trong thông quan, ủy thác thông quan, kiểm hàng, vận chuyển hàng Mặc khác, làm phát sinh

các thủtục thiếu minh bạch, gây bất bình đẳng trong hoạt động thương mại quốc tế Ước tính

Trang 9

các công ty vận tải biển Việt Nam mỗi năm mất thêm 100 triệu Đô-la Mỹ do thủ tục thông quan chậm trễ dẫn đến hàng bị lưu kho lâu hơn; con số này dự tính sẽ tăng lên 180 triệu Đô-la năm 2020 So sánhkết quả các quy trình xuất nhập khẩu của Việt Nam với các quốc gia Singapore, Malaysia và Thái Lan, năm 2014 cho thấy khá rõ sự chênh lệch này, (B7)

Bảng 7: So sánh hiệu quả của các quy trình xuất nhập khẩu của Việt Nam với Singapore, Malaysia và Thái Lan, năm 2014

Thời gian hoàn thành nếu không cần kiểm hóa 1 ngày 0 ngày 1 ngày 1 ngày Thời gian hoàn thành nếu cần kiểm hóa 2 ngày 1 ngày 2 ngày 1 ngày

Tính hiệu quả của các quy trình Tỷ lệ các đánh giá cho là có hiệu quả (cao/rất

cao) Thông quan và giao nhận trong nhập khẩu 57.14% 100% 100% 50% Thông quan và giao nhận trong xuất khẩu 71.43% 100% 100% 100% Tính minh bạch trong thủ thục thông quan 28.57% 100% 33.33% 50% Tính minh bạch trong các thủ tục biên giới khác 14.29% 100% 66.67% 50%

Thủ tục hải quan nhanh cho các thương nhân có

Nguồn: Báo cáo của WB, 2014

3 NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

3.1 Nhận định nguyên nhân:Những hạn chế trên đây trước hết phải kể đến tính non trẻ của

ngành logistics Việt Nam, do mới ra đời nên những yếu kém ban đầu là khó tránh

Các doanh nghiệp logistics Việt Nam đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có nguồn vốn ít, trình độ công nghệ còn lạc hậu, năng lực chủ yếu là gia công nên tính chủ động bị hạn chế Do vốn ít nên cơ cấu tổ chức doanh nghiệp cũng đơn giản, không thật sự chuyên sâu, chưa đủ nguồn lực để tổ chức các văn phòng đại diện ở nước ngoài nên nguồn thông tin bị hạn chế, các công việc ở nước ngoài đều phải thông qua các đại lý của các công

ty đa quốc gia Điều này dẫn đến đa số các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ cơ bản và đơn lẻ Hầu hết làm đại lý cấp 2, cấp 3, thậm chí cấp 4 cho các đối tác nước ngoài có mạng lưới toàn cầu mà chưa kết nối trực tiếp với các chuỗi cung ứng

Việc áp dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh của doanh nghiệp logistics Việt Nam còn yếu, thiếu hẳn các công cụ tiện ích nhằm theo dõi và kiểm soát đơn hàng, lịch tàu, các dịch vụ GTGT Vì phần lớn các công ty chỉ cung cấp dịch vụ cơ bản, thiếu công ty cung cấp các dịch vụ và giải pháp hệ thống trọn gói, trong khi đây là yếu tố được các chủ hàng đánh giá cao khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ Cùng với cơ sở hạ tầng chưa phù hợp cũng

Trang 10

như quy trình hải quan kéo dài đã khiến tỷ lệ chi phí logistics trên GDP cả nước đạt gần 25%, cao hơn nhiều so với các công ty cùng ngành trong khu vực

Các doanh nghiệp logistics chưa nhận thức hết sức mạnh của chuỗi cung ứng nên còn thiếu sự liên kết với nhau, thiếu liên kếtvới các chủ hàng xuất nhập khẩu, ngành thương mại, bảo hiểm Thậm chí các doanh nghiệp logistics trong nước còn có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh về giá cước vận tải để thuhút nguồn hàng, điều này không những không mang lại hiệu quả kinh doanh mà cònlàm ảnh hưởng đến môi trường kinhdoanh ngành Nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam cũng thiếu hụt trầm trọng cả về lượng và chất Dù đã phát triển dịch vụ 3PL nhưng DN trong nước vẫn còn nhiều khoảng cách với DN nước ngoài về uy tín trên thương trường, dịch vụ khách hàng còn yếu kém về công nghệ, trình độ tay nghề, tính chuyên nghiệp thấp Ước tính, tổng số 140 DN hội viên Hiệp hội DN dịch vụ logistics Việt Nam có khoảng 4.000 nhân viên chuyên nghiệp và 5.000 nhân viên bán chuyên nghiệp, nhưng chỉ đáp ứng 40% nhu cầu, trong khi dự báo, 3 năm tới các DN logistics cần thêm 18.000 lao động

Ở giai đoạn hiện nay vai trò của nhà nước về hoạch định chiến lược, quy hoạch tổng thể và đầu tư hạ tầng cũng như tạo lập thể chếvà môi trường kinh doanh thông thoánglà hết sức quan trọng Nhưng cho đến nay Việt Nam chưa có chiến lược đồng bộ hay quy hoạch tổng thể trong việc phát triển logistics quốc gia Chưa có một quy hoạch tổng thể để kết nối hệ thống logistics quốc gia với các cửa ngõ quốc tế và khu vực do đó thiếu sự kết nối giữa trong nước và nước ngoài Do đó cũng dẫn tới thiếu sự quản lý để tạo ra sự thống nhất giữa các địa phương, khu vực, giữa các ngành, các cấp có liên quan…

Các dự án cơ sở hạ tầng giao thông vận tải chủ yếu được quy hoạch, triển khai riêng

lẻ, không có chủ trương tạo hành lang chiến lược, đa phương tiện, cũng như không mấy quan tâm đến cung cầu Quy hoạch phát triển cảng không đồng bộ với quy hoạch phát triển cơ sở

hạ tầng giao thông đường bộ, khiến một số cảng kết nối không hiệu quả với các nhà máy và trung tâm logistics Quy hoạch mạng lưới trung tâm phân phôi và ICD cũng tách rời với hoạch mạng lưới giao thông và cảng biển

Mức độ tích hợp kém do sự không nhất quán trong phân công các nhiệm vụ quản lý, như hải quan, thuế thì Bộ Tài chính; các trung tâm phân phối, xúc tiến thương mại do Bộ Công Thương; vận tải do Bộ GTVT quản lý tạo ra một hệ thống quản lý hành chính phức tạp, gây khó khăn cho khâu triển khai thực hiện

Vấn đề đầu tư cho hạ tầng logistics còn dàn trải, quy hoạch hệ thống hạ tầng và cảng biển thiếu tầm nhìn xa, dự báo chưa chính xác, nặng về đối phó với tăng trưởng cục bộ, nên không thể thiết lập được mạng lưới giao thông quốc gia đồng bộ và hợp lý có nối kết chặt chẽ

nàyđã làm suy yếu năng lực thông qua ở các cảng vốn là đô thị lớn đang chịu sức ép dân số tăng trưởng nhanh, cũng như hạ tầng giao thông xuống cấp nghiêm trọng

3.2 Các giải pháp

Để góp phần nâng cao năng lực ngành logistics, đặc biệt là giảm chi phí và gia tăng các chỉ tiêu chất lượng ngành cần tập trung vào một số giải pháp dưới đây

Ngày đăng: 04/09/2021, 18:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w